intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:82

403
lượt xem
72
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở khảo sát khó khăn tâm lý của người làm tham vấn trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh đề xuất một số giải pháp cho công tác này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH _______________________ TRƯƠNG THANH CHÍ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG CÔNG TÁC THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ________________________ TRƯƠNG THANH CHÍ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG CÔNG TÁC THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC Mã số: 60 31 80 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIỀU Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
  3. LỜI CẢM ƠN Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến quý thầy, cô của khoa Tâm lý – Giáo dục, phòng Sau đại học trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy, cô được trường mời thỉnh giảng, đã hết lòng giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn sự cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ của quý đồng nghiệp, quý thầy cô giáo đang công tác tại trường phổ thông và các em học sinh đã giúp tôi thực hiện đề tài. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư, Tiến sỹ Đoàn Văn Điều đã tận tình hướng dẫn, động viên và đồng hành cùng em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011 Tác giả
  4. MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN............................................................................................................................. 3 0T 0T MỤC LỤC .................................................................................................................................. 4 0T T 0 MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 6 0T T 0 1. LÍ DO CHỌN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................................................. 6 T 0 T 0 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 7 T 0 0T 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU ....................................... 7 T 0 T 0 4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ............................................................................................ 7 T 0 0T 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 7 T 0 0T 6. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU .................................................................................................. 7 T 0 0T 7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................................ 7 T 0 0T Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................................................... 9 0T 0T 1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................... 9 T 0 0T 1.1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài ................................................................... 9 T 0 T 0 1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam ..................................................................... 9 T 0 T 0 1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu ......................................................... 10 T 0 T 0 1.2.1. Tham vấn ................................................................................................................. 10 T 0 0T 1.2.2. Tham vấn và các khái niệm có liên quan .................................................................. 14 T 0 T 0 1.2.3. Tham vấn học đường ............................................................................................... 16 T 0 0T 1.2.4. Khó khăn tâm lý ....................................................................................................... 18 T 0 0T 1.2.5. Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường ............................................... 19 T 0 T 0 1.3 Lý luận về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường ...................................... 19 T 0 T 0 1.3.1. Người làm công tác tham vấn học đường ................................................................. 20 T 0 T 0 1.3.2. Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn ........................................... 23 T 0 T 0 1.3.3. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường ................................ 25 T 0 T 0 1.3.4. Nguyên nhân gây nên khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường ............. 30 T 0 T 0 Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................................... 32 0T T 0 2.1. Thể thức và phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 32 T 0 T 0 2.1.1. Cách soạn thang đo .................................................................................................. 32 T 0 0T 2.1.2. Mẫu nghiên cứu ....................................................................................................... 32 T 0 0T 2.2. Kết quả nghiên cứu. ........................................................................................................ 34 T 0 0T 2.2.1. Kết quả nghiên cứu khảo sát trên giáo viên .............................................................. 34 T 0 T 0 2.2.2. Kết quả nghiên cứu khảo sát trên học sinh............................................................... 43 T 0 T 0 2.2.3. So sánh kết quả khảo sát từ người làm công tác tham vấn học đường ....................... 50 T 0 T 0 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................................. 63 0T 0T Kết luận ................................................................................................................................. 63 T 0 T 0
  5. Kiến nghị ............................................................................................................................... 65 T 0 T 0 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................ 67 0T 0T PHỤ LỤC ................................................................................................................................. 71 0T T 0
  6. MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Tham vấn học đường là một nghề khá non trẻ đối với Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Tham vấn học đường được bắt đầu hình thành và phát triển tại Sài Gòn vào trước năm 1975, nhưng sau ngày đất nước thống nhất thì hoạt động tham vấn học đường không còn được quan tâm, mãi đến giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 thì hoạt động tham vấn học đường mới được xuất hiện trở lại bởi các nhà giáo dục tâm huyết và được mang tên là “tư vấn tâm lý học đường”. Đến năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra thông tư số 2564/BGD&ĐT- HSSV, ngày 4 tháng 4 năm 2005 và sau đó thông tư số 9971/BGD&ĐT-HSSV, ngày 28 tháng 5 năm 2005 với nội dung hướng dẫn việc đưa công tác tham vấn tâm lý và hướng nghiệp vào trường học. Vậy là sau hơn 10 năm đi vào hoạt động một cách tự phát, do những người có tâm huyết với công việc hỗ trợ tâm lý cho học sinh, đã tự thành lập trung tâm tư vấn và kết hợp với trung tâm khai thác điện thoại 1088 thành phố Hồ Chí Minh, thì hoạt động này đã bắt đầu đi vào nề nếp dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có được một lượng khá lớn chuyên viên tham gia hoạt động tham vấn học đường, đồng thời cũng được xã hội công nhận. Đến năm 2008, sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh trong công văn tuyển dụng giáo viên, lần đầu tiên có mục tuyển dụng giáo viên chuyên ngành “Tâm lý giáo dục” với mục đích cung cấp đội ngũ chuyên viên tham vấn học đường cho các trường phổ thông trung học. Nhưng sau khi giao nhân sự ngành tâm lý giáo dục về trường, thì họ không được trường phân công làm công tác tham vấn học đường như mong muốn ban đầu của sở, mà họ được phân công làm một số việc khác như: dạy “Giáo dục công dân”, làm công tác “Đoàn thanh niên”,…. Về vấn đề đào tạo, tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có ba trường Đại học đào tạo về chuyên ngành “Tâm lý học” và “Tâm lý Giáo dục”, nhưng không có nơi nào đào tạo chuyên về “Tham vấn học đường”. Cho nên, hầu hết những người đang làm công tác này là tự học, tự nghiên cứu nên họ gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện công tác, đồng thời chưa có mạng lưới hỗ trợ chuyên môn cho họ. Bản thân là người trực tiếp làm công tác tham vấn học đường và cũng chưa được đào tạo chuyên môn về tham vấn học đường, nên cũng đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình công tác, dẫn đến hiệu quả công việc không cao. Cho nên chúng tôi đang cố tìm ra những nguyên nhân gây nên các khó khăn cho hoạt động này, để từ đó có biện pháp khắc phục. Nguyên nhân đầu tiên chúng tôi cho là có ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả trong công tác tham vấn học đường đó chính là khó khăn tâm lý.
  7. Từ những lí do nêu, trên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh”. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở khảo sát khó khăn tâm lý của người làm tham vấn trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số giải pháp cho công tác này. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 3.2. Khách thể nghiên cứu Người thực hiện công tác tham vấn học đường và học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh. 4. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Do chưa được đào tạo chuyên ngành và trang bị thật tốt về mặt nhận thức, thái độ, hành vi nghề nghiệp, nên đa số người làm công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh gặp một số khó khăn tâm lý trong hoạt động của họ. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Để đạt mục đích đề ra, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau: 3.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài. 3.2. Khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý của người thực hiện công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 3.3. Đề xuất một số giải pháp trong công tác của người thực hiện tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 6. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu một số khó khăn tâm lý của người thực hiện công tác tham vấn học đường cho học sinh trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề đặt ra. 7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu các tài liệu được xuất bản, các trang thông tin điện tử và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. 7.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
  8. Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, dùng để khảo sát thực trạng khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh. 7.3. Phương pháp đàm thoại (phỏng vấn) Tiến hành phỏng vấn những người làm tham vấn học đường có nhiều kinh nghiệm, đang công tác tại trường học và các trung tâm đang hoạt trong lĩnh vực tham vấn học đường đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 7.4. Phương pháp thống kê toán học Dùng chương trình SPSS phiển bản 11.5 để xử lý số liệu.
  9. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Tham vấn học đường được hình thành phát triển vào đầu thế kỷ XX ở các nước như Mỹ, Canada, đánh dấu cho sự ra đời của hoạt động này là văn phòng hướng nghiệp do Frank Parsons thành lập năm 1908 tại Mỹ. Từ năm 1920 đến 1930, hoạt động tham vấn được mở rộng và đặc biệt nhấn mạnh sự phát triển cá nhân, xã hội và đạo đức. Từ những năm 1960, tham vấn học đường được chính thức công nhận với nhiệm vụ là tham vấn cho học sinh để giúp họ vượt qua khủng hoảng của lứa tuổi; xây dựng các chương trình tâm lý giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển các kỹ năng xã hội cũng như ngăn chặn những tiêu cực trong học đường; cố vấn cho giáo viên, nhà quản lý và cha mẹ học sinh về các vấn đề của học sinh; làm cầu nối giữa nhà trường với cộng đồng [26, tr 64], [50, tr 365], [62, tr 6]. Từ những năm 1990 đến nay, các nghiên cứu về tham vấn học đường được quan tâm khá nhiều và phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả như Lapan và cộng sự (1997), Sink, C.A và cộng sự (2003), Peterson và cộng sự (1999), Grossman và cộng sự (1997), Hoag và Burlingame (1997),… đã đóng rất lớn cho sự phát triển của ngành tham vấn học đường trên thế giới. Còn vấn đề nghiên cứu về các khó khăn tâm lý, qua quá trình tìm hiểu chỉ thấy các tác giả trên thế giới chủ yếu nghiên cứu về các khó khăn tâm lý trong học tập và phát triển của trẻ. Tác giả Mauricè Debesse nghiên cứu về khó khăn tâm lý của trẻ khi vào lớp một và tác giả người Pháp, Bianka Zozzo và cộng sự nghiên cứu khó khăn tâm lý của trẻ em khi chuyển từ mẫu giáo lên tiểu học. Như vậy, vấn đề nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường, trong giới hạn tiềm kiếm của người nghiên cứu chưa tìm thấy nghiên cứu nào trên thế giới nói về vấn đề này. 1.1.2. Lược sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Ngành tham vấn học đường ở Việt Nam có thể được xem là non trẻ so với các nước như Mỹ, Canada, Úc, Pháp hay Nga, nhưng cũng được hình thành và phát triển từ trước những năm 1975 ở miền nam và đang lớn mạnh dần ở những năm gần đây. Công trình có thể cho là có đúc kết tất cả các nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến việc nghiên cứu về tham vấn học đường
  10. đó chính là của tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) nghiên cứu “Thực trạng hoạt động tham vấn học đường tại các trường trung học ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh”. Các công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý có khá nhiều tác giả nghiên cứu. Nhóm tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Vũ Khánh Linh, Trần Văn Thức (2007), nghiên cứu về “những khó khăn tâm lý của học sinh trung học phổ thông trong học tập và các mối quan hệ”; tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim (2007), nghiên cứu về các “khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh”; tác giả Trần Thị Lệ Thu (2010), nghiên cứu về “thực trạng khó khăn tâm lý của sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội và nhu cầu có sự trợ giúp của chuyên gia tâm lý học đường” [26, tr 308]; tác giả Đồng Văn Toàn (2010), nghiên cứu về “những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của lưu học sinh Lào đang học ở trường Cao đẳng Sư phạm Thừa Thiên Huế”; tác giả Đặng Thanh Nga (2010), nghiên cứu “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội”; tác giả Nguyễn Thị Vui (2010), nghiên cứu “Thực trạng trở ngại tâm lý trong học tập của học sinh tiểu học dân tộc thiểu số tỉnh Kon Tum”; tác giả Vũ Ngọc Hà (2010), có công trình nghiên cứu về “Khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp một qua thái độ đối với học tập”; tác giả Lê Mỹ Dung (2010), nghiên cứu “Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh lớp 3 hiện nay”, còn một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh. Tóm lại, các công trình nghiên cứu về “tham vấn học đường” và “khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập” đã được khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và công bố trong các hội thảo khoa học hoặc đăng trên các tạp chí chuyên ngành, nhưng nghiên cứu về “khó khăn trong hoạt động tham vấn học đường” thì người nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu chưa tìm thấy công trình nào bàn đến. Nhưng thông qua những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã góp phần làm cơ sở định hướng cho người nghiên cứu thực hiện đề tài “Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường tại thành phố Hồ Chí Minh”. 1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.2.1. Tham vấn Trên thế giới, khái niệm tham vấn (counseling) được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Một số tác giả nhấn mạnh ở khả năng tự nhận thức và tự thay đổi của người được tham vấn, thông qua sự trao đổi chia xẻ trong mối quan hệ tương tác của hoạt động tham vấn. Carl Roger (1952), đã mô tả tham vấn như là quá trình trợ giúp, khi tiếp xúc với nhà tham vấn trong một mối quan hệ an toàn, người được tham vấn (thân chủ) tìm thấy được sự thoải mái, chia xẻ và chấp nhận những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới sự thay đổi. D.Bloccher (1966) cho rằng
  11. cho rằng, tham vấn là sự giúp đỡ thân chủ nhận thức được bản thân và những hành vi có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đồng thời trợ giúp họ xây dựng được hành vi có ý nghĩa, thiết lập được mục tiêu và phát triển những giá trị cho hành vi được mong đợi. J.Hunchinson Haney và Jacqueline L. (1999), cũng cho rằng tham vấn là mối quan hệ tương tác mà nhà tham vấn tập trung vào những trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của thân chủ, để từ đó giúp họ khám phá, chấp nhận và đối mặt với chúng. Theo Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 1997) cho rằng: tham vấn là sự áp dụng nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, cảm xúc, hành vi, tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề bệnh lý. Vậy theo Hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ, cũng xác định rằng quá trình tham vấn được hiểu như là một mối quan hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và thân chủ. Trong mối quan hệ này nhà tham vấn giúp thân chủ tự xác định và tự giải quyết vấn đề của mình. Những tác giả khác thì chú trọng vào sự can thiệp của nhà tham vấn trong tiến trình tương tác hướng đến việc giải quyết vấn đề của quá trình tham vấn. Theo Gustad J.W (1953), tham vấn là một quá trình học hỏi được thực hiện trong môi trường xã hội theo kiểu tương tác trực tiếp một – một. Trong quá trình tương tác này, nhà tham vấn là cá nhân có năng lực chuyên môn, kiến thức và kỹ năng tâm lý, sử dụng những phương pháp thích hợp để giúp thân chủ hiểu biết về bản thân mình, giúp họ đáp ứng nhu cầu và thực hiện mục tiêu trong điều kiện cho phép để trở nên hạnh phúc và sống có ích hơn trong xã hội mà họ đang tồn tại. Perez J.F (1965) cho rằng, tham vấn là quá trình tương tác giữa một bên là người làm công tác tham vấn được đào tạo, huấn luyện có nhiệm vụ đưa ra sự giúp đỡ bằng sự giao tiếp nồng hậu, đức tính kiên trì, thái độ tôn trọng và chân thành. Một bên là người được tham vấn tiếp nhận sự giúp đỡ của nhà tham vấn để trở nên hạnh phúc hơn và sống có ích hơn. Tương tự cách tiếp cận này còn có Richard Nelsson (1997) cho rằng mục tiêu của tham vấn là hướng tới thay đổi cách thức cảm nhận, suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ tạo nên cuộc sống tốt đẹp hơn. Do đó, theo ông, tham vấn là một quá trình can thiệp giải quyết vấn đề với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm tham vấn và thân chủ. Ông cho rằng tham vấn có thể được sử dụng ở các cấp độ khác nhau: nó có thể là dạng hoạt động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lý học, cán sự xã hội, nhưng nó cũng có thể là một phần công việc của giáo viên, y tá hay điều dưỡng, các nhà tình nguyện viên. Việt Nam hiện nay, tham vấn được đề cập khá nhiều trên các bài báo, các bài tham luận tại các hội nghị, hội thảo và một số công trình sách dịch từ nước ngoài, các tài liệu tập huấn về tham vấn, một số đề tài thạc sĩ tâm lý học và giáo trình giảng dạy về tham vấn tâm lý. Trong nỗ lực
  12. nhằm phát triển hoạt động tham vấn trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tranh luận rất nhiều về thuật ngữ tham vấn. Sau đây là một số khái niệm về tham vấn đã được các tác giả Việt Nam đề cập đến và được tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) [62, tr 20] tổng hợp. - Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của họ. Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh tự giải quyết vấn đề, tự thay đổi của thân chủ. - Tham vấn là một tiến trình, trong đó, nhà tham vấn và thân chủ cùng tương tác, nhà tham vấn bằng kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình giúp đối tượng phát huy, sử dụng tiềm năng của họ để tự giải quyết vấn đề hiện tại cũng như trong tương lai của họ và kết quả là tạo ra sự thay đổi tích cực ở thân chủ. Khái niệm này nhấn mạnh vai trò chuyên môn của nhà tham vấn. - Tham vấn là tiến trình tương tác giữa người làm tham vấn – người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có phẩm chất đạo đức nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận, với người được tham vấn – người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ. Thông qua các kỹ năng trao đổi, chia xẻ thân mật, tâm tình, giúp đỡ thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự lấy tiềm năng của bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình. Đây là một khái niệm phản ánh nhiều gốc độ về tham vấn: tiến trình tương tác, đặc điểm của thân chủ, yêu cầu về chuyên môn của nhà tham vấn và tính pháp lý của loại hình hoạt động này trong xã hội. Theo tác giả Trần Thị Minh Đức (2009), tham vấn là quá trình nhằm giúp cho thân chủ tự chịu trách nhiệm với cuộc đời của mình, tự tìm cách giải quyết vấn đề của mình và nhà tham vấn chỉ là người soi sáng vấn đề, giúp về mặt thông tin, giải tỏa các xúc cảm gây ảnh hưởng tiêu cực đến các quyết định của thân chủ, chứ không đưa ra lời khuyên hay quyết định hộ vấn đề cho thân chủ. Quá trình tự quyết sẽ giúp thân chủ mạnh lên, dám nghĩ và đương đầu với vấn đề khó khăn của chính mình[12, tr 21]. Sau khi nghiên cứu nhiều khái niệm về tham vấn, tác giả Huỳnh Mai Trang [62, tr 21] đã đưa ra một số đặc điểm của tham vấn như sau: - Tham vấn là một hoạt động diễn ra trong một quá trình với các hoạt động xây dựng mối quan hệ, khai thác tìm hiểu xác định vấn đề, giải quyết vấn đề. - Về bản chất, tham vấn là hoạt động hay phương pháp trợ giúp đối tượng giải quyết vấn đề, chứ không phải hoạt động đưa ra lời khuyên. Sự trợ giúp ở đây được thể hiện qua việc giúp đối tượng hiểu được chính họ, hoàn cảnh của họ, khám phá và sử dụng những tiềm năng nguồn lực đang tồn tại trong chính bản thân họ, hay xung quanh họ để giải quyết vấn
  13. đề. Với ý nghĩa này, tham vấn còn có tác dụng giúp đối tượng nâng cao khả năng đối phó với các vấn đề trong cuộc sống. - Hoạt động tham vấn được diễn ra trên cơ sở mối quan hệ giao tiếp đặc biệt, đòi hỏi sự tương tác tích cực giữa người làm tham vấn – người trợ giúp và đối tượng – người có vấn đề tâm lý xã hội bởi nhiều lý do khác nhau. Mối quan hệ tương tác này chủ yếu được thực hiện trong tương tác trực tiếp. - Người làm tham vấn là người được trang bị các giá trị, thái độ đạo đức nghề nghiệp, những tri thức hiểu biết tâm lý người và các kỹ năng tham vấn để thấu hiểu đối tượng, giúp đối tượng tự vượt lên chính mình. - Người được tham vấn là những người do những nguyên nhân khác nhau mà trở nên mất cân bằng về tâm lý, khó khăn trong thích nghi, hòa nhập xã hội. Họ còn được gọi là thân chủ hay khách hàng. - Tham vấn có thể là một hoạt động chuyên môn, hoạt một dạng dịch vụ xã hội, hay mối quan hệ trợ giúp được sử dụng bởi những người làm tham vấn chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, được xem như những người làm công tác trợ giúp. Người trợ giúp được chia làm ba kiểu tương ứng - Người trợ giúp chuyên nghiệp (professional helper): là những người được đào tạo sâu và chuyên biệt về những kiến thức, kỹ năng tâm lý, hành vi con người, kỹ năng giao tiếp và giải quyết các vấn đề theo chuyên ngành của họ để có thể đáp ứng với đối tượng mà họ giúp đỡ. Các ngành trợ giúp chuyên nghiệp phản ánh những mối quan hệ trợ giúp khác nhau như: mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân, nhà tham vấn – thân chủ,…. Hầu hết những người giúp đỡ chuyên nghiệp điều có mối quan hệ trợ giúp chính thức. - Người trợ giúp bán chuyên nghiệp (paraprofessional helper): là những người có công việc liên quan đến lĩnh vực trợ giúp. Họ có thể được đào tạo, tập huấn ngắn hạn về các lĩnh vực trợ giúp, hoặc có kinh nghiệm từ mối quan hệ trợ giúp. Ví dụ: quan hệ giữa cán bộ hòa giải xã – người dân, giáo viên – học sinh, cha mẹ - con cái,…. Đây là những nhóm đối tượng giúp đỡ thường xuyên của họ. - Người trợ giúp không chuyên nghiệp (non-professional helper): là những người không qua đào tạo, huấn luyện chính thức về các kỹ năng trợ giúp chuyên biệt. Sự trợ giúp của họ có thể chỉ xảy ra nhất thời trong mối quan hệ tạm thời với đối tượng của họ. Ví dụ: nhân viên bán hàng, tiếp tân, tiếp viên hàng không,… với khách hàng; các tình nguyện viên cộng đồng giúp đở các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nghiện ma túy;… hay bất cứ ai có nhu cầu giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn. Nhìn chung, người trợ giúp không
  14. chuyên nghiệp thường có mối quan hệ trợ giúp không chình thức, kết cấu trợ giúp lỏng lẻo, thời gian ngắn và hiệu quả giúp đỡ có giới hạn [12, tr 10]. 1.2.2. Tham vấn và các khái niệm có liên quan • Tham vấn và công tác xã hội Tham vấn và công tác xã hội điều là những nghề nghiệp nhằm trợ giúp con người. Tham vấn chủ yếu tập trung vào các vấn đề tâm lý của cá nhân, nhóm và gia đình. Còn phạm vi của công tác xã hội rộng hơn, sự can thiệp của công tác xã hội bao hàm nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong công tác xã hội, người ta sử dụng tham vấn như là một công cụ nâng cao nội lực cá nhân. Còn trong tham vấn, người ta có thể kết nói với các hoạt động xã hội để tăng cường nguồn lực giúp đỡ thân chủ [62, tr 22]. Nhân viên công tác xã hội luôn được đào tạo khát quát về kỷ thuật tham vấn, do đó, họ làm công việc trị liệu tâm lý cá nhân và các liệu pháp gia đình trông tổ chức mà ít làm việc như chức danh của một nhà tham vấn hay trị liệu độc lập trên các đối tượng có tổn thương tâm lý [12, tr 28]. • Tham vấn và tư vấn Ở Việt Nam, việc cung cấp thông tin, cho lời khuyên, trợ giúp những khó khăn tâm lý, chỉ bảo hay hướng dẫn,… cho một cá nhân, hoặc một tổ chức khi họ có nhu cầu thường được gọi là tư vấn. Thuật ngữ tham vấn (Counseling) và tư vấn (Consultation) trong từ điển tiếng Việt hiện nay đều được dịch là tư vấn. Khi hoạt động tư vấn và tham vấn đi vào thực tiễn ngày một phỗ biến hơn thì vấn đề tranh luận nên dùng thuật ngữ nào (tham vấn hay tư vấn) để phù hợp hơn và mang tính khoa học hơn. Nhưng tựu trung các nhà khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực này đều thống nhất trong việc xác định nội hàm của hai thuật ngữ này [12, tr 13], [37, tr 34], [62, tr 22]. Sự khác biệt can bản giữa tham vấn và tư vấn được thể hiện ở những điểm sau: - Về mục tiêu: tư vấn giúp giải quyết những vấn đề mang tính chất nhất thời, hiện tại; còn tham vấn hướng tới mục tiêu lâu dài hơn, không hướng tới giải quyết những vấn đề của thân chủ mà bằng quá trình tương tác giúp cho thân chủ tự giải quyết vấn đề của họ. - Về tiến trình: tư vấn thường cung cấp thông tin, đưa ra lời khuyên cho những vấn đề mà thân chủ cần và giải quyết vấn đề trong thời gian ngắn; còn tham vấn cần phải có một quá trình, thông qua mối tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ có thể diễn ra trong thời gian rất dài. - Về mối quan hệ: trong quá trình tư vấn thể hiện mối quan hệ trên - dưới, người tư vấn là chuyên gia đưa ra các ý kiến, lời khuyên, chỉ bảo cho người được tư vấn thực hiện, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc của họ, trong mối quan hệ này không đòi hỏi sự tương tác tích cực từ phía đối tượng tư vấn; còn trong mối quan hệ tham vấn luôn phải thể hiện sự
  15. bình đẳng, đồng thời đòi hỏi có sự tương tác chặt chẽ, hợp tác tích cực giữa nhà tham vấn và thân chủ, sự tương tác sẽ quyết định hiệu quả của quá trình tham vấn. - Cách thức tương tác: trong tư vấn, cách thức can thiệp chính là cung cấp thông tin chính xác, mới lạ về lĩnh vực mà thân chủ thiếu và cho lời khuyên; tham vấn thì thành công phụ thuộc vào kỹ năng tương tác của nhà tham vấn đối với thân chủ, nhằm giúp họ tự nhận thức, hiểu chính mình và hoàn cảnh của bản thân, từ đó chủ động tìm ra giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề. • Tham vấn và trị liệu tâm lý Khi tìm hiểu về tham vấn (counseling) và trị liệu tâm lý (psychotherapy) chúng ta sẽ thấy hiện nay có hai quan điểm khác nhau trong việc phân biệt hay thuật ngữ này.  Nhóm quam điểm thứ nhất cho rằng không có sự khác biệt rõ ràng giữa tham vấn và trị liệu tâm lý. Trong nhóm quan điểm này có hai lập luận biểu hiện như sau: - Lập luận thứ nhất cho rằng, tham vấn và trị liệu tâm lý là hoàn toàn giống nhau. Tiêu biểu là Carl Roger (1952), C.B. Truax và R. Carkhuff (1967), C. H. Patterson (1986), G. Corey (1991), điều cho rằng cả hai hoạt động này điều là quá trình tâm lý nhấn mạnh nhu cầu của thân chủ, nhà tham vấn cùng sử dụng những kỹ năng giống nhau như lắng nghe tích cực, thấu hiểu những điều thân chủ nói và thúc đẩy khả năng tự giúp, tự chịu trách nhiệm của thân chủ [12, tr 17], [26, tr 464], [50, tr 365], [62, tr 23]. - Lập luận thứ hai cho rằng trị liệu tâm lý bao hàm cả tham vấn. Trị liệu tâm lý là một quá trình can thiệp của nhà trị liệu đối với tình trạng sức khỏe tâm thần của thân chủ bằng việc sử dụng liệu pháp tâm lý trong đó có tham vấn để điều trị những những rối nhiểu về cảm xúc hay tâm thần. trị liệu tâm lý đi sâu hơn vào các vấn đề tình cảm, nhận thức, hành vi hay toàn bộ nhân cách đồng thời cần phải phối hợp nhiều liệu pháp tâm lý khác một cách có hệ thống để chữa trị, còn tham vấn thông thường chỉ dừng lại ở vấn đề bên ngoài. Do đó, một nhà trị liệu tâm lý có thể là một nhà tham vấn, nhưng để một nhà tham vấn trở thành một nhà trị liệu tâm lý thì cần phải có quá trình đào tạo sâu hơn về mặt chuyên môn [12, tr 18], [37, tr 35], [50, tr 445], [62, tr 24].  Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng có khác biệt nhất định giữa tham vấn và trị liệu tâm lý. Theo nhóm này, mặc dù cả tham vấn và trị liệu tâm lý điều có chung nền tảng lý thuyết, nhưng khi ứng dụng: tham vấn tập trung vào giải quyết các vấn đề bức xúc hoặc ban khoăn của thân chủ trong cuộc sống, trong sự phát triển nhân cách của họ như, các vấn đề về hôn nhân, gia đình, giải quyết các xung đột, quản lý cơn giận, nâng cao lòng tự trọng, khủng hoảng lứa tuổi; trị liệu tâm lý chú trọng đến việc thay đổi nhận thức, hành vi, tình cảm hay toàn bộ nhân cách của thân chủ, hướng đến việc điều trị những bệnh lý cần can thiệp lâm sàng như ám sợ, hoang tưởng,
  16. chán ăn,…. Ta có thể nói, tham vấn hướng đến việc giúp thân chủ sử dụng nguồn lực sẳn có để đối phó với những vấn đề của cuộc sống một cách tốt hơn dựa trên mối quan hệ ngang bằng giữa thân chủ và nhà tham vấn; còn trị liệu tâm lý, khi giải quyết vấn đề, yếu tố nổi trội là nhà trị liệu phải sử dụng những kỹ thuật trị liệu cụ thể và sử dụng hệ thống lý thuyết trị liệu để phân tích tâm lý hay hành vi của thân chủ [5, tr 71], [12, tr 22], [26, tr 255], [50, tr 428], [62, tr 24]. Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra sự so sánh giữa tham vấn và trị liệu tâm lý như sau [62, tr 25]: - Về đối tượng: thân chủ cần trợ giúp trong tham vấn thường là người có vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày; còn trong trị liệu tâm lý, thân chủ bao gồm cả những người có vấn đề về rối nhiễu tâm lý, hành vi ở mức độ tương đối rõ và mang tính bệnh lý nhiều hơn. - Về công cụ can thiệp: đối với tham vấn, chủ yếu là mối quan hệ tương tác nghề nghiệp với sự tích cực, chủ động của chính thân chủ, dưới sự tác động gợi mở của nhà tham vấn; còn với trị liệu tâm lý, công cụ ưu thế là hệ thống các liệu pháp và các trắc nghệm tâm lý. - Phạm vi hoạt động: hình thức tham vấn được sử dụng ở phạm vi rộng hơn bởi các nhà tâm lý học, các cán bộ xã hội chuyên nghiệp, các nhà sư phạm nắm vững các kỹ năng cơ bản và nguyên tắc đạo đức của tham vấn; còn trị liệu tâm lý thường chỉ được sử dụng bởi các nhà tâm lý học chuyên nghiệp được phép hành nghề. 1.2.3. Tham vấn học đường Hiện nay, có hai quan niệm về tham vấn học đường, quan niệm thứ nhất cho rằng tham vấn học đường là hoạt động chỉ dành cho học sinh, quan niệm thứ hai cho rằng hoạt động này không chỉ dành cho học sinh mà còn dành cho cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong nhà trường. Cả hai quan niệm này gần như tồn tại song song trong thực tiễn về hoạt động tham vấn học đường trên thế giới. • Quan điểm tham vấn học đường là hoạt động chỉ dành cho học sinh Hiệp hội tham vấn học đường của Mỹ - ASCA (1990) định nghĩa tham vấn học đường là “Giúp đỡ tất cả các học sinh trong học tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong nâng cao năng lực cá nhân, giúp họ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích. Nhà tham vấn học đường trợ giúp hình thành và tổ chức tất cả những chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can thiệp tham vấn thích hợp” [62, tr 25]. Trương Bích Nguyệt (2003), Trần Thị Hương (2006) định nghĩa tham vấn học đường là tiến trình tương tác giữa nhà tham vấn và học sinh nhằm khơi dậy tiềm năng của các em, để họ có đủ sức mạnh vượt qua những khủng hoảng của lứa tuổi và những khó khăn trong học tập cũng
  17. như trong cuộc sống, để tự giải quyết các vấn đề của mình, ổn định học tập, phát huy nhân cách đúng đắn [26], [50, tr 445], [62, tr 26]. Một số tác giả khác có cùng quan điểm cũng cho rằng, nhà tham vấn trong trường học không phải là nhà giáo dục, không có nhiệm vụ giáo dục lại học sinh, họ không phải là những nhà cố vấn, đưa ra những lời khuyên giúp các thầy cô giáo và nhà trường có những hình thức kỷ luật học sinh khi các em phạm lỗi. Mà họ có mặt trong trường để nghe trẻ nói, giãi bày, giúp trẻ tự chất vấn những khó khăn của mình theo cách mà các em tự tìm ra cách thay đổi hoàn cảnh, thay đổi bản thân, tứ đó huy động năng lực vào việc học tập, vào những hoạt động tích cực [50, tr 365], [62, tr 26]. Theo quan niệm này, hoạt động tham vấn học đường chỉ diễn ra giữa nhà tham vấn và thân chủ là những học sinh gặp các khó khăn trong hoạt động của các em. Như vậy, tham vấn học đường chỉ là một hoạt động hẹp của hoạt động tham vấn. Mặt khác, tham vấn học đường sẽ rất khó đạt hiệu quả cao nếu chỉ có sự tham gia của nhà tham vấn và học sinh trong quá trình tham vấn. Bởi vì, mục tiêu lớn nhất trong công tác giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách một cách đúng đắn và toàn diện cho học sinh. Mà muốn đạt được mục tiêu này, thì mọi hoạt động của nhà trường phải là một khối thống nhất từ việc dạy học đến công tác giáo dục, tất cả sự tác động giáo dục phải luôn thống nhất giữa các thành viên tham gia quá trình như: thầy cô, cha mẹ học sinh, các thành viên khác trong nhà trường và đội ngũ các nhà quản lý giáo dục. Do đó, quan niệm thứ hai về tham vấn học đường xuất hiện. • Quan niệm tham vấn học đường là hoạt động dành cho học sinh và tất cả những người tham gia trong quá trình giáo dục. Ed. Neukrug (Thế giới của nhà tham vấn, 2000), tham vấn học đường là “Quá trình cộng tác liên quan đến một nhà tham vấn làm việc với một giáo viên, nhà quản lý, bậc phụ huynh hay các chuyên gia khác để chia xẻ những quan tâm về đứa trẻ, trong nỗ lực phát hiện ra những cách thức làm việc mới với đứa trẻ để có thể đạt đến trình độ thực của mình. Công tác tư vấn giúp các nhà tham vấn học được nhiều kiến thức và kỹ năng hơn để tập trung vào các vấn đề của học sinh và điều đó trợ giúp họ trong việc trở nên khách quan hơn trong khi tiếp xúc với những mối quan tâm của trẻ” [62, tr 27]. Theo tác giả Trần Thị Minh Đức (2009) và một số tác giả khác thì tham vấn học đường là tất cả các hoạt động can thiệp nhăm mục đích giúp cho học sinh được phát triển tốt nhất, bao gồm cả hoạt động tham vấn cho giáo viên và cha mẹ học sinh [12, tr 10], [26], [50]. Từ sự tổng hợp các định nghĩa về tham vấn học đường, tác giả Huỳnh Mai Trang đã đưa một số đặc điểm của hoạt động tham vấn học đường như sau [62, tr 27]:
  18. - Đối tượng hướng tới của tham vấn học đường: không chỉ là học sinh có “vấn đề” mà là tất cả học sinh và cha mẹ học sinh cũng như các lực lượng giáo dục trong nhà trường (giáo viên, giám thị, bảo mẫu, nhân viên văn phòng,…). - Nội dung của tham vấn học đường: không chỉ giải quyết những khó khăn, vướng mắc của học sinh mà còn giúp học sinh ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực trong học đường, cũng như huấn luyện cho học sinh các kỹ năng xã hội căn bản, để giúp các em ứng phó một cách tích cực hơn với những vấn đền trong học tập và trong cuộc sống. - Hình thức của tham vấn học đường: được tổ chức đa dạng thông qua các hình thức tham vấn cho cá nhân, tham vấn cho nhóm và dạy ở lớp học. - Vai trò của nhà tham vấn trong trường học: không chỉ là tham vấn cho học sinh mà còn tham vấn cho nhà quản lý, giáoviên cũng như các bậc phụ huynh về nhữngvấn đề liên quan đến giáo dục học sinh và là cầu nối với lực lượng bên ngoài trường học (công tác xã hội, pháp luật, y tế,…) trong việc giải quyết vấn đề của học sinh. - Phạm vi hoạt động của nhà tham vấn học đường: không chỉ ở trong phòng tham vấn mà còn trên lớp học cũng như bên ngoài trường học. - Hoạt động tham vấm học đường: không chỉ giúp đỡ cho học sinh, cha mẹ học sinh, thầy cô giáo mà còn ở quy mô rộng hơn, đó là hỗ trợ hoạt động giáo dục bằng tri thức và công nghệ tâm lý học, tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động giáo dục cũng như sự phát triển nhân cách cho học sinh. 1.2.4. Khó khăn tâm lý “Khó khăn” theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là sự trở ngại làm mất nhiều công sức hoặc thiếu thốn. Trong tiếng Anh, “difficulty” hay “hardship” đều chỉ sự khó khăn, gay go, khắc nghiệt, đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc khục. Từ định nghĩa của các từ điển, tác giả Nguyễn Thị Thiên Kim [30, tr 23] và Cao Xuân Liễu [31, tr 21] đều có kết luận chung là khi nói đến “khó khăn” có nghĩa là nói đến những gì cản trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua. Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người điều gặp phải những khó khăn, làm cho hoạt động bị chệch hướng, dẫn đến giảm đi hiệu quả mà con người mong muốn, thậm chí không đạt được mục đích hoạt động. Những khó khăn này, được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người, được tạo nên bởi các yếu tố mang tính tiêu cực, bao gồm yếu khách quan (bên ngoài) và yếu tố chủ quan (bên trong).
  19. Yếu tố khách quan, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi trường hoạt động,…. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của con người. Những yếu tố chủ quan, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động như: nhận thức, thái độ, tình cảm, năng lực, kinh nghiệm, các thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động. Xét theo phương diện nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể chia làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là những khó khăn tâm lý. Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết quả hoạt động của con người. Với quan điểm trên, cùng với các nghiên cứu của các tác giả đi trước [6], [17], [30], [31], [38], [61], [68] khó khăn tâm lý được hiểu như sau: khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động của chủ thể, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chủ thể. 1.2.5. Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường Công tác tham vấn học đường là một loại lao động trí óc, đòi hỏi người tham gia phải tập trung làm việc với cường độ cao, có khả năng nắm bắt và đánh giá chính xác vấn đề của đối tượng trong thời gian ngắn. Do đó, trong quá trình tham gia vào hoạt động này khi gặp những khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về mặt tâm lý, đòi hỏi người làm tham vấn phải tích cực, chủ động huy động tối đa những phẩm chất và năng lực của cá nhân để khắc phụ nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác của mình. Ngoài ra, người làm công tác tham vấn học đường để phát triển, xây dựng và hoàn thiện bản thân họ cần phải trải nghiệm thực tiễn và học tập từ mọi nguồn có thể trong quá trình hoạt động của mình. Trong quá trình này sẽ nảy sinh nhiều khó khăn tâm lý, gây cẳn trở sự thích ứng với hoạt động nghề nghiệp của họ để đạt đến những kỹ năng cần thiết. Khó khăn tâm lý trong hoạt động của con người nói chung, trong công tác tham vấn học đường nói riêng, là một hiện tượng tâm lý phức tạp, nó luôn đồng hành cùng con người trong đời sống và hoạt động. Bàn về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường, người nghiên cứu cho rằng: Khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh, tồn tại trong hoạt động của người làm tham vấn học đường với đối tượng tham vấn của họ, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả hoạt động của chính nhà tham vấn. 1.3 Lý luận về khó khăn tâm lý trong công tác tham vấn học đường Đặc trưng của công tác tham vấn học đường so với các ngành nghề khác cũng làm việc với con người, thì tham vấn học đường phải làm việc cùng lúc với rất nhiều loại đối tượng từ học
  20. sinh, thầy cô giáo đến cả phụ huynh và các tổ chức xã hội khác bên ngoài nhà trường. Còn về số lượng công việc nhà tham vấn học đường phải đảm nhiệm gần như hầu hết các khâu trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh ở trong lẫn ngoài trường học. Nhưng trong quá trình hoạt động của mình, nhà tham vấn học đường làm việc gần như độc lập chứ ít có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, bởi vì gần như mỗi trường học chỉ có một nhà tham vấn học đường. Mặt khác, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, hiệp hội tham vấn học đường xem như chưa được thành lập, do đó nhà tham vấn học đường không có sự hỗ trợ nào từ hiệp hội chuyên môn trong nước. Chính vì thế, trong quá trình hoạt động của mình, nếu gặp khó khăn tâm lý, hầu như nhà tham vấn học đường tự mình tìm hướng khắc phục. Việc khắc phục khó khăn tâm lý này có lúc chỉ là sự ngẫu nhiên, là việc rút kinh nghiệm sau những lần thất bại trước. Điều này làm mất rất nhiều thời gian trong quá trình hoạt động và sửa sai của nhà tham vấn. Nhưng cũng có trường hợp nhà tham vấn không ý thức được khó khăn tâm lý mà họ đã gặp phải để rút ra bài học kinh nghiệm nhằm cải thiện trong công tác của mình. Đặc biệt, đối với những người mới vào nghề tham vấn học đường, hoặc những người làm tham vấn học đường nhưng không được trang bị kỹ năng tham vấn, họ luôn trong trạng thái vừa làm vừa học, sai đâu sửa đó cho nên mọi thứ gần như lạ lẫm và đầy bỡ ngỡ. Họ phải vừa làm quen với môi trường mới, công việc mới, trách nhiệm mới, cách thức tổ chức hoạt động mới và quan trọng hơn là họ phải làm việc độc lập với rất ít sự hỗ trợ chuyên môn từ đồng nghiệp cùng chuyên ngành. Do đó, hầu hết người làm công tác tham vấn học đường ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng điều có cảm nhận hụt hẫng, lo lắng. Trong quá trình tham gia hoạt động nghề nghiệp, bên cạnh những nhà tham vấn có khả năng thích ứng cao, hoàn thiện nghề nghiệp và đi vào ổn định trong công tác, thì còn không ít người làm tham vấn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết vấn đề một cách khoa học và hiệu quả cao trong công tác. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà tham vấn học đường trong nước hiện nay đang tự tìm ra cho mình một cách làm riêng trong công tác, chứ chưa áp dụng các kỹ năng tham vấn đã được nghiên cứu và thực nghiệm một cách khoa học. Cho nên, ngay cả những người được cho là nhà tham vấn tốt nhất trong nước hiện nay cũng chỉ là họ tự học qua tài liệu, sách báo, các khóa tập huấn ngắn cộng với sự trải nghiệm thực tiễn nhiều và từ đó rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân. 1.3.1. Người làm công tác tham vấn học đường • Nhà tham vấn học đường Trên thế giới, tại các nước có nền tham vấn học đường phát triển như Mỹ, Canađa, Pháp,… yêu cầu một người làm công tác tham vấn học đường phải có trình độ tối thiểu là thạc sỹ
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=403

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2