intTypePromotion=3

Luận văn Thạc sĩ Văn học: Bước đầu khảo sát Văn học dân gian đảo Phú Quý

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:242

0
58
lượt xem
15
download

Luận văn Thạc sĩ Văn học: Bước đầu khảo sát Văn học dân gian đảo Phú Quý

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Văn học: Bước đầu khảo sát Văn học dân gian đảo Phú Quý sau đây giới thiệu tới các bạn những nội dung về đặc điểm về văn hóa đảo Phú Quý; tình hình văn học dân gian đảo Phú Quý; đặc điểm văn học dân gian đảo Phú Quý. Luận văn hữu ích với những bạn chuyên ngành Văn học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Văn học: Bước đầu khảo sát Văn học dân gian đảo Phú Quý

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẢO PHÚ QUÝ Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HỒ QUỐC HÙNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
  2. Lôøi Caûm Ôn Ñeå baøy toû loøng tri aân, toâi xin chaân thaønh göûi lôøi caûm ôn tôùi: Ban Giaùm Hieäu, Khoa Ngöõ Vaên, Phoøng Khoa hoïc Coâng ngheä vaø Sau Ñaïi hoïc, Thö vieän Tröôøng ÑHSP TP.HCM ñaõ taïo ñieàu kieän thaät toát cho chuùng toâi trong quaù trình hoïc taäp. Xin ñöôïc göûi lôøi caûm ôn ñeán taát caû nhöõng ngöôøi thaày, ngöôøi coâ thaân yeâu ñaõ taän tình chæ daïy cho toâi nhöõng kieán thöùc boå ích trong suoát 3 naêm hoïc vöøa qua. Ñeå hoaøn thaønh taäp luaän vaên naøy, toâi voâ cuøng toû loøng bieát ôn saâu saéc ñoái vôùi ngöôøi thaày höôùng daãn maø toâi raát möïc toân kính - TS. Hoà Quoác Huøng. Thaày chính laø Ngöôøi ñaõ luoân coå vuõ, ñoäng vieân, chæ daãn taän tình töøng ñöôøng ñi nöôùc böôùc cho ngöôøi hoïc troø nhoû cuûa mình treân haønh trình kieám tìm chaân lyù khoa hoïc vaø goùp phaàn löu giöõ tinh hoa vaên hoùa daân toäc. Trong chuyeán haønh trình ñeán vôùi chaân lyù khoa hoïc, toâi ñaõ luoân nhaän ñöôïc söï ñoàng caûm, chia seû, giuùp ñôõ cuûa gia ñình vaø baïn beø thaân höõu. Xin göûi lôøi caûm ôn noàng thaém nhaát ñeán taát caû, nhaát laø anh – ngöôøi choàng tuyeät vôøi cuûa toâi. Toâi cuõng xin chaân thaønh caûm ôn ban laõnh ñaïo cuûa tröôøng THPT Phan Boäi Chaâu, Sôû vaên hoùa thoâng tin tænh Bình Thuaän, Baûo taøng Bình Thuaän, Huyeän UÛy, UÛy ban nhaân daân, caùc Ban ngaønh ñoaøn theå, caùc vò ngheä nhaân, cuøng caùc baø con huyeän ñaûo Phuù Quyù ñaõ luoân taïo ñieàu kieän, giuùp ñôõ chuùng toâi veà moïi maët trong thôøi gian laøm luaän vaên. Ñoàng thôøi, toâi cuõng xin gôûi lôøi tri aân ñaëc bieät ñeán Anh Nguyeãn Xuaân Lyù (Giaùm ñoác Baûo taøng Bình Thuaän), Chò Nguyeãn Thò Tuyeát Haèng (Phoù chuû tòch phuï traùch khoái xaõ vaên Phuù Quyù), Anh Nguyeãn Vaên Cöôøng (Tröôûng phoøng Vaên hoùa Thoâng tin Phuù Quyù), Chuù Huyønh Huy Soâ. TP. Hoà Chí Minh, ngaøy 30 thaùng 7 naêm 2008 Nguyeãn Thò Ngoïc Haïnh
  3. MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn Mục lục MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chương 1. MẤY ĐẶC ĐIỂM VỀ VĂN HÓA ĐẢO PHÚ QUÝ ........................12 1.1. Vùng đất ..........................................................................................................12 1.1.1. Địa lý vùng đất ....................................................................................12 1.1.2. Lịch sử vùng đất ..................................................................................13 1.2. Con người ........................................................................................................15 1.2.1. Cơ cấu và mối quan hệ giữa các tộc người .........................................15 1.2.2. Đời sống sinh hoạt, đặc điểm nghề nghiệp ..........................................23 1.2.3. Đời sống tinh thần ...............................................................................25 Chương 2. TÌNH HÌNH VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẢO PHÚ QUÝ..................31 2.1. Tình hình tư liệu nghiên cứu ............................................................................31 2.2. Cơ cấu văn học dân gian đất đảo ....................................................................38 2.2.1. Loại hình gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày.......................................43 2.2.2. Loại hình tự sự dân gian.......................................................................48 2.2.3. Loại hình trữ tình dân gian ...................................................................52 2.2.4. Loại hình sân khấu dân gian.................................................................64 Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẢO PHÚ QUÝ...................71 3.1. Sự chuyển hóa của Văn học dân gian người Việt từ lục địa khi đến hải đảo dưới cấp độ thể loại, tác phẩm ............................................................71 3.2. Đề tài .................................................................................................................90 3.3. Mối quan hệ giữa nhân vật lịch sử và tín ngưỡng .........................................119 KẾTLUẬN .............................................................................................................127 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................131
  4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Trong bốn thành tố văn hóa thì văn hóa lãnh thổ (văn hóa vùng) là một dạng thức văn hóa mà ở đó trong không gian địa lý xác định, các cộng đồng người do cùng sống trong một môi trường tự nhiên nhất định, trong điều kiện phát triển xã hội tương đồng, và nhất là mối quan hệ giao lưu văn hóa sống động, nên trong quá trình lịch sử dân tộc lâu dài đã hình thành đặc trưng văn hóa chung, thể hiện trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của cư dân. Trong một vùng văn hóa không nhất thiết phải là một tộc người mà có thể có nhiều tộc người, ngược lại một tộc người lại có thể thuộc những vùng văn hóa khác nhau. Những biểu hiện của vùng văn hóa thể hiện trên toàn bộ các mặt đời sống: lối sống, nếp sống, việc làm lụng, phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng... và trong một chừng mực nào đó còn thấy ở phong cách và tâm lý con người. Tất cả những vấn đề nêu trên đều không nằm ngoài mục đích giới thiệu sơ bộ về lý thuyết vùng văn hóa, để từ đây chúng ta có thể đi sâu vào việc khảo sát, nghiên cứu về văn học dân gian của một vùng đất tiêu biểu: “Tiểu vùng văn hóa cực Nam Trung Bộ” bao gồm lãnh thổ của ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Đây là vùng đất khá đặc biệt về phương diện địa lý, khí hậu, cư dân và văn hóa của nước ta. Ngay từ đầu, miền đất này đã mang trong mình một số phận lịch sử riêng, đầy ắp sự kiện, đầy ắp biến động. Để khắc họa chân dung tiểu vùng văn hóa này đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, nhưng mảnh đất ấy vẫn còn tiềm ẩn nhiều điều mới mẻ, hấp dẫn, gợi nhiều khao khát khám phá, tìm hiểu đối với những người quan tâm. Trong quá trình tiếp cận nền văn hóa dân gian của tiểu vùng văn hóa này, mà chủ yếu là vùng đất Bình Thuận giàu truyền thống với bề dày lịch sử hơn 300 năm, chúng tôi đặc biệt chú ý đến văn hóa đảo Phú Quý - một hòn đảo xanh nằm giữa biển khơi, hài hòa trong bức tranh hùng vĩ của tổ quốc thân yêu - mà trước giờ ít người biết tới. Lịch sử của đảo Phú Quý hình thành trên nền tảng của quá trình xây dựng văn hóa của
  5. chính nó. Bất chấp bao đổi thay thăng trầm của lịch sử và thử thách nghiệt ngã của thời gian, những mảng truyện kể, những câu tục ngữ, ca dao, hò vè dân gian trên đảo vẫn còn được người dân trên đảo bảo tồn, lưu truyền. Thế giới thi ca dân gian là:“Vũ trụ của tinh thần, của tình cảm, của sinh hoạt xã hội, của bản chất thiên nhiên, chứa đựng mọi tiềm năng sinh lực, nên khi đặt mình trước đối tượng bao la ấy, chúng tôi thấy tầm mắt mình chỉ là một con đom đóm giữa ngàn sao” [48, tr.607]. Thế nhưng, với bao ấp ủ, băn khoăn, thắc mắc về truyền thống văn hóa ở vùng đất mà mình đang sinh sống, chúng tôi đã trải qua những giờ phút vượt trên “đầu sóng, ngọn gió” trong những chuyến hải trình đầy gian nan để đến với hòn đảo lành Cù Lao Thu tuyệt đẹp. Và trong chuyến hành trình trở về với cội nguồn, chúng tôi hằng mong phần nào lật lại lớp bụi thời gian đang âm thầm phủ lên nền văn hóa hải đảo đặc sắc này, để góp một cái nhìn khoa học khảo sát một đề tài mà chúng tôi rất đỗi quan tâm. Đó là tìm hiểu một cách có hệ thống về “Văn học dân gian đảo Phú Quý”, như là một món quả nhỏ của một người con có tấm lòng tha thiết với quê hương, mảnh đất Bình Thuận thân yêu với biển xanh, nắng vàng, cát trắng… Trong quá trình tìm hiểu, chúng ta sẽ thấy được những dấu ấn văn hóa, ý thức quá khứ, tâm lý tộc người, tình cảm cộng đồng, nguồn gốc tộc người… của cư dân trên đảo, cũng như phần nào biết được quá trình tiếp nhận, giao lưu văn hóa rất đặc biệt của cộng đồng tộc người ở đây. Và ở miền đất hứa ấy, chúng tôi đã thật sự sống trong những phút giây thăng hoa, hạnh phúc khi bắt gặp những nguồn tư liệu văn học dân gian quý báu, cũng như nhận được muôn vàn tình cảm yêu mến của những con người hồn hậu chân quê. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn: Từ khi bắt đầu hình thành ý tưởng về đề tài khảo sát “Văn học dân gian đảo Phú Quý”, chúng tôi đã ý thức được ngay những khó khăn trở ngại mà mình sẽ gặp phải. Bởi đây là một đề tài khá mới mẻ, phạm vi nghiên cứu lại khá rộng. Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn chúng tôi chỉ mong và cố gắng thực hiện các mục đích và nhiệm vụ bước đầu như sau:
  6. Thứ nhất, tìm hiểu sơ bộ về văn hóa đảo Phú Quý: về cơ cấu tộc người, đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, tín ngưỡng, mối quan hệ văn hóa hỗn dung giữa các tộc người. Để thực hiện được mục đích đề ra, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm những tư liệu lịch sử, địa lý, xã hội, văn hóa, kinh tế… cũng như tiến hành đi khảo sát thực tế về vùng đất hải đảo này. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý về những công trình nghiên cứu khá công phu về văn hóa, văn học dân gian đảo Phú Quý của các tác giả như: Phái Thành Chung, Nguyễn Xuân Lý, Trần Xuân Phong, Võ Thị Tâm. Thứ hai, trong khi tìm hiểu về văn hoá dân gian xứ đảo, chúng tôi chú trọng đến công tác sưu tầm, nghiên cứu sơ bộ về cơ cấu văn học dân gian ở vùng đất này, bằng cách phân loại các loại hình văn học dân gian có trên đảo để thuận lợi cho quá trình khảo sát, phân tích. Ở đây, chúng tôi dựa vào những tiêu chí phân chia đã được các nhà Folklore học công nhận, để từ đó thấy được sự phong phú, đa dạng của nền văn hoá hải đảo này. Đồng thời bước đầu đi vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá một cách tổng quan về tình hình và đặc điểm của các thể loại văn học dân gian ở đảo Phú Quý. Thứ ba, bước đầu so sánh đối chiếu biến động văn học dân gian ở vùng hải đảo và vùng lục địa (mà chủ yếu đặt trong mối tương quan với vùng văn hóa duyên hải miền Trung). Từ đó thấy được nét đặc sắc, độc đáo của nền văn học dân gian vùng đảo. Thứ tư, lập một phụ lục, tập hợp tất cả các câu tục ngữ, câu đố, bài hò vè, ca dao, các hình thức diễn xướng dân gian như hát sắc bùa, hát bả trạo, tuồng cổ… mà chúng tôi sưu tầm được và hiện còn lưu truyền trên đảo. 3. Lịch sử vấn đề: Đề tài “Bước đầu khảo sát Văn học dân gian đảo Phú Quý” mà chúng tôi nghiên cứu là một đề tài mang tính địa phương. Hơn nữa đảo Phú Quý là một địa danh mà từ trước tới nay rất ít người biết đến, nên tư liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài này là rất ít và không hệ thống. Bên cạnh đó, đề tài này được thực hiện qua các chuyến điền dã, sưu tầm các câu chuyện kể được lưu truyền trong dân gian bằng
  7. hình thức truyền miệng, nên việc thẩm định tính chính xác, tính lịch sử, khoa học là hết sức khó khăn. Trong thực tế nghiên cứu, chúng tôi đã được tiếp cận với một số tài liệu có liên quan đến những vấn đề chúng tôi đang quan tâm tìm hiểu. Đó là các công trình: + Luận văn tốt nghiệp: “Bước đầu tìm hiểu văn học dân gian đảo Phú Quý” của tác giả Phái Thành Chung [9] (được công bố vào năm 1993). Công trình nghiên cứu về văn học dân gian đảo Phú Quý được trình bày khá mạch lạc, theo bố cục gồm 2 chương và phần kết luận, với 118 trang. Ở Chương 1, tác giả đã không xác lập về phạm vi, đối tượng nghiên cứu và đặt bằng một nhan đề rất mơ hồ: “Từ Cù Lao Khoai đến đảo Phú Quý hay là sự tích Hòn Thu”. Ngay từ đầu, tác giả bàn về lịch sử hình thành của vùng đất Phú Quý dựa vào tài liệu ghi chép trong “Đại Nam nhất thống chí”, nguồn gốc cư dân trên đảo (chủ yếu đến từ các vùng của Miền Trung). Sau đó, đi vào giới thiệu những ngành nghề chủ yếu (câu mực, đan võng, dệt vải), rồi lại bàn về đặc điểm địa lý của đảo Phú Quý. Tiếp theo, tác giả nói đến chuyện đình, miếu, chùa và xen lẫn vào đó là câu truyện kể dân gian về “Vũng Phật”, về tích miếu Chúa Ngu. Cuối cùng đề cập đến 2 lễ hội truyền thống ở đảo là “Lễ hội cúng cá Ông”, “Lễ cầu ngư” và đời sống sinh hoạt phong tục tập quán thể hiện qua món ăn, cách ăn mặc, phương tiện đi lại, tục cưới hỏi, tang ma, nuôi dạy con. Chương 2, tác giả đi vào tìm hiểu văn học dân gian đảo Phú Quý mà trước hết là đưa ra 2 nhận định chính và gọi đó là “Mấy đặc điểm cơ bản” của văn học hải đảo: Thứ nhất - khẳng định ở đây tồn tại một kho tàng văn học dân gian nhưng chưa được sưu tầm, nghiên cứu có hệ thống. Thứ hai - khẳng định trong kho tàng văn học ấy có sự hiện diện của các thể loại: tự sự (truyền thuyết, truyện cười, vè), trữ tình (hát nghi lễ, hát ru, hát vui chơi), diễn xướng dân gian (hát bội) và bàn đến ngôn ngữ nói của người dân đảo (phát âm không xa rời tiếng nói dân tộc, sử dụng câu trong sách cổ vào lời nói, sự dụng cách nói lái). Tiếp theo, tác giả bàn về “Các loại hình Văn học dân gian đất đảo”, cụ thể như sau:
  8. - Loại hình tự sự: với mảng truyền thuyết, tác giả chỉ đóng vai trò là người ghi chép lại 4 truyện kể dân gian (Bà Chúa Bàn Tranh, Ông Đụn - Bà Giàng, Thầy Nại, Giặc Tàu Ô cướp đảo) và sắp xếp thành 3 nhóm: về nhân vật thời mở đất, về sáng tạo văn hóa gắn với lý giải địa danh, về giặc cướp đảo, mà không đưa ra được tiêu chí phân loại cụ thể nào. Với mảng truyện cười, chỉ mang tính chất giới thiệu, tóm tắt rất sơ lược nên khó hình dung ra diễn biến cốt truyện và tác giả khẳng định “hầu hết các truyện cười đều sử dụng yếu tố tục để gây cười…, truyện cười ít dị bản, vì có nguồn gốc từ một số sự việc hàng ngày, được gia cố thêm và truyền khẩu nên chưa mạch lạc, lôi cuốn” [9, tr.46]. Với thể loại vè, tác giả bình tán về một số đoạn trích ngắn trong những bài vè như: Thơ đi kinh, Vè chiếc tàu gạo Nhật mắc cạn, Vè trận bão năm 88, Vè các lái, Vè làm mướn, Vè nói ngược, Vè con cá, Vè trái cây. Để kết thúc phần trình bày về loại hình tự sự , tác giả đưa ra một số nhận định ngắn về giá trị tư tưởng: 1. Đề cao nghị lực phi thường, tài lao động của nhân vật và cộng đồng, 2. Tôn thờ và kính trọng những vị thần có công trong việc ngăn ngừa, bảo vệ đảo thoát khỏi giặc biển, 3. Phản ánh cuộc sống cộng đồng nhiều dân tộc, 4. Tạo tiếng cười các thói hư tật xấu, góp phần xây dựng một xã hội đảo trong lành, 5. Phản ánh sự việc nổi bật xảy ra trên đảo từ đầu thế kỷ. - Loại hình trữ tình: trong phần này tác giả không tạo thành các đề mục nhỏ, riêng biệt để bàn về đặc điểm thi pháp của các thể loại ca dao dân ca (theo mục đích: trong nghi lễ, sinh hoạt, vui chơi), mà triển khai vấn đề một cách đơn thuần, tràn lan theo cách “ trích dẫn - bình tán - phát biểu cảm xúc”. Trong phần tiểu kết, tác giả khẳng định “Ca dao dân ca đảo Phú Quý là sự kế thừa nghệ thuật thơ trữ tình dân gian Việt Nam” thông qua những biểu hiện cụ thể sau: tạo bản sắc riêng, thể hiện rõ phong cách dân gian địa phương, có tính dị bản, không gian và thời gian nghệ thuật của ca dao dân ca giống những công thức truyền thống quen thuộc có trên đất liền. - Loại hình Hát bội: tác giả nêu một vài nhận định về tình hình Hát bội trên đảo (số lượng gánh hát, thực trạng hoạt động, tình cảm của người dân dành cho loại hình sân khấu dân gian này là rất “ham mê”) và đề cập đến hình thức bói tuồng –
  9. được xem là một nét lạ trong sự kết hợp giữa tín ngưỡng với nghê thuật, mà không dẫn chứng, so sánh, đối chiếu với cách Hát bội trên đất liền. - Loại hình tục ngữ, câu đố, hiện tượng nói lái: tác giả cũng vẫn trình bày theo cách bình tán thông thường và dẫn chứng bằng 24 đơn vị tác phẩm. Đồng thời khẳng định chúng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân, nhưng lại không nói được mức độ, nguyên nhân ảnh hưởng. Trong phần kết luận (2 trang), tác giả không kết lại vấn đề bằng cách khái quát thành những luận điểm cơ bản nổi bật, làm nên bản sắc riêng của nền văn học dân gian hải đảo, mà lại tiếp tục bình tán bằng những lời hoa mĩ và chỉ điểm qua một vài ý tác giả cho là tác động đến diện mạo, làm nên nét đặc thù: văn học dân gian đất đảo có bóng dáng bộ phận của 3 dân tộc cộng cư, cuộc sống khó khăn, văn học là một mặt trong sinh hoạt vui chơi, bên cạnh văn chương bình dân còn có một số lượng tác phẩm văn chương bác học. Tóm lại, trong công trình này, tác giả mới chỉ tiếp cận văn học dân gian đảo Phú Quý ở góc độ diễn giảng, phát biểu cảm nghĩ về những đơn vị tác phẩm, mà chưa đi vào phân tích đánh giá, đối chiếu so sánh văn học hải đảo với văn học dân gian ôû luïc ñòa, để thấy được nét riêng biệt đặc sắc của nền văn học hải đảo này. Beân caïnh ñoù, tác giả còn tỏ ra khá lúng túng, chưa khoa học trong việc sắp xếp, trình bày các vấn đề nên đôi chỗ còn rối, còn mang tính chất cảm tính, thiếu tính thuyết phục, thiếu căn cứ khoa học. Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu của chúng tôi, công trình này hay, có giá trị khoa học. Vì vậy, để thuận lợi hơn cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng mạnh dạn xin mạn phép với tác giả được sử dụng một số đơn vị tác phẩm sưu tầm trong công trình này, như là một nguồn tư liệu đáng tin cậy để chúng tôi tham khảo và chọn lọc. “Sưu tầm tư liệu Hán Nôm trên đảo Phú Quý Bình Thuận” [72]: Công trình nghiên cứu này của tác giả Võ Thị Tâm (ở Viện khoa học xã hội Tp.HCM, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, công bố năm 2000). Trong công trình này, tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét về “tiềm năng” tư liệu Hán Nôm ñaát ñaûo mà chưa cung cấp hết các tư liệu sưu tầm, tập hợp được (mỗi một thể loại
  10. chỉ có 01 - 02 đơn vị tác phẩm, nhiều nhất là văn tế có 06 bài). Trong ñoù quan troïng nhaát laø coù theå loaïi tuoàng coå ñöôïc ghi cheùp baèng chöõ Haùn (9 baûn tuoàng hoaøn chænh), nhöng taùc giaû môùi chæ cung caáp ñöôïc 1 baûn tuoàng (Saàm Baønh). Mặc dù vậy, đây vẫn là nguồn tư liệu quý, cung cấp một cách trọn vẹn bài “Vè đi Kinh” dài 1.284 câu thơ, của nghệ nhân Bùi Quang Diêu, mà không có công trình sưu tầm nào được công bố rộng rãi ghi chép lại toàn vẹn. + “Địa chí Bình Thuận” [70]: Cuốn sách này của Sở văn hóa Thông tin Tỉnh Bình Thuận, được xuất bản năm 2006, do một nhóm tác giả thực hiện. Đây là một công trình mang tính tổng hợp về tất cả các mặt lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa… của tỉnh Bình Thuận (với dung lượng rất ấn tượng: 1.241 trang). Nhìn chung, có thể xem cuốn sách này là một trong số ít tư liệu hiếm hoi viết về tỉnh Bình Thuận nói chung và huyện đảo Phú Quý nói riêng. Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến chương 3 phần IV - “Vaên hoïc ngheä thuaät daân gian”, vì nó cung cấp một cái nhìn tổng thể về tình hình văn học dân gian tỉnh nhà, cụ thể là đề cập đến 2 vấn đề chính: Văn học của dân tộc Kinh (văn học dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian, trò diễn dân gian) và Văn học của các dân tộc ít người (Chăm, Hoa, các dân tộc ít người ở miền núi, Tày, Nùng). Ở phần đầu, công trình này khẳng định “văn học dân gian Bình Thuận bắt nguồn từ miền Trung và cả nước, đồng thời chịu ít nhiều ảnh hưởng với cư dân bản địa là đồng bào Chăm và các dân tộc miền núi. Trong quá trình sản xuất lao động, văn học nghệ thuật dân gian Bình Thuận nảy nở, phát triển với nhiều màu sắc” [70, tr.712] và giới thiệu về các thể loại văn học dân gian tồn tại trên mảnh đất Bình Thuận, bao gồm: - Tục ngữ, thành ngữ: có những đề tài liên quan đến nghề nông, nghề đi biển, cúng bái, thể hiện đời sống tinh thần lạc quan của nhân dân, kinh nghiệm sống, ứng xử.
  11. - Ca dao dân ca: phản ánh các sự kiện tình cảm, tính cách con người qua mỗi giai đoạn lịch sử (đặc biệt trong kháng chiến chống Pháp, Mĩ), với những đề tài quen thuộc: nghề biển, cuộc sống sinh hoạt trong cộng đồng, phê phán tham quan, tệ nạn tiêu cực trong xã hội, tình yêu trai gái, chống thực dân đế quốc xâm lược, xây dựng tổ quốc trong thời bình. - Vè: được xem là thể loại văn học dân gian phổ biến nhất của Bình Thuận và chủ yếu được sáng tác bằng thể 4 chữ và thể lục bát. - Câu đố: bao gồm nhiều hình thức đố chữ (Hán và Quốc ngữ), đố xuất về các loại quả, mộc, thú, ngư, điểu, vật dụng, đố tục giảng thanh. - Truyện dân gian: ngoài những truyện kể được lưu truyền rộng rãi ở khắp các vùng miền trên đất nước, còn có hai thể loại: cổ tích địa phương và truyền thuyết, nhưng số lượng thì không nhiều, mang dấu ấn vùng biển (như truyện Thái tử Long vương lấy vợ người), giải thích về các địa danh xóm làng, sông núi…và truyền thuyết về các vị tiền hiền được nhân dân tôn kính, huyền thoại hóa (Truyện Dinh Cậu, Hang Rồng, đền Chúa đông). - Truyện cười: với đề tài phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, tham quan, và có một bộ phận văn học chỉ đơn thuần phục vụ cho giải trí, đem lại tiếng cươi cho mọi người. - Nghệ thuật biểu diễn: gồm các hình thức sau: hát ru, hát đối đáp, hò bả trạo, hô bài chòi. Phản ánh nếp sống, cách cảm cách nghĩ của nhân dân lao động về các mối quan hệ trong gia đình, quê hương, làng xóm…và dẫn chứng bằng các lời ca điệu hò lưu truyền trong địa bàn tỉnh, bao gồm cả vùng đất liền lẫn hải đảo. Ở phần tiếp theo, tư liệu này đi vào giới thiệu về nền văn học dân gian của người dân tộc, chủ yếu là người Chăm. Nền văn học dân gian Chăm có những thể loại phổ biến như trường ca, truyền thuyết sáng tác theo thể lục bát mang đậm dấu ấn lịch sử dân tộc lồng trong quan hệ thể hiện các sinh hoạt tôn giáo, tình người. Nhìn chung, công trình “Địa chí Bình Thuận” cũng không phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian của đảo Phú Quý nói riêng, của tỉnh Bình Thuận nói chung, nhưng trong chừng mực nào đó, nó có đề cập, phác họa
  12. bức chân dung về diện mạo văn học dân gian của tỉnh nhà. Trong tình hình thực tế, khi mà nguồn tư liệu về văn học dân gian đảo Phú Quý là rất hiếm hoi, thì chúng tôi vẫn coi ñây cũng sẽ là một cứ liệu quan trọng, để lấy đó làm cơ sở, tiến hành phân tích đối chiếu văn học hải đảo với lục địa, nhằm tìm ra mối tương đồng, khác biệt. Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã đề cập ở trên, mới chỉ dừng lại ở chỗ làm công tác giới thiệu, “sưu tầm” và bình giảng về nội dung, nghệ thuật của các đơn vị tác phẩm văn học dân gian thuộc các thể loại khác nhau, mà chưa tiếp cận văn học ở góc độ “nghiên cứu, phân tích, thẩm định, lý giải hiện tượng văn học”. Do vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp cận văn học dân gian theo hướng toàn diện hơn, dưới góc nhìn địa văn hóa, lịch sử giao lưu tiếp biến văn học (bởi điều này có liên quan đến nguồn gốc tộc người trên đảo Phú Quý). Từ đó, chỉ ra được đâu là nét đặc sắc, là sức “hấp dẫn” riêng của nền văn học dân gian xứ đảo, đâu là sự chuyển hóa của văn học dân gian từ lục địa đến hải đảo, mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến một cách toàn diện, sâu sắc. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là hầu hết các loại hình văn học dân gian hiện có trên đảo Phú Quý, trong đó bao gồm lời ăn tiếng nói của nhân dân, thể tự sự, thể trữ tình, sân khấu dân gian. Mà cụ thể là các thể loại như: tục ngữ, câu đố, truyền thuyết, vè, ca dao, hát sắc bùa, hát bá trạo, hát ống, hát bội. Đây là những loại hình văn học dân gian có từ lâu đời gắn liền với đời sống tinh thần của người dân bản xứ, phản ánh tập quán tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo, thể hiện những kinh nghiệm trong sinh hoạt sản xuất đồng thời nêu lên cuộc sống cơ cực của người dân nghèo bởi thiên nhiên khắc nghiệt và ách cai trị của chế độ phong kiến. Tuy nhiên, khi tiến hành khảo sát các tư liệu chủ yếu được sưu tầm qua hình thức truyền miệng, nghe kể lại, thì chúng tôi gặp một thực tế là có một bộ phận đơn vị tác phẩm rất khó thẩm định được tính chính xác, bởi độ lùi của thời gian và độ tin cậy của lời kể. Vì thế, chúng tôi - với tinh thần của những người làm khoa học - vẫn tôn trọng và ghi nhận những lời kể của người dân bản xứ. Bên cạnh đó,
  13. căn cứ vào những tài liệu nghiên cứu khoa học của những người đi trước, chúng tôi đưa ra những nhận định, đánh giá có tính chất khẳng định về vấn đề đang tìm hiểu. - Những câu chuyện dân gian không thuộc về đảo Phú Quý, nhưng lại có liên quan đến nguồn gốc phát tích của những truyền thuyết, câu thơ, bài hát dân gian lưu truyền trên đảo vẫn được chúng tôi khảo sát (với tính chất so sánh, minh họa). 5. Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở lý luận cho đề tài này là phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian. Bên cạnh đó thi pháp văn học dân gian cũng được dùng để soi sáng các đặc điểm thi pháp của các loại hình văn học dân gian ở đảo Phú Quý. Bởi văn hóa dân gian là một nghệ thuật nguyên hợp, thể hiện chức năng phản ánh nhận thức có tính chất nguyên hợp về thế giới, nên thông thường chúng ta tiếp cận nó trước hết ở phương diện thẩm mỹ kết hợp với tiếp cận chỉnh thể. Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể xác định được giá trị đích thực của tác phẩm dân gian, cũng như giúp cho việc tìm hiểu quá trình tiếp biến văn hóa. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp quen thuộc trong nghiên cứu khảo sát: Phương pháp thống kê hệ thống: người viết trình bày một cách hệ thống những đơn vị tác phẩm cùng thể loại, tóm tắt những truyện kể dân gian lưu truyền. Đồng thời khảo sát, phân loại, thống kê các câu ca dao, câu hát đối, câu đố… để tìm ra hệ đề tài, môtip chung của các loại hình văn học dân gian tự sự, trữ tình đó. Phương pháp phân tích đối chiếu: bên cạnh việc tiến hành phân tích các loại hình văn học dân gian có trên đất đảo, người viết còn đối chiếu với các đơn vị tác phẩm không thuộc về vùng đất này nhưng lại có quan hệ khá mật thiết đến việc hình thành, phát sinh những lời ca, câu kể của người dân bản xứ… Phương pháp sưu tầm và thẩm định tư liệu: người viết tập hợp, sắp xếp nguồn tư liệu sưu tầm. Trong một chừng mực nào đó, người viết đã bước đầu thẩm định được tính chính xác của một số tư liệu sưu tầm. Trình tự nghiên cứu: chúng tôi lần lượt đi vào những vấn đề cơ bản: - Tìm hiểu vùng đất một cách hệ thống, toàn diện về cả địa chí, lịch sử hình thành, văn hoá vùng đất.
  14. - Xác định đối tượng sưu tầm, chọn lọc theo những tiêu chí khoa học. - Phân loại tư liệu tham khảo. 6. Đóng góp của luận văn: Thứ nhất, chúng tôi tập hợp lại các thể loại văn học dân gian hiện còn tồn tại trên đảo Phú Quý (dù số lượng tác phẩm có thể không nhiều, bởi hầu hết những loại hình văn học dân gian này không được lưu giữ bằng văn bản viết mà chỉ qua truyền miệng). Thứ hai, góp phần làm rõ diện mạo của văn học dân gian địa phương trong mối tương quan với vùng văn hóa duyên hải miền Trung. Từ đó, luận văn tạo tiền đề cần thiết cho những công trình nghiên cứu có cùng đề tài tiếp theo trên một quy mô lớn hơn, sâu hơn, để góp một phần nhỏ vào tiến trình nghiên cứu văn hóa dân gian ở vùng hải đảo một cách toàn diện hơn. 7. Kết cấu luận văn: Luận văn chia làm 4 phần: 137 trang. Phần dẫn nhập: 11 trang. Phần nội dung: gồm 3 chương, 112 trang. Chương 1: Mấy đặc điểm về văn hóa đảo Phú Quý, 18 trang Chương 2: Tình hình văn học dân gian đảo Phú Quý, 39 trang Chương 3: Đặc điểm văn học dân gian đảo Phú Quý, 55 trang Phần kết luận: 04 trang. Phần danh mục tài liệu tham khảo: 07 trang. - Ngoài ra, luận văn còn có thêm phần phụ lục: Phần phụ lục 1: Một số tranh ảnh minh họa: 11 trang. Phần phụ lục 2: Một số tác phẩm văn học dân gian sưu tầm trên đảo Phú Quý: 82 trang.
  15. CHƯƠNG 1. MẤY ĐẶC ĐIỂM VỀ VĂN HÓA ĐẢO PHÚ QUÝ 1.1 Vùng đất: 1.1.1. Địa lý vùng đất: Tỉnh Bình Thuận, một vùng đất mới của miền duyên hải cực Nam Trung bộ với tuổi đời hơn 300 năm (1697 – 2008), đã trải qua nhiều sự kiện biến động lớn của lịch sử. Cùng với quá trình tụ cư, hợp cư của cư dân miền ngoài với người dân bản địa diễn ra rất phức tạp, mảnh đất này còn lưu dấu nhiều chứng tích bi hùng của cả một thời chiến tranh loạn lạc. Theo sách xưa ghi lại: “Tỉnh Bình Thuận đời xưa là đất Phan Lý, Phan Lang nước Chiêm Thành. Sau cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông vào năm Canh Dần 1470, Chiêm Thành trở nên suy yếu. Năm Nhâm Thân 1693, vua Chiêm là Bà Tranh bị chưởng cơ Nguyễn Hữu Kỉnh đánh bại, Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế Nguyễn Phúc Chu lấy đất Chiêm Thành rồi đổi thành Thuận Trấn…Đời Duệ Tông Hiếu Đinh hoàng đế Nguyễn Phúc Thuần vào năm 1773, Tây Sơn chiếm Bình Thuận. Nhưng tới năm 1793 Thế Tổ Cao hoàng đế Nguyễn Phúc Ánh lại khôi phục được đất cũ” [68, tr.264 - 265]. Bình Thuận có 10 đơn vị trực thuộc hành chính, trong đó có Phú Quý – một huyện đảo nhỏ bé, xa xôi - nơi mênh mông sóng nước chập chùng, nơi có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có hàng dừa xanh soi bóng, có bãi cát trắng trải dài hài hoà trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ nên thơ của tổ quốc thân yêu. Và nơi ấy còn có cả một nền văn học dân gian phong phú, đặc sắc mang sắc thái văn hóa biển đậm nét. Cách bờ biển thành phố Phan Thiết 56,7 hải lý (khoảng 105km) theo hướng Đông - Đông Nam, ta sẽ bắt gặp một hòn đảo nằm giữa biển Đông với hình thù rất kỳ thú. Theo sự tưởng tượng và nhận xét của rất nhiều người, đảo Phú Quý khi nhìn từ phía Đông thì trông như một con rồng đang uốn lượn nổi trên mặt biển xanh (hình dáng rồng tương ứng với những địa danh trên đảo: đầu - Long Hải, thân – Tam Thanh, đuôi – Ngũ Phụng). Khi nhìn từ phía Bắc thì lại có hình dáng như một con cá thu, và nếu nhìn ngắm đảo từ phía Tây Nam trông chẳng khác nào một con cá voi khổng lồ đang trồi lên mặt nước, với đầu là núi Cao Cát, đuôi là núi Ông
  16. Đụn. Còn khi nhìn từ doi Thầy (Long Hải) hướng về núi Cao Cát lại thấy một hàm rồng đang ngậm trái châu. Đảo Phú Quý là một quần đảo, được bao bọc chung quanh bởi 10 đảo lớn nhỏ, cách đảo lớn từ 1 – 100km, mà nhân dân địa phương thường quen gọi là “hòn lẻ”. Tùy hình dạng, vị trí, màu sắc, sự tích hình thành, mỗi hòn lẻ được đặt một cái tên cho dễ nhớ như: Hòn Trứng lớn, Hòn Đen, Hòn đỏ, Hòn Giữa, Hòn Hải, Hòn Đồ lớn, Hòn Tý, Hòn Đồ nhỏ. Bên cạnh đó, ở đây còn có một hòn đảo nhỏ mới hình thành vào năm 1923 được gọi là Hòn Tro. Hòn lẻ lớn nhất trong các quần đảo là Hòn Tranh, có hình dạng chữ S của nước Việt Nam thu nhỏ, cách đảo lớn 0,5 hải lý. Nằm giữa biển khơi, nhưng do được núi bao bọc thành một thế chắn sóng vững chãi, nên Hòn Tranh quanh năm có sóng yên biển lặng và gắn với nhiều huyền thoại, đức tin của ngư dân vùng biển. Đảo lớn của Phú Quý, là nơi sinh sống của tuyệt đại đa số số dân trên đảo, có dạng hình chữ nhật lệch, coù diện tích hết sức “khiêm nhường”, chỉ khoảng 16,4km2 với các loại địa hình đồi, núi và các dãy đất bằng. Với thời tiết khắc nghiệt - chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa gió Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, mùa gió Bấc từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, lại thêm tốc độ gió, nhiệt độ trung bình khá cao, đất đai lại cằn cỗi, thiếu nước, kỹ thuật canh tác thô sơ, chủ yếu dựa vào sức người và nước trời, nên công việc lao động của người dân lại càng vất vả, nhọc nhằn, đòi hỏi con người phải tìm ra một hướng sống tích cực, ứng xử với môi truờng tự nhiên một cách linh hoạt. Chính những yếu tố tự nhiên này đã tác động không nhỏ đến đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người nơi đây, góp phần làm nên diện mạo văn học dân gian hải đảo đầy cá tính sáng tạo, đáp ứng nhu cầu giải trí, bộc lộ tình cảm của số đông quần chúng cần lao. 1.1.2. Lịch sử vùng đất: Quá trình hình thành và phát triển đảo Phú Quý đã nhiều lần đổi thay đơn vị hành chính và cấp trực thuộc. Đảo Phú Quý được ghi nhận nguồn gốc có trong lịch sử từ thời Tiền Lê (981 - 1009). Sách sử xưa “Đại Nam Nhất Thống Chí” có ghi lại rằng: “Đảo Thuận Tịnh: giữa biển Đông đột khởi một hòn đảo, tiếp thẳng bờ biển
  17. Phan Lý. Đảo dài 15 dặm, bốn bên đều là bãi cát, dân ở bao quanh, có 11 thôn dùng người thổ hào quản lãnh, thường năm phải biệt nạp thuế vải”. [19, tr.24]. Qua những tài liệu về khảo cổ học thời Sơ sử - Tiền sử của nhóm nghiên cứu khoa học về di tích đảo Phú Quý, cho thấy rằng từ thời xa xưa đã có người sinh sống trên mảnh đất này. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều dấu tích văn hoá cổ (ở cả 3 xã trên đảo): trong những ngôi mộ cổ phân bố tập trung ở xã Long Hải, người ta tìm thấy nhiều hiện vật là những mảnh gốm, đây là phương tiện sử dụng của người xưa, cùng với những công cụ lao động là những chiếc rìu bằng đá. Ngoài ra, còn có những hiện vật liên quan đến ngành nghề truyền thống như: hiện vật về nghề dệt, nghề chế biến đậu phụng, hũ ghè đựng vôi ăn trầu. Bên cạnh đó, trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân trong vùng đã tìm thấy những mộ vò lớn. Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như búa và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo. Căn cứ vào nhiều tài liệu lịch sử, những bằng chứng vật chất thu được trên đảo như rìu, bôn, mộ vò…Cộng với các đợt điều tra thăm dò khảo cổ học trong suốt 20 năm qua của Bảo tàng tỉnh Bình Thuận và sau này là của viện Khảo cổ học Việt Nam, đã xác định các di chỉ khảo cổ học thuộc thời tiền, sơ sử trên đảo Phú Quý mang đặc trưng điển hình của văn hóa giai đoạn Sa Huỳnh muộn sang tiền văn hóa Chămpa “Nền văn hoá tồn tại cách đây 2.500 – 3.000 năm” [72, tr.3]. Theo nhận định của hai nhà khảo cổ học - Giáo sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Hà Văn Tấn: “Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ tiên trực tiếp của những cư dân đã xây dựng các quốc gia Chămpa” [84, tr.19]. Vì thế ngay từ đầu, người Chăm đã sớm tạo ra một nền văn hóa phong phú rực rỡ cùng một nền kinh tế – xã hội phát triển, thịnh vượng. Đây là một nền văn hoá cổ phát triển rực rỡ ở vùng Nam Trung Bộ. Đồng thời điều này cũng phù hợp với những giai thoại được lưu truyền rằng: trước khi có sự khai sơn phá thạch của nhũng con người từ lục địa ra, ở đây đã có người sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển. Nhưng nền văn hoá ấy đã tồn tại và phát triển như thế nào? Chủ nhân của nền văn hóa ấy đã sống và lao động ra sao? Tất cả vẫn còn là những câu hỏi để ngỏ, chưa có lời đáp.
  18. Trong lịch sử, hòn đảo này có rất nhiều tên gọi như: Koh-rong, theo cách gọi của người Chàm, về sau người Việt gọi là Cổ Long, Thuận Tịnh, Cù Lao Khoai xứ, Cù Lao Thu, đảo Chín Làng, Phú Quý (Poulo Cecir de mer). Về tên gọi Cù Lao Khoai xứ, tương truyền ngày xưa một nhóm ngư dân Đàng Ngoài trên đường đi làm nghề lưới chuồn đã đặt chân lên hòn đảo này. Khi rời đảo, họ bỏ lại những gấu khoai vùi trong đất. Khi quay lại thấy những gấu khoai kia bén rễ xanh cây, cho những củ khoai to, nên họ gọi đảo này là Khoai xứ. Tên đảo Chín Làng là do chín nhóm ngư dân duyên hải miền Trung đến đây lập nghiệp, nên lấy tên địa phương mình đặt tên làng để không làng quê cũ – nơi người dân đã sống trước khi đặt chân đến đảo như: làng Mỹ Khê (tên này được lấy từ xã Mỹ Khê, thuộc huyện Nghĩa Hành), làng An Hòa (thuộc xã An Hòa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), làng Mỹ Xuyên (thuộc xã Mỹ Xuyên tỉnh Quảng Nam), làng Phú Ninh (thuộc xã Phú Ninh tỉnh Quảng Bình)…. Còn tên gọi Cù Lao Thu xuất phát từ hình dạng của đảo giống con cá Thu, nhưng có người lại nói rằng nơi đây xưa kia là một ngư trường tập trung nhiều cá thu nên ngư dân quen gọi là Hòn Thu. Đầu thời nhà Nguyễn đảo có tên là Tổng Hạ, thuộc huyện Tuy Phong, trấn Bình Thuận. Từ niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844) vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể biệt nạp cho triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc tỉnh Bình Thuận, phủ Ninh Thuận, huyện Tuy Phong. Ngày 15 - 12 - 1977, từ vị trí địa lý quan trọng của đảo, xã Phú Quý được nâng lên thành huyện Phú Quý trực thuộc tỉnh Bình Thuận. 1.2. Con người: 1.2.1. Cơ cấu và mối quan hệ giữa các tộc người: Về nguồn gốc cư dân đảo Phú Quý, theo các sự tích cũ thì cộng đồng người Chăm, người Kinh, người Hoa đến đây sinh cư lập nghiệp từ khá sớm. Người Chăm là chủ nhân đầu tiên đến khai phá trên đảo. Trong điều kiện tư liệu còn hạn chế, chúng ta vẫn chưa thể biết đích xác họ đặt chân đến đảo vào thời điểm nào, nhưng có giả thiết cho rằng họ đến đảo vào khoảng từ thế kỷ XV – XVI. Căn cứ vào những dấu tích cổ xưa nhất còn lại trên đảo như: miếu Bà Chúa, những ngôi mộ cổ
  19. của người Chăm ở ấp Tây Long Hải, những giếng cổ bằng đá được làm theo kiểu của giếng người Chăm, cách xây nhà… cho thấy người Chăm đến đảo từ rất sớm khi chưa có người Việt, và đặt tên đảo là Koh Rong. Sau đó là tập đoàn người Việt đầu tiên đến Phú Quý (khoảng cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII). Thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ lịch sử nhiều biến động, gắn liền với nó là công cuộc khai phá, mở rộng bờ cõi phía Nam do các chúa Nguyễn khởi xướng. Vào thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627 – 1672), chỉ trong vòng nửa thế kỷ: “Hai bên đánh nhau 7 trận lớn. Từ nam Nghệ An đến Quảng Bình trở thành chiến trường… nội chiến đã để lại biết bao hậu quả đau lòng không chỉ về vật chất, về con người mà cả về tinh thần của nhân dân cả nước…” [46, tr.155], “trong cuộc chiến tranh với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn cảm thấy vấn đề mở rộng lãnh thổ vào phía Nam – nếu có thể làm được – có ý nghĩa sống còn với chính quyền của mình... Từ năm 1611, công cuộc mở rộng lãnh thổ bắt đầu và kéo dài đến giữa thế kỷ XVIII, bằng hai con đường chính là: di dân và xâm lấn. Trong quá trình đó, một mặt các chúa Nguyễn để cho dân nghèo ở các đất Bắc Thuận Hoá tự do di cư vào Nam khai phá đất hoang lập làng. Mặt khác, các chúa cũng khuyến khích các nhà giàu mộ dân vào Nam khai hoang và tự mình cho quân lính, tù binh vào tham gia khai phá đất đai, lập thành ruộng đồng làng xóm” [46, tr.160]. Một bộ phận lớn nhân dân vùng Ngũ Quảng (Quảng bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) và ở vùng Bình Định, Phú Yên giỏi nghề nông, làm biển, ngành nghề thủ công đã lần lượt rời bỏ quê hương tìm đến vùng đất phía Nam để khai phá và tạo dựng cuộc sống mới. Và trong số đó đã có không ít người dừng chân tại địa bàn tỉnh Bình Thuận để lập nghiệp, mưu sinh. Có nhiều giả thiết đặt ra là: “một số người Việt đến đảo Phú Quý cũng nằm trong trào lưu di dân của thời điểm lịch sử này”. Ở đảo còn lưu truyền câu hát vè, cho thấy tâm lý hướng về nguồn cội của nhóm người kinh đầu tiên đặt chân lên đảo: “Xuôi lên ngang mũi Sa Kỳ Ngó lên lao Ré xiết chi nỗi sầu Kể sao cho xiết thương ân
  20. Ông bà ta trước ban đầu ở đây Cũng vì mưa tạt gió vây Cho nên xiêu lạc chỗ này chỗ kia”. Trước tình cảnh khủng hoảng, chiến tranh, đất nước chia cắt như vậy, nhiều nhóm ngư dân duyên hải miền Trung trên đường lánh cảnh loạn lạc, hoặc đi tìm nguồn cá, vô tình đã đến đảo Phú Quý ẩn náu và lập kế sinh nhai. Đứng trước một hòn đảo rộng, người thưa, ngư trường lại rộng lớn giàu cá tôm, nên họ quyết định về quê vận động bà con thân thuộc đến đây lập nghiệp. Ai đến trước thì chọn vị trí ở giữa, ai đến sau thì ở xung quanh hòn. Căn cứ vào một số công văn hành chính được viết bằng chữ Hán Nôm, của các thôn ấp, gửi cho triều đình nhà Nguyễn thì chúng ta có thể phần nào biết đích xác về nguồn gốc cư dân ở đây. Chẳng hạn như đơn từ xin lập ấp Quý Thạnh, trong đơn viết: “…Tổ phụ chúng tôi xưa kia vốn người có nguyên quán ở hai phủ Bình Định, Quảng Ngãi, gặp mùa đói kém nên phiêu bạt đến ngụ ở xứ Cù Lao Thu khai phá vùng đất hoang nhàn. Sau này có lời truyền 50 nóc nhà được lập thành một ấp, ông cha chúng tôi đã đăng bộ và xứ ấy là Thương Hải để nộp thuế hàng năm” [71, tr.23]. Về sau khi người Việt đến đảo đông và thế lực dần mạnh hơn đã lấn áp người Chàm. Vì bị thua kém người Việt nên người Chàm từ từ rời bỏ đảo đi nơi khác. Cùng với người Chăm và người Kinh, một số người Hoa cũng hòa nhập vào cộng đồng cư dân Phú Quý. Theo sách sử, vào thế kỷ XVII một số quan quân nhà Minh cùng họ hàng gia quyến, sau khi chống nhà Thanh thất bại, không chịu khuất phục, đã dong thuyền vào Nam nước ta, xin chúa Nguyễn cho được định cư lập nghiệp ở vùng đất Thuỷ Chân Lạp (Đông Nam Bộ ngày nay). Họ dùng thuyền vượt biển đi về phương Nam, hàng chục thuyền ghé lại đảo Phú Quý tiếp nước ngọt, nghỉ ngơi và dừng chân lập nghiệp ở đó. “Cùng với người Kinh, một số người Hoa, cũng hòa nhập vào cộng đồng cư dân ở Phú Quý, vào khoảng thế kỷ XVII” [12, tr.12]. Khi đặt chân lên hòn Cù Lao Thu, các Hoa kiều đem đến cho hòn đảo nhỏ một luồng không khí mới, năng động hơn, tất bật hơn. Người Hoa vốn rất giỏi về chăn nuôi, buôn bán, nên khi đến đây họ đã phát huy thế mạnh của mình. Nhiều người trong số họ đã làm ăn khấm khá và trở

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản