intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Luận văn Thạc sĩ Sinh học: Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:261

0
68
lượt xem
33
download

Luận văn Thạc sĩ Sinh học: Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Sinh học: Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long tập trung tìm hiểu về thực trạng và tiềm năng từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Sinh học: Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao thuộc tỉnh Vĩnh Long

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thanh Vũ NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở CÁC XÃ CÙ LAO THUỘC TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
  2. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tổ chức tập thể và cá nhân. Xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến: PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Ẩn đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cảm ơn cô đã không quản công khó khăn, dành nhiều thời gian và công sức chỉ bảo cho tôi. TS. Phạm Văn Ngọt cùng các Thầy cô Khoa Sinh trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các giảng viên thỉnh giảng đã truyền đạt cho tôi những kiến thức khoa học quý báu trong suốt khóa học. Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài. Phòng Khoa học công nghệ và sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi theo học và làm luận văn. Phòng Thống kê, phòng Tài nguyên môi trường các huyện Long Hồ, Trà Ôn và Vũng Liêm. Ủy ban nhân dân các xã An Bình, Đồng Phú, Hòa Ninh, Bình Hòa Phước, Lục Sĩ Thành, Phú Thành, Thanh Bình, Quới Thiện. Sở văn hóa, thể thao và du lịch, Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Vĩnh Long. Các chủ hộ nhà vườn, các cơ sở dịch vụ du lịch trên các cù lao nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ, và cung cấp những số liệu cần thiết để tôi thực hiện đề tài này. Các tác giả của những tài liệu mà tôi dùng tham khảo hoặc trích dẫn trong luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn. TP.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 6 năm 2009 Nguyễn Thanh Vũ
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu, hình ảnh thu thập và phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào. Các số liệu và tài liệu tham khảo hoặc trích dẫn trong luận văn tôi đều chú thích nguồn rõ ràng, chính xác. Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 06 năm 2009 Học viên thực hiện Nguyễn Thanh Vũ
  4. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT B : Hướng Bắc. B.H.Phước : Bình Hòa Phước. DLST : Du lịch sinh thái. ĐV : Động vật. ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long. GAP : Good Agricultural Practices (Thực hành nông nghiệp tốt). HST : Hệ sinh thái. H/P : Họ phụ. IBA : Indol butiric axit. IUCN : International Union for Conservation of Nature (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới). NAA : α- Napthyl axêtic axit. NN : Nông Nghiệp NQ – BCT : Nghị Quyết – Bộ Chính Trị PBZ : Paclobutrazol PE : Polyethylene. QĐ/UBT : Quyết định/Ủy Ban Tỉnh. THPT : Trung học phổ thông. Tmax : Nhiệt độ cao nhất. Tmin : Nhiệt độ thấp nhất. Ttb : Nhiệt độ trung bình TNDLST : Tài nguyên du lịch sinh thái. TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh. TTCN : Tiểu thủ công nghiệp. TV : Thực vật. UBND : Ủy Ban Nhân Dân. WTTC : World Travel and Tourism Council (Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới). WTO : World Tourism Organisation (Tổ chức Du lịch Thế giới). WTO : World Trade Organisation (Tổ chức Thương mại Thế giới). X : Thu nhập/Diện tích đất canh tác.
  5. MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, nhất là từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Phát triển du lịch đã và đang là một lợi thế to lớn và góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là miền sông nước Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi nhiều yếu tố: Cảnh quan rất đẹp, truyền thống văn hóa, ẩm thực phong phú…trong đó có Vĩnh Long là vùng đất nằm ở trung tâm châu thổ ĐBSCL giữa sông Tiền - sông Hậu với các cù lao An Bình, cù lao Dài, cù lao Mây…Trên các cù lao sông rạch chằng chịt, quanh co, hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa rất lớn, được phủ xanh bởi nhiều loại cây ăn trái với chủng loại phong phú và hương vị đặc biệt. Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu ôn hòa và đất đai màu mỡ, nên Vĩnh Long thích hợp với nhiều loại cây trồng đặc sản như: Nhãn, bưởi, cam sành, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, xoài… và các loại thuỷ sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao như cá tai tượng, cá điêu hồng, tôm càng xanh, cá tra,…Các vườn cây phát triển tươi tốt quanh năm, tạo sự hấp dẫn cho du khách bằng hình thức du lịch sinh thái (DLST) miệt vườn, du lịch trang trại mang nét độc đáo của vùng sông nước. Không chỉ có những vườn cây xanh mướt, đầy trái ngọt và hệ thống sông, rạch nhiều tôm cá, các cù lao ở Vĩnh Long còn được biết đến với các di tích lịch sử văn hóa, các đình làng, chùa chiền, các giá trị văn hoá khó “trộn lẫn” với bất kỳ đâu về những truyền thuyết, những câu hò, điệu lý, những bài ca vọng cổ…chắc chắn sẽ mang lại những điều lý thú và bổ ích đối với du khách trong và ngoài nước khi đến tham quan vùng đất “chín rồng” này. Phát triển du lịch sinh thái vườn không chỉ góp phần giúp nông dân tăng thêm nguồn thu nhập mà còn là giải pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả kinh tế vườn. Đây cũng là động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, đặc biệt là phong trào cải tạo vườn tạp thay thế những vườn cây ăn trái đặc sản, có giá trị kinh tế cao, đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Ngoài ra, ngành du lịch còn có kế hoạch phối hợp với ngành công nghiệp đưa các chủng loại
  6. gốm mỹ nghệ và các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp khác của Vĩnh Long trưng bày và bán tại các điểm vườn, nhằm góp phần làm đa dạng các sản phẩm du lịch và giúp người dân thêm thu nhập nhờ xuất khẩu các mặt hàng tại chỗ. Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động du lịch ở các xã cù lao chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Đặc biệt, chưa phát huy hết vai trò của hệ sinh thái (HST) vườn cây ăn trái trong hoạt động phát triển du lịch, cho nên việc nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở các xã cù lao là một bước đi cần thiết để vạch cơ sở khoa học cho các chính sách quản lý, quy hoạch, đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững, là một hành động tham gia thực hiện định hướng của chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 là: “Phát triển du lịch sinh thái và du lịch văn hóa khi bước vào thế kỉ XXI, góp phần tích cực để nước ta trở thành “Việt Nam xanh” trên bản đồ thế giới”, và cũng để góp phần thực hiện Nghị quyết số 21/NQ - BCT giao nhiệm vụ cho các tỉnh, thành ĐBSCL đến năm 2010 - 2015 phải tập trung khai thác mọi nguồn lực, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; đưa ĐBSCL thành vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, nâng mức sống của nhân dân trong vùng ngang bằng mức bình quân cả nước, giữ vững ổn định chính trị-xã hội. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho hoạt động DLST ở các xã cù lao. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn kiến thức, thông tin tham khảo bổ ích để ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long nói chung, các xã cù lao nói riêng, điều chỉnh các hoạt động du lịch ở địa phương, nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao mức sống cộng đồng địa phương, bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển theo hướng bền vững. 3. Phạm vi nghiên cứu + Khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển DLST ở các xã cù lao. Đặc biệt, chú trọng nghiên cứu hệ sinh thái vườn cây ăn trái, có phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình vườn cây ăn trái, trong đó chú trọng hiệu quả kinh tế vườn kết hợp dịch vụ du lịch sinh thái. + Do vị trí địa lý của các cù lao nằm trên hai dòng sông lớn của ĐBSCL là
  7. sông Hậu và sông Cổ Chiên một nhánh của sông Tiền, tạo nên thế tam giác trong địa bàn của tỉnh Vĩnh Long có thể hình thành các tua DLST, đồng thời do thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài chỉ tập trung khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch, thực trạng phát triển du lịch và nghiên cứu một số nét chính, cơ bản về hệ sinh thái vườn cây ăn trái ở cù lao Dài (huyện Vũng Liêm), cù lao Mây (huyện Trà Ôn) và cù lao An Bình (huyện Long Hồ) có liên quan đến phát triển loại hình du lịch sinh thái miệt vườn đặc trưng của tỉnh Vĩnh Long. 4. Thời gian và địa điểm nghiên cứu + Thời gian: Việc tiến hành nghiên cứu để thực hiện đề tài từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009. + Địa điểm nghiên cứu: Địa điểm nghiên cứu gồm 08 xã thuộc 03 cù lao của Vĩnh Long, trong đó cù lao An Bình có 4 xã An Bình, Hòa Ninh, Bình Hòa Phước (B.H.Phước), Đồng Phú, cù lao Dài có 2 xã Thanh Bình, Quới Thiện và cù lao Mây có 2 xã Phú Thành, Lục Sĩ Thành.
  8. Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Những vấn đề về du lịch và hệ sinh thái vườn đã và đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu về mô hình vườn, các mô hình vườn kết hợp du lịch sinh thái còn hạn chế so với các tài liệu khoa học khác. Sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến hệ sinh thái vườn và du lịch. 1.1. Tài liệu ngoài nước - Soemarwoto và các cộng tác viên, 1975, đã khảo sát vườn nhà. Tác giả nhấn mạnh sự phân biệt vườn nhà và sự kết hợp vườn nhà với trồng trọt, chăn nuôi.[4] - Karyono,1990, đã khảo sát cấu trúc vườn nhà trên đất nông thôn của lưu vực Citarum của Indonesia. Tác giả mô tả sự phân bố các loài thực vật, sự phân tầng trong không gian, hệ thống canh tác... Ông đã nêu lên ba kiểu canh tác nông lâm cổ truyền là: Vườn, vườn nhà và vườn rừng.[74] - Long, Chun Lin, 1990, đã khảo sát về hệ sinh thái nông nghiệp và các dạng vườn nhà ở Xishuangbana của Trung Quốc. Tác giả đã nghiên cứu và giới thiệu, mô tả vườn nhà dựa trên thành phần, cấu trúc và những thay đổi đã xãy ra của vườn nhà.[75] - Inskeep, 1991, nhấn mạnh vai trò của các hoạt động du lịch đối với môi trường và kinh tế. Tác giả đề ra những mục đích phải đạt được để phát triển du lịch bền vững: Tối ưu hóa các lợi ích kinh tế xã hội, bảo tồn môi trường và tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội và khai thác có hiệu quả các tài nguyên này, bảo vệ và khai thác có hiệu quả các giá trị bản địa truyền thống.[73] - Geoffey Wall, 1993, đã đề ra một số chỉ tiêu đánh giá cho sự phát triển du lịch bền vững. Có thể xem là các tiêu chuẩn chung cho sự đánh giá thành công của sự phát triển du lịch bền vững.[31] - M.Mowforth và I.Munt, 1998, đề cập đến phát triển du lịch bền vững và đưa ra một số nguyên tắc bền vững trong du lịch như: Bền vững sinh thái, bền vững văn hóa, bền vững kinh tế, có sự tham gia của cộng đồng địa phương.[76]
  9. Các công trình nghiên cứu về vườn chủ yếu mô tả, chưa đi sâu phân tích cấu trúc, chức năng, hiệu quả kinh tế của vườn cũng như tiềm năng của vườn cây ăn trái trong hoạt động du lịch. Chưa có nghiên cứu đề cập kết hợp vườn với phát triển du lịch sinh thái để tăng nguồn thu nhập cho người dân nông thôn. 1.2. Tài liệu trong nước - Lâm Quang Huyên, 1985, đã nêu một số khía cạnh về kinh tế xã hội của vườn nhà.[23] - Lê Công Kiệt, 1987, khảo sát kiểu vườn nhà tiêu biểu vùng Bảy Núi, An Giang. Tác giả giới thiệu tầm quan trọng, lợi ích của vườn nhà và công dụng của một số loài cây.[31] - Hoàng Hòe, 1987, mô tả các mô hình nông lâm kết hợp ở Việt Nam. Tác giả đã điều tra, nhận xét đánh giá tổng quát về vườn, rừng. Tuy nhiên, công trình quan tâm nhiều về rừng hơn vườn.[4] - Nguyễn Đăng, 1990, đã cho biết kinh tế vườn gần đây phát triển nhanh ở miền Trung, miền Nam, và tác giả đã tập trung phân tích các vườn chuyên canh cây rau, cây ăn quả…[17] - Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 1992, nghiên cứu hệ sinh thái vườn nhà Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt chú trọng về vườn cây ăn trái vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả đã phân tích một số nét đặc tưng cơ bản của hệ sinh thái vườn nhà.[1] - Trần Thế Tục, 1995, đã nêu hiện trạng vườn gia đình, phương pháp cải tạo hợp lí, đầu tư đúng mức, khai thác tốt mảnh vườn nhằm tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội và mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình.[47] - Nguyễn Thị Ngọc Ẩn,1996, nghiên cứu một số mô hình vườn nhà ở Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt phân tích đặc điểm kinh tế xã hội, hiệu quả kinh tế và điều kiện tự nhiên nhằm có cơ sở đề xuất một số biện pháp xử lý và phương hướng phát triển mô hình vườn cho thích hợp.[3] - Trần Hợp, Phạm Tạo, Lê Minh, 1997, khi nghiên cứu vườn nhà đã tập trung chính vào cây cảnh trong kiến trúc gia thất.[22]
  10. - Nguyễn Văn Hoan, 1997, đã nêu lên giá trị dinh dưỡng của rau, cách trồng và thu hoạch trong vườn của gia đình, tác giả cũng nêu lên lịch thời vụ và thu hoạch của cây rau.[18] - Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2000, tác giả đã trình bày các biện pháp khảo sát các mô hình vườn, đặc biệt là các vườn rau cùng với môi trường nước, các dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn động trên rau.[5] - Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2004, đã trình bày một cách chi tiết những kiến thức cơ bản về đa dạng sinh học cũng như những mối đe dọa đối với đa dạng sinh học, nguyên tắc bảo tồn ở cấp loài, cấp quần thể, quần xã, trong đó có nêu một số nét liên quan đến vườn.[6] - Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2006, đã nêu lên khái niệm, cấu trúc, hệ sinh thái vườn, tầm quan trọng và vai trò của vườn đối với đời sống con người.[9] - Sở thương mại – du lịch Vĩnh Long, 1999, Với đề tài “xây dựng quần thể du lịch sinh thái khu tam giác giai đoạn 1999 – 2010”, đã khảo sát, đánh giá hiện trạng và tiềm năng du lịch và nhân văn của Vĩnh Long và khu vực. Đề tài chưa chú trọng nhiều đến hệ sinh thái vườn trên các cù lao, cũng như không đi sâu phân tích cấu trúc, chức năng và hiệu quả kinh tế của mô hình vườn kết hợp với DLST.[36] - Phạm Trung Lương, Đăng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Ngọc Khánh, 2000, đã nghiên cứu những vấn đề về tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ tài nguyên và môi trường.[27] - Trần Văn Mậu, 2001, cung cấp những khái niệm cơ bản và nghiên cứu về văn minh du lịch, nội dung và phương pháp tổ chức cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ cho du khách.[29] - Phạm Trung Lương, Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Lanh, Đỗ Quốc Thông, 2002, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiển về phát triển du lịch sinh thái, đã trình bày tiềm năng, hiện trạng cùng với một số giải pháp phát triển DLST ở Việt Nam, nhưng chú ý nhiều đến các vườn quốc gia, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và ven biển.[28]
  11. - Thế Đạt, 2003, giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản nói chung và các loại hình du lịch ở Việt Nam trong đó có đề cập đến đặc điểm, nhiệm vụ của DLST.[16] - Lê Huy Bá, Thái Nguyên Lê, 2006, đã trình bày những vấn đề như: ô nhiễm môi trường trong hoạt động du lịch sinh thái, tài nguyên cảnh quan, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong phát triển du lịch sinh thái, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam.[13] - Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long, 2007, đã cung cấp những vấn đề lý luận và bức tranh chung về tài nguyên du lịch Việt Nam, giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia Việt Nam.[70] - Lê Văn Thăng, Trần Anh Tuấn, Bùi Thị Thu, 2008, nêu lên những mối quan hệ giữa du lịch và môi trường, tầm quan trọng của tài nguyên môi trường tự nhiên và xã hội đối với sự hình thành và phát triển du lịch, cùng với những quan điểm về du lịch và phát triển bền vững.[40] Như trên đã có các công trình nghiên cứu về vườn, về du lịch và du lịch sinh thái, nhưng nhìn chung, các tác giả ít chú ý đến hệ sinh thái vườn cây ăn trái trên các cù lao, và chưa có công trình nào nghiên cứu mô hình vườn kết hợp với các dịch vụ du lịch sinh thái.
  12. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý luận chung 2.1.1. Những quan điểm cơ bản * Khái niệm về du lịch sinh thái Từ những năm 1990 – 1991 ở một số nước đã phát triển dần loại hình du lịch sinh thái (Ecotourism) như ở các nước Úc, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch…Ở Việt Nam loại hình DLST này tuy có muộn hơn, từ những năm 1995 – 1996 mới bắt đầu ở một số tỉnh, thành như: Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), thành phố Huế, Thủ đô Hà Nội, Quảng Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu…Nhưng loại hình du lịch này luôn được chú ý, và trong kế hoạch từ năm 2001 đến năm 2010 nhiều nơi đã có quy hoạch mở rộng loại hình DLST này.[16] “Du lịch sinh thái” là một khái niệm tương đối mới và rộng, cho đến nay vẫn còn được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. Khái niệm tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Hector Ceballos – Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”[28] Năm 1991, Tổ chức Du lịch Sinh thái Quốc tế có khái niệm: “Du lịch sinh thái là loại du lịch lữ hành có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên, bảo tồn được môi trường và mang lại phúc lợi lâu dài cho người dân địa phương”[40] Allen Koszowski năm 1993 đưa ra khái niệm: “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để bản thân du khách trở thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du khách mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc
  13. bảo tồn thiên nhiên”.[28] Buckley năm 1994 quan niệm: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hổ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là DLST” Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) năm 1996: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường tại những khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích để thưởng ngoạn thiên nhiên và các giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho nhân dân địa phương”.[40]. Theo Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ, 1998 “Du lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu vực tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”[13]. Như vậy, các khái niệm đều có chung nội dung cơ bản: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương”. Ở Việt Nam, trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài nước về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan. Tổng cục du lịch Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 tháng 9 đến ngày 9 tháng 9 năm 1999 và đã đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.[13] Theo Lê Huy Bá năm 2000 “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du
  14. lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”[13] Mặc dù các khái niệm về du lịch sinh thái còn có những điểm chưa thống nhất và sẽ còn được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của nhận thức, song những đặc điểm cơ bản nhất của khái niệm về DLST được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) tóm tắt lại như sau:[28] - Du lịch sinh thái bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của du khách là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó. - Du lịch sinh thái phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường. - Du lịch sinh thái diễn ra ở mức độ nhỏ với số lượng hạn chế của du khách và được điều hành bởi các công ty du lịch vừa và nhỏ. - Du lịch sinh thái hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hóa – xã hội. - Du lịch sinh thái hổ trợ cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên. - Tập trung vào sự tham gia, quyền sở hữu, và các cơ hội kinh doanh của địa phương, đặc biệt cho cư dân ở nông thôn. * Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung như: Tính đa ngành, tính đa thành phần, đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí và tính xã hội. Bên cạnh những đặc trưng của ngành du lịch nói chung, DLST cũng có những đặc trưng riêng của nó như:[28], [39]. - Tính giáo dục cao về môi trường: Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và DLST có vai trò làm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường.
  15. - Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Những hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững. Các cơ quan cung ứng các dịch vụ du lịch, các công ty du lịch, các cơ quan bảo tồn, các đơn vị tổ chức và du khách phải có trách nhiệm tích cực thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường, giảm đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lên môi trường sống. - Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình. Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng, tăng cường phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm cho quần chúng. - Người hướng dẫn viên phải có kiến thức về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa: Các chương trình hoạt động chủ yếu do các hướng dẫn viên có kiến thức về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa xây dựng để hoạt động, người hướng dẫn viên đóng vai trò trung gian giữa thiên nhiên, cộng đồng dân cư địa phương với du khách. Họ là những người phải chịu trách nhiệm giới thiệu các đặc điểm về tự nhiên, văn hóa, lối sống và đồng thời giám sát các hoạt động của du khách. * Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái - Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết của du khách về môi trường, qua đó có các ý thức tham gia vào các công tác bảo tồn. Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa. Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, tích cực tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực.
  16. - Bảo vệ môi trường và duy trì HST. Mọi hoạt động DLST phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu các tác động đến môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường và duy trì phát triển các hệ sinh thái. Đây được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng vì: + Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của du lịch sinh thái. + Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình. Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch sinh thái.[89] - Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng. Các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của HST ở một khu vực cụ thể. Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng dân cư địa phương sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó, hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái. - Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái. DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận để đóng góp vào việc cải thiện môi trường sống của người dân địa phương. Ngoài ra, du lịch sinh thái còn huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương trong việc hướng dẫn du khách, đáp ứng chổ lưu trú, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho du khách…thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương. 2.1.2. Tài nguyên du lịch sinh thái * Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái Tài nguyên du lịch được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, 1999 đưa ra khái niệm: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
  17. mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, nên tài nguyên du lịch sinh thái (TNDLST) là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó.Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là TNDLST mà chỉ có các thành phần và các tổng thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái.[28] Tài nguyên du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, một số loại tài nguyên du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách du lịch sinh thái như: - Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các Vườn Quốc Gia, các khu bảo tồn thiên nhiên…) - Các hệ sinh thái nông nghiệp(NN) như: Vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh… - Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của hệ sinh thái tự nhiên như phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết…của cộng đồng dân cư địa phương. * Những đặc điểm cơ bản của tài nguyên du lịch sinh thái - TNDLST phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có sức hấp dẫn lớn. Bản thân tự nhiên rất đa dạng và phong phú, có nhiều hệ sinh thái đặc biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và phát triển của nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm, được xem là những TNDLST đặc sắc, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách như hệ sinh thái đất ngập nước ĐBSCL, HST rừng ngập mặn, hệ sinh thái núi cao…
  18. - Tài nguyên du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm với các tác động của con người. Sự thay đổi tính chất của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hay mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân làm thay đổi, thậm chí mất đi hệ sinh thái đặc trưng đó và tất nhiên TNDLST sẽ bị ảnh hưởng dưới nhiều mức độ. - Tài nguyên du lịch sinh thái có thời gian khai thác khác nhau. Có loại tài nguyên sinh thái được khai thác quanh năm, song cũng có loại ít nhiều phụ thuộc vào mùa vụ. Du khách có thể đến tham quan những vườn cây ăn trái đặc sản trên các cù lao Vĩnh Long vào mùa hè có sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài, măng cụt, mận..., vào mùa đông có nhãn, chôm chôm, bưởi năm roi, cam sành … - Tài nguyên du lịch sinh thái thường nằm xa các khu dân cư, ít được quản lí nên dễ bị biến đổi, suy giảm do những tác động trực tiếp của người dân như chặt cây, săn bắn… và thường được khai thác tại chổ để tạo ra các sản phẩm nhằm thỏa mãn những nhu cầu của du khách. - Tài nguyên du lịch sinh thái có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài. Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên. Tuy nhiên, thực tế nhiều TNDLST đặc sắc như các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm có thể bị mất đi do những tai biến tự nhiên hoặc tác động của con người. Cho nên chúng ta cần nắm được các quy luật của tự nhiên, lường trước những tác động của con người đến TNDLST để có những định hướng, giải pháp khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo vệ, tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá này nhằm phát triển DLST.[28] 2.1.3. Du lịch sinh thái với phát triển bền vững Năm 1995, Hội nghị chính thức về phát triển du lịch bền vững được tổ chức tại Lanzarota, Tây Ban Nha. Hội nghị đã đưa ra một Hiến chương về du lịch bền vững. Năm 1997, trong báo cáo “Chương trình nghị sự 21 trong ngành công nghiệp du lịch và lữ hành: Hướng đến sự phát triển bền vững về môi trường” WTO và WTTC đã xác định du lịch bền vững là:“Sự phát triển du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách và cộng đồng địa phương trong hiện tại trong khi vẫn duy trì và nâng cao những cơ hội đó cho các thế hệ tương lai. Du lịch bền vững dựa trên sự quản lý
  19. tất cả các tài nguyên theo cách mà các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ được thỏa mãn trong khi vẫn duy trì sự hợp nhất về văn hóa, sự đa dạng sinh học, các quá trình sinh thái cơ bản và các HST. Các sản phẩm du lịch bền vững là những sản phẩm được quản lý trong sự hài hòa với môi trường, cộng đồng và các nền văn hóa địa phương để chúng có thể trở thành những phúc lợi lâu dài của sự phát triển du lịch”.[40] Như vậy về lâu dài, sự phát triển của du lịch phải gắn liền với việc bảo tồn các giá trị môi trường, xã hội và sinh thái trong khi vẫn duy trì hoặc nâng cao hiệu quả của các hoạt động du lịch. Vì vậy, các hệ thống quản lý phải chú ý đảm bảo giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của phát triển du lịch đến với môi trường. DLST với bản chất và mục tiêu hoạt động là đảm bảo cho việc bảo tồn và mang lại lợi ích kinh tế, thông qua việc giúp đỡ cộng đồng dân cư địa phương quản lý các tài nguyên của họ. Đây chính là điểm mấu chốt về bản chất để xem du lịch sinh thái như một hoạt động bảo tồn giúp cho quá trình phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường. Khái niệm tài nguyên và môi trường ở đây không chỉ được hiểu đơn thuần về mặt tự nhiên mà còn mang tính văn hóa - xã hội. Các cộng đồng địa phương có thể mang lại những điều hấp dẫn cho khách du lịch thông qua nền văn hóa truyền thống và các di sản xã hội, qua sự tiếp xúc thân mật và cởi mở mà họ dành cho du khách. Chính vì vậy những di sản văn hóa, những phong tục tập quán cùng với cách cư xử của người dân trong cộng đồng địa phương là một phần của sản phẩm du lịch và được nhìn nhận như một tài nguyên du lịch có giá trị bên cạnh những tài nguyên du lịch tự nhiên. Những tài nguyên văn hóa – xã hội này cũng cần được bảo tồn và phát triển bền vững.[28] Sự phát triển của DLST theo đúng nghĩa sẽ giành được sự ủng hộ của người dân địa phương, bởi vì du lịch sinh thái đem lại công ăn việc làm và lợi ích kinh tế, văn hóa cho họ. Ngoài ý nghĩa với việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên môi trường, hoạt động DLST cũng mang tính bền vững do được sự ủng hộ của người dân địa phương. Nếu người dân phản ứng sự có mặt của du khách hoặc có những ứng xử không hài lòng du khách thì đó cũng là những nguyên nhân làm hạn
  20. chế và thậm chí phá vỡ các hoạt động du lịch sinh thái. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái bền vững:[13] - DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản và đa dạng của cộng đồng, cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của DLST. - Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội, văn hóa. - Nên thành lập các chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, tăng cường quản lý các di sản, tài nguyên thiên nhiên, giảm tiêu thụ, giảm chất thải nhằm nâng cao chất lượng môi trường. - Duy trì tính đa dạng về tự nhiên (chủng loài động vật, thực vật, các hệ sinh thái đặc thù…) và bản sắc văn hóa dân tộc. - Gắn liền các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia. Hỗ trợ kinh tế cho địa phương, tránh gây thiệt hại cho các HST đặc trưng. - Vận động, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, cho môi trường sinh thái mà còn tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách. - Đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài giữa các nhóm có quyền lợi và công chúng, giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương. - Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch. - Phải nghiên cứu, cung cấp cho du khách đầy đủ những thông tin và có trách nhiệm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến với môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn các nhu cầu của du khách. 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Thu thập, xử lí thông tin Thu thập những tài liệu có liên quan từ các nguồn tin cậy: Chủ hộ vườn nhà, các điểm du lịch sinh thái, liên hệ Ủy Ban Nhân Dân (UBND) các xã cù lao, phòng Thống kê và phòng Tài nguyên môi trường các huyện Long Hồ, Vũng Liêm, Trà Ôn. Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ và Tiền Giang. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long, Thư viện Vĩnh Long, và các sở ban ngành có liên quan

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản