BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Kim Ngân

ĐẶC ĐIỂM CA DAO XỨ NGHỆ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số

: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TSKH. BÙI MẠNH NHỊ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn PGS. TSKH. Bùi Mạnh Nhị đã tận

tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn thạc sĩ này.

Xin cảm ơn các Thầy Cô, gia đình, đồng nghiệp và bằng hữu

đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài

nghiên cứu.

Nguyễn Thị Kim Ngân

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Ca dao, dân ca là những viên ngọc quí trong kho tàng văn hóa dân tộc, in đậm hình ảnh

cuộc sống và con người Việt Nam. Trong bài viết về truyền thống văn hóa dân tộc, giáo sư viện

sĩ Nguyễn Khánh Toàn đã khẳng định: “Có thể nói dân tộc Việt Nam là một trong những dân

tộc có nền văn hóa dân gian rất giàu đẹp và giá trị của nó đã vượt qua thử thách của thời gian,

bởi vì bản chất của nó là nhân nghĩa thủy chung, vì nước, vì dân, vì con người, vì độc lập tự do

hạnh phúc và hòa bình, nền tảng của nó là nhân dân. Nó là một cống hiến xứng đáng vào nền

văn hóa chung của loài người…”. [176]

Cái gốc của văn hóa dân tộc là văn hóa dân gian, đặc biệt là thơ ca dân gian. Có thể nói hơn

bất cứ dữ liệu văn hóa nào khác, qua thơ ca dân gian chúng ta có thể thấy được một phần bản

lĩnh, bản sắc, tính cách của dân tộc Việt Nam. Ca dao là một biểu hiện độc đáo của văn hóa dân

tộc, văn hóa địa phương. Nó vừa có nét chung, tính thống nhất của ca dao các vùng miền trên

đất nước, vừa có đặc điểm riêng của từng vùng miền cụ thể, nhất là những vùng miền văn hóa

lớn. Những đặc điểm chung và riêng đó phản ánh tính thống nhất và tính đa dạng của văn hóa

Việt Nam.

Nghệ Tĩnh là một vùng văn hóa rộng lớn, rất lâu đời của văn hóa Việt Nam. Từ bao đời

nay, các nghệ sĩ dân gian đã không ngừng sáng tạo nên một kho tàng ca dao, dân ca đồ sộ, độc

đáo in dấu hình ảnh đất nước, con người xứ Nghệ. Trong ngôn ngữ chúng ta thường gặp những

khái niệm như “Vùng văn hóa xứ Nghệ”, “Đất Nghệ”, “Người Nghệ”, “Ca dao xứ Nghệ” …

Điều đó là hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. “Nghệ Tĩnh có một kho tàng văn hóa dân gian rất

phong phú và có lẽ vào bậc nhất so với tất cả các địa phương khác trong toàn quốc”[70] .

Tìm hiểu đề tài “Đặc điểm ca dao xứ Nghệ ” là tìm hiểu tính thống nhất, đặc biệt là những

nét riêng của ca dao xứ Nghệ so với ca dao của các vùng miền khác trên đất nước. Nghệ Tĩnh là

một vùng văn hóa lâu đời, có nhiều đặc điểm riêng biệt về địa lí, lịch sử, cư dân, ngôn ngữ và

văn hóa. Tìm hiểu về thơ ca dân gian xứ Nghệ cũng là tìm hiểu những đặc trưng về ngôn ngữ

và văn hóa của con người xứ Nghệ qua các câu ca dao, điệu hát, câu hò. Kho tàng thơ ca dân

gian xứ Nghệ rất phong phú đa dạng gồm nhiều thể loại khác nhau. Trong đó ca dao được xem

là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm lịch sử, địa lí, văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con

người xứ Nghệ. Tính địa phương là một đặc trưng của thi pháp ca dao, của thi pháp Văn học

dân gian. Nghiên cứu đề tài này cũng là tìm hiểu đặc trưng đó, góp phần làm sáng tỏ thêm đặc

trưng thi pháp của ca dao.

Chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm ca dao xứ Nghệ” trước tiên là bởi niềm say mê ca dao

Nghệ Tĩnh - một mảnh đất nghệ thuật đầy hấp dẫn nhưng cũng đầy bí ẩn - và cũng bởi đề tài

này có tác dụng trực tiếp, thiết thực trong việc dạy văn ở Trường phổ thông. Hiện nay, văn học

địa phương, trong đó có ca dao địa phương, đang được chọn giảng trong chương trình văn học

địa phương ở các trường. Việc tìm hiểu về ca dao xứ Nghệ sẽ giúp cho việc giảng dạy văn học

dân gian nói chung và văn học địa phương ở Nghệ Tĩnh được tốt hơn.

Là người con xứ Nghệ, lại là một giáo viên dạy văn, mỗi hình ảnh, tấc đất, ngọn núi, con

sông và con người nơi đây là niềm tự hào kiêu hãnh của tôi. Việc khảo sát, tìm hiểu về đặc

điểm ca dao xứ Nghệ càng giúp tôi thêm hiểu để thêm yêu quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn

của mình.

Vì tất cả những lí do trên, tôi chọn đề tài “Đặc điểm ca dao xứ Nghệ” làm đề tài nghiên

cứu của mình.

2. Lịch sử vấn đề

Các công trình, các bài nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ, có thể chia làm hai loại:

 Những nghiên cứu chung về văn học dân gian xứ Nghệ.

 Những nghiên cứu về ca dao người Việt xứ Nghệ.

2.1. Những công trình nghiên cứu chung về văn học dân gian xứ Nghệ

Những bài nghiên cứu này tuy không đặt vấn đề nghiên cứu riêng về ca dao xứ Nghệ,

nhưng những vấn đề đặt ra có liên quan đến việc tìm hiểu đặc điểm ca dao xứ Nghệ.

Trong những bài nghiên cứu chung trước hết ta phải nói tới bài: “Vị trí và đặc điểm của

vùng văn học dân gian Nghệ Tĩnh” của Phó giáo sư Hoàng Tiến Tựu (Thông báo khoa học số 1,

ĐHSP Vinh năm 1983). Trong bài viết này, tác giả đã đặt vấn đề: “Mỗi vùng, mỗi khu vực văn

học dân gian của dân tộc và đất nước đều có một vị trí quan trọng và một phong cách truyền

thống riêng của mình”. Trong bài nghiên cứu công phu này, PGS Hoàng Tiến Tựu đã rút ra 4

kết luận như sau:

1. Trước hết, đây là một vùng văn học dân gian phong phú và hoàn chỉnh có quy mô rộng lớn,

đồng thời có phong cách chung thống nhất trong toàn vùng và đặc sắc, độc đáo so với các

vùng, các khu vực văn học dân gian khác của dân tộc, đất nước.

2. Đây là một vùng văn học dân gian truyền thống có lịch sử lâu đời vào bậc nhất của dân tộc

và đất nước ta.

3. Vùng văn học dân gian Nghệ Tĩnh không những có từ lâu đời mà còn là một quá trình sinh

thành phát triển liên tục, phản ánh hầu hết các chặng đường lịch sử quan trọng, các hình thái

xã hội cơ bản của dân tộc và đất nước từ viễn cổ cho đến bây giờ.

4. Nó phản ánh rất trung thực, rất rõ nét hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội và con người của xứ

Nghệ.

Những luận điểm này có tác dụng gợi mở việc nghiên cứu ca dao xứ Nghệ, vì ca dao là

một bộ phận của văn học dân gian.

Công trình thứ hai cần kể tới là bài “Đất nước, con người xứ Nghệ qua kho tàng ca dao xứ

Nghệ ” của Trương Xuân Tiếu. (Tạp chí văn hóa dân gian số 3 -1997). Trong bài này tác giả đã

phân tích và khái quát được những đặc điểm chung về đất nước con người xứ Nghệ: Đất nước

xứ Nghệ thật hùng vĩ, hữu tình, con người xứ Nghệ thật thông minh, quả cảm. Những tên núi,

tên sông, tên làng, tên xã và những tên dòng họ, những con người cụ thể ở xứ Nghệ đã bước

vào trong những điệu hò, câu hát, bài ca, góp phần tô thắm những nét son truyền thống của văn

học dân gian xứ Nghệ. Những kết luận này của tác giả rất có ích cho việc tìm hiểu tình yêu của

con người xứ Nghệ qua ca dao xứ Nghệ.

2.2. Những công trình nghiên cứu về ca dao xứ Nghệ

Công trình đồ sộ nhất là “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (2 tập) do Nguyễn Đổng Chi – Ninh

Viết Giao (chủ biên) – Võ Văn Trực biên soạn năm 1996 NXB Nghệ An. Trong công trình này

có bài nghiên cứu giới thiệu về ca dao xứ Nghệ của Ninh Viết Giao với tựa đề: “Về ca dao của

người Việt ở xứ Nghệ”. Là một nhà nghiên cứu Văn học dân gian lâu năm, có kinh nghiệm, đã

gắn bó với mảnh đất Nghệ Tĩnh hàng chục năm, hơn ai hết tác giả đã sưu tầm, lựa chọn, phân

loại hàng nghìn câu ca dao xứ Nghệ và có bài giới thiệu những đặc điểm, bản sắc riêng của ca

dao xứ Nghệ. Bản thân tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn học dân gian xứ Nghệ.

Trong bài viết trên tác giả đã giới thiệu sơ lược về đặc điểm đất đai, khí hậu, hoàn cảnh lịch sử

của xứ Nghệ cũng như sơ lược về nội dung của ca dao xứ Nghệ, qua đó làm nổi bật tính cách,

tình cảm, tâm hồn của con người xứ Nghệ. Trong các đặc điểm của vùng Nghệ Tĩnh, tác giả

đặc biệt nhấn mạnh: “Nghệ Tĩnh có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú và có lẽ

phong phú vào bậc nhất, so với tất cả các địa phương khác trong toàn quốc. Đã bao đời rồi,

cái gia tài vô giá ấy là nguồn nuôi dưỡng tinh thần, là cơ sở văn hóa, là trí tuệ và tài năng, là

sức mạnh vật chất, động lực phát triển… của bà con xứ Nghệ. Ở đây có đủ các loại hình văn

học dân gian mà loại hình nào cũng phong phú”. Đây là một nhận định rất quan trọng, giúp

chúng ta đi sâu tìm hiểu ca dao xứ Nghệ.

Trước khi đi vào nghiên cứu ca dao xứ Nghệ, Ninh Viết Giao nêu ra luận điểm: ca dao của

các vùng (trong đó có Nghệ Tĩnh) là vốn chung của cả nước, ca dao các vùng dù có mang

những điểm riêng, sắc thái riêng vẫn thể hiện những đặc điểm chung, phổ biến của cả nước.

Đây là một nhận định quan trọng, giúp chúng ta đi vào tìm hiểu những nét riêng của ca dao xứ

Nghệ, tìm hiểu ngọn nguồn của từng bài ca dao.

Nội dung của ca dao xứ Nghệ được Ninh Viết Giao giới thiệu qua nhiều chủ đề, qua đó

làm nổi bật tính cách, đời sống tình cảm cuả con người xứ Nghệ. Nghiên cứu về hình thức nghệ

thuật của ca dao xứ Nghệ, tác giả đồng ý với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, cho rằng ca dao

xứ Nghệ không được mượt mà, bay bướm.

Về ngôn ngữ của ca dao xứ Nghệ, Ninh Viết Giao viết: “Những bài ca dao ấy, ngôn ngữ

giản dị mà tươi rói như đất mới cày, áo nâu non mới mặc, chứa đầy nhựa sống …”[70]

Về tiếng địa phương trong ca dao, ông nhận xét: “ Mà hình như trong các loại hình văn

vần của kho tàng văn học dân gian xứ Nghệ, ca dao ít từ địa phương, ít phương ngữ hơn cả. Có

chăng là những từ phổ biến dễ hiểu…[70]

Theo tác giả nét riêng biệt của ca dao xứ Nghệ là tính chất “ trí tuệ”, “chữ nghĩa” mang

nhiều “điển tích” và tính chất trạng. “Trạng ở đây thể hiện tính vui vẻ, thông minh, nhanh trí, dí

dỏm, nghịch ngợm của con người xứ Nghệ”[59].

Về hình thức đối trong thể lục bát và song thất lục bát xứ Nghệ, Ninh Viết Giao nhận

định: “ Có thể nói thêm về hình thức đối trong thể lục bát và song thất lục bát của ca dao xứ

Nghệ, về hình thức này khá nhiều và cũng khá đa dạng, độc đáo, không chỉ đối ngẫu mà còn

đối câu, đối bài.”[70]

Có thể nói xét về mặt hình thức nghệ thuật, tức là thi pháp ca dao xứ Nghệ, Ninh Viết

Giao đã khảo sát được một số mặt và đã đưa ra một số nhận xét xác đáng. Những nhận xét ấy

khái quát được những nét đặc trưng riêng biệt của ca dao xứ Nghệ. Tuy nhiên, do đặc điểm và

tính chất của một bài giới thiệu chung về ca dao xứ Nghệ, nên tác giả không đi sâu vào việc tìm

hiểu nghiên cứu về thi pháp của ca dao xứ Nghệ, mà chỉ nói qua về hiện tượng gieo vần, về

ngôn từ, nhất là các từ địa phương, về các dạng kết cấu, về thời gian và không gian nghệ

thuật…

Có một số công trình khác không trực tiếp nghiên cứu về ca dao xứ Nghệ mà khảo sát đặc

điểm của ca dao các miền và lấy ca dao xứ Nghệ làm đối tượng so sánh. Tuy vậy ở đây cũng có

những thông tin, gợi ý cho việc tìm hiểu ca dao xứ Nghệ.

Trong những bài viết này, có 3 bài viết đáng chú ý:

- “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca: Thanh Hóa, Nghệ An,

Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ” của Lê Văn Hảo (Hội thảo khoa học văn học dân gian miền

Trung lần thứ nhất)

- “ Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc” của Nguyễn Phương Châm

(Tạp chí văn hóa dân gian số 3 năm 1997)

-“Ca dao tình yêu và tình cảnh con người ở Bình Trị Thiên” của Trần Thùy Mai (Hội thảo

khoa học văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất).

Trong bài viết “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca: Thanh

Hóa, Nghệ An, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ”, Lê Văn Hảo đã lấy bốn vùng dân ca: Thanh

Hóa, Nghệ An, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ làm đối tượng khảo sát và so sánh. Dựa vào

những dữ liệu về lịch sử, địa lý, văn hóa đã được xác định, ông đưa ra 3 kết luận:

+ Có một văn hóa dân gian miền Trung trên bản đồ văn hóa dân gian Việt Nam.

+ Trên địa bàn văn hóa dân gian miền Trung có bốn vùng văn hóa lớn: Thanh Hóa, Nghệ An,

Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ.

+ Bốn vùng văn hóa ấy tương ứng với bốn vùng ca dao dân ca mà mỗi vùng tiêu biểu cho một

phong cách.

Về cách sử dụng hình ảnh trong ca dao, Lê Văn Hảo nhận xét: “Tình yêu nồng nàn thắm

thiết thường được thể hiện bằng những hình tượng gần gũi quen thuộc giản dị. Để cụ thể hóa

nỗi lòng con người Nghệ Tĩnh thích dùng những hình ảnh rộng lớn, hùng vĩ của quê hương để

ví von”[84]. Tác giả đã khái quát về phong cách người Nghệ Tĩnh: “Phong cách Nghệ Tĩnh có

cái gì gân guốc, cứng cỏi, quyết liệt”[84].

Trong bài nghiên cứu “Ca dao tình yêu và tình cảnh con người ở Bình Trị Thiên “ Trần

Thùy Mai đã trực tiếp so sánh ca dao tình yêu ở Bình Trị Thiên với ca dao tình yêu Nghệ Tĩnh.

Trần Thùy Mai cho rằng: “ Nếu so sánh phong cách ca dao Bình Trị Thiên với ca dao Nam

Trung Bộ và Nghệ Tĩnh ta sẽ thấy ca dao Bình Trị Thiên gần gũi với phong cách ca dao Nghệ

Tĩnh hơn … Nhưng phong cách Nghệ Tĩnh vẫn khác phong cách Bình Trị Thiên ở chỗ thiên về

tính chân chất, chuộng diễn ý, mộc mạc. Ở đây nói “mộc mạc” không có nghĩa là thổ thiển.

Thực ra về phương diện văn từ ca dao Nghệ Tĩnh rất trau chuốt, điêu luyện..”[131]. So sánh

với ca dao Nam Trung Bộ ,Trần Thùy Mai cho rằng: “Ca dao Nghệ Tĩnh chuộng diễn ý nhưng

cũng như ca dao miền Nam Trung Bộ không có khuynh hướng chuộng hình ảnh âm điệu như ca

dao ở Bình Trị Thiên ..”[131]

So sánh ca dao Bình Trị Thiên và ca dao Nghệ Tĩnh, Trần Thùy Mai có nhận xét: “Phong

cách Bình Trị Thiên ở phía Bắc có nhiều chỗ khá gần gũi với phong cách Nghệ Tĩnh, rạch ròi,

khỏe mạnh, thiên về lí trí. Phía Nam không có cái đó, thì lại tinh tế, nhuần nhụy và gợi cảm

hơn”.[131]

Nếu như Lê Văn Hảo và Trần Thùy Mai so sánh ca dao Nghệ Tĩnh với ca dao các vùng ở

miền Trung thì Nguyễn Phương Châm so sánh sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ

và xứ Bắc trong bài nghiên cứu: “Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc”.

Nguyễn Phương Châm đã so sánh sự khác nhau đó trên nhiều bình diện của thi pháp ca dao,

những điều mà hai nhà nghiên cứu trên chưa có điều kiện đi sâu. Trước hết tác giả đưa ra nhận

xét chung: “Nhìn tổng thể trong toàn bộ nội dung ca dao xứ Nghệ và Xứ Bắc thì ca dao xứ

Nghệ phong phú hơn khá nhiều chủ đề được phản ánh”[25]. Về ca dao tình yêu nam nữ của xứ

Bắc và xứ Nghệ, Nguyễn Phương Châm nhận xét: “Đây là một chủ đề được phản ánh viên mãn

nhất trong ca dao hai vùng. Tuy vậy, cách thể hiện các cung bậc tình yêu âm hưởng những lời

ca dao có khác nhau… Cao dao xứ Bắc mượt mà, êm dịu hơn, ca dao tình yêu xứ Nghệ bộc

trực, thẳng thắn và quyết liệt hơn”[25]. “Ca dao tình yêu xứ Nghệ ngoài cái chất lãng mạn vốn

có của ca dao Việt Nam, nó còn rất thực tế, gần gũi với cuộc sống đời thường đôi khi táo bạo

mãnh liệt”[25].

Sau khi nhận xét chung về nội dung, Nguyễn Phương Châm đã đi sâu so sánh các khía

cạnh trên bình diện thi pháp. Về ngôn ngữ, tác giả viết: “Cả ca dao xứ Nghệ, xứ Bắc trong ngôn

ngữ đều có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường nhưng sự hoạt động của

ngôn ngữ đời thường mạnh mẽ hơn trong ca dao xứ Nghệ. Ở nơi này, ngôn ngữ đời thường đi

vào ca dao một cách tự nhiên làm cho một số lời ca dao có cái chất phác, hồn nhiên gần với

hiện thực đôi khi còn hơi thô” [25].

Về cách sử dụng địa danh, tác giả nhận xét: “Nhắc đến tên núi, tên sông như bao nơi khác

nhưng ca dao xứ Nghệ thường dùng một cặp núi - sông tạo thành biểu tượng cho quê hương

mình…” “Cách dùng một cặp địa danh núi -sông như thế đã trở thành một môtip quen thuộc

thường gặp trong ca dao xứ Nghệ”[25].

Về thể thơ Nguyễn Phương Châm cho rằng: “Cùng mang đặc điểm chung của ca dao Việt

Nam, ca dao xứ Nghệ và xứ Bắc được sáng tác theo thể thơ lục bát là chính nhưng điều khác

nhau cơ bản giữa ca dao hai vùng là ca dao xứ Nghệ có nhiều biến thể và ít có lời ca dao được

sáng tác theo thể lục bát hơn ca dao xứ Bắc”.

Về không gian nghệ thuật, tác giả đã đưa ra những nhận xét khá cụ thể: “Không gian nghệ

thuật cũng có sự khác nhau giữa ca dao xứ Nghệ và ca dao xứ Bắc, Cũng là không gian làng

quê nhưng ca dao xứ Bắc nói một cách xa xôi bóng gió nhiều hơn là cụ thể... Không gian trong

ca dao xứ Nghệ thường cụ thể, gần gũi thân thiết với con người lao động hơn”. “Ngoài những

không gian làng quê như thế, ca dao xứ Nghệ còn mở rộng ra những không gian rộng lớn mênh

mông của biển, cao ngất của núi thể hiện ý chí của con người nơi này… Đó là những không

gian mở, động và rộng rãi hơn ở ca dao xứ Bắc.”

Về phương ngữ, Nguyễn Phương Châm cũng có những quan sát riêng: “Mỗi địa phương

đều có nét riêng về ngôn ngữ và ngôn ngữ ấy in dấu đậm nét vào ca dao. Xứ Bắc thực sự đã mờ

nhạt phương ngữ nhưng xứ Nghệ, tiếng Nghệ từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà

ngôn ngữ học…”. “Nhắc đến ca dao xứ Nghệ, đọc ca dao xứ Nghệ điều khác biệt đầu tiên có lẽ

là phương ngữ và cũng chính phương ngữ xứ Nghệ đã làm cho ca dao xứ Nghệ hay hơn, hấp

dẫn hơn, có tình hơn, độc đáo hơn và nó còn là một tư liệu giúp cho việc tìm hiểu lại lịch văn

hoá của xứ Nghệ và cả dân tộc Việt”[35].

Tác giả không những đi sâu tìm hiểu những nét khác nhau cơ bản giữa ca dao xứ Bắc và

xứ Nghệ trên bình diện thi pháp mà còn giải thích nguyên nhân của sự khác nhau đó: “Nhân tố

nào là quan trọng làm nên sự khác nhau này?”. “Theo chúng tôi nhân tố đầu tiên có tính chất

quyết định chính là điều kiện tự nhiên. Có thể nói xứ Nghệ là khu vực có khí hậu đặc biệt ở

nước ta. Ca dao xứ Nghệ không được nhẹ nhàng, uyển chuyển, bóng bẩy như ca dao xứ Bắc

cũng là điều dễ hiểu”[25].

Những đặc trưng khái quát của ca dao xứ Nghệ trong sự so sánh với ca dao xứ Bắc và ca

dao các tỉnh Trung Bộ còn được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu khác như luận án

tiến sĩ của Trần Thị Kim Liên với đề tài “Tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người

Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam”, luận án thạc sĩ của Trần Văn Nam với đề tài“Biểu trưng

trong ca dao Nam Bộ”, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Điệp với đề tài “Biểu trưng nghệ

thuật trong ca dao truyền thống người Việt”.

Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao xứ Nghệ, nhưng việc nghiên cứu, khảo sát

đặc điểm nội dung và thi pháp của ca dao xứ Nghệ vẫn là một đề tài cần tiếp tục được quan

tâm.

3. Giới hạn đề tài

Kho tàng ca dao xứ Nghệ rất phong phú, bao gồm ca dao của nhiều tộc người như ca dao

của người Thái, ca dao của người Kinh ca dao của người H’Mông…Ở đề tài này chúng tôi chỉ

khảo sát, nghiên cứu ca dao người Kinh ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Nghiên cứu, khảo sát

của luận án chủ yếu dựa vào phần sưu tầm của những nhà nghiên cứu nổi tiếng như Nguyễn

Đổng Chi, Ninh Viết Giao. Tư liệu chính được sử dụng là “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” do Ninh

Viết Giao chủ biên, NXB Nghệ An, năm 1996 (tập 1 và tập 2) và “Hát Phường Vải” do Ninh

Viết Giao sưu tầm và biên soạn, NXB Văn hoá Thông tin - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông

Tây, năm 2001. Đúng ra phải gọi đề tài này là ca dao hay dân ca sưu tầm ở xứ Nghệ, vì ngoài

những bài nói lên đặc điểm địa phương mang địa danh và nhân danh cụ thể, mang tính cách của

con người xứ Nghệ, mang phương ngữ Nghệ Tĩnh, nhiều bài trong quá trình giao lưu giữa các

miền, do người xứ Nghệ hay người địa phương khác sáng tác ra, giờ đây chưa xác định được.

Luận án chỉ khảo sát những bài được sưu tầm trên đất Nghệ Tĩnh và bấy lâu nay được người

Nghệ Tĩnh giữ gìn, thưởng thức, lưu truyền.

Ngoài ra, để làm rõ hơn đặc điểm ca dao xứ Nghệ chúng tôi còn chọn một số tư liệu về ca

dao miền Bắc, ca dao xứ Quảng, ca dao Bình Trị Thiên, ca dao xứ Huế, ca dao Miền Nam

Trung Bộ… để so sánh, đối chiếu với ca dao Nghệ Tĩnh.

Luận án giới hạn trong việc khảo sát ca dao truyền thống, tức ca dao xuất hiện từ năm

1945 trở về trước, không nghiên cứu mảng ca dao hiện đại.

Trong công trình này chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn diện ca dao xứ Nghệ vì

điều đó đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, mà chỉ muốn nêu lên những đặc điểm mà chúng tôi

cho là khá nổi bật của ca dao xứ Nghệ so với ca dao của một số vùng trong cả nước.

4. Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây :

4.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: đối tượng nghiên cứu của luận văn là ca dao xứ

Nghệ. Bản thân ca dao là hiện tượng văn hoá dân gian, gắn với điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội,

bản sắc văn hoá của từng vùng, miền cụ thể. Ca dao luôn gắn liền với môi trường văn hoá văn

nghệ dân gian, vì vậy sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (phương pháp nghiên cứu

văn học, văn hóa học, ngôn ngữ học, dân tộc học…) là thích hợp nhất. Khai thác thành tựu

nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau sẽ giúp tìm hiểu đặc điểm ca dao xứ Nghệ đầy

đủ và có cơ sở khoa học hơn.

4.2. Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp rất được quan tâm vận dụng trong luận

án. Những con số thống kê cũng phần nào cho thấy đặc điểm của ca dao xứ Nghệ. Phương pháp

thống kê tạo cơ sở khoa học cho những nhận xét, kết luận, làm cho các nhận xét, kết luận này

có tính thuyết phục, không mang tính chất cảm tính, chủ quan.

4.3. Phương pháp so sánh:Ca dao tồn tại không phải chỉ ở xứ Nghệ mà ở khắp cả nước,

gắn liền với nhiều địa phương, dân tộc khác nhau. Các miền khác của đất nuớc (đồng bằng Bắc

Bộ, vùng Bình Trị Thiên, xứ Quảng, Nam Bộ) cũng có ca dao với những đặc điểm riêng của

từng vùng văn hóa. Vì vậy, sử dụng phương pháp so sánh sẽ làm nổi bật đặc điểm riêng của ca

dao xứ Nghệ so với ca dao các vùng văn hóa khác.

4.4. Phuơng pháp hệ thống: Phương pháp này giúp nghiên cứu ca dao trong hệ thống vấn

đề liên quan, hệ thống của văn học dân gian, của văn hóa dân gian, của văn học nói chung.

4.5. Phương pháp lịch sử - cụ thể: Giúp xem xét hiện tượng văn học trong bối cảnh sinh ra

nó và trong diễn biến lịch sử. Nghiên cứu đặc điểm ca dao xứ Nghệ cũng rất cần sử dụng

phương pháp luận này.

5. Kết cấu luận án

Luận án gồm các phần sau đây:

MỞ ĐẦU

Chương 1: Sơ lược về vùng văn hóa xứ Nghệ

Chương 2: Đặc điểm nội dung ca dao xứ Nghệ

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của ca dao xứ Nghệ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chương 1: SƠ LƯỢC VỀ VÙNG VĂN HOÁ XỨ NGHỆ

1.1 Về các khái niệm: xứ Nghệ, ca dao xứ Nghệ

1.1.1. Xứ Nghệ: (bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay) hay còn gọi là Nghệ Tĩnh, là

một vùng đất cổ, một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộc khu vực phía Nam

nhà nước Văn Lang và Âu Lạc xưa. Và xa hơn, vùng Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt Thường thời cổ.

Mười tám đời Vua Hùng dựng nước còn để lại dấu tích trên mảnh đất này. Theo sách “Lịch sử

Nghệ Tĩnh”[149], xứ Nghệ vốn thuộc đất Việt Thường, đến đời Tấn của Trung Hoa thuộc

Tượng Quận. Dưới triều nhà Hán, vùng Nghệ Tĩnh có tên là Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân

ngang với Hàm Hoan cũ đặt tại thành quận Cửu Đức. Xứ Nghệ có tên là Cửu Đức. Dưới triều

nhà Tấn, nhà Tống, xứ Nghệ vẫn được gọi là Cửu Đức. Đầu thế kỉ VI nhà Lương đổi Cửu Đức

thành Cửu Châu, xứ Nghệ được gọi là Đức Châu. Nhưng đến nhà Tùy lại đổi Đức Châu thành

Hoan Châu, tên Hoan Châu có từ đó. Đến năm 607, Tùy Dưỡng đế bỏ các châu cũ và đặt ra các

châu quận thì Cửu Đức (tương đương với Nghệ An), Kim Ninh, Giao Cốc, Năm Lăng, Phúc

Lợi (tương đương với Hà Tĩnh) thuộc quận Nhật Nam. Đến đời nhà Đường các châu quận như

tên cũ. Năm 622 nhà Đường đổi Nhật Nam thành Nam Đức và vào năm 628 lại đổi thành Đức

Châu sau đó lại đổi thành Hoan Châu. Đến Năm 679 nhà Đường lại tách Hoan Châu thành 2

Châu: Diễn Châu và Hoan Châu. Diễn Châu tương đương với các huyện Bắc xứ Nghệ (Quỳnh

Lưu, Diễn Châu, Yên Thành) và vùng núi phía Tây Bắc Nghệ Tĩnh. Hoan Châu bao gồm các

huyện phía Nam Nghệ An và Bắc Hà Tĩnh.

Vào năm 1010, nhà Lý chia nước ta làm 24 lộ thì Diễn Châu và Hoan Châu chia thành hai

lộ. Vào năm Thông Thụy thứ 3 (1036), Lý Thái Tổ đổi Hoan Châu thành Châu Nghệ An và

danh xưng Nghệ An từ đó.

Vào năm 1428 Lê Lợi chia nước ta thành 5 đạo thì Nghệ An và Viễn Châu thuộc đạo Hải

Tây. Đời Lê Thành Tông (1469) định lại bản đồ, xứ Nghệ được gọi là Nghệ An thừa tuyên.

Triều Nguyễn, Quang Trung đổi Nghệ An thành trấn Nghĩa An. Đầu Nguyễn các đơn vị hành

chính trên đất Nghệ vẫn giữ nguyên như cũ. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) nhà Nguyễn cắt

hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa của Nghệ An thành lập tỉnh mới là Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 6

(1852) nhà Nguyễn lại bỏ Hà Tĩnh cho Lộ vào Nghệ An.

Đến năm 1875, lại đặt tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 27/12/1975, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam khóa V kỳ họp 2 ban hành Nghị quyết hợp nhất tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

thành một tỉnh gọi là Nghệ Tĩnh.

Đến ngày 12/8/1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kỳ

họp thứ 9 ra nghị quyết chia Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Như vậy, xét theo chiều dài lịch sử “Nghệ Tĩnh” trải qua nhiều biến cố, nhiều cách gọi, lúc

phân lúc hợp nhưng vẫn gắn kết làm một: là Hoan Diễn (ngày xưa) và là xứ Nghệ (ngày nay).

Các nhà nghiên cứu dùng từ “Nghệ Tĩnh” để chỉ chung 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh như một

đơn vị truyền thống, thống nhất về mặt văn hoá dân gian.

1.1.2. Ca dao xứ Nghệ

1.1.2.1. Thơ dân gian và các thể thơ dân gian

Thơ dân gian (còn gọi là thơ ca dân gian) là những lời hát có vần, có nhịp điệu được

sáng tạo bởi quần chúng lao động. “Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời

sống con người, những bài hát trong lao động của người nguyên thủy, những lời cầu nguyện

nói lên những mong ước tốt lành cho mùa màng và trong đời sống, các bài niệm chú có thể

được xem là những hình thức đầu tiên của thơ ca. Phải nói rằng thơ chỉ thực sự hình thành khi

con người có nhu cầu tự biểu hiện. Khi nói đến thơ ca theo quan niệm thông thường thì thuật

ngữ này hàm nghĩa cho cả các thể loại tự sự và trữ tình” [56]. Theo định nghĩa trên thì mọi thể

loại văn vần dân gian đều được coi là thơ.

Bàn về hình thức và thể loại thơ ca Việt Nam, các tác giả Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức

gọi thơ ca dân gian là “Thơ ca cổ truyền Việt Nam” bao gồm các loại sau đây:

1. Các thể văn vần dân gian như tục ngữ, câu đố, ca dao, dân ca, vè,.. đó là thể loại gốc.

2. Các thể thơ ca cổ truyền áp dụng vào các dàn nhạc như dàn sáo phường, dàn nhạc cung

đình, dàn nhạc sân khấu.

3. Các thể thơ ca cổ truyền áp dụng vào văn học viết trong các thể như ngâm khúc, truyện

thơ, sử ca [138].

Theo quan niệm trên, thơ ca dân gian bao gồm tất cả các thể loại văn vần dân gian từ tục

ngữ, câu đố đến ca dao. Trong thực tế, có những câu tục ngữ, câu đố có hình thức câu thơ lục

bát nhưng đó là những câu nói có vần, có chức năng chủ yếu là nhận thức.

Do đó, khi phân định ranh giới cá thể loại văn học dân gian các tác giả Đinh Gia Khánh và

Chu Xuân Diên phân thành 4 loại lớn:

- Lời ăn tiếng nói của nhân dân: tục ngữ câu đố.

- Các thể loại tự sự dân gian: Cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, vè.

- Các thể thể loại trữ tình dân gian: ca dao, dân ca, các câu hò lao động, các bài hát lễ

nghi.

- Sân khấu dân gian: chèo sân đình [102].

Cách phân loại này hợp lí hơn vì nó phân biệt được các thể loại thơ ca dân gian với các

thể loại khác như tục ngữ, câu đố, vè, các loại hình sân khấu…Trong các cách phân loại này, ta

thấy ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian. “Ca dao là những

sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những

điểm nhất định và bền vững về phong cách. Ca dao đã trở thành một thuật ngữ để chỉ một thể

thơ dân gian”[109]. Không chỉ có ca dao, các thể loại dân ca khác cũng vậy, chẳng hạn như hát

ví, hát giặm, hát phường vải, hát ví giặm… của Nghệ Tĩnh đều là thơ ca dân gian.

1.1.2.1. Các thể thơ dân gian xứ Nghệ

Đối chiếu với các thể loại trữ tình trong kho tàng văn học dân gian người Việt, Nghệ

Tĩnh cũng có đủ các thể loại thơ ca dân gian như hò, ví giặm, hát ru, hát sắc bùa, hát thờ cúng

dân gian, chèo, ca trù, xẩm, đồng dao và ca dao.

Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian Nghệ Tĩnh, trong các thể loại trên thì có thể

hò, ví giặm là những thể loại gốc, ra đời và phát triển trên đất Nghệ Tĩnh, còn các thể loại khác

thuộc họ lai, không chỉ tồn tại ở địa bàn Nghệ Tĩnh mà cũng có ở những nơi khác. Thơ ca dân

gian Nghệ Tĩnh có ba thể loại chủ yếu, trong đó, ổn định và đặc sắc nhất là hát giặm, hát ví

phường vải và ca dao. Đây là những thể loại có số lượng lời thơ rất lớn, vừa dùng để hát nhưng

cũng có thể dùng để ngâm hoặc đọc.

- Giặm là dân ca lao động phát triển thành dân ca sinh hoạt trữ tình. Hát giặm thịnh hành

ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương (Nghệ An), Can Lộc, Thanh Hà, Cẩm Xuyên,

Kỳ Anh (Hà Tĩnh).

- Hát phường vải là một thể hát ví. Hát ví Nghệ Tĩnh, trước khi trở thành những lời giao

duyên giữa đôi bên nam nữ, là những lời dân ca lao động gắn liền với nghề nghiệp của các hội,

phường như ví phưởng vải, ví phường gặt, ví phường củi, ví phường nón, ví phường đan…

- Ca dao xứ Nghệ là những lời dân gian được nhân dân Nghệ Tĩnh sáng tạo hoặc tiếp thu

từ các thể loại dân ca khác và sáng tạo lại theo hình thức, nội dung, đề tài và mục đích giao

tiếp của ca dao sau khi đã tách rời giai điệu âm nhạc và hoàn cảnh diễn xướng của các loại

dân ca ban đầu. Trong ý nghĩa này, ca dao xứ Nghệ không bao hàm đồng dao, tục ngữ. Ngoài

những bài ca dao do nhân dân xứ Nghệ sáng tác, những lời ca dao hay dân ca sưu tầm ở xứ

Nghệ, có nhiều bài, trong quá trình giao lưu giữa các miền, do người địa phương khác sáng tác

ra. Nhưng những bài ca dao này đều nằm trên đất Nghệ Tĩnh và được người dân xứ Nghệ lưu

truyền.

Trong 3 thể loại: hát dặm, hát ví phường vải, và ca dao thì ca dao là thể loại đặc sắc hơn

cả. Có thể nói, không có lĩnh vực nào của đời sống con người Nghệ Tĩnh lại không có tiếng nói

của ca dao. Ca dao Nghệ Tĩnh lại mang nhiều nét sáng tạo độc đáo cả về nội dung và hình thức.

1.2. Một số đặc điểm nổi bật về địa lí, lịch sử và văn hóa xứ Nghệ

Nghệ Tĩnh, còn gọi là xứ Nghệ… là một vùng đất có những đặc điểm riêng về thiên nhiên,

lịch sử, tiếng nói, con người, về sinh hoạt văn hóa rất dễ dàng phân biệt với những vùng văn

hóa khác trên đất nước. Những điều kiện địa lí, lịch sử, những thăng trầm đau thương và anh

dũng đã hun đúc cho người xứ Nghệ những tính cách riêng biệt. Không phải ngẫu nhiên mà đã

có ý kiến nhận xét rằng “không có miền nào lại có bản ngã rõ rệt bằng miền này”[37].

Xứ Nghệ có nhiều cảnh đẹp như tranh vẽ, cho nên không hiểu từ đời nào đã xuất hiện câu

ca dao như là một lời chào mời:

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô.. ”

Là một phần máu thịt của Việt Nam, Nghệ Tĩnh gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh với 16

ngàn cây số vuông diện tích, cùng chung một dải đất liền với các địa phương khác.

Trước hết, về địa hình, địa mạo, Nghệ Tĩnh có núi rừng trùng điệp, mênh mông, chiếm

ngót hai phần ba diện tích. Núi trải dài và dày đặc ở phía Tây, bốn mùa mây phủ, được nhân

dân quen gọi là dãy Trường Sơn, núi đâm thẳng ra biển gọi là Đèo Ngang (hay Hoành Sơn).

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí gọi Nghệ An là “Đất tứ đắc’’ ý nói bốn bề hiểm trở, có lẽ cũng

vì thế. Gần như đây là một vùng chỉ choáng ngợp những núi và biển, nhiều sông ngòi. Trong đó

có dòng sông Lam (hay sông Cả) vừa dài vừa sâu, vắt ngang từ thượng nguồn trên đất nước

Lào anh em xuôi theo hướng Đông Nam, qua nhiều núi đá hiểm trở có trên 130 ghềnh thác lớn.

Núi sông như thế tạo thành nét đẹp nên thơ vừa tạo nên cái vẻ gân guốc rắn rỏi cho Nghệ Tĩnh,

đồng thời nó cũng chia cắt mảnh đất này thành nhiều khu vực. Thiên nhiên Nghệ Tĩnh hiểm trở

gập ghềnh nhưng không đến nỗi hỗn độn. Đối với việc trồng trọt, thiên nhiên quả thực là không

thực tình hào phóng, buộc con người phải vất vả nhiều, nhưng cũng luyện cho con người chí

phấn đấu cao.

Nghệ Tĩnh là khu vực có khí hậu khá đặc biệt. Mùa nóng phải chịu những đợt gió Lào, cái

nóng rang bụi khô thu góp từ lục đại xa xôi trút về đây. Đây cũng là nơi phải chịu những trận

bão xuất phát từ Thái Bình Dương mang theo những cơn gió xoáy hoặc một khối lượng nước

lớn tạo thành lụt kinh khủng, gây thiệt hại về người và của không phải là ít. Nghệ Tĩnh là vùng

vừa lạnh, vừa khô. Nói chung là vùng có khí hậu khắc nghiệt với sinh vật, trước hết là đối với

con người và cây lương thực. Từ nạn này đến nạn khác, tình trạng oái oăm thường gặp là nhiều

khi lo chống hạn chưa xong thì bão lụt đã bất ngờ ập tới. Khí hậu khắc nghiệt cộng với đất thiếu

màu mỡ làm cho nghề trồng trọt khó phát triển, thu hoạch không bù đắp cho công sức vất vả bỏ

ra. Từng tấc đất ở đây đều thấm máu và mồ hôi của cha ông. Hạnh phúc dường như luôn bị đe

dọa nếu không nói là bị lãng quên. Cuộc vật lộn giữa con người và thiên nhiên diễn ra khá liên

tục, điều này được phản ánh rất rõ qua văn học dân gian nói chung và ca dao xứ Nghệ nói riêng.

Về mặt dân tộc và ngôn ngữ, Nghệ Tĩnh cũng là một vùng đáng được chú ý. Hiện nay

chiếm phần lớn dân cư Nghệ Tĩnh là dân tộc Kinh (Việt), người Thái là dân tộc chiếm đa số ở

miền núi, ngoài ra có người H’Mông, Đan Lai, Ly Hà, Cuối, Thổ, TàyPoong (Nghệ An), Mã

Liềng, Cọi (Hà Tĩnh)… Người Kinh Nghệ Tĩnh ngày nay nói tiếng Việt - một nhánh của ngôn

ngữ Việt Mường. Trong ngôn ngữ họ còn bảo lưu được khá nhiều từ cổ, đặc biệt là thanh điệu

(mà người các nơi khác cho là “nặng”, là “trọ trẹ”). Trong văn hóa dân gian của họ không phải

đã mất hết vết cổ kính độc đáo, ví dụ điệu hát giặm chỉ lưu hành trong phạm vi Nghệ Tĩnh, có

“chứa chất một cái gì chất phác của con người thời cổ hay của con người ở chốn núi rừng mà cuộc sống còn giản đơn và cách biệt”[187]. Trong tính tình của họ còn phảng phất những nét

chất phác, trung hậu, chậm rãi của người thời cổ. Không phải ngẫu nhiên mà Bùi Dương Lịch

đã viết: “Người Nghệ An khí chất (chất) phác (đôn) hậu, tính tình số đông thường chậm chạp

không sắc sảo cho nên làm việc gì cũng giữ gìn cẩn thận, bền vững, ít bị xao động bởi những

lợi hại trước mắt”[123].

Có thể nói thiên nhiên và xã hội đã phần nào qui định nếp sống cũng như cảm nghĩ, nói

chung là tính cách riêng, là cá tính của con người ở đây, mặc dầu về cơ bản họ vẫn là nông dân,

ngư dân mang tính cách phổ biến như nông dân, ngư dân ở các tỉnh khác trước cách mạng.

Không phải ngẫu nhiên mà có ý kiến nhận xét sau: “Không có miền nào lại có bản ngã rõ rệt

bằng miền này… Có thể nói có một tinh thần Nghệ Tĩnh… Tinh thần đó làm lộ một cách rõ rệt

lòng phụng thờ, sự cố gắng cùng những tính nhẫn nại, kiên quyết của một dân tộc nông nghiệp

chật vật tranh giành lấy một chỗ sống dưới mặt trời ”[76]. Người Nghệ Tĩnh quen nhìn thẳng

vào sự hiểm nghèo, quen sống trong sự hồi hợp lúc nào cũng cần tự vệ. Trong sách “Văn thơ

Phan Bội Châu” có viết: “Các nhà viết phong thổ ngày xưa cho rằng con người xứ Nghệ can

đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan và tằn tiện đến “cá gỗ ” …

Từ tính cách này, con người Nghệ Tĩnh đã góp phần làm nên lịch sử của Tổ quốc, mở ra

những trang sử vẻ vang của xứ Nghệ. Là nơi đầu sóng ngọn gió, Nghệ Tĩnh là “phên dậu của

nước nhà ”, đã nhiều phen là bức thành ngăn chặn, hoặc là mũi tiên phong làm tan rã nhiều đội

quân xâm lược của các quốc gia, các tộc người.

Là vùng gập ghềnh, hiểm trở lại cách xa biên giới Trung Quốc, Nghệ Tĩnh còn là chỗ dựa

của nhiều triều đại phong kiến, để có lực lượng hậu bị và căn cứ chiến lược, tiếp tục các cuộc

chiến tranh chống nạn xâm lăng của giặc phương Bắc. Không những An Dương Vương chống

quân xâm lược Triệu, nhà Trần chống quân Nguyên, nhà Hồ, nhà Hậu Trần chống quân Minh

đều kéo nhau về đây, hy vọng lấy đất này làm một “Cối Kê ” để quật lại kẻ thù, mà Hàm Nghi

chống Pháp cũng chọn nơi Đây để thổi ngọn lửa kháng chiến đi các tỉnh trong Nam ngoài Bắc.

Là đất có nhiều người con nổi tiếng gan góc, mưu trí, kiên cường, bất khuất trong đấu

tranh thiên nhiên cũng như trong đấu tranh xã hội, Nghệ Tĩnh đã từng sản sinh nhiều bậc anh

hùng nghĩa sĩ có tên tuổi hay vô danh làm rạng rỡ sử sách. Mảnh đất này cũng sản sinh nhiều

tài năng xuất chúng trong các lĩnh vực. Đúng như câu phương ngôn cổ:

“Ngàn Hống chon von

Biển ngư bát ngát

Thịnh trị gặp thời

Nhân tài đua phát ”

Nghệ Tĩnh được xem là nơi địa linh nhân kiệt. Trong “Hoan Châu phong thổ thoại ”, Trần

Danh Lâm đã viết:

“Dãy Hồng Sơn trùng điệp cao vút lưng trời, cửa Đan Nhai mênh mông sóng gầm dây đất.

Và: “Nam lớn mật to gan; Nữ mĩ miều duyên dáng… không xa hoa tạo lối Tào Đàng; Nét

tiết kiệm theo người Đường Ngụy…”

Và:“Xóm giềng sẵn lòng giúp đỡ; làng xã quen thói nhún nhường. Công cần hội họp mặc

dù cách phủ cách huyện cũng đến ngay; việc nghĩa đáng làm lập tức muôn miệng muôn lòng

chung một dạ…”[121]

Miền đất xứ Nghệ hùng vĩ, hữu tình, con người xứ Nghệ thông minh, quả cảm. Những tên

núi, tên sông, tên làng tên xã, những phong tục tập quán con người xứ Nghệ đã bước vào những

câu hò, điệu hát, bài ca, tô thắm thêm vẻ đẹp của văn hoá dân gian xứ Nghệ, đặc biệt là kho

tàng ca dao xứ Nghệ và hát phường vải mà chúng ta đề cập đến trong công trình nghiên cứu

này.

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CA DAO XỨ NGHỆ

2.1. Quê hương xứ Nghệ trong ca dao

2.1.1. Thiên nhiên

Nhắc đến xứ Nghệ, mấy ai lại không nhớ đến câu ca dao đẹp như một bức tranh:

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

Bức tranh ấy là nét chấm phá về xứ Nghệ. Những nét đẹp từ dáng núi, hình sông, từ lũy tre

xanh, từ đồng lúa chín, từ những mái nhà tranh, những xóm thôn trù phú ven sông…. Chiêm

ngưỡng vẻ đẹp ấy của xứ Nghệ qua kho tàng ca dao xứ Nghệ lại càng tuyệt vời hơn, bởi ca dao

dân ca sẽ giúp chúng ta “trở về nguồn, trở về với những gì là cốt tủy của dân tộc”[69].

Xứ Nghệ đẹp như tranh vẽ ấy đã đi vào ca dao một cách nhẹ nhàng. Nơi đây có nhiều

thắng cảnh núi non. Đi từ Bắc vào Nam, ta thấy hình ảnh núi Hai Vai – hóa thân của ông Đùng

[66], người anh hùng bị chém cụt đầu thời tiền sử – đứng uy nghiêm, ngạo nghễ giữa vùng

đồng bằng Diễn Châu:

“Hai Vai cao ngất giữa trời

Em qua không được em ngồi thở than

Nhờ ai nhắn hộ em sang

Rằng em nằm nghẹt giữa đàng chờ anh”

Ngọn núi Hai Vai cao ngất, rồi dãy Hồng Lĩnh điệp trùng, dòng sông Lam uốn lượn:

“Non Hồng ai đắp mà cao

Sông Lam ai bới ai đào mà sâu”

Núi Hồng Lĩnh nằm ở trung tâm Nghệ Tĩnh. Đây là dãy núi gắn với rất nhiều truyền

thuyết thiêng liêng về buổi bình minh lịch sử của dân tộc:

“Chín mươi chín ngọn núi Hồng

Chín mươi chín con chim đậu, còn một con vùng ra khơi”

Bên dãy Hồng Lĩnh là dòng sông Lam, con sông lớn nhất xứ Nghệ. Nhắc đến xứ Nghệ, ta

đều nghe đến núi Hồng- sông Lam. Đây là hình tượng sơn - thủy kết tinh, biểu thị tính địa linh -

nhân kiệt của thiên nhiên xứ Nghệ:

“ Vẻ vui Hồng Lĩnh chung tình

Khi thiêng chung đúc, khách tình tài hoa”

Sải bước tiếp vào phía Nam xứ Nghệ, núi Thiên Cầm hiện lên sừng sững. Nơi đây đã xảy

ra kết cục bi thảm của vương triều nhà Hồ thời Minh thuộc:

“ Núi Cao Vọng, bể Kỳ La

Cha con bị bắt cũng là trời xui”

Và có lẽ, nơi tận cùng phía Nam xứ Nghệ là dãy Hoành Sơn như một bức trường thành tự

nhiên chạy theo hướng từ Tây sang Đông và dựng lại trước biển cả mênh mông bằng một đèo

Ngang ngoạn mục:

“Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn

Hoành Sơn mây phủ, dạ còn nhớ anh”

Xứ Nghệ có những danh lam thắng cảnh nổi tiếng vào loại độc nhất vô nhị. Đó là đền Cờn

- một ngôi đền nguy nga tráng lệ, xuất hiện từ rất sớm tại một làng duyên hải ở Quỳnh Lưu:

“ Đồn rằng đức thánh Nghệ An

Quỳnh Lưu bốn tổng đền Cờn vui hơn”

“ Phủ tía, tàn vàng

Cửa đền chín bậc, khắp Nghệ An đâu tày”

Đó còn là chùa Hương Tích - chùa gốc của chùa Hương Tích Hà Tây (nay là Hà Nội), thờ

phật Quan Thế Âm Nam Hải Bồ Tát, rất cổ kính và thơ mộng trên cao sơn Hồng Lĩnh:

… “Chùa Tiên cao tít tịt mù

Bao la ngàn Hống, mây mờ giăng giăng”

Xứ Nghệ còn là căn cứ địa của biết bao cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm của dân tộc ta:

“Sa Nam trên chợ dưới đò

Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh”

“ Đường đi cây núi trập trùng

Tìm đâu bãi tập anh hùng Lam Sơn”

“Ai lên chốn đó Vụ Quang

Nhớ khi Tây tả, cụ Phan dựng cờ”

Lưu vực sông Lam, sông La, sông Phố, những xóm làng ở Diễn Châu, Đô Luơng, Yên

Thành, Đức Thọ, Can Lộc, những tên làng quê vô cùng thân thuộc:

“Đông Thành là mẹ là cha

Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành.”

“Đức Thọ gạo trắng nuớc trong

Ai về Đức Thọ thong dong con người.”

2.1.2. Đặc sản

Đặc sản xứ Nghệ, trong khắp tỉnh, vùng nào cũng có, khắp nơi đều có, thứ nào cũng đặc

biệt nổi tiếng như: cam Xã Đoài, bưởi Phúc Thạch, “cá sông Giăng, Măng chợ Cồn”, “nhút

Thanh Chương, tương Nam Đàn”, nước mắm Vạn Phần, gỗ chợ Mỏ, bò chợ Si…

Việc giới thiệu sản vật quê mình được người dân xứ Nghệ sắp xếp có vần, giới thiệu, ghi

nhận một cách đầy đủ, rạch ròi, mỗi sản phẩm gắn liền với một địa danh, một làng, một vùng,

không nhầm lẫn vào đâu được. Ví như: “Khoai La Mạc, lạc Cao Điền, tiền Hạnh Lâm, mâm

Văn Chấn, mấn Cát Ngạn”. Hoặc “xáo Chiềng Men, khèn Bản Lạ, cá Xốp Xuồng”. Nghĩa là

con gái đẹp như con gái bản Chiềng Men, Khèn bè đẹp và kêu như khèn bản Lạ, cá như cá

vùng Xốp Xuồng. Những vùng trung du xứ Nghệ thường được ca ngợi nhiều về thu hoạch các

loại sản phẩm. Bởi đây là vùng dất đỏ Bazan màu mỡ trù phú. Ca dao xứ Nghệ còn ghi lại :

“Trù rừng, cau rễ thuốc xanh

Ai về Kẻ Nậu với anh thì về”

“Kẻ Chảo đất đỏ như son

Trầu lộc lắm lá, cau non lắm tiền”

Những sản phẩm như song, nu, mây, măng, nấm là những lâm sản quí giá của dân vùng sơn

cước:

“Kẻ Mơ là đất nu, mây

Mấn thì trổ (chuông) rưỡi, nợ xây tứ bề”

Những loài hoa quả ngon nổi tiếng một thời ở xứ này đã để lại trong dân gian những nỗi

thèm khát khi nhắc đến bưởi, cam, mít, quýt:

“Ai hay mít ngọt, trám bùi

Có về Cát Ngạn với tui thì về”

Rồi một vùng Yên Phú (Thạch An, Thanh Chương) giàu có, trù phú, con người thì thong

dong nhàn hạ, là vùng lắm khoai nhiều lúa, ai ai cũng thèm muốn, thế mới nảy sinh ra câu ca:

“Tháng chín gạo trắng nước trong

Ai về Yên Phú thong dong con người

Yên Phú lắm thóc nhiều khoai

Lắm hàng buôn bán ai ai cũng giàu”

Vùng ven biển Quỳnh Lưu đến Kì Anh, có những hải sản được chế biến vẫn đậm đà hương

vị quê hương, xứ sở. Đó là món cá tươi nướng chín thơm ngon ở Cửa Hội:

“Ai về Cửa Hội quê tôi

Cá thu, cá mực, cá mòi thiếu chi”

Đó là món canh hến ngọt, mát không thể thiếu trong mâm cơm đạm bạc của người dân xứ

Nghệ mỗi độ hè về đầy nắng nóng :

“Quê tôi vốn ở Nguyệt Đàm

Tôi đi bán hến chợ Sa Nam gần kề

Hến tôi ngon gớm ngon ghê

Ai muốn ăn hến thì về quê tôi”

Một số đặc sản khác thuộc vùng đồi núi, trung du, đồng bằng xứ Nghệ như chè xanh,

bưởi, măng, tương, nhút…

“Hãy về Phúc Trạch ơi em

Bưởi ngon có tiếng ai cũng(sèm) thèm muốn ăn”

“Thanh Chương ngon cá sông Giăng

Ngon khoai La Mạc, ngon măng chợ Chùa”

“Ra đi anh nhớ Nghệ An

Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam Đàn thơm tương”

Mặc dù đã có những sự mai một, thất truyền của các làng nghề truyền thống xứ Nghệ,

nhưng tất cả những sản vật ấy giờ đây và mãi mãi về sau vẫn được lưu lại trong ca dao, tục ngữ

của xứ sở này.

2.1.3. Địa danh

Trong ca dao xứ Nghệ, ta thấy những tên núi, tên sông, tên làng, tên xã… những địa danh

ấy được đưa vào ca dao làm cho ta thêm hiểu, thêm yêu, và gắn bó với quê hương đất nước.

Ca dao Xứ Nghệ nói nhiều đến Kim Liên, nơi chôn nhau cắt rốn của Hồ Chủ tịch:

“Nhất vui là cảnh Kim Liên

Vui chùa nhờ tượng, tốt sen nhờ Chùa.”

Hay:

“Chiều chiều ra đứng Cồn Tiên,

Trông về cái cảnh Kim Liên vui vầy”

Tất cả địa danh trong ca dao Nghệ Tĩnh đều thật, thật mà đọc lên vẫn gợi một cái gì sâu

thẳm trong kí ức để mà bâng khuâng, yêu mến:

“Sông Lam thì nhớ Rú Đuồi

Đá Bia mây dựng nhớ đất bồi bờ sông”

Cũng có khi, những tên làng, tên núi, những địa danh ấy đi vào ca dao như hình tượng của

sự nhớ nhung, mong chờ :

“Hồng sơn cao ngất mấy trùng,

Lam Giang mấy tượng thì lòng mấy nhiêu”

“Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn ,

Hoành Sơn mây phủ, dạ còn nhớ anh”

Tất cả các địa danh đã đi vào ca dao tự nhiên và nhẹ nhàng như hơi thở, càng gợi lên cho

ta sự gần gũi, yêu mến. Ta yêu hơn dòng sông Lam - con sông lịch sử, con sông trữ tình, yêu

biết mấy dãy núi Hồng chon von 99 ngọn, yêu lèn Hai Vai, dãy núi Thiên Nhẫn, núi Đại Huệ,

núi Giăng Màn, đình Hoành Sơn, đường Thái Lão, bãi Cửa Lò, cổ thành Trà Long, Nghệ

An…Yêu biết mấy cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, nhãn Đặng Sơn, nước chè Gay... đồ mỹ

nghệ ở Nghi Kim, Nghi Thái, đồ mộc ở Thái Yên, cái võng ở Hoàng La, cái tơi cái nón ở Thạch

Hà…Có thể nói những địa danh ấy đã vẽ lên một xứ Nghệ trong ca dao với đầy đủ cung bậc,

sắc thái và màu sắc. Ca dao là nơi lưu giữ lại những điều kì diệu ấy của làng quê xứ Nghệ. Năm

tháng qua đi, làng xã có thể thay tên, biến hình, nhưng vẫn còn đó những cái tên của một thời

lịch sử. Thế hệ sau sẽ biết về một đất Hồng Lam qua kho tàng ca dao xứ Nghệ.

Đối với địa danh học, địa danh trong văn học dân gian là những cứ liệu sống giúp người

nghiên cứu qua đó xác định được sự có mặt tại một địa bàn và những đặc điểm của nơi được

định danh. Những tư liệu này sẽ giúp chúng ta minh xác sự tồn tại của các địa danh.

Trong ca dao Nghệ Tĩnh, sông Lam và núi Hồng là hai địa danh tạo nên bức tranh sơn thủy

hữu tình:

“Non Hồng ai đắp mà cao

Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu”

Núi Hồng, Sông Lam còn biểu trưng cho lòng dũng cảm, khí phách con người:

“Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây

Sông Lam hết nước, thù này mới nguôi”

Từ các địa danh trong ca dao, chúng ta có thể hiểu đặc sản, tính chất con người từng khu

vực, như cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, nhãn Đặng Sơn, khoai chợ Rộ. Ví dụ:

“Thanh Chương là đất cày bừa

Nam Đường bông vải hát hò thâu canh”

Hay:

“Đặng Sơn người đẹp nước trong

Dâu non xanh bãi, tơ vàng đầy sân”

Đặng Sơn trước đây là tổng và bây giờ chính là các xã Đặng Sơn, Bắc Sơn, Nam Sơn

huyện Đô Lương.

“Ai về Hà Tĩnh thì về

Mặc lụa chợ Hạ, uống chè Hương Sơn”

Nho Lâm ở Diễn Châu có nghề luyện sắt nổi tiếng. Hơn thế, xét về mặt ngôn ngữ học,

vùng này có ngữ âm rất “lạ”, khác biệt với khu vực khác, đặc biệt có cảm từ “mà lề” đứng sau

câu với ý nhấn mạnh :

“Nho lâm than quánh nặng nề

Sức em đương được thì về Nho Lâm”

“Nho Lâm ăn nói nặng nề

Tiếng nói đi trước, “mà lề” theo sau”

Ca dao đã chỉ cho chúng ta biết các địa danh có nghề nghiệp vất vả:

“Kẻ Dặm đục đá nấu vôi

Miệng thì thổi lửa tay lôi rành rành.”

Kẻ Dặm tức là Diễn Minh, Diễn Châu là thế, còn Đồng Chùa thuộc xã Khánh Thành, Yên

Thành lại khác:

“Đồng chùa lắm ốc lắm giam

Lắm cá mu mú ai ham thì về

Đồng chùa lắm hẻn lắm trê,

Ai muốn ăn giấm thì về mà ăn”

Như mọi người đều biết, ở Nghệ Tĩnh, có nhiều địa danh nổi tiếng về học hành, đỗ đạt, ví

dụ như Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu:

“Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa

Quỳnh Đôi tơ lụa thủ khoa ba đời”.

Cách sử dụng từ ngữ của dân vùng này cũng khác, khi họ dùng “lèn” là chỉ núi đá vôi như

lèn Hai Vai ở Diễn Châu và dùng từ động, đông, rú thay cho “núi”:

“Lèn Hai Vai cao mấy trượng

Rộc Vang Thượng rộng mấy tầng?

Có o con gái họ Trần

Trai trong thiên hạ lần khân đêm ngày”.

“Nhất cao là động mộng Gà

Thứ nhì rút Gám, thứ ba động Thờ”

Có khi là rú, động đó lại gắn với kinh nghiệm sản xuất, dự báo thời tiết. Hơn thế, ca dao

nói về tình yêu đôi lứa cũng nhắc tới hoặc dùng địa danh để ví von :

“Trai Đông Thái, gái Yên Hồ

Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên”

Hay:

“Gái Hà Đông cho không không lấy

Gái Văn Tập đắt mấy cũng mua”

Cũng như nhiều nơi khác, có những địa danh ở Nghệ Tỉnh tồn tại hai ba tên gọi khác

nhau: Hồng Lĩnh, Ngàn Hống, Ngàn Hồng …

“Bao giờ Ngàn Hống hết cây

Sông Rum hết nước họ này hết quan”

Địa danh Nghệ Tĩnh là một khu vực văn hoá từ khe Nước Lạnh đến đèo Ngang. Bất cứ

địa danh nào của người Việt cũng bao gồm hai yếu tố chứa đựng hai nội dung thông tin khác

nhau: A và B (yếu tố A là danh từ chung chứa đựng thông tin về ngoại hình của đối tượng:

sông, biển, làng, xóm, đền, chùa… và yếu tố B cho biết các thông tin về đặc điểm riêng của đối

tượng hoặc những ý nghĩa mà chủ thể đặt tên gửi gắm vào.)

Đúng như GS.Hoàng Tuệ đã nhận xét: “Một tên riêng tạo nên trong trí óc ta sự liên hệ đến

thực thể. Đó là chức năng ngữ nghĩa của tên riêng”. Các địa danh gắn liền với những địa lý,

lịch sử, văn hoá của một vùng.Vì thế, giải mã được ý nghĩa của địa danh ở một địa phương,

chúng ta sẽ có thêm những hiểu biết phong phú về nhiều mặt.

Có một điều rất dễ nhận ra là trong hát đối đáp xứ Nghệ, địa danh, nhân danh hiện lên khá

nhiều. Nó như một dấu hiệu để người đọc, người nghe nhận ra đây là sản phẩm của quê hương.

Điều đó chứng tỏ từ xưa nhân dân xứ Nghệ nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung đã có ý

thức về giang sơn mình, con người mình. Họ gắn bó mật thiết với con người, cảnh vật, quê

hương.

Mỗi tên làng, tên xã, tên núi, tên sông đã được vận dụng vào các đối đáp một cách linh

hoạt và thân tình.

Xứ Nghệ có khi hiện lên bởi một vùng đất ít thấy trên đất nước ta: Đất Sò. Vào một đêm,

“Đường Sò ngựa trai gái gặp gỡ chào hỏi nhau xong, các chàng trai lên tiếng:

chạy cát bồi

Con sông kia kêu mãi, con phượng ngồi sao yên?”

Thì liền được các cô gái cộng hưởng ngay :

“Hai bên cất giọng cho chuông

Để cho phượng múa với Cuông một hồi.”

Làng quê xứ Nghệ hiện lên trong điệu hò câu hát thật muôn hình, muôn vẻ. Có khi là đặc

điểm thổ âm, thổ nhưỡng và điều kiện sinh sống. Khi giới thiệu về làng Kẻ Dua, chàng trai đã

nói với một cô gái đang có ý định về Kẻ Dua làm dâu:

“Kẻ Dua hay nói giọng dằn

Đường chua nước mặn, khó mần ăn, đừng về”

Đây là làng Kẻ Chẻo (Hương Sơn) qua lời chê của một cô gái:

“Kẻ Chẻo đất đỏ như son

Mới mưa vài hạt, đã bấm mòn ngón chân”

Liền được các chàng trai Kẻ Chẻo đáp lại :

“Kẻ Chẻo đất đỏ như son

Trầu gộc lắm lá, cau non lắm tiền”

“Kẻ” là từ cổ, là danh từ chung chỉ làng. Rất nhiều địa danh ở Nghệ Tĩnh bắt đầu bằng từ

cổ này. Điều đó càng chứng tỏ Nghệ Tĩnh là vùng đất cổ có từ lâu đời. Và những làng có danh

xưng là “kẻ” cũng là làng Việt cổ.

Nhiều khi chỉ một cái tên làng mà cũng có nhiều cách giới thiệu. Các cô gái làng Tràng

Thân thử tài các chàng trai Yên hội bằng câu hát :

“ Gái Tràng Thân thân đã nên thân

Thân những bậc văn nhân tài tử ”

Cái khó ở đây là từ “thân” có ba nghĩa: tên làng, thân phận, quen biết. Cái khó ở đây được

trai Yên Hội giải rất thần tình.

“Trai Yên Hội, hội vừa gặp hội

Hội cùng người thục nữ thuyền quyên”

“Hội” cũng có ba nghĩa: Tên làng, ngày hội, họp mặt, có khi được nhắc tới một cách ý vị

văn chương theo lối chiết tự của các ông đồ xứ Nghệ. Một anh chàng ở xa đến làng nọ tìm

đường đi lại, liền được gái làng hát hỏi:

“Quê anh thì ở nơi đâu

Mà anh thả lưới, buông câu chốn này”?

Anh ta cao giọng ngâm trả lời :

“Giằng đầu nhất khẩu chữ điền

Thảo đầu vuông ngã là miền quê anh”

Thì ra anh ở làng Phú Nghĩa. Có khi tên làng hiện ra theo lối chơi chữ: Cả chữ lẫn nghĩa.

Một cô gái làng Hoàng Lao (Thanh Chương) lên thăm chị lấy chồng làng Vĩnh Phúc cùng

huyện, thấy một anh chàng đang còng lưng đan rổ bèn hát đùa: “Đất Hoàng Lao, chữ lao là

nhọc

Đất Vĩnh Phúc chữ phú là giàu

Em đến đây cũng muốn chị trước em sau

Nhưng mùi trầm hương em nỏ chộ (thấy)

Mà chỉ chộ màu khói mây ”

Anh chàng đã trả lời sát vấn đề nhưng hơi dí dỏm, cái dí dỏm đáng yêu của người con trai

xứ Nghệ:

“Giàu là giàu nơi hương hào dịch mục

Nhọc là nhọc nơi tú cử trâm bào

Khúc trầm hương anh còn để trong bao

Em có đưa cái lò hương đi đó

Để anh bỏ vào cho nó thơm”

Cây đa từ ngàn xưa đã trở nên thân thuộc với mọi miền quê Việt Nam. Ở xứ Nghệ cũng

vậy. Cho nên nhiều chàng trai đi hát thường đề cập tới cây đa làng mình. Trai làng Kẻ Bấn

(Đức Hồng, Đức Thọ) thì hát:

“Cây đa ba nhánh chín chồi

Ai về Kẻ Bấn ăn xôi thì về”

Trai làng Thông Lạng (Hưng Thông - Hưng Yên) lại ngâm:

“Cây đa ba nhánh chín chồi

Ai về Thông Lạng ăn xôi thì về”

Còn con trai làng Tri Lễ (Khai Sơn - Anh Sơn) thì khoe:

“Cây đa ba nhánh chín chồi

Ai về Tri Lễ ăn xôi nếp rồng”

Đã bị một cô gái làng bên nhạo thành :

“Cây đa ba nhánh chín chồi

Ai về Tri Lễ gặm cồi lúa ngô”

Làng quê xứ Nghệ trong hát đối đáp hiện lên với tất cả vẻ đẹp và gian khổ của nó. Đây là

đặc điểm của đất làng Đồng Lưu (Thạch Hà):

“Nước chảy triều mau xuống mau lên

Đất Đồng Lưu bọc địa thiếp mau quên nghĩa chàng”

Đây là cái nổi bật của làng Trường Lưu (Can Lộc):

“Muốn tắm mát thì ra giếng Đoài

Muốn lấy vợ đẹp thì hỏi ngài Tràng Lưu”

Và đây là nét tiêu biểu của trai thanh gái lịch tại hai làng Đông Thái, Yên Hồ của huyện

Đức Thọ:

“Trai Đông Phái, gái Yên Hồ

Gặp nhau làm nổi cơ đồ cũng nên”

Riêng làng Đan Du (Kỳ Anh) có phong cảnh thật hữu tình:

“Đan du nổi tiếng dinh Cầu

Trước có cồn phượng lộn, sau có bàu hóa long”

Còn làng Kẻ Thượng (Đức Thọ) lại giàu có tiếng:

“Trăng lên khỏi ngọn cơn tre

Lấy chồng Kẻ Thượng chở ba ghe tiền đồng”

Làng Chu Lễ (Hương Khê) ngày xưa nghèo khó. Vì thế chàng trai mới hỏi một cô gái:

“Em về Chu Lễ làm chi

Trồng khoai thì lợn ụi, lấy ló (lúa) thì heo ăn”

Thì cô gái đáp:

“Em về Chu Lễ buôn hồng

Bán mua, mua bán mà không thấy chàng”

Đất làng Tình Di, Tình Diệm (Hương Sơn) ngày xưa cũng nghèo lắm, nghèo đến mức một

cô gái nhắn bạn mình bằng một câu hát có tính truyền đời: “Đói lòng ăn

quả chuối ri

Lấy chồng Tình Diệm, Tình Di thì đừng”

Còn đây là làng Nho Lâm (Diễn Thọ – Diễn Châu):

“Nho Lâm than quánh nặng nề

Em mà đang được thì về Nho Lâm”

Địa danh được đề cập nhiều nhất là những cái chợ:

“Hai đầu hai nải chuối xanh

Chợ Bông, chợ Vẹo nuôi anh tứ thời”

“Chợ Chùa, chợ Mõ, chợ Dinh

Ba đồng một quẹt trắng tinh, mặn mà

Em buôn khắp chợ khắp làng

Chợ Chờ, chợ Đại, chợ Tràng, chợ Me

Nắng mưa chiếc nón mỏng che

Mồ hôi lắm lúc đầm đìa áo nâu”.

Đây là chợ Nghèn qua lời hát của một đôi trai gái:

“Chồng em anh đã biết rồi

Con mắt nhão chọet bán vôi chợ Nghèn”

Đây là chợ Giang Đình (Nghi Xuân)

“Thuyền tình thì ghé bến tình

Thuyền buôn thì cứ Giang Đình mà lên”

Là chợ Chế (Nghi Xuân) và chợ Phuống (Thanh Chương) qua lời hát đầy lo lắng thương

yêu của một chàng trai cô gái :

“Thuyền anh xuôi Chế sáu chèo

Thuyền em ngược Phuống cheo leo một mình”

Là chợ Voi qua lời khen chê của chàng trai, khen đất Kỳ Anh giàu đẹp, nhưng chê con gái

vùng chợ Voi không biết ăn diện:

“Nhất cao là núi Hoành Sơn

Lắm hươu Bàn Độ, hở lườn chợ Voi”

Chàng trai bị gái Kỳ Anh bác lại:

“Chữ rằng nhân Kiệt địa linh

Có Hoành Sơn, Bàn Độ mới nảy sinh nhân tài

Chợ Voi chân dép chân giày

Thong dong nhàn hạ ai cày mặc ai”

Là chợ Cầu (Nghi Lộc) đối với người con trai:

“Thương em vô giá quá chừng

Chợ Cầu sắp họp dạ nửa mừng nửa lo”

Đối với người con gái:

“Nhớ chàng đằng đặng như thiên

Chợ Cầu một tháng chín phiên em chờ”

Có khi hai ba cái chợ hiện lên trong một lời thoại:

“Dù anh xuôi Giát ngược Tuần

Hữu duyên thiên lý mấy lần em cũng thương”

“Nay Cồn, mai Rộ, mốt Dùng Hay:

Xong xuôi chợ Cọi biết chừng mô lên”

Địa danh có khi là một chiếc cầu quen thuộc, nhiều người qua lại:

“Ra về cho đến cầu Giằng

Nhớ cha nhớ mẹ không bằng nhớ em”

Địa danh có thể gắn với một vùng quê có những đặc sản nổi tiếng. Đây là vùng quê Ba Xã

(Thạch Hà) :

“Mặt trời nửa đỏ nửa vàng

Em về Ba Xã ăn dưa gang mỏi mồm”

Tên quê hương còn là những dòng sông, cửa biển, những nơi tập trung buôn bán trên nước

thường gọi là Vạn. Vì thế khi xa nhau, bạn buôn thường hẹn nhau nơi gặp lại:

“Thứ nhất là Vạn Tam Soa Thứ nhì Vạn Phố thứ ba Vạn Nầm “

Khi yêu nhau, trai gái thường lấy tên dòng sông quê hương để thề nguyền:

“Trót cùng chàng dan díu bấy lâu

Dù chàng có ngược Ngàn phố Ngàn sâu em cũng chờ”

Hay đem sông ra để bộc bạch nỗi lòng:

“Nước sông Lường ai lắng mà trong

Duyên chàng ai tạc cho lòng nhớ thương”

Có khi là một quãng đường như đoạn từ Cày đến Ba Giang ở Thạch Hà:

“Từ Cày cho đến Ba Giang

Khách bộ hành quay lại thiếp tưởng chàng đi thi”

Khi hỏi về tính danh quê quán, một chàng trai trả lời:

“Quê anh thì ở Nam Đàn

Họ anh họ Nguyễn, tên chàng Lý Mây”

Như vậy thiên nhiên và địa danh được phản ánh trong ca dao xứ Nghệ rất phong phú và

đậm nét. Những bài ca dao xứ Nghệ có tên riêng chỉ địa danh, đặc điểm địa lý thường xoay

quanh những chủ đề khá quen thuộc. Qua những bài ca dao ấy, ta có thể hiểu thêm nhiều đặc

điểm địa lí của vùng đất xứ Nghệ.

Cũng qua những bài ca dao ấy ta hình dung được diện mạo hành chính của xứ Nghệ, địa lý

về tên làng, tên xã, làng nghề…

Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, trong số 2770 lời ca được ghi lại trong “Kho tàng ca dao

xứ Nghệ” tập 1 và 1387 lời ca ở “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” tập 2, cùng 2436 lời ca trong “Hát

phường vải” thì có 14% (924/6593) lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm và đặc điểm địa lý. Khảo

sát về cách dùng này trên một số bình diện ta thấy:

Trong số 924 lời, số lần tên riêng chỉ địa điểm xuất hiện là 1288, những tên riêng ấy gồm

3 loại:

- Tên các đơn vị hành chính, làng, xã, huyện, tỉnh.

- Tên những địa điểm vốn là đối tượng lao động và những địa điểm phục vụ giao thông:

sông, suối, ao, hồ, đầm, giếng, núi, rừng, đèo, hang, biển, cầu, đường, bến…

- Tên những địa điểm thực hiện sinh hoạt xã hội và những địa điểm thực hiện sinh hoạt

văn hóa, tín ngưỡng: chợ, quán, đền, chùa, miếu …

Trong ba loại đó tên các đơn vị hành chính xuất hiện nhiều hơn cả: 711 lần trong tổng số

1288 lần.

Ở loại địa danh này, tên các làng, xã, tỉnh xuất hiện khá phong phú. Trong đó làng 436 lần,

tỉnh 128 lần.

Ca dao xứ Nghệ nhắc nhiều đến tên làng không có nghĩa là người xứ Nghệ có cái nhìn hạn

hẹp, thiển cận. Thực ra văn hóa làng xã gắn chặt với người dân xứ Nghệ. Từng con sông bến

nước, sân đình là chiếc nôi đầu tiên nuôi dưỡng những người con xứ Nghệ. Người dân xứ Nghệ

gắn với làng từ rất sớm, và rất bền vững, đồng thời lại sớm có ý thức dân tộc.

Ở hai loại tên riêng còn lại, tên núi, chợ, chùa xuất hiện nhiều hơn cả. Trong đó sông 52

lần, núi 45 lần, chợ 68 lần, chùa 27 lần.

Trong ca dao xứ Nghệ, địa danh thường gắn với làng xã, dòng sông, ngọn núi của quê

hương xứ Nghệ. Ta thấy ít dùng các địa danh ở Trung Quốc, những điển tích, điển cố. Đó cũng

là một nét riêng của ca dao có địa danh xứ Nghệ. Những câu ca dao có địa danh xứ Nghệ cũng

ít nhiều đi vào trong văn học.

Nếu so sánh với ca dao người Việt nói chung, theo Nguyễn Xuân Kính [109], trong số

4600 lời có 377 lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm, (chiếm 8,2 %). Trong đó, tên đơn vị

hành chính là 325 lần trong tổng số 615 lần, sông 49 lần, núi 41 lần, chợ 50 lần, chùa 18 lần.

Mượn địa danh để diễn tả tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng có 123 trong 377 lời (chiếm 32,6

%). Ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa phương là 72 lời trong 377 lời (chiếm 19,1 %).

Những chủ đề khác như tố cáo, đã kích đế quốc và kinh nghiệm thời tiết, địa lí, khí hậu …

chiếm ít (1,6 %).

Địa danh trong ca dao xứ Nghệ (1288lần /6593bài - 19,5%) Phân loại

Địa danh trong ca dao Việt Nam (615 lần /4000 bài - 8,2%)

Đối tượng lao động, địa điểm phụcvụ giao thông Sông: 49 lần/615 Núi: 41 lần/615 Sông: 52 lần/1288 Núi: 45 lần/1288

325 lần/615 711 lần/1288 Đơn vị hành chính: làng, xã, huyện…

Địa điểm thực hiện sinh hoạt xã hội và văn hóa tín ngưỡng Chợ: 50 lần /615 Chùa: 18 lần / 615 Chợ: 68lần /1288 Chùa: 27lần /1288

Ca dao Việt Nam

Ca dao xứ Nghệ

(4000 bài) (6593 bài) Chủ đề

Tình yêu nam nữ, đời sống vợ 123/377 lời (32,6%) 326/924 lời (35,3%) chồng

Cảnh vật truyền thống địa 72/377 (19,1 %) 105/924 (11,4%) phương

Chủ đề khác : Ít ỏi: 6/377 (1.6 %) 11/924 (2,3%) VD: tố cáo đế quốc

Như vậy, theo thống kê sơ lược ban đầu, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây :

+ Ca dao xứ Nghệ cũng mang những đặc điểm của ca dao Việt Nam. Nét chung về những

lời ca có sử dụng địa danh là điều hoàn toàn hợp lí.

+ Địa danh xuất hiện trong ca dao xứ Nghệ với tần số nhiều hơn so với ca dao cả nước.

+ Việc xuất hiện nhiều địa danh trong ca dao xứ Nghệ tô đậm dấu ấn địa phương của ca

dao. Tìm hiểu về xứ Nghệ, đọc ca dao xứ Nghệ, chúng ta có thể hình dung ra về mọi phương

diện: địa lí, văn hoá, sinh hoạt, con người gắn với từng vùng, từng làng cụ thể.

Khảo sát những lời ca dao có địa danh xứ Nghệ giúp ta hiểu thêm một đặc điểm của ca

dao vùng đất này.

2.2. Đời sống của người xứ Nghệ qua ca dao

2.2.1. Cuộc sống lao động và hoạt động sản xuất

Mảnh đất Nghệ Tĩnh là nơi nuôi dưỡng biết bao con người làm rạng danh đất nước, nơi đã

sáng tạo nên một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú. Một trong những cái nôi để

làm nên những câu hát lời ca, những viên châu ngọc lấp lánh ấy chính là cuộc sống lao động

của người dân xứ Nghệ. Đó là nơi bộc lộ trí tuệ tài năng của người dân xứ Nghệ, những con

nguời làm nên biết bao điều kì diệu trên mảnh đất “mưa quay, nắng đốt”.

Có lẽ do vị trí địa lí đặc biệt và khí hậu vô cùng khắc nghiệt nên ở đây người dân đã phải

đấu tranh, vật lộn với cuộc sống để mưu sinh bằng những nghề khác nhau. Đây là nơi hình

thành và phát triển rất nhiều làng nghề đặc biệt. Đến Nghệ Tĩnh, từ miền ngược đến miền xuôi,

đâu đâu cũng thấy một không khí lao động sôi nổi, người dân cần cù chịu thương chịu khó,

xoay chuyển trăm bề với khí hậu vô cùng khắc nghiệt:

“Thân em khó nhọc trăm bề,

Sớm đi cấy lúa, chiều về hái dâu.

Có gương không kịp rẽ đầu

Có cau không kịp têm trầu mà ăn

Thân em khó nhọc trăm phần

Hết đi ruộng đậu lại lần ruộng dưa

Vội đi quên cả cơm trưa

Vội về quên cả trời mưa ướt đầu”

Họ nghĩ trăm phương nghìn cách, trăm nghề nghìn nghiệp để vượt qua khó khăn. Lên rừng

lấy củi, xuống biển đánh cá, căng buồm ra khơi…Từ bao giờ chẳng biết, những nghề nghiệp

của người dân xứ Nghệ đã đi vào ca dao, được nhắc nhiều trong ca dao, tạo nên một đặc điểm

của ca dao vùng này.

Chu du một vòng xứ Nghệ, nơi núi non gập ghềnh hiểm trở, nơi “địa linh nhân kiệt”, nơi

sơn thủy hữu tình, ta nghe tiếng thoi đưa dệt vải, tơ lụa nghe lách cách quanh năm ở Xuân Hồ,

Xuân Liễu, Tầm Tang, Nam Kim, Hoành sơn, Nam Đàn,… Ta thấy nghiêng nghiêng vành nón

làng Ngang, làng Thọ Toán, chợ Liệu,… ta thấy nong nia, thùng mủng, rổ rá do những người

thợ lành nghề đan lát ở Ngọc Đình, Làng Sen, Xuân La,… Rồi nghề làm đường mật ở Thanh

Đàm, Lương Giai, nghề làm vàng giấy ở Vân Sơn, Nghi Lễ, San Nam,… nghề làm dầu bông,

dàu lạc ở Đan Nhiệm, nghề làm đồ gốm ở Nam Thái, nghề trồng dâu nuôi tằm ở Long Môn,

Nhạn Tháp, Đông Sơn, nghề làm thợ mộc, thợ chạm nổi tiếng ở Nam Hoa Hạ và Nam Hoa

Thượng; nghề đúc nồi nổi tiếng ở Bố Ân, Bố Đức; nghề rèn ở Hà Nam, Quy Chính, nghề làm

gạch ngói ở Hữu Biệt, nghề đóng thuyền ở Vạn Lộc, Hoành Sơn, nghề làm tương ngọt ở Tự

Trì; cào hến, nấu hến, quẹt hàn ở Thanh Đàm, Tuần Lã, nghề nuôi lợn nái ở Nam Kim…

Nhìn vào bức tranh nghề nghiệp hết sức đa dạng đó mới thấy sự tài giỏi, cần cù, chịu khó

xoay sở của người dân xứ Nghệ. Nghề nghiệp phong phú bao nhiêu, lời ca tiếng hát càng đa

dạng bấy nhiêu. Hơi thở của người dân được gửi gắm cả vào ca dao. Tại xứ Nghệ trước đây có

khoảng 100 nghề, làng nghề thủ công cổ truyền. Trong số đó có nghề xuất hiện xa xưa, lâu đời,

có nghề mới ra đời gần đây, có nghề phát triển liên tục trong quá trình lịch sử, có nghề tàn lụi.

Trong nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp trước đây, các nghề, làng nghề thủ công cổ

truyền ấy đã tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu đời sống hằng ngày của nhân dân. Không

ít nghề, làng nghề đã đi vào ca dao, tục ngữ, dân biết mặt, nước biết tên, trở thành di sản của

văn hóa dân gian.

Ca dao xứ Nghệ đề cập khá nhiều đến các nghề thủ công. Nghề đục đá (Quỳnh Lưu), nghề

luyện sắt, nghề rèn (Diền Châu), nghề gốm (chợ Bộng – Yên Thành), nghề đúc đồng (Diễn

Châu), nghề làm muối (Quỳnh Lưu), nghề làm thợ nề (Yên Thành), nghề thợ mộc (Quỳnh

Lưu), nghề đóng thuyền (Cửa Lò), nghề dệt vải (Nam Đàn)…

Qua ca dao, người dân xứ Nghệ thể hiện tình yêu và sự quý trọng đối với lao động nghề

nghiệp của mình:

“ Anh về chăm việc thú quê,

Phận em con gái cứ nghề vải bông”

Hay:

“Xin đừng bắc bậc mà chê

Cái nghề đục đá cũng nghề vinh quang”

Trong hát ví Nam Đàn, một chàng trai đã hát:

“Thiếu chi thợ mộc, thợ xe

Mà em mượn mấn đi ve thợ rèn”

Cô gái đáp lại thật kiêu kì, nêu bật phẩm giá của người lao động:

“Thợ rèn trên búa dưới đe

Thợ rèn có nghĩa ta ve thợ rèn”

Chàng trai lại tiếp lời:

“Thợ rèn trên búa dưới đe

Thiếu chi nho sĩ em ve thợ rèn”

Cô gái vẫn một lòng son sắt với anh thợ rèn, coi thợ rèn là người làm nghề thủ công có ích

vào loại bậc nhất trong xã hội:

“Núi cao thì gọi bằng lèn

Gia Long, Minh Mạng cũng cần tới thợ rèn nữa em”

Qua lời hát đối đáp đó, ta càng thấy được nghề nghiệp còn là một trong những phương tiện

để các chàng trai cô gái thử tài đố trí, thậm chí tìm bạn kết tóc xe tơ.

Cũng có khi nghề nghiệp đi vào lời ca như một lời chế giễu:

“Mấy ông đục quánh đã tài

Khố thì một thước, con ngài đen thui”

Nhưng vẫn có những cô gái tỏ lòng gắn bó một cách chí tình, thiết thực, không màu mè,

bóng gió:

“Hỡi anh gánh quánh đàng xa,

Cho em theo với, cửa nhà em lo”.

Những người làm nghề đục quánh biết cái nghề của mình vô cùng vất vả khó nhọc, chưa

sáng đã phải vào lèn, cả ngày quần quật với đá đất quặng, với cái nắng chang chang bỏng da rát

thịt của ngày hè oi ả, cái rét nhức nhối của ngày đông ủ dột nên họ nói thật:

“Nho Lâm than quánh nặng nề

Sức em đương được thì về Nho Lâm”.

Song đã yêu, đã cảm thông với cái nghề than quánh, gò mình bên núi non, quấn quật bên

ống bễ, cô gái này có sợ gì, bởi vì cô ta biết giá trị của quánh, đặc biệt là giá trị của hai bàn tay

con người làm ra quánh:

“Nho Lâm than quánh nặng nề

Những ông làm quánh kém chi học trò.

Quánh này xây dựng cơ đồ,

Nhà Lê, nhà Nguyễn cũng dùng quánh để điểm tô sơn hà”.

Những lời ca dao ấy vừa như lời tâm sự của cô gái, lại là tình cảm thật lòng yêu mến, mỗi

nghề một giá trị riêng, một đóng góp riêng. Đừng khen chê phân biệt, bởi những nghề tưởng

như hèn kém ấy, lại góp phần “tô điểm sơn hà xã tắc”. Có lẽ chỉ trong ca dao ta mới thấy hết

được những nét đẹp của những cô gái, của những chàng trai trong cuộc sống sinh họat lao động

của họ.

Cũng như là một lời hát về nghề thợ mộc:

“Thiếu chi thầy kí ,thầy đề

Mà ôm thợ mộc thợ nề em ơi”.

Nhưng cô gái đã đã đáp lại những lời thật bốp chát, thật thẳng thắn, như cái tính nóng

thẳng “gió lào” miền Trung vậy:

“ Có phúc thợ mộc, thợ nề

Vô phúc lấy phải thầy kí, thầy đề, thầy thông”.

Qua những lời ca dao ấy, ta thấy người dân xứ Nghệ đã gửi gắm vào ca dao tình cảm của

mình đối với nghề, với công việc.

Biết bao vùng đất nổi tiếng về nghề nọ nghề kia được bà con truyền tụng với lòng tự hào

về quê hương và tình yêu nghề tha thiết:

“Đô Lương dệt gấm thêu hoa

Quỳnh Đôi tơ lụa dễ mà sánh đôi”

“Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa

Cái nghề thợ mộc nhất là Thái Yên”

“Ai qua Phượng Kỷ, Tràng Sơn

Gạch vôi nghề cũ đâu hơn chốn này”

“Mời về Trù, Ú mà coi

Tiếng nghề nồi đất mấy đời đồn xa”

“Dương Phổ là đất tơ tằm,

Em về Dương Phổ em nằm em ăn”

Còn biết bao nơi khác như: “Đất Hồ Liệu dệt vải, đất Bố Đức đúc nồi, đất Chợ Bộng vắt

bình vôi, đất Mĩ Chiêm bày tôi đan nong nia, mủng rá”, “Thợ rèn Trung Lương, mỹ nghệ

Phượng Cương,thợ cưa Chân Lộc, thợ mộc Xa Lang, thợ làm nốc ở Trung Kiên”…cũng rạng

rỡ trong ca dao dân ca.

Những lời ca dao về nghề thủ công ở xứ Nghệ rất phong phú. Nó trở thành một phần rất

quan trọng trong ca dao xứ Nghệ nói riêng và ca dao Việt Nam nói chung. Qua ca dao, ta không

chỉ hiểu về nghề thủ công mà con người xứ Nghệ đã làm, mà còn hiểu được đời sống tâm hồn

của họ. Chính những tâm hồn ấy đã đi vào ca dao, làm nên vẻ đẹp của ca dao xứ Nghệ.

Có một điều đáng chú ý là ở những bài ca dao nói về những nghề nghiệp như thợ săn, chăn

vịt, đi buôn, dệt vải…chúng ta vẫn thấy có âm hưởng vui, thi vị hóa nghề nghiệp của mình. Còn

ở nghề biển hầu như không có cái vui ấy. Phải chăng vì các ngư dân hiểu được nghề biển của

họ chỉ biết nay mà không biết mai. Biết ra khơi là bao hiểm nguy đang chờ đợi họ. Đời sống

của ngư dân đầy cực khổ, sống đó, chết đó đã đành, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Cái cơ

cực đó đi vào trong ca dao như một lời than:

“Đồn anh đi biển cũng lanh

Quần áo không có chạy quanh chạy quàng.

Cái áo anh mang, chằm năm bảy tấm

Rận anh lắm lắm, em nghĩ ra rồi.

Trời hỡi là trời, ra khơi gió thổi,

Cá chìm cá nổi, cá chạy đi đâu”

Vượt trên mọi khắc nghiệt của thiên nhiên, những ngư dân còn thể hiện niềm tự hào về đất

biển, về tình cảm đậm đà sâu sắc, đặc biệt là trong tình yêu nam nữ: “Lắng nghe

nàng nói cũng màu

Một chạp rùng kéo cá rầu lành canh.

Lắng nghe nàng nói cũng xinh

Một chạp gõ lại giao đanh cá mòi,

Ai ơi đứng lại mà coi,

Thợ chèo, bạn ngoáy ngoài khơi cũng tình”

Người dân xứ Nghệ vượt qua gian khó xây đắp quê hương bằng nhiều nghề khác nhau.

Trong đó có thể nói nghề dệt vải là một trong những nghề rất quan trọng, vì nó góp một phần

lớn vào kho tàng ca dao xứ Nghệ nhờ những điệu hò, câu hát được các cô gái dệt vải sáng tạo

nên bên khung cửi. Chính nghề dệt vải là cái nôi sinh ra một đặc sản của xứ Nghệ là hát

phường vải. Nghề dệt vải ở nhiều nơi, nhưng phải kể đến Nam Đàn, nơi mà nghề dệt vải phổ

biến, nơi mà truyền thống hát phường vải nề nếp, quy cách nhất :

“Thanh Chương là đất cày bừa

Nam Đường bông vải hát hò thâu canh”

Dân Nam Đàn dệt vải thâu đêm. Bên khung cửi, họ tụ tập thành phường và hát hò:

“Tần Tấn rắp ranh

Vì chưng kéo vải mời sinh ra phường

Nguyệt dạ canh trường ,

Dăm ba o ngồi lại,

Trước là nghề bông vải,

Sau đàn hát vui cười

Cuộc thanh lịch vui chơi…”

Những lời ca ấy vang lên trong đêm tối, xây đắp nên biết bao tâm hồn và trí tuệ con người.

Không chỉ là một cái nghề, dệt vải còn là cội nguồn của ca dao, dân ca xứ Nghệ.

Tóm lại, kho tàng ca dao xứ Nghệ đầy những bông hoa đầy hương sắc. Những bài ca dao

chỉ về nghề nghiệp của người dân xứ Nghệ không nhiều nhưng nó đã góp phần tô điểm cho bức

tranh toàn cảnh về đời sống con người xứ Nghệ giúp ta hiểu thêm về gia tài ca dao bất hủ, về

đời sống sinh hoạt của những người dân trên mảnh đất Hồng Lam.

2.2.2. Vui chơi giải trí và sinh hoạt văn hóa văn nghệ

Trong nhiều hình thức vui chơi giải trí và sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người dân xứ

Nghệ, có một loại hình rất phổ biến là hát ví. Lời ca tiếng hát gắn liền với hoạt động sản xuất,

với làng nghề. Hát phường vải là một điển hình của hát ví. Hình thành và phát triển trong môi

trường lao động, từ nghề dệt vải, hát phường vải trở thành một sinh hoạt văn hóa dân gian

không thể thiếu trong đời sống nhân dân. Đây là nơi những cô gái ngồi thành phường dệt vải,

cất những lời ca tiếng hát ví von, chào gọi. Đây là nơi các chàng trai khắp nơi nơi tìm đến, hát

để thử tài trí thông minh, để tỏ nỗi lòng tâm sự, và cả để tìm bạn đời. Đêm đêm trăng thanh gió

mát, bên khung cửi, họ đàn hát thâu canh:

“Dừng xa khoan kéo ơi phường

Hình như có khách viễn phương đến nhà”

Đây là lời hát dạo của bên nam, để bên nữ, biết mình đến hát. Trong câu hát có cả chút

kiêu kì, hoặc cũng có khi như là sự khiêm nhường:

“Đi ngang trước cửa nàng Kiều,

Dừng chân đứng lại dặt dìu đôi câu.

“Đồn đây có gái hát tài,

Để ta đối địch một vài trống canh…”

“Đi qua nghe tiếng em đàn,

Lá vàng xanh lại, sen tàn trổ hoa”

Họ gửi gắm vào trong câu hát cả lời trách hờn đáng yêu:

“ Mấy lâu anh mắc (bận) chi nhà,

Để em dệt gấm thêu hoa chịu sầu”

Những đêm đàn hát bên khung cửi ấy cuốn hút rất nhiều người tham gia. Không phải chỉ

là những cô gái chưa chồng, những chàng trai chưa vợ, mà cả những người đã có gia đình. Họ

đến với phường hát như một nhu cầu giải trí thanh tao, để thử tài, thử trí, rèn giũa thêm kiến

thức:

“Ai có chồng nói chồng đừng sợ

Ai có vợ nói vợ đừng ghen,

Tới đây hò hát cho quen

Rạng ngày ai về nhà nấy,

Không há lẽ ngọn đèn hai tim”

Những hình thức hát đối đáp này giúp rèn giũa cho con người sự thanh tao, lịch sự. Những

câu hát cất lên niềm nở, đầy bóng gió:

“Mấy khi khách tới vườn đào

Trăm hoa mũm mĩm ra chào đông quân”

“Đến đây mừng cảnh mừng hoa,

Trước mừng lân lí sau ra mừng nường

Mừng nàng áo vải hồ tơ

Cửi canh lo luyện, tay đưa mỏng mềm”

Hát phường vải không chỉ là hình thức hát dân dã, mà có quy củ rõ ràng. Có hát dạo, hát

đố, hát đối, hát mời, hát xe kết. Có quy cách chặt chẽ như vậy thì hát mới ra trò, câu hát mới có

vẻ thanh quí. Chính vì vậy nó trở thành một sinh hoạt văn hoá có thể thức ổn định, được mọi

người tuân theo. Thủ tục hát bắt đầu từ hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hỏi, hát đối, hát mời,

rồi đến hát xe kết, hát tiễn. Mặn nồng đằm thắm nhất là hát xe kết, hát tiễn.

Thời gian của cuộc hát phường vải thường là từ chập tối tới nửa đêm, không gian là ở

trong nhà, ngoài ngõ đến mảnh sân. Người hát là những người dệt vải và bên nam ngồi hoặc

đứng hát. Rất nhiều những câu hát nói rõ sự ham thích của người dân với hát phường vải:

“Chiều chiều khăn bận áo ôm,

Đi tìm người bạn từ đầu hôm đến giờ”

“Đêm khuya cưởi lạnh canh trường

Tai nghe câu ví văn chương tài tình..”

Như vậy, hát phường vải, một loại hát ví đặc biệt nhất của vùng Nghệ Tĩnh, là một trong

những hình thức tiêu biểu của sinh hoạt văn hóa dân gian xứ Nghệ. Bên cạnh hát phường vải

còn có những hình thức sinh hoạt diễn xướng, sân khấu, hò, ví…Ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở

điểm nổi bật nhất trong sinh hoạt văn hóa của ngươi xứ Nghệ biểu hiện trong ca dao.

Sinh hoạt văn hóa như hát ví, hát giặm trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống

người dân xứ Nghệ. Không chỉ ví phường vải, còn ví phường cấy, ví phường chắp gai đan lưới,

ví phường nón, phường vàng, phường đan…Tiếng hát “êm như nhiễu, nhẹ nhàng như tơ”, trầm

trầm man mác, uyển chuyển mềm mại, từ các thôn xóm vọng ra, lan tỏa khắp đồng nội cỏ cây,

hòa vào hương lúa, gợi lên trong đáy sâu thẳm của lòng người xứ Nghệ mối tình quyến luyến

với quê hương, gợi lên sức mạnh của những con người đã bao phen vùng dậy gây giông tố.

“Hát đã là một bản sắc của bà con xứ Nghệ”[69]. Tưởng như không đi hát một bữa thì ăn

không ngon, ngủ không yên.

Từ hát ví đến ca dao, chính sinh hoạt văn hóa tự túc này của cha ông là nguồn cung cấp

tạo ra kho tàng ca dao xứ Nghệ. Có biết bao câu ca dao hay đã hình thành từ đây:

“ Sáng trăng ngồi góc cây mai,

Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình”

“Cơm ăn mỗi bữa một lưng,

Nước uống cầm chừng để dạ thương anh”

“Thấy anh như thấy mặt trời,

Chói chang khó ngó, trao lời khó trao”

Ngoài hát ví xứ Nghệ còn có hát giặm:

“Dại nhất là thổi tù và

Thứ nhì hát giặm, thứ ba thả diều”

Hát giặm cũng là một nét văn hóa của xứ Nghệ. Nó phản ánh tính chất lao động tương đối

vất vả, đều đều như người đi bộ đường xa, leo núi giã gạo. Hát ví phường vải thì uyển chuyển,

phản ánh đời sống văn hóa đã phát triển, xã hội có nhiều màu sắc tâm lí, con người khá phong

phú, tế nhị, phức tạp. Nhưng có lẽ gần gũi với ca dao nhất là hát phường vải.

Tóm lại, cha ông xứ Nghệ bao đời rồi đã để lại một gia tài VHDG vô cùng phong phú, tạo

nên một vùng VHDG hoàn chỉnh mang rõ sắc thái địa phương như con người xứ Nghệ đã sáng

tạo ra nó, lưu truyền nó.

2.3. Con người xứ Nghệ qua ca dao

Con người xứ Nghệ có nhiều điểm đặc biệt. Họ là sản phẩm của tự nhiên, lịch sử, xã hội

và văn hoá vùng đất này. Tới lượt mình, họ lại tạo nên lịch sử, xã hội và văn hoá nơi đây. Nói

tới dân “xứ Nghệ” là người ta nghĩ ngay tới các đặc điểm tính cách nổi bật như kiên cường

trong chiến đấu, cần cù trong lao động, tằn tiện trong sinh hoạt, khoáng đạt trong đời sống tinh

thần và đặc biệt là rất hiếu học. Biết bao thế hệ tri thức lỗi lạc của đất nước, nhiều danh nhân

văn hoá xuất sắc đã sinh thành ở đây.

Bùi Dương Lịch trong Nghệ An Kí đã viết: “Người Nghệ An khí chất chất phác, đôn hậu,

tính tình chậm chạp, không sắc sảo cho nên làm việc gì cũng giữ gìn cẩn thận, bền vững, ít bị

xáo động bởi những lợi hại trước mắt”[123]. Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương

loại chí, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992 tập 1, trang 63 cho rằng người xứ Nghệ thuần

hoà mà chăm học, được khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền, thực là nơi hiểm

yếu như thành đồng, ao nóng của nước, là then khoá của các triều đại. Tác giả Đào Đăng Hy

trong sách Địa dư tỉnh Nghệ An, nhận xét ở Nghệ Tĩnh, dân phong thuần thục, có khí phách, có

trung nghĩa, có lễ độ, tính người rất dễ dãi…Nguyễn Điển khi viết Địa dư Nghệ An và Hà Tĩnh

cũng có kết luận rằng: Nghệ Tĩnh núi thời cao, sông thời su, phong thổ thời trung hậu, khí

tượng thời tốt sáng…núi sông thanh tú nên lắm thuần thiêng, nhiều người tốt. Nhà yêu nước

Nguyễn Xuân Ôn tự hào ngợi ca:

“Non nước Châu Hoan đẹp tuyệt vời

Sinh ra trung nghĩa biết bao người”

(Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn)

2.3.1. Cần cù lao động, tiết kiệm

Đinh Gia Khánh đã phân tích tính cách con người xứ Nghệ “Quen chịu gian khổ, cần cù,

tiết kiệm, gan góc, mưu trí, chịu khổ nhưng không chịu nhục, trong gan góc có bướng bỉnh,

trong trung thực có thô bạo, trong mưu trí có liều lĩnh” [100]. Và ông còn khẳng định rằng:

Khẳng khái, thẳng thắn, biết quên mình vì nghĩa lớn, có ý thức cộng đồng mạnh mẽ, thiết tha

yêu quê hương đất nước là những nét tích cực trong tính cách con người Nghệ Tĩnh. Đặng Thai

Mai, một trí thức xứ Nghệ, nói: người Nghệ Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh,

kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ.

Phan Ngọc phát biểu rất thực và cũng rất Nghệ: “Con người quê hương tôi không hoà

mình vào cuộc đời như con người Nam Bộ mà thích nghi với cuộc đời bằng cách vạch giữa

cuộc đời với mình với giới hạn cho phép anh ta sống với cái thế giới mô hình mà anh ta ham

thích…” [135]. Không phải ngẫu nhiên mà Vũ Tuân Sáu trong bài viết “Tinh thần miền Nghệ

Tĩnh” – Trung Bắc Chủ Nhật số 77 ngày 5/7/44 lại kết luận không có miền nào lại có một bản

ngã rõ rệt bằng miền này. Có một tinh thần Nghệ Tĩnh. Tinh thần đó làm rõ lòng phụng thờ, sự

cố gắng cùng những tính nhẫn nại, kiên quyết của một dân tộc nông nghiệp chật vật tranh giành

lấy “một chỗ sống dưới mặt trời”. Hơn thế, lịch sử bao phen xương rơi máu đổ tạo cho con

người ở đây quen nhìn thẳng vào sự hiểm nghèo, quen sống trong sự hồi hộp lúc nào cũng có tự

vệ. Người xứ Nghệ đã vượt lên mọi hoàn cảnh hiện tại khó khăn vất vả, họ sống có nghị lực và

rất nhân văn. Trong con người của họ chỉ có một thái độ dứt khoát, rõ ràng, lưỡng phân một

cách rành mạch, yêu ghét rõ ràng, Nguyễn Nhã Bản đi theo hướng tiếp cận ngôn ngữ - văn hoá,

bằng và trên các tư liệu có được của mình đã kết luận: “Người xứ Nghệ rõ ràng, mạch lạc,

lưỡng phân đến cùng cực, có ý chí, nghị lực phi thường để làm nên những cái đẹp cho đời và

cho mình” [9]. Để tồn tại và phát triển, con người nơi đây phải vượt lên trên tất cả những điều

kiện tự nhiên nghiệt ngã. Dần dà trong tiến trình lịch sử đã hình thành ở đây những nét đẹp trở

thành truyền thống như sự cố kết cộng đồng người ở các cấp độ khác nhau, chủ nghĩa nhân văn,

kiên cường và bất khuất.

Xứ Nghệ là xứ sở của gió lào cát trắng, khí hậu khắc nghiệt, bão lũ liên miên gây trở ngại

rất nhiều cho sản xuất. Cái mưa nắng gió sương ở đất Hoài Hoan ấy đã được ghi lại trong ca

dao như một minh chứng cho sự cần cù vất vả của con người để làm ra của cải :

“Ông trời ơi hỡi ông trời

Chẳng thấy mấy đời có lụt tháng tư Làm cho ngô mất khoai hư Đỗ thì mọc mậm, lúa giừ nổi trôi”

Nhiều khi sự khắc nghiệt ấy in đậm vào đời sống của dân chúng khiến cho những lời ca

dao như nghẹn lại rồi vỡ tràn ra giống như nước lũ cuốn đi tất cả nhà cửa ruộng đồng:

“Trời làm một trận mưa dông

Trời làm hai trận mưa dông

Nước chảy băng đồng, băng hói, băng bãi, băng sông.”

Dù vất vả trong thiên nhiên mưa nắng, gió bụi thất thường như vậy con người xứ Nghệ

vẫn luôn kiên nhẫn và tin tưởng vào sức lao động của mình. Đồng ruộng thân thương đã gắn bó

với người nông dân từ bao đời vẫn luôn được họ trìu mến. Dường như trải qua quá trình lao

động bền bỉ, cái khổ nhọc trở thành điều bình thường, con người quen với bàn tay chai nạm và

làn da sạm nắng. Thật kì lạ từ trong cái vất vả “đầu tắt mặt tối” ấy ta lại thấy ngời lên vẻ yêu

đời, thong dong của họ qua những lời ca tiếng hát đầy ắp tinh thần lạc quan:

Mặc ai thuyền ngược bè xuôi

Tôi về làm ruộng thảnh thơi con người.

Trời mưa cho ướt lá cau

Đôi ta đội nón rủ nhau đi bừa.

Tình yêu lứa đôi của các chàng trai cô gái xứ Nghệ cũng thơ mộng lãng mạn như bất cứ

nơi nào nhưng nó luôn gắn với lao động. Họ quan niệm về nhan sắc:

Anh không yêu em quần là áo lượt

Anh không yêu em gương lược suốt ngày

Anh yêu em cái quốc liền tay

Cái vai liền gánh miệng hay vui cười.

Tình yêu đẹp trong lao động ấy luôn hướng đến một mái ấm gia đình vui vầy hạnh phúc

cùng nhau chăm lo sản xuất:

Khi nào cho hợp một nhà

Chồng cày vợ cấy mẹ già đưa cơm.

Con người xứ Nghệ phải hai sương một nắng, phải giành giật miếng cơm với đủ các thế

lực: thời tiết, bọn địa chủ thực dân…vì thế họ nâng niu trân trọng thành quả lao động :

“Khi mô cho đến tháng mười

Đọi cơm khúc cá vừa cười vừa ăn”.

“Ai lên Bãi Sậy mà coi

Lúa reo trước mặt ngô cười sau lưng”.

Với những nơi mà việc trồng cấy thu hoạch diễn ra không mấy khó khăn thì con người

khó mà có tâm trạng bồi hồi sung sướng khi đứng trước đồng lúa trĩu bông, đồng ngô căng hạt,

mà nghe tiếng reo cười của cây trong gió như vậy, khó mà có những niềm vui trông đợi tưởng

như quá bình thường ấy. Phải chăng, chính đời sống lao động cực nhọc, thành quả lao động khi

được khi mất đã tạo cho con người xứ Nghệ đức tính tiết kiệm, luôn lo trước, liệu sau.

Cũng như người nông dân Việt Nam, người nông dân xứ Nghệ đã xác định “Muốn no thì

phải chăm làm; một hột thóc vàng chín giọt mồ hôi”. Vì vậy, họ rất cần cù trong lao động :

“Thân em khó nhọc trăm bề

Sớm đi cấy lúa chiều về hái dâu

Có gương không kịp rẽ đầu ,

Có cau không kịp têm trầu mà ăn,

Thân em khó nhọc trăm phần,

Hết đi ruộng đậu lại lần ruộng dưa

Vội đi quên cả cơm trưa,

Vội về quên cả trời mưa ướt đầu”

Quần quật suốt ngày, đầu tắt mặt tối nhưng nhiều khi thiên nhiên chẳng chiều người “Thấy

làm mà chẳng thấy ăn; thấy một đám cỏ khổ thân cả ngày”. Những ngày hè hạn hán, cát bụi

bay mù, nắng gió ròng rã, người và gia súc uể oải xác xơ, người dân xứ Nghệ rất bực bội, “căm

uất cái ông trời”:

“Sấm cũng ở trên nguồn,

Chớp cũng ở trên nguồn”

Không mưa dông đội ba trộ (trận) để giải buồn nhà nông.

Còn khi đã mưa, mưa hết ngày nọ qua ngày kia, mưa như nước xối, mưa thối đất thối cát:

“Trời làm một trộ (trận) mưa dông,

Trời làm hai trộ mưa dông.

Nước chảy băng đồng, băng hói, băng bãi, băng sông”

Cảnh sống thiếu thốn dày vò, ngô khoai thay cơm là chủ yếu. Hình như nhiều nơi trên đất

Nghệ Tĩnh, nhất là các làng xã dọc hai ven sông Lam, bà con vẫn đọc bài ca dao:

“Cây đa ba nhánh chín chồi,

Ai về Mỹ Dụ cạp cồi ló ngô”

Vì thế, người xứ Nghệ cần kiệm lo xa “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”. Ngày mùa

đến, gặt lúa được bao nhiêu thường để dành những hạt chắc hạt lành. Họ chịu thương chịu khó

xoay xở đủ nghề nghiệp để vượt qua những khó khăn khốn khó.

“Đục đá nung vôi

Đào đất vắt nồi

Ơi O đẽo đá với tôi mấy lần

Cùng tôi khuya sớm chuyên cần

“Đua nhau ta cấy ta cày,

Nung vôi đẽo đá, ta mần nhà cao”

Cho cao cót thóc, cho đầy bồ khoai”

Đến dải đất miền Trung, chúng ta thấy người dân xứ Nghệ cần cù chăm chỉ làm ăn, tiết

kiệm trong sinh hoạt để dựng xây tương lai. Nơi đây, so với những vùng khác là vùng đất khô

cằn, mưa nắng khắc nghiệt nhưng sự cần cù, chăm chỉ và sự bền chí kiên gan của người dân nơi

đây đã làm cho quê hương trở nên giàu đẹp, xinh tươi :

“Làng ta có lũy tre xanh,

Có con sáo sậu, có anh đi cày .”

(CDXN_T2-223)

2.3.2. Coi trọng việc học hành

Cần phải nói thêm một nét tính cách nữa của con người xứ Nghệ, đó là sự ham mê, chuyên

cần học hỏi, chịu khó, chịu khổ để học hành. Ngay từ thế kỷ XIII, Lê Trắc đã nhận xét: “Người

Hoan Diễn thuần hậu, tuấn tú, hiếu học”. Người Nghệ coi trọng sự học, so đo sự học giữa các

làng, các dòng họ với nhau. Vì vậy, ở xứ Nghệ có nhiều người đỗ cao, là nơi đã đóng góp nhiều

nhân tài cho đất nước trên các lĩnh vực văn học, y học, kinh tế, ngoại giao… như: Hồ Tông

Thốc, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu, và tiêu

biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Xứ Nghệ được xem là đất hiếu học, khổ học, cần học. Xứ Nghệ cũng được xem là cái nôi

của khoa bảng. Theo sách “ Các nhà Khoa bảng Việt Nam”, thì Nghệ An có 136 vị đỗ đại khoa

trong cả nước. Đặng Thai Mai nhận xét: “Khi chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi một làng đều

nhìn thấy trong núi của mình có một cái bảng, một quản bút, một cái án thư, hoặc một thanh

gươm, một chiếc ấn, một con nghê vàng, một con voi trắng, một cái yên ngựa”[130]. Ở một số

làng còn truyền nhau “Nhất cầm, nhất hạc, nhất bút, nhất nghiên, nhất khanh tướng, nhất công

hầu, nhất đại tiên”. Họ vẫn tự hào:

“Làng ta khoa bảng thật nhiều

Như cây trên núi, như diều trên không” “Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa Quỳnh Đôi khoa bảng thủ khoa ba đời” “Tôi người họ Hồ, Quỳnh Đôi Thuộc chi đệ nhất con nòi nhà nho”

Ngoài những người có tên trong bảng vàng, qua ca dao ta còn thấy biết bao người học

rộng trí cao “tâm tàng kinh sử, phúc uẩn kinh luân” cũng được nhân dân mến mộ, ngợi ca.

Bà con vẫn răn dạy con cháu bằng tấm gương :

“Ngày thời việc nước đảm đang ,

Tối thời võng gíá nghênh ngang đình Nồi ”

“Bây giờ đi nước mỏi vai

Mai sau đi hán đi hài mỏi chân “

Xứ Nghệ là đất văn vật. Nhưng Xứ Nghệ nổi tiếng không phải vì nhiều người đỗ đạt, mà

nổi tiếng bởi tinh thần khổ học, trọng đạo lí làm người. Ở xứ Nghệ có nhiều nhà “sáng khoai,

trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa” song “ông đỗ, con đỗ, cả nhà đỗ”. Có khá nhiều “ông nghè,

ông cống sống bởi ngọn khoai, anh học, anh nho nhai hoài lộc đỗ”.

Sự cần học, khổ học của những người con xứ Nghệ gắn liền với sự hi sinh của những

người vợ, người mẹ nuôi chồng nuôi con ăn học:

“Sinh con ra nuôi con đi học

Để một mai đắc cử nên khoa

Bõ công thầy mẹ sinh ra,

Cù lao dưỡng dục, công đà nên công”

“Dù ai cho bạc cho vàng

Không bằng con gái họ Dương đến nhà”

“Hái lộc đỗ, bắt cáy lông nuôi chồng ăn học”

Không phải ngẫu nhiên mà xứ Nghệ được xem là nơi “địa linh nhân kiệt”. Có lẽ ngoài địa

hình địa mạo đầy những nét đặc biệt, thì sự cần cù chịu khó, hiếu học đã giúp cho con người

nơi đây vượt qua vô vàn gian khó để đỗ đạt, thành danh. Ca dao xứ Nghệ đã cho ta thấy truyền

thống quý báu này của người dân xứ Nghệ.

2.3.3. Tình cảm phong phú mãnh liệt

2.3.3.1. Yêu nước nồng nàn

Truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng, có ý chí nghị lực phi thường là những nét

tính cách của con người xứ Nghệ.

Người xứ Nghệ yêu nước thể hiện qua tình yêu quê hương, tự hào về quê hương của

mình:

“Làng ta đồng ruộng mênh mông

Có người cày cấy, có sông nước về”

Hay:

“Làng ta phong cảnh hữu tình

Khen trời khéo đẻ ra mình ra ta”

Tình cảm của họ phơi phới lâng lâng với làng quê núi non hùng vĩ:

“Non Hồng ai đắp mà cao

Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu”

“Lam cầu có núi Thất Tinh

Một hàng bảy ngọn như hình ngôi sao”

Yêu nước, người dân xứ Nghệ cần cù lao động, chịu thương chịu khó học hành, đem bàn

tay khối óc vun đắp cho quê hương:

“Đi ra thiên hạ mà coi

Không đâu bằng đất Quỳnh Đôi nữa mà

Trai học hành bút nghiên thi cử

Yêu nước, người dân xứ Nghệ rất dũng cảm đấu tranh lại những thế lực bóc lột, chà đạp

Gái chăm nghề tơ lụa vá may”

lên đời sống người dân:

“Trời bòn đất rút không bằng chúa hút vú vơ ”

Vì bị đàn áp bóc lột, nên bên cạnh nỗi xót xa điêu đứng là lòng căm ghét bọn bóc lột:

“ Một ngày hai bữa cơm đèn,

Khi xuống bể cả, khi lên rừng già.

Đến khi thất thểu về nhà,

Mẹ đà thoi thóp, con đà đứt hơi.

Bước chân vô cửa nhà người

Xin hột gạo hẩm hắn đòi bán nương.”

Ca dao nhiều khi là lời vạch trần bộ mặt đểu cáng, thái độ đối đãi tàn tệ của bọn địa chủ:

“Xưa kia tôi bắt trâu cày

Mỗi ngày một mẫu thầy thầy con con

Thân tôi giừ đã kiệt mòn

Thì ông cũng hết con con thầy thầy

Tổ cha mồm lưỡi nhà bay,

Xỏ xiên xỏ lá có ngày chết tươi.”

Muốn dân no ấm, sao chẳng dạy dân cày bừa.”

Sự phản kháng có lúc bùng lên thật mạnh mẽ:

“ Hai tay vác một gươm vàng,

Oai linh đến chặt ngai vàng nhà vua

Uy chi vua, mạnh chi vua

Thấy gươm đã khiếp đã thua đã hàng

Khi vua đến bước cùng đàng, vua bỏ ngai vàng vua chạy đàng vua”

Bài ca dao là sự phản ánh sức mạnh của nhân dân trong những cuộc nổi dậy lật đổ chính

quyền phong kiến, tinh thần dũng cảm ngoan cường của người dân đất Hồng Lam, sự khuất

phục ê chề của “đấng thiên tử”.

Lòng yêu nước của người dân bộc lộ càng rõ nét hơn khi thực dân Pháp xâm chiếm nước

ta. Ca dao xứ Nghệ đã diễn tả nỗi căm thù sâu sắc với bọn xâm lăng:

“Ăn một đọi cơm

Đơm một đọi máu

Máu chi tanh tưởi máu ơi

Mồ cha quân đế quốc đã sứơng đời không bay”

Họ sẵn sàng đứng dưới lá cờ Nghĩa của các sĩ phu yêu nước để cứu nước, giúp quê hương:

“Mấy lâu anh mắc chi nhà,

Lời tri âm nhắc mãi sao mà không sang?

Mấy lâu anh mắc việc Cần Vương,

Công cha anh cũng bỏ, huống chi nghĩa nường nường ơi!

Họ sẵn sàng hi sinh cả tình yêu, hiến dâng cả đời mình vì non nước:

“Tình chồng nghĩa vợ,

Anh trả nợ nước chưa xong,

Đôi ta quyết chí đèo bòng,

Cần Vương đôi chữ, phải cứu non sông lúc này”

Không chỉ có những đấng trượng phu lên đường mà những cô gái, những bà vợ cũng hăng

hái tham gia:

“Đồn anh khởi mộ Cần Vương,

Thiếp xin đội gạo gánh lương theo chàng”

Qua các cuộc hát ví phường vải, ví phường nón, ví trên sông … nhiều sĩ phu đã dùng câu

hát để khêu gợi lòng yêu nước và chí căm thù giặc trong nhân dân:

“Đôi ta cùng giọt máu đào,

Cùng vòng nô lệ, biết thửa nào tự do”

Nhiều câu ca dao như một lời kêu gọi yêu nước:

“Bao giờ trong cuộc biểu tình,

Em phất cờ đi trước để cho mình tiến theo”

Xứ Nghệ “non xanh nước biếc”, “sơn thủy hữu tình”, là lời mời gọi những ai có tấm lòng

yêu nước, yêu quê hương. Người dân xứ Nghệ hiếu khách, nhiệt tình, nhân hậu, nhưng họ hiểu

rằng muốn có hạnh phúc phải đấu tranh:

“Còn trời, còn nước, còn non.

Còn quân giặc cướp thì còn đầu rơi”

“Bao giờ Hồng Lĩnh nên cồn

Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh”

Ca dao xứ Nghệ theo sát thời đại, thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, mãnh liệt, sâu nặng của người con xứ Nghệ. Đúng như tác giả “Nghệ An Ký” [123], Bùi Dương Lịch nhận định:

“Xứ này tuy đất xấu người nghèo, nhưng dân đều vui vẻ công việc sẵn sàng vì nước, có lòng tôn

quân thân thượng và biết lễ nghĩa liêm sỉ, phong tục thuần hậu chưa từng bị gián đoạn bao

giờ…”. Ông còn viết thêm “Nghệ An đất xấu dân nghèo thua xa tứ trấn, nhưng phong tục sở dĩ

thuần hậu chính vì như thế. Do đất xấu dân nghèo nên chịu khổ nhẫn nại, cần cù kiệm ước đã

quen nề nếp. Kẻ sĩ không chuộng hoa phấn, yêu cảnh bần hàn. Người các trấn thường cười là

hủ lậu. Thường dân không sơ suất những điều nhỏ mọn, tâm ở yên bởi sự tiết kiệm, người các

trấn thường khinh là “keo kiệt”.

Tác giả “Đại Nam Nhất Thống Chí”[144] cũng viết: “Nghệ An đất xấu dân nghèo, tập tục

cần kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành…Vua Minh Mạng,

Triều Nguyễn nói: “Ta xem người Nghệ An khí phách hào mạo...nên liệt thánh xưa kia lựa thân

binh người trấn Nghệ An phần nhiều”. Một người Pháp viết về ng ười xứ Nghệ “tính tình cứng

cỏi, ham thích văn chương, cần cù lao động và dũng cảm kiên trì chống cõi đất đai cằn cỗi để

sinh sống”. Vũ Tuấn Sán thì nhận định: “Không có miền nào mà bản ngã lại rõ rệt bằng miền

này. Tôi có thể nói rằng có một tinh thần Nghệ Tĩnh. Tinh thần đó làm lộ một cách rõ rệt lòng

phụng thờ sự cố gắng cùng những tính nhẫn nại kiên trì của một dân tộc nông nghiệp chật vật,

tranh giành lấy một chỗ sống dưới ánh mặt trời. Họ quen nhìn thẳng vào sự hiểm nghèo, quen sống trong sự hồi hộp lúc nào cũng tự vệ”[167].

Qua ca dao xứ Nghệ chúng ta càng hiểu thêm “tinh thần Nghệ Tĩnh” ấy.

“Ra tay phất ngọn cờ đào

“Làm trai nợ nước là to

Bốn bên pháo trận ào ào quân đi”

Vợ con đói rách ấm no quản gì”

“ Làm trai đứng ở trên đời.

Sao cho xứng đáng giống nòi nhà ta”.

Tình yêu và lòng tự hào về quê hương là động lực nhắc nhở con người Nghệ Tĩnh làm tròn

nghĩa vụ với Tổ quốc.

2.3.3.2. Yêu thương sâu nặng

Người Nghệ Tĩnh không chỉ kiên cường, dũng cảm mà còn rất nặng lòng yêu thương.

Yêu cha mẹ, người thân, yêu tình làng nghĩa xóm. Thương yêu đoàn kết, thống nhất ý chí và

nghị lực đã gắn bó nhân dân Nghệ Tĩnh thành một sức mạnh đủ vượt qua những gian khó, hiểm

nghèo.

Những người con xứ Nghệ rất hiếu thảo với cha mẹ:

“ Phụ mẫu thiếp cũng như phụ mẫu chàng,

Khắc một bia đá bốn chữ vàng thờ chung”.

“ Sập vàng mà trải chiếu vàng

Ngoài nhà thầy mẹ, trong buồng đôi ta .

Sập vàng mà trải chiếu hoa,

Ngoài nhà thầy mẹ, đôi ta trong buồng”.

Yêu kính phụng thờ cha mẹ là trọn đạo làm con, tình anh chị em là tình ruột thịt:

“ Chị em một ruột cắt ra,

Chị có em có mới là thân nhau

Chị em một ruột cắt ra

Chị không em có, ắt là người dưng”.

Lời ca không chỉ là lời nhắc nhở về tình anh chị em, mà còn cho ta thấy trách nhiệm giúp

đỡ, cưu mang nhau những khi khó khăn:

“Anh em như thể tay chân

Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần”.

Người xứ Nghệ cảm nhận rất sâu sắc về tình ruột thịt “Một giọt máu đào hơn ao nước lã ”.

Anh em như da thịt, biết nhường cơm sẻ áo, cưu mang giúp đỡ nhau, cùng nắm tay nhau tiến

lên trong cuộc sống. Qua những câu ca dao ân tình ấy, ta lại có dịp hiểu thêm một nét đáng quý

của con người xứ Nghệ.

2.3.3.3. Thủy chung thắm thiết

Tính cách tình cảm của con người xứ Nghệ thể hiện rõ rệt và đầy đủ nhất trong ca dao

nói về tình yêu nam nữ, về hôn nhân và gia đình. Cũng như ca dao các vùng trong cả nước,

những bài ca dao của xứ Nghệ là những lời ướm hỏi, những câu giao duyên tế nhị, những lời

thề nguyền gắn bó, những lời xe kết diết da, những lời nhớ nhung và những trách móc ai oán,

những nỗi niềm tủi nhục và những trách móc đắng cay, nói lên những mối tình éo le, ngang trái,

dang dở… với mọi nỗi giận hờn, lo lắng, đau xót nhưng dạt dào sức sống. Tất cả đều trong sáng

lành mạnh và với bản sắc riêng của con người xứ Nghệ.

Tình yêu được cụ thể hóa bằng hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, tồn tại muôn thuở ở quê

hương :

“Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn

Hoành Sơn mây phủ dạ còn nhớ anh”

Và được mở ra bao la, thành tình yêu quê hương, đất nước:

“Trời xanh biển rộng mênh mông

Yêu anh yêu cả ruộng đồng nuớc non”.

“Tâm hồn thi sĩ” của người đang yêu lộ rõ khi hẹn hò, chờ đợi người yêu:

“Sáng trăng ngồi gốc cây mai

Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình”

“Cành lê thấp thoáng sau nhà

Bóng trăng dọi lại, anh tưởng là bóng em”.

Chàng trai cô gái Nghệ Tĩnh nói lên tình yêu nồng thắm, thiết tha của mình bằng những

hình tượng gần gũi, thân quen giản dị:

“Thương em khi cấy lúa ra

Lúa bỏ lá hẹ lúa ra đòng đòng

Thương em khi mới lọt lòng

Khi ăn cơm mớm mẹ bồng trên tay”

Tình yêu lứa đôi của các chàng trai cô gái xứ Nghệ thơ mộng, lãng mạn, nhưng nó cũng

luôn gắn liền với lao động:

“Tóc thơm những búi mạ trưa

Ham chi người đẹp mà thưa công làm”

Hay:

“Anh không yêu em quần là áo lượt

Anh không yêu em gương lược suốt ngày

Anh yêu em cái cuốc liền tay

Cái vai liền gánh miệng hay vui cười”

Trong ca dao tình yêu như đi qua ba bước: Tỏ tình, nhớ thương và quyết định.

Đây là lời ướm hỏi, tỏ tình:

“Bây giờ anh hỏi người ngoan

Em về thưa với thầy mẹ anh muốn dan díu tình”

“Hỏi nàng thử có chồng chưa

Hay là chưa có anh thưa vài lời”.

Hình tượng đôi trai gái yêu nhau hiện lên hồn nhiên, tươi vui, sống động và thật đáng yêu.

Đặc biệt là ở những câu tỏ tình. Họ đang rất trẻ, khỏe và sung sức. Tình yêu chắp cánh cho tâm

hồn họ. Họ tuyệt đối hóa, lí tưởng hóa người yêu và tình yêu. Và vì thế trong ca dao tỏ tình,

không có chàng trai cô gái nào xấu, tất cả đều đẹp và tươi sáng lạ thường:

“Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh”

(Ca dao Việt Nam)

“Hoa thơm thơm lạ thơm lùng

Thơm gốc thơm rễ người trồng cũng thơm”

(Ca dao Việt Nam)

Khi tình yêu của họ được cất cánh thì tất cả đều trở nên đẹp đẽ và có ý nghĩa. Đây là tâm

trạng của người con trai Nghệ Tĩnh khi trái tim rung lên nhịp đập yêu thương:

“Đêm khuya trăng tắt sao mờ

Ra ngồi bên giếng đợi chờ người thương…”

Nụ hôn cũng là hương vị ngọt ngào trong tình yêu của họ:

“Diết da da diết quá chừng

Cho anh chụt một cái em đừng kêu đau”

Tính yêu ấy cũng có khi mãnh liệt như sét đánh:

“Thương em ruột nát da vàng

Cá dưới sông ngơ ngẩn, cây trên ngàn héo hon”

“Thấy anh như thấy mặt trời

Chói chang khó ngó trao lời khó trao”

Tình xứ Nghệ không mau nhưng bén rồi thì sâu lắng thiết tha, mãnh liệt.

Đây là lời thề thốt, niềm mơ ước về tình yêu:

“Đôi ta như thể con tằm

Cùng ăn một lá, cùng nằm một nia”.

Nhưng trong tình cảm, họ có một thái độ rất rạch ròi và dứt khoát:

“Có yêu thì yêu cho chắc

Có trục trặc thì trục trặc cho luôn.

Đừng như con thỏ đứng đầu truông

Khi vui giỡn bóng khi buồn bỏ đi”.

Và cuối cùng là tình yêu mãnh liệt không trở lực nào có thể ngăn được:

- “Dầu ai khoét mắt chặt tay

Cũng lẫn hơi hướm đường này với anh”

- “Dao phay kề cổ, súng nổ bên tai

- “Hai tay cầm tám gươm vàng

Chết thì mặc chết chứ tay không buông nàng”

Thác đi thì thác buông chàng không buông”

- “ Yêu nhau đem quách nhau đi

Công cha nghĩa mẹ sau này hãy hay”

- “Thương cha thương mẹ có khi

- “Thương cha thương mẹ có hồi

Thương anh lúc đứng, lúc đi lúc ngồi”

Thương anh lúc đứng, lúc ngồi lúc đi”.

Lời thề của tình yêu như rìu chém đá, như rạ chém đất, dỡ bỏ tất cả, nếu cần sẵn sàng chết

vì yêu :

- “Hai ta thề trước công môn

Sống không lấy được chắc(nhau) chết hai hồn táng chung”

- “Anh mà không lấy được nàng

Thì anh tự vẫn giữa gia đàng nhà em”

- “Mẹ cha có cản đường Bắc

Thì ta rẽ ngoặt đường Nam

Mẹ cha có cản đường Nam

Thì ta rẽ sang đường Bắc,

Ví dù có trục trặc cả đường Bắc đường Nam

Thì xúm tay ta nhen lửa đốt cả xóm làng ta đi”

Đã yêu nhau thì “đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”, đã đính ước với nhau thì “đem

quách nhau đi, công cha nghĩa mẹ sau thì hãy hay”. Yêu nhiều khi đến mức liều lĩnh, cực đoan.

“Cha mẹ dù có chặt chân, khoét mắt khoét mày cũng trốn theo anh”… Phải chăng đó là cái

quyết liệt của những con người vốn bao năm chịu đựng gió tây nam, chống lại những cơn bão

tố, thác lũ và hiên ngang cầm gươm súng chống kẻ thù xâm lược. Khi ngỏ lời yêu thì ướm hỏi

thẳng thắn, khi mơ ước thì đó là những điều cụ thể không xa xôi, và khi quyết tâm thì cái quyết

tâm ấy cũng vô cùng mãnh liệt.

Có thể dẫn ra hàng trăm câu nói về tình yêu trong sáng nhưng da diết mặn nồng như

những câu cuối cùng của cuộc hát ví sau đây:

- “Ra về nước mắt trông chừng

Ngóng truông truông rậm, ngóng rừng rừng xanh

- “Ra về sương xuống đầm vai

Ngoảnh nhìn trở lại bóng ai tờ mờ”

- “Ra về răng được mà về

Ở đây tay gối đầu kề nỏ hơn.”

Nói như nhà thơ Xuân Diệu: “Chỉ riêng một chuyện ra về, đã bao nhiêu trùng trùng điệp

điệp của hai tấm lòng lưu luyến nhau, nửa về nửa muốn ở đây”, “nghe tin anh dóng dã ra về”.

Rồi thế là nối tiếp nhau tất cả năm bảy “ra về”[67] “có lẽ là lưu lại của hàng vạn đôi trai gái

của núi Hồng sông Lam tiễn biệt nhau trong năm, sáu, bảy, tám trăm năm, tầng tầng lớp lớp

không dứt ra được”[136].

Đó cũng là hai tấm lòng cố kết nhau, luồn quyện lấy nhau để thách thức, để thi gan với

những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến. Phải chăng đó là những “tuyên bố” công khai

giữa xã hội cả về quyền tự do luyến ái, tự do hôn nhân mà trong đó chất trữ tình chiến đấu, thái

độ cương quyết sống bên nhau được thể hiện bằng ngôn ngữ chắc nịch, dứt khoát, tựa như một

lời đoán quyết minh bạch, danh dự, thiêng liêng giữa thanh thiên bạch nhật về quyền sống của

con người “Con người Nghệ Tĩnh là như thế đó: Mãnh liệt sâu sắc nhưng trầm lặng kín đáo:

con người rất giàu tình cảm nhưng không bộc lộ ồn ào, hời hợt, không dàn trải mà sâu kín bền

bỉ, con người giản dị, thiết thực, rất chân tình, thẳng thắn, cứng cỏi, rắn rỏi, giàu nghị lực, con

người có cái chí mạnh tâm hồn. Mọi cung bậc tình cảm được thể hiện trong ca dao tình yêu:

những yêu thương, hờn giận, xa cách, nhớ nhung, ước vọng … cứ hòa quyện vào nhau dìu dịu

như những dòng nước mát lành chảy vào lòng người đằm thắm và sâu lắng. Ca dao tình yêu xứ

Nghệ cũng có những cung bậc tình cảm ấy song nó luôn ở đỉnh cao của các trạng thái tình

cảm. Vì vậy ca dao xứ Nghệ đi vào lòng người ở những nét góc cạnh không kém phần ấn tượng

của nó”[70].

Rõ ràng, tình yêu của người xứ Nghệ như ngọn núi lửa. Nó ầm ỉ, nung nấu, sục sôi trong

lòng, song ngoài mặt vẫn điềm tĩnh, trầm lặng. Cái trầm lặng của hỏa diệm sơn chưa đến ngày

phụt lửa, cái trầm lặng của mặt nước biển hồ trong những ngày im gió nhưng dưới đáy vẫn

cuộn dậy những đợt sóng ngầm, hay nói cách khác, cái trầm lặng của một trận giao chiến trước

giờ khai hỏa. Đó là cái trầm lặng của con người cảm nhiều, nghĩ nhiều, hành động nhiều. Họ

không để ai đụng đến hạnh phúc của mình, ngay cả cha mẹ :

“Cơm đơm hai bát, bát ăn bát để

Đũa so hai đôi, đôi đứng đôi nằm

Dù thầy mẹ đập chín thục một trăm

Đập rồi lại dậy, quyết tâm lấy chàng”

Giáo sư Đặng Thai Mai đã nói: “Nhân dân xứ Nghệ nổi tiếng về khá nhiều khuyết điểm,

tâm lí cũng như một số đức tính can đảm đến sơ xuất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô

khan và tằn tiện đến cá gỗ” nhưng “kì thực đời sống tình cảm của con người ở đây đối với tự

nhiên, với con người, với cái đẹp của lý tưởng, tuy không bộc lộ một cách ồn ào, hời hợt, nhưng

lại có phần suy nghĩ, điềm tĩnh, sâu sắc và bền bỉ, cảm động đến thiết tha” [130].

Đó là một số nét về tình yêu của con người xứ Nghệ qua nội dung trữ tình của hát phường

vải. Trong hát phường vải ngoài tình yêu đôi lứa còn có tình yêu cha mẹ, anh em, bà con làng

xóm, yêu quê hương đất nước, yêu cảnh vật thiên nhiên… Tất cả đều nói lên tình cảm phong

phú mãnh liệt của con người Nghệ Tĩnh.

Tóm lại, con người xứ Nghệ cần cù lao động, tiết kiệm, chịu thương chịu khó. Họ sống

giàu tình cảm, thẳng thắn, giàu nghị lực. Đây là những con người “chí mạnh tâm hùng”. Người

xứ Nghệ làm rạng danh cho quê hương bởi truyền thống học hành khoa bảng, bởi tình yêu nước

nồng nàn sâu sắc. Đó là tác giả những dòng ca dao ngọt ngào tha thiết như dòng sữa mẹ, xây

đắp nên biết bao tâm hồn thi sĩ. Chính qua ca dao xứ Nghệ ta đã hiểu sâu sắc thêm người xứ

Nghệ, mà nói như đánh giá của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, là “vốn quý của địa phương và

của cả nước”.

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO XỨ NGHỆ

3.1. Các thể thơ và sự vận dụng trong ca dao xứ Nghệ

Thể thơ trong ca dao là vấn đề giữ một vị trí quan trọng trong nghiên cứu ca dao nói

chung. Nó đã được nhiều nhà khoa học trực tiếp hay gián tiếp, bàn đến trong nhiều công trình

nghiên cứu khác nhau. Nguyễn Xuân Kính đã phân thể thơ trong ca dao Việt Nam thành loại

chính: thể lục bát và các thể còn lại (bao gồm thể song thất lục bát và những hình thức biến thể

của nó, thể song thất và thể hỗn hợp…).

Đa số ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát, nhắc đến ca dao là người ta nghĩ đến thể

thơ này. Theo thống kê [109], trong số 1015 lời của cuốn ca dao Việt Nam có 973 lời được

sáng tác theo thể thơ lục bát, chiếm 95%, các thể còn lại (song thất, song thất lục bát, hỗn

hợp…) chiếm 5%. Điều đó không phải ngẫu nhiên. Nhịp thơ lục bát uyển chuyển, linh họat vô

cùng. Thơ lục bát có sở trường trong việc diễn đạt các cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiện các

nội dung hết sức đa dạng của hiện thực. Trước Cách Mạng Tháng Tám (1945) Nguyễn Đình

Thi đã nhận xét về đặc điểm này như sau: “Dùng một hình ảnh, ta có thể ví lối thơ Đường luật

như một chiếc bình pha lê kết tinh trong suốt nhưng không đủ sức lôi cuốn của một dòng sông.

Thơ lục bát, trái lại, vì hợp với tiếng nói nước ta nên có thể dung được nguồn cảm hứng tràn lan, đó là thể thơ ca hát, kể chuyện của dân chúng” [102]. Ở thế kỉ XIX, Phạm Đình Toái cũng

đã viết: “Ở thơ thất ngôn (tức thơ Đường luật) thì có hình thức đối lập nhau, ở lục bát thì có vẻ

quanh co, lưu chuyển, đó là chỗ khác nhau vậy (…) Thể thơ lục bát đâu cũng quen thuộc,

không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở miệng nên thơ, gái dệt trai cày nói lời hợp

điệu, cho đến câu hát của xóm làng, lời đùa của con trẻ, cũng không gì là không nhịp nhàng

hợp vần”[159].

Ca dao xứ Nghệ đa số cũng được sáng tác theo thể lục bát. Thể lục bát trong ca dao xứ

Nghệ (gồm cả lục bát chính thể và lục bát biến thể) chiếm 95,2% (3958/4157) bài. Các thể còn

lại chiếm 4.8% (199/4157 bài). Điều này phù hợp với đặc điểm chung của ca dao Việt Nam.

3.1.1. Thể lục bát

Thơ lục bát là một thể thơ có tính chất cổ truyền, có tính dân tộc cao. Trong lịch sử văn

học Việt Nam, thể lục bát có vai trò đặc biệt và có sức sống mạnh mẽ. Nhịp điệu thơ lục bát

uyển chuyển, linh hoạt. Thơ lục bát không có sự hạn chế về độ dài ngắn, nó có khả năng diễn

đạt tình cảm đa dạng, phong phú của con người.

Trong trường kì lịch sử phát triển, một mặt thể lục bát đã hoàn thiện mình, mặt khác tự nó

phá vỡ để tạo ra những biến thể nhằm tạo khả năng chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực xã hội rộng

lớn hơn. Chính vì vậy, lục bát có hai dạng: chỉnh thể và biến thể. Trong ca dao xứ Nghệ cũng

có hai dạng này.

3.1.1.1. Lục bát chỉnh thể

Khái niệm “thể lục bát” từ trước tới nay đã được bàn đến rất nhiều trong các công trình

nghiên cứu khoa học. Tuy rộng, hẹp, nông sâu khác nhau, nhưng ý kiến của các nhà nghiên cứu

tương đối thống nhất. Trong đó, nhận định của Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình là đầy đủ và chính

xác hơn cả: “Cặp 6 tiếng + 8 tiếng là đơn vị tế bào, một chỉnh thể tối thiểu của thể thơ lục

bát”[22]. Từ nhận định đó, về vần, Nguyễn Xuân Kính đưa ra hai khuôn hình. Khuôn hình điển

hình và phổ biến nhất là gieo vần ở tiếng 6 của câu lục với tiếng thứ 6 của câu bát. Ngoài ra còn

có kiểu gieo vần khác: tiếng thứ 6 của câu lục với tiếng thứ 4 của câu bát. Trường hợp này có

người cho là biến thể vần lưng. Có lẽ cách gọi nào cũng có cái hợp lí nhất định. Như vậy, khi

xét thể thơ lục bát trước hết cần xét khuôn cơ bản của nó, tức là xét lục bát là một cặp 6+8 bởi

vì trong ca dao không ít những đơn vị tác phẩm chỉ tồn tại đúng một cặp. Chúng ta cũng không

bỏ qua vần tiềm tàng của thể lục bát bởi đây là vần liên kết các cặp lục bát với nhau và nhờ có

nó mà lục bát trở nên vô khuôn khổ một tác phẩm. Căn cứ vào những điều đó chúng ta xác định

thể lục bát trong ca dao xứ Nghệ.

Theo thống kê, khảo sát của chúng tôi thì trong ca dao xứ Nghệ, thể lục bát (bao gồm cả

lục bát chính thể lẫn lục bát biến thể) chiếm 95.2% (3958 / 4157 bài), các thể còn lại chiếm

4.8% (199/4157 bài). Tỉ lệ này cũng tương đương với tỉ lệ Nguyễn Xuân Kính thống kê từ cuốn

“Ca dao Việt Nam”: 95% lời ca dao được sáng tác theo thể lục bát, 5% các thể còn lại (dẫn theo

“Thi pháp ca dao”). Nó cũng trùng hợp với tỉ lệ thống kê từ hai cuốn “Ca dao ngạn ngữ Hà

Nội” (T2 Hội văn nghệ Hà Nội-1981) và cuốn “Văn học dân gian Thái Bình” (T1 NXB KHXH-

HN 1981): 95% lời ca dao được viết theo thể lục bát, các thể còn lại chiếm 5%.

Tỉ lệ này cho thấy, đại đa số ca dao xứ Nghệ được sáng tác theo thể lục bát. Đó cũng là nét

tương đồng giữa ca dao xứ Nghệ, xứ Bắc và ca dao toàn quốc trong việc vận dụng thể lục bát

thuần dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật.

Tuy có sự tương đồng như vậy, nhưng thể lục bát trong ca dao xứ Nghệ vẫn có những

điểm khác biệt so với lục bát trong ca dao xứ Bắc.

Lục bát chính thể ở ca dao xứ Nghệ chiếm 76.3% (3021/3958) bài lục bát. Tỉ lệ này ít hơn

rất nhiều so với ca dao xứ Bắc 87% (391/441 bài). Điều này cho thấy mặc dù ca dao xứ Nghệ

và ca dao xứ Bắc cùng sử dụng thể lục bát với vai trò là thể thơ chính trong sáng tác ca dao

nhưng biểu hiện cụ thể của thể thơ này ở mỗi vùng văn hóa lại khác nhau.

Hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ 4 dòng bát là hiện tượng ít phổ biến trong ca dao Việt

Nam nói chung và ca dao xứ Nghệ nói riêng. Hiện tượng này chỉ chiếm 3,3% (129/3958 bài)

trong thể thơ lục bát Nghệ Tĩnh, thấp hơn tỉ lệ của ca dao Bắc (7,7%). Nó xảy ra ở cả hình thức

chính thể lẫn biến thể, nhưng tập trung hơn ở lục bát chính thể với 98/129 bài gieo vần lưng ở

chữ thứ 4 dòng bát.

Lục bát vần lưng ở chữ thứ 4 dòng bát tuy xuất hiện nhiều hơn trong ca dao tình yêu nam

nữ và ca dao về cuộc sống trong xã hội nông nghiệp. Nhưng nhìn chung nó có mặt ở mọi đề tài

trong ca dao xứ Nghệ:

- “Đôi ta như đũa giữa mâm

Không ăn cũng cầm cho thỏa lòng nhau”

- “Nước lên rồi lại nước ròng

Anh ở hai lòng nước lại cầm cân”

(Tình yêu nam nữ)

Với 95,2% lời ca được sáng tác theo thể thơ lục bát, ca dao xứ Nghệ đã phát huy được hết

những ưu thế nổi bật của thể thơ này. Bằng nhịp điệu uyển chuyển, linh hoạt, bằng độ ngắn dài

không hạn định, lục bát xứ Nghệ đã diễn tả được những cung bậc phong phú của cảm xúc, thể

hiện một cách đa dạng, sâu sắc các nội dung hiện thực. Đây cũng là nét tương dồng giữa ca dao

xứ Nghệ với ca dao xứ Bắc và ca dao toàn quốc trong sử dụng thể lục bát. Mặt khác, hiện tượng

xuất hiện nhiều biến thể trong lục bát xứ Nghệ đã góp phần làm nên nét đặc sắc của ca dao

vùng “đất cổ nước non nhà” này.

3.1.1.2. Lục bát biến thể

Cũng như khái niệm lục bát chính thể, khái niệm lục bát biến thể đến nay vẫn còn tồn

tại nhiều cách hiểu rộng hẹp khác nhau. Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng “lục bát biến thể là

hiện tượng thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch cách hiệp vần, phối thanh” [145]. Nhóm ý kiến

thứ hai, hẹp hơn cho rằng: “lục bát biến thể là hiện tượng số tiếng trong một vế có thể tăng

hoặc giảm” [186]. Chúng tôi đồng tình với ý kiến thứ hai và chọn cách hiểu của Mai Ngọc Chừ

làm cơ sở xác định lục bát thể hiện trong khảo sát: “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là

những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt trên sáu dưới tám mà còn có sự

co giãn nhất định về số lựơng âm tiết (tiếng)”[41].

Lục bát biến thể trong ca dao xứ Nghệ chiếm 23,7% (937/3958 bài lục bát). Tỷ lệ này lớn

hơn rất nhiều so với ca dao Bắc theo thống kê của chúng tôi lục bát biến thể ở ca dao Bắc chỉ

chiếm 13% (50/391 câu lục bát). Đúng như sự phân loại của Mai Ngọc Chừ về lục bát biến thể,

sự biến thức của lục bát trong ca dao Nghệ được biểu hiện dưới nhiều dạng. Dạng một, dòng

lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên. Hiện tượng này chiếm 15,8% số câu lục bát biến thể

(148/397 bài). Trong đó ở nội dung (1) “Đặc điểm về địa phương xứ Nghệ ”, biến thể dòng lục

chiếm 11,5% (17/148 bài). Ở nội dung (2) “Tình yêu nam nữ ”, biến thể dòng lục chiếm 47,3 %

(70/148bài). Ở nội dung (3) “Hôn nhân và gia đình”, biến thể dòng lục chiếm 18,2% (27

/148bài). Ở nội dung (4) “Cuộc sống trong xã hội nông nghiệp”, biến thể dòng lục chiếm 6,8 %

(10/148). Ở nội dung (5) “Quan điểm lao động và kinh nghiệm cuộc sống”, biến thể dòng lục

chiếm 2,% (3/148). Ở nội dung (6) “Phê phán thói hư tật xấu và phong tục lạc hậu”, biến thể

dòng lục chiếm 8,1% (12/148). Ở nội dung (7) “Tinh thần dân tộc và quan hệ giai cấp”, biến thể

dòng lục chiếm 6,1% (9/148). Hiện tượng biến thể dòng lục trong ca dao xứ Nghệ diễn ra ở tất

cả các nội dung theo cả hai chiều: tăng hoặc giảm số lượng âm tiết (tiếng). Biến thể giảm, số

âm tiết có thể giảm một :

“Nón Hạ quai thao tơ

Lấy ai thì lấy kẻ Mơ xin dừng”

(5/8 tiếng)

Hoặc giảm hai :

‘Thương mãi nhớ liều

Như ai dán đạo bùa yêu trong lòng

Thương mãi nhớ lâu

Như ai dán đạo bùa sầu cho em”

(4/8/4/8 tiếng)

Biến thể tăng thêm một:

“Sao trên trời rơi xuống biển Đông

Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng”

(7/8 tiếng)

Tăng thêm hai :

“Bỏ đi không đứt, dứt di không đành

Đa mang lấy bạn không thành chuyện chi”

(8/8 tiếng)

Có trường hợp tăng đến ba tiếng :

“Em không tham chi anh bồ lúa quan tiền

Tham vì gia thế cha hiền mẹ ngoan”

(9/8 tiếng)

Đặc biệt có một bài ca dao trong đó số lượng âm tiết ở dòng lục tăng đến 12 tiếng hoặc

giảm xuống 4 tiếng:

“Mặt tuyết da trăng

Lông mày lá liễu hàm răng hạt huyền”

Miệng cười tựa nụ hoa sen

Mình trông nhan sắc như đèn như sao

Bỏ công rày ước mai ao

Mình sầu mặt mũi xanh xao thế này

Khi nào thiên địa vần xoay

Ông tơ bà nguyệt xe dây xích thằng

Để cho ta được chung gối với người mặt tuyết da trăng”

Hiện tượng này là vô cùng hiếm hoi trong ca dao xứ Nghệ nói riêng và ca dao Việt Nam

nói chung.

Như vậy, hiện tượng biến thể dòng lục trong ca dao xứ Nghệ diễn ra theo hai chiều hướng:

tăng hoặc giảm số âm tiết. Phổ biến hơn là hiện tượng tăng âm tiết (chiếm 90% của loại biến

thể này). Số lượng âm tiết tăng, giảm thường ít khi quá hai đơn vị. Cũng có trường hợp tăng lên

6 tiếng, nhưng đó là trường hợp đặc biệt, chỉ xuất hiện một vài lần.

Biến thể dòng lục xảy ra ở tất cả các nội dung trong ca dao xứ Nghệ. Nhưng tập trung nhất

ở ca dao tình yêu (47,2%), tiếp đến là ở đề tài hôn nhân và gia đình (18,2%), rồi đề tài đặc điểm

về địa phương xứ Nghệ (11,5%), bốn đề tài còn lại chỉ chiếm 23,1%. Điều này không có gì khó

hiểu bởi lẽ tâm tư, tình cảm của con người là một vấn đề phong phú và phức tạp, nó đòi hỏi

những cách thể hiện vượt khỏi khuôn khổ thông thường để có thể diễn tả một cách sinh động

nhất, trung thực nhất mọi cung bậc tình cảm, mọi nỗi niềm của con người. Đây cũng là đặc

điểm chung cho hiện tượng biến thể lục bát của ca dao Nghệ Tĩnh.

Dạng biến thể thứ hai là dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi. Dạng biến thể này chiếm

tỉ lệ cao nhất trong hình thức lục bát biến thể: 55,7% (522/937 câu lục bát biến thể). Trong đó,

biến thể dòng bát ở nội dung (1) chiếm 9,4 % (49/522), biến thể dòng bát ở nội dung (2) chiếm

50,8% (265/522), biến thể dòng bát ở nội dung (3) chiếm 13,4% (70/522), biến thể dòng bát ở

nội dung (4) chiếm 8,6% (45/522), biến thể dòng bát ở nội dung (5) chiếm 4,6% (24/522), biến

thể dòng bát ở nội dung (6) chiếm 5,4% (28/522), biến thể dòng bát ở nội dung (7) chiếm 7,8%

(41/522).

Cũng như hiện tượng biến thể dòng lục, biến thể dòng bát trong ca dao xứ Nghệ diễn ra ở

tất cả các nội dung và tập trung nhất ở ca dao tình yêu. Còn về số lượng âm tiết, để vẫn giữ

được khuôn hình về vần của thể lục bát, gần như chỉ có hiện tượng tăng, hiếm khi có hiện tượng

giảm số tiếng. Trong số 522 câu biến thể dòng bát mà chúng tôi đã khảo sát, chỉ có một hiện

tượng có số âm tiết giảm ở lục bát gieo vần trắc :

“Đến đây chào chung chào chạ

Anh xin cho tất cả chị em

Chào rồi hỏi nợ hỏi duyên

Hỏi tình hỏi ý có kết nguyền được không?”

(6/7/6/9 tiếng).

Còn phổ biến là hiện tượng tăng một đến hai âm tiết:

“Trồng trúc xin đừng trồng mai

Đã thương anh không dám nghe ai dỗ dành”

(tăng 1)

“Ước chi anh trước em sau

Hoa trên rừng đua nở, nước khe lau chảy về”

(tăng 2)

Ở những bài ca dao dài, thường có sự kết hợp tăng một và hai âm tiết:

“Tay cầm đèn hạnh bóng cù

Đến đây tìm bạn, ai oán thù chị không ?

-Trời mưa ướt áo ba ngù

Anh thương em cho trọn ai oán thù mặc ai”

(6/9/6/10)

“Đói cơm rách áo thì hư

Lấy chồng kén chọn, sầu tương tư một mình

-Trèo lên cây chuối cao bèn

Lấy chồng không kén chọn, sau yếu hèn kêu ai!”

(6/9/6/10)

Hiện tượng kéo dài câu bát đến 11,12 âm tiết cũng không phải là hiếm trong ca dao xứ

Nghệ:

“Ngày chẵn em đi chợ Chùa

Có thịt bảy dãy, em chỉ mua đùm nham đưa về

Ngày lẻ chợ Sở sát kề,

Có thịt bảy dãy em cũng chỉ đưa về đùm nham”

(6/11/6/11)

“Trăng lên khỏi núi trăng nghiêng

Xuân thu em đang còn rứa mãi, anh sầu riêng trong lòng”.

(6/12)

Có trường hợp, số tiếng ở dòng bát tăng lên đến năm:

“Hoa thơm thơm lửng thơm lừng

Dặn con ong kia đừng chơi nhởi, dặn con bướm đừng xôn xao”

(6/13)

“Đến đây em hỏi thiệt lòng

Cao bay xa chạy đã tròn vòng gương chưa?

Em hỏi thì anh xin thưa

Đã ba bốn chốn nhưng chưa nơi mô anh ưa như chốn này”.

(6/9/6/13)

Thậm chí có trường hợp dòng bát tăng lên tới 16 âm tiết:

“…Đôi ta tình nặng nghĩa dày

Dù có xa nhau đi chăng nữa thì ba vạn sáu ngàn ngày cũng nỏ xa.”

(6/16)

Đây là một đặc điểm khá rõ để phân biệt biến thể lục bát của ca dao xứ Nghệ với biến thể

lục bát của ca dao xứ Bắc. Đúng như Nguuyễn Phương Châm đã nhận xét: “Biến thể ở ca dao

xứ Bắc thường là những biến thể nhỏ, ít đột ngột ; thêm hoặc bớt (khá hiếm) một vài từ khi thì ở

dòng lục khi thì ở dòng bát, rất hiếm lời ca dao xứ Bắc nào biến thể kéo dài ra quá 9,10 tiếng”,

“lục bát biến thể trong ca dao xứ Nghệ không giống như vậy. Nó thường rất đột ngột, lời ca

dao có độ dài rất ngắn rất bất ngờ … Nhiều khi để diễn tả một tâm trạng ,một hoàn cảnh nào

đó cho trọn ý, các tác giả dân gian không ngần ngại kéo giãn cặp lục bát ra tới trên 10 tiếng

,có trường hợp đến 13 tiếng” [25].

Tóm lại, hiện tượng biến thể dòng bát trong ca dao xứ Nghệ diễn ra ở tất cả các nội dung

nhưng tập trung ở ca dao tình yêu nam nữ theo chiều hướng tăng số lượng âm tiết. Theo thống

kê của chúng tôi, số bài tăng một âm tiết là 272/522 bài biến thể dòng bát, chiếm 52,1%. Số bài

tăng hai âm tiết là 158/522, chiếm 30,2%, số bài tăng ba âm tiết là 38/522 chiếm 7,3 %. Số bài

tăng bốn âm tiết là 15/522 chiếm 2,9% và số bài tăng năm âm tiết là 2/522, chiếm 0,4%. Hiện

tượng tăng dòng bát lên thành 9,10,11,12,13,16 âm tiết chủ yếu xảy ra ở những bài ca dao ngắn,

gồm hai dòng thơ hoặc bốn dòng thơ. Ngoài hiện tượng trong một tác phẩm lục bát biến thể chỉ

tăng một, hai, hoặc ba âm tiết như đã nêu trên còn có trường hợp kết hợp tăng một, hai,

ba…tiếng trong một bài lục bát dài. Hiện tượng này có trong 37 bài biến thể dòng bát, chiếm

7,1% còn lại.

Tất cả những điều nêu trên là đặc điểm để nhận diện hiện tượng biến thể dòng bát của ca

dao xứ Nghệ trong tương quan với biến thể của ca dao xứ Bắc nói riêng và ca dao Việt Nam nói

chung.

Biến thể dạng 3 là cả hai dòng đều thay đổi. Hiện tượng cả hai dòng thay đổi ở nội dung

(1) chiếm 7,1 % (19/267 bài), nội dung (2) chiếm 52,8 % (141 /267 bài), nội dung (3) chiếm

13,9% (37/267 bài), nội dung (4) chiếm 10,1% (27/267 bài), nội dung(5) chiếm 2,4% (6/267

bài), nội dung (6) chiếm 6,4 % (17/267 bài), nội dung(7) chiếm 7,5 % (20/267 bài). Sự co giãn

về số lượng âm tiết ở dạng biến thể này linh hoạt: số tiếng thường đều tăng ở cả hai dòng,

nhưng cũng có trường hợp âm tiết giảm dòng lục và tăng ở dòng bát, tạo hiệu quả đặc biệt cho

tác phẩm.Tuy nhiên, số lượng lời ca dao này không nhiều.

Cũng như hai dạng biến thể trên, hiện tượng biến thể ở hai dòng thơ này thường diễn ra

theo chiều tăng một đến hai tiếng ở cả câu lục và câu bát. Đây là số âm tiết được tăng phổ biến

nhất trong dạng biến thể này. Có khi là hiện tượng cùng tăng một âm tiết ở cả dòng lục lẫn

dòng bát:

“Nước sông Bùng chảy xuống sông Si

Anh chưa có vợ, em vội chi lấy chồng”

(7/9)

“Mình em như hương án thờ thần

Mình anh như con nhện dần dần bá chơi”

(7/9)

Hay cùng tăng hai âm tiết:

Đôi ta xa nhau thiên hạ cũng đều buồn

Bốn phương trời chuyển động, tám ngọn nguồn rung rinh

(8/10)

Kết đôi đi cho đó vợ đây chồng

Hoa trên rừng đua nở, lúa dưới đồng xanh um

(8/10)

Cũng có khi là sự kết hợp tăng một và hai âm tiết:

Đêm năm canh nghe con vạc tác canh

Con thằn lằn tắc mõ, thương anh nhiều bề

(8/9)

Đám cỏ héo gặp trộ mưa rào

Duyên ba sinh kì ngộ, mận với đào gặp nhau

(7/10)

Hiện tượng kết hợp tăng số lượng âm tiết không đều nhau ở dòng lục và dòng bát là hiện

tượng thường gặp trong dạng biến thể này. Nó không chỉ xảy ra ở trường hợp tăng một, hai

tiếng mà ở tất cả các hiện tượng tăng âm tiết và chiếm đến 64,3% (171/267) trong hình thức

biến thể hai dòng. Ta dễ dàng tìm ra sự kết hợp âm tiết linh hoạt ấy trong nhiều đề tài của ca

dao xứ Nghệ nhưng phổ biến hơn vẫn là ở đề tài tình yêu và gia đình. Ở đề tài tình yêu nam nữ:

“Lên chùa Dù thắp một nén hương

Hương cháy chưa hết đã thấy nường đằng sau

Mong hương cháy hết mau mau

Để cùng nường ra góc đại phía sau chùa Dù.”

(7/9/6/10)

“Anh chưa có vợ như chợ chưa có đình,

Trời mưa giông đôi ba hột, anh biết ẩn mình vô mô”

(9/12)

“Dặn bạn về kín múi như tằm,

Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ

Dặn bạn về kín múi như tơ,

Lòng thương không ai biết, dạ đợi chờ không ai hay”

(7/8/7/11)

Ở đề tài hôn nhân gia đình:

“Anh về têm một miếng trầu cho tinh tuyết,

Bỏ vô hộp thiếc, khay cẩn xà cừ

Để em vòng tay vô thưa với thầy mẹ, gả em giừ cho anh”

(9/8/14)

“Bây giờ ướm hỏi người ngoan

Em về thưa với thầy mẹ, anh muốn dan díu tình

Đừng bức ơi anh, đừng vội ơi anh

Để cho canh chín thì canh cũng vừa”

(6/11/8/8)

Sự kết hợp tăng âm tiết một cách linh hoạt này tạo được ấn tượng thơ tự do. Đồng thời nó

cũng thể hiện được nhiều hơn, sâu hơn những cung bậc tình cảm của con người xứ Nghệ.

Bên cạnh hiện tượng tăng số tiếng lên đến 7,8,9,10 âm tiết (ở dòng lục) Và 10,11,12,13

âm tiết (ở dòng bát) hình thức biến thể này trong ca dao xứ Nghệ còn có trường hợp kéo giãn

cặp lục bát lên tới 13,14,15 tiếng:

“Anh nói với em như nứa chẻ hai

Em nói với anh như bó giang riết chặt, giừ biết lấy ai chuyện trò”

(8/15)

“Cần câu trúc lưỡi câu đồng

Anh ngoắc con nhái, anh quăng bên tê sông Nhị Hà

O mô có chồng thì tránh cho xa

O mô chưa có chồng hắn rứt rồi hắn lại rựt hắn na cả mồi”

(6/11/8/15)

Hiện tượng này khiến cho các ý trong câu được thể hiện rõ hơn, nhưng cũng có khi nó làm

cho câu thơ trở nên rườm rà, ít trau chuốt.

Cả ba dạng biến thể: biến thể dòng lục, biến thể dòng bát, biến thể cả dòng lục lẫn dòng

bát trong ca dao xứ Nghệ với những đặc điểm riêng, với những độc đáo và sáng tạo riêng đã

khẳng định được bản sắc văn hóa Nghệ Tĩnh, năng lực sáng tạo nghệ thuật của tác giả dân gian

Nghệ Tĩnh. Tỷ lệ ba dạng biến thể này trong ca dao xứ Nghệ không cân bằng như ca dao xứ

Bắc (ở ca dao xứ Nghệ: biến thể dòng lục chiếm 15,9%, biến thể dòng bát chiếm 55,7%, biến

thể hai dòng 28,2%. Ở ca dao Bắc, tỷ lệ dạng biến thể theo trình tự trên là 38%, 42% và 20%)

nhưng các hiện tượng biến thể lục bát trong ca dao xứ Nghệ đều có điểm chung là đều tập trung

vào đề tài tình yêu nam nữ (biến thể dạng một: 47,2%, biến thể dạng hai: 50,8%, biến thể dạng

ba: 52,6%) và đều theo chiều hướng tăng âm tiết là chính. Các trường hợp giảm âm tiết hay

tăng một số lượng âm tiết đáng kể (5 đến 7 âm tiết) đã làm nên nét độc đáo trong ca dao xứ

Nghệ.

Cần phải nhấn mạnh là dù xét hiện tượng biến thể lục bát theo cách bổ dọc như trên hay là

cắt ngang thì đề tài chiếm tỷ lệ biến thể cao nhất vẫn luôn là đề tài tình yêu nam nữ. Đề tài này

chiếm đến 50,7% các dạng biến thể. Trong ca dao xứ Bắc, tình yêu nam nữ cũng là đề tài chiếm

tỷ lệ biến thể nhiều nhất nhưng không lớn bằng ca dao xứ Nghệ. Hiện tượng này không có gì

khó hiểu bởi lẽ “hình thức lục bát biến thể có ưu thế trong việc diễn đạt những hoàn cảnh, điều

kiện khó khăn, không thuận lợi và những quyết tâm khắc phục những trở ngại ấy”[41], mà tất

cả những biểu hiện ấy thì luôn đầy ắp trong đời sống tình cảm con người, trong tình yêu nam

nữ.

Như vậy, với những sáng tạo đặc sắc độc đáo trong hình thức thể hiện các dạng biến thể,

tác giả dân gian xứ Nghệ đã mở rộng thêm giới hạn của

thể lục bát, đem lại cho thể thơ này nét tự do, phóng túng đậm đà phong cách Nghệ. Mặt khác,

đó cũng là phương tiện để những tâm tư tình cảm, những nguyện vọng ước ao…của người dân

xứ Nghệ được thể hiện một cách rõ ràng nhất, đầy đủ nhất, sâu sắc nhất.

Hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ tư dòng bát trong lục bát biến thể đã là một hiện tượng ít

phổ biến thì việc gieo vần ở tiếng thứ tư dòng bát trong lục bát biến thể lại càng làm nó trở nên

đặc biệt hơn. Hiện tượng này có mặt trong 31 tác phẩm ở tất cả các đề tài, nhưng vẫn tập trung

nhất ở ca dao tình yêu (15 bài). Một lần nữa, tình yêu nam nữ lại “lên ngôi” trong hình thức thể

hiện của ca dao xứ Nghệ:

“Chim đa đa đậu cành đa đa

Nó kêu thắc tha thắc thẻo

Con chim chèo bẻo hắn đậu nhánh mai tùng

Ai ơi thương nhớ với cùng

Gái thuyền quyên lỡ lứa, trai anh hùng lỡ đôi”

Hiện tượng này còn có mặt trong những lời ca mang tính chất hài hước :

“Nhà anh nóc trổ lên trời

Ông tổ bảy mươi đời thì chết đã lâu

Trong nhà cổng trước ngõ sau

Nhìn vào trong bếp đầu rau ba hòn”.

Hoặc trong lòng tự hào của người dân về địa phương mình :

“Đất Thuận Yên có nghề hàng xáo

Mua lúa bán gạo cũng là nghề đi buôn

Em ơi đừng nghĩ thiệt hơn

Vui nghề cày cấy thì Nhân Sơn đâu bằng”.

Trong lời tâm tình đầy nước mắt vì sự giằng xé giữa tình yêu với bổn phận :

“Một thương, hai thương, ba thương, bốn nhớ

Đạo chồng nghĩa vợ là đức cù lao

Sông sâu ai dám tới đào

Bạn về nhà bạn, nước mắt ào như mưa”

Nhìn chung hiện tượng gieo vần lưng chủ yếu xảy ra ở biến thể dòng lục. Còn ở trường

hợp biến thể dòng bát hay biến thể cả hai dòng, thì do sự co giãn âm tiết (thường là thêm), vần

gieo có thể rơi vào tiếng thứ năm của dòng thơ.

Hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ tư câu bát trong lục bát biến thể là hiện tượng độc đáo

trong ca dao xứ Nghệ. Chúng tôi không tìm thấy hiện tượng này ở ca dao Bắc. Trong ca dao xứ

Bắc, vần lưng chỉ được gieo ở lục bát chính thể:

- “Làng Tô có quan thượng thư

Cắt tóc làm sư giữ chức hòa thượng”

- “Hoài nơi mà nói với mày

Để mai đi cày tao nói với trâu”

- Hòai hơi mà nói với trâu

Để mai đi bầu tao nói với quan

- Hoài hơi mà nói với quan

Để mai đi làm tao nói với dân.”

Như vậy, không giống như lục bát xứ Bắc, lục bát xứ Nghệ đã kết hợp được hiện tượng

gieo vần ở tiếng bốn dòng bát trong một bài lục bát biến thể để tạo nên những tác phẩm có giá

trị nghệ thuật đặc sắc thể hiện được “những nội dung có tính chất bất ngờ, không bình thường”.

Có một dạng biến thể không thể không nói tới bởi dẫu nó không nhiều nhưng tác dụng rất

lớn, đó là biến thể cấu trúc. Nghĩa là bài ca dao không bắt đầu bằng dòng lục, kết thúc ở dòng

bát như thường lệ mà ngược lại, nó có thể được bắt đầu bằng dòng bát và kết thúc ở dòng lục.

Bắt đầu bằng câu bát :

“Buồn rầu buồn rĩ nghĩ lại buồn riêng

Hai tay bưng quả đào tiên

Miệng cười hớn hở dạ phiền tương tư”

Kết thúc bằng câu lục :

“Hỡi anh áo trắng kia là

Sao anh không bảo mẹ già nhuộm thâm

Ước gì áo ấy về tay em cầm

Em ngả màu tím, màu thâm, màu vàng.

Vạt cả em ngà màu vang

Vạt sau em ngả màu vàng, em miến chỉ xanh

Đôi tay em cải đôi giành…”

Hiện tượng này theo khảo sát của chúng tôi từ cuốn ”Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”

của Vũ Ngọc Phan chỉ có ba trường hợp, trong đó một trường hợp của ca dao xứ Bắc, còn ca

dao xứ Nghệ có tới bảy bài biến thể cấu trúc, trong đó có hiện tượng tác phẩm được bắt đầu

bằng dòng bát. Trường hợp này có thể xem là “thổ sản” của ca dao xứ Nghệ nghệ bởi lẽ nó

không có trong ca dao các vùng khác.

Một dạng biến thể cấu trúc khá độc đáo trong ca dao lục bát xứ Nghệ là hiện tượng tăng

hai lần câu lục:

“Chợ Giăng rồi lại chợ Chùa

Chợ Rạng thì phải qua đò

Chợ Lường lắm bánh ăn dò mà đi”

(6/6/8)

Thậm chí trong loại này vẫn có cả biến thể câu bát :

“Hỡi người thục nữ Đan Du

Du xuân, du thủy, du tình

Sáng trăng quân tử muốn dạo vành Đan Du”

(6/6/9)

Loại này thường không dài, chỉ mới thấy những bài ca dao có ba dòng thơ.

Tóm lại, cùng mang những đặc điểm chung của ca dao Việt Nam, ca dao xứ Nghệ và xứ

Bắc đều sử dụng thể lục bát với vai trò là thể thơ chính (lục bát trong ca dao xứ Nghệ và xứ Bắc

đều chiếm trên 95%). Thế nhưng, ngay trong sự tương đồng đã ẩn chứa nhiều khác biệt: nếu

như tỷ lệ lục bát chính thể – biến thể trong ca dao xứ Bắc là 87% - 13%, thì tỷ lệ này ở ca dao

xứ Nghệ là 76,3% - 23,7%. Hiện tượng xuất hiện nhiều biến thể lục bát với sự kết hợp gieo vần

lưng đã tạo nên nét riêng trong ca dao xứ Nghệ. Tác giả dân gian Nghệ Tĩnh qua các dạng biến

thể lục bát đã mở rộng thêm giới hạn của thể thơ, tạo nên những lời ca dao tự do, phóng túng,

thể hiện được một cách sinh động, sâu sắc của các cung bậc tình cảm. Đây là nét sáng tạo độc

đáo của ca dao xứ Nghệ mà các ca dao xứ Bắc không có.

3.1.1.3 Sự vận dụng thể lục bát trong ca dao xứ Nghệ

Ca dao Việt Nam không chỉ được làm bằng thể thơ lục bát. Thế nhưng nói đến ca dao là

người ta nghĩ đến thể thơ này. Điều đó không những xuất phát từ việc thể thơ trên sáu dưới tám

chiếm số lượng lớn nhất trong ca dao mà còn vì thể thơ lục bát là hình thức phù hợp nhất với sự

biểu đạt nội dung mang giá trị thẫm mỹ của quần chúng lao động trong thơ trữ tình dân gian.

Lục bát xứ Nghệ cũng không nằm ngoài ý nghĩa chung ấy của ca dao toàn quốc.

Thể lục bát chiếm 95,2% trong ca dao xứ Nghệ. Tỷ lệ này cũng tương đồng với ca dao xứ

Bắc và ca dao toàn quốc: 95%. Vậy tại sao giữa ca dao xứ Nghệ và ca dao xứ Bắc lại có sự

giống nhau như vậy về tỷ lệ lục bát, hay nói cách khác, tại sao đa số ca dao Nghệ lại đuợc sáng

tác theo thể lục bát ?

L.X .Vưgôtxki trong “Tâm lí học nghệ thuật” đã có một nhận định rất xác đáng :”Chỉ

trong một hình thức cụ thể xác định của mình, tác phẩm mới có được sự tác động tâm lý của mình” [184]. Đúng vậy, qua bao nhiêu thời gian, qua bao sàng lọc của thực tế, các tác giả dân

gian đã chọn thể lục bát làm phương tiện chủ yếu cho sáng tác của mình bởi lẽ khó có thể thơ

nào dễ nhớ, các cung bậc phong phú của cảm xúc, tình cảm, các nội dung đa dạng của hiện thực

và đem lại hiệu quả thẫm mỹ như thể lục bát. Ca dao xứ Nghệ, tác giả dân gian xứ Nghệ cũng

đã tìm thấy ở thể lục bát phương tiện thích hợp nhất để chuyển tải những tâm tư tình cảm,

những nghĩ suy, những khao khát của mình. Điều đó lí giải vì sao đại đa số ca dao xứ Nghệ

được làm theo thể lục bát. Và chính sự tương đồng, gần gũi của ca dao xứ Nghệ với ca dao xứ

Bắc và ca dao toàn quốc trong việc sử dụng lục bát như thể loại chính đã khiến cho bộ phận trữ

tình dân gian xứ Nghệ tìm được tiếng nói chung với ca dao dân tộc.

Nhưng bên cạnh nét chung ấy, lục bát xứ Nghệ cũng đã để lại những dấu ấn riêng biệt

không thể trộn lẫn. Ta đã yêu ca dao xứ Nghệ bởi tính thống nhất, tính toàn quốc, ta lại càng

yêu ca dao xứ Nghệ hơn bởi tính phân biệt, tính địa phương, vì chính đây mới là những đóng

góp to lớn của ca dao Nghệ Tĩnh cho sự phong phú của ca dao dân tộc.

Điều làm nên sự khác biệt của thể lục bát trong ca dao xứ Nghệ với lục bát xứ Bắc và lục

bát toàn quốc là các hình thức biến thể của thể thơ này. Với cùng một tỉ lệ lục bát chiếm trên 95

% nhưng số lượng lục bát biến thể ở ca dao hai vùng thực sự khác biệt: 23,7% ở Nghệ và 13%

ở Bắc. Vậy tại sao ca dao xứ Nghệ lại xuất hiện nhiều biến thể như vậy? Để giải thích sự có mặt

của lục bát biến thể, Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình [22] dựa vào ba nguyên nhân. Một là có thể

có những biến thể cổ xuất hiện vào lúc mô hình lục bát chưa thật định hình. Hai là có thể có

những biến thể nảy sinh do việc đem thể lục bát phục vụ cho việc diễn xướng. Ba là có thể có

những biến thể hình thành do sự linh động của nhà thơ nhằm phục vụ yêu cầu diễn đạt một nội

dung nào đó. Đây cũng chính là những nguyên nhân chủ yếu của hình thức biến thể lục bát

trong ca dao xứ Nghệ. Ngoài ra, do những đặc điểm khác biệt của văn hóa vùng, còn có một số

nguyên nhân khác dẫn tới biến thể lục bát ở ca dao xứ Nghệ, đặc biệt là quan hệ của ca dao với

môi trường diễn xướng.

Vậy môi trường diễn xướng của ca dao xứ Nghệ là gì? Đó chính là môi trường lao động, là

những hoàn cảnh lao động. Chính từ những buổi đan nón, dệt vải, đi củi, róc cau, lau mía…mà

những điệu ví phường nón, ví phường vải, ví phường róc cau lau mía…đã được hình thành.

Nảy sinh trong lao động, diễn xướng trong lao động, ngôn từ của ca dao Nghệ vì thế mang tính

tức thời như phần lớn diễn xướng ca dao các vùng miền khác. Nó khỏe khoắn, tươi mát như

nhịp điệu lao động nhưng cũng mộc mạc, giản đơn, ít chau chuốt như chính công việc lao động.

Bởi thế không có gì khó hiểu khi trong ca dao xứ Nghệ xuất hiện những biến thể lục bát có

nhiều “ từ thừa” làm rườm rà, đơn giản câu thơ, làm thơ gần với nói:

“- Sao hôm đã lặn, sao mai đã mọc dưới tê tề

Có điều chi thì trao đi trả lại cho anh về kẻo khuya”

“Tiếc thay cái hoa bông bụt nở non

Tiếc thay người bạn cũ có con đi rồi”.

Ca dao xứ Bắc vốn cũng có nguồn gốc, cũng được nảy sinh từ môi trường lao động, thế

nhưng do điều kiện tự nhiên thuận lợi, công việc lao động của nhân dân vùng lưu vực sông

Hồng đỡ vất vả hơn, năng xuất lao động cao hơn nên người Bắc có lắm lễ hội. Hơn thế nữa bao

quanh các vương triều phong kiến, dân ca xứ Bắc sớm được đưa vào cung đình. Đó chính là

môi trường để những sáng tác dân gian được sửa đổi, được chuẩn bị kĩ lưỡng, chuẩn mực và

trau chuốt hơn:

“Tiếc hoa dâm bụt nở non

Tiếc người bạn cũ có con đi rồi”

Lướt qua tên gọi làn điệu dân ca hai vùng chúng ta dễ dàng nhận ra điều đó. Nếu dân ca xứ

Bắc là “Bèo dạt mây trôi”, “Hoa thơm bướm lượn”, là “Ngồi tựa sông đào”, là “Lên chùa”…

thì ca dao xứ Nghệ là “Hát phường vải”, “Hát phường nón”, là “Hò chèo thuyền”, “Hò giã

gạo”… Gắn chặt với lao động, dân ca xứ Nghệ không chỉ là sản phẩm ứng tác mà còn là sản

phẩm hứng tác của những cảm xúc bột phát mà chân thành, cũng có khi sâu kín, uẩn khúc khó

diễn đạt thành lời. Cho nên trong vô số các biến thể lục bát của ca dao xứ Nghệ, những biến thể

xuất hiện vì chưa đạt tới độ chuẩn mực cũng không nhiều và càng không phải là tất cả. Lục bát

biến thể có mặt nhiều trong ca dao xứ Nghệ còn vì nó đã phục vụ diễn xướng. Như ta đã biết,

xứ Nghệ là xứ sở của hát giặm, hát ví … với bao nhiêu lối hát khác nhau. Lối hát ví chủ yếu sử

dụng hình thức lục bát và lục bát biến thể. Vì thế, ngoài cấu trúc trên sáu dưới tám thông

thường, lục bát xứ Nghệ còn có nhiều dạng biến thể để phục vụ cho hát ví.

“Thuyền người ta năm bảy lái chèo

Thuyền em về Chế cheo leo một mình.”

“Quen em chưa ráo mồ hôi

Chưa trưa buổi chợ đã chia đôi nẻo đường.”

Những dẫn chứng trên là phần lời của ví đò đưa, ví phường cấy, ví phường buôn …

Ngoài ra, lục bát biến thể xuất hiện nhiều trong ca dao xứ Nghệ còn bởi một lí do nữa: đó

là sự linh động của nhà thơ, là “ cá tính sáng tạo” của tác giả dân gian nhằm phục vụ yêu cầu

diễn đạt một nội dung nào đó. Đây có lẽ mới là nguyên nhân chính của sự có mặt 23,7% bài lục

bát biến thể trong ca dao xứ Nghệ. Sự kéo dài phần lời có thể là yêu cầu muốn làm rõ ý cho câu

thơ:

“ Bóng cam bóng quýt sau nhà

Bóng trăng rọi lại anh tưởng là bóng em”.

Cặp lục bát biến thể này, nếu như bỏ đi từ “anh” thì nội dung của câu thơ cũng không thay

đổi bởi nó sẽ xuất hiện trong tâm trí người đọc qua liên tưởng với từ “em” cuối câu. Thế nhưng

tác giả dân gian đã cố ý thêm vào tiếng “anh” để có thể xác định rõ hơn vị trí, tâm thế, tình cảm

của chủ thể trữ tình: “anh tưởng” chứ không phải bất kì ai khác.

Ở trong một trường hợp tương tự:

“Đôi ta dan díu chửa xong

Ai đem bùa (đến) bỏ (cho) thiếp vong nghĩa chàng”.

Những từ trong ngoặc là từ có tác dụng làm rõ nghĩa câu thơ: “cho” là từ giải thích cho lời

thú tội bạc tình ở cô gái: sự hấp dẫn ở một người khác đã khiến cô quên đi tình nghĩa với người

yêu. Không có những từ ngữ này, ta vẫn có thể hiểu được câu thơ nhưng sự có mặt của nó đã

giúp ta nhìn nhận vấn đề rõ ràng hơn. Cũng có lúc ngoài mục đích làm rõ ý thơ, hiện tượng lục

bát biến thể còn nhằm để nói đủ hơn những ý cần nói:

“ Công cha như ngọc, nghĩa mẹ như vàng.

Đạo làm con chưa trả huống chi chàng người dưng”

Thật khó mà bỏ đi âm tiết nào trong hai dòng thơ trên bởi lẽ nếu thiếu đi một âm tiết thì

cấu trúc nội dung của câu ca dao sẽ thay đổi, nó sẽ bị mờ nghĩa và không đầy đủ ý. Thường

xuyên hơn, sự xuất hiện của lục bát biến thể là để nhấn mạnh ý :

“Ngọn đèn thương ai mà ngọn đèn không tắt

Nước mắt thương ai mà nước mắt lâm li

Khăn điều đây ơ bạn, lấy lau đi kẻo buồn”

Bài ca dao này không chỉ biến thể trong số lượng âm tiết (đều tăng ở ba dòng) mà biến thể

cả trong cấu trúc hình thể. Ta khó lòng xác định được vị trí câu lục hay câu bát trong ba dòng

thơ trên. Nếu xét về cách gieo vần thì câu thứ hai và câu thứ ba là câu bát, câu một là câu lục

nhưng đứng ở góc độ nội dung để nhìn nhận, câu thứ nhất là câu thơ có hình thức câu lục thêm

vào để nhấn mạnh nỗi đau buồn, nhớ mong khoắc khoải của nhân vật, câu thứ hai mới là câu

lục chính thức của bài. Nhưng dù có mang hình thức nào đi nữa thì dụng ý của tác giả dân gian

trong bài lục bát biến thể này cũng là nhằm gây sự chú ý của người đọc đến vấn đề cần được

nhấn mạnh: những tâm sự ngổn ngang của nhân vật trong tác phẩm trữ tình. Lục bát biến thể

còn đắc dụng trong trường hợp quyết tâm khắc phục mọi trở ngại:

“ Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

Ngũ lục giang cũng lội, thất bát đèo cũng qua”

Trong câu lục bát trên nếu chúng ta giữ lại những con số lớn nhất và bỏ đi các số bé hơn

thì lời thơ vẫn đủ ý, dạng chính thể của nó có thể là:

“Yêu nhau tứ núi cũng trèo

Lục giang cũng lội, bát đèo cũng qua”

Tuy nhiên khi chỉ giữ lại những con số đó thì số sông, số núi, số đèo trở thành con số cố

định: là tứ, là bát. Trái lại khi thêm vào trước đó những con số nhỏ hơn: ba, năm, bảy thì bỗng

nhiên các số hạng trên trở nên vô hạn và nhờ thế lòng quyết tâm của đôi bạn tình cũng trở nên

vô hạn. Rõ ràng trong trường hợp này lục bát biến thể trở nên hữu hiệu hơn. Dạng chính thể

thường có âm hưởng nhẹ nhàng, đọc nó không trúc trắc, chuyển đổi ngữ điệu như đọc câu lục

bát biến thể. Nhưng chính việc trúc trắc, khó khăn trong cách phát âm bởi độ dài bất thường của

cặp lục bát cộng với sự xuất hiện nhiều từ tố Hán Việt đã làm cho câu lục bát biến thể xứ Nghệ

có khả năng tạo một ấn tượng về một hoàn cảnh khó khăn tưởng như không thể vượt qua: tam

tứ núi, thất bát sông, tứ cửu tam thập lục đèo… Thế nhưng nhờ sức mạnh của tình yêu, trở ngại

ấy đã được khắc phục. Như vậy, hình thức biến thể lục bát đã giúp tác giả dân gian vừa nhấn

mạnh được những khó khăn trở ngại, vừa nói được quyết tâm không thể lay chuyển trong việc

khắc phục những trở ngại ấy. Trở ngại càng lớn, quyết tâm càng cao và tình yêu càng đáng

được tôn vinh, trân trọng. Cũng trong một hoàn cảnh éo le khác:

“ Chị có chồng cho tôi mượn một vài đêm

Có mòn chi chăng nữa, tôi cho thêm lạng vàng.”

“ Người ta mượn cấy mượn cày

Tôi thấy mự xã hôm nay đi mượn chồng

Mượn người thì phải trả công

Mượn chồng ắt sẽ mất chồng mự ơi”

Số lượng âm tiết được tăng ở dòng lục lẫn dòng bát đã diễn tả được tình thế oái oăm, hài

hước: đi mượn chồng. Trong trường hợp này, nếu giữ nguyên số tiếng trên sáu dưới tám, nội

dung câu ca vẫn được hiểu, nhưng như thế tình chất không bình thường trong cảnh ngộ sẽ mất

đi. Phải bằng một hình thức bất thường (biến thể lục bát) thì nội dung bất thường (mượn chồng)

mới được thể hiện hiệu quả. Nội dung ấy chỉ có thể được biểu hiện bằng hính thức ấy.

Việc tăng âm tiết để nhấn mạnh ý được sử dụng phổ biến trong ca dao xứ Nghệ nhưng

không phải là đặc điểm riêng của ca dao xứ Nghệ. Chúng ta có thể tìm thấy đặc điểm này ở ca

dao xứ Bắc. Ngoài việc sử dụng phổ biến hơn, dạng lục bát biến thể trong ca dao xứ Nghệ (so

với ca dao xứ Bắc) chúng ta còn thấy điểm khác biệt trong ca dao xứ Nghệ là sử dụng liên

hoàn, linh hoạt cả hai dạng biến thể tăng, giảm cũng như các thể thơ khác nhau ngay trong một

bài.Ví dụ:

“Anh thương em không nói lúc đầu

Bây giờ đã dở ăn trầu người ta

Ăn trầu người ta

Như chim mắc nhạ, như cá mắc mắc nồi

Dặn bạn về kiếm lứa tìm đôi kẻo buồn”

Việc kết hợp xen kẽ tăng giảm âm tiết đã giúp cho việc khắc họa một cách rõ nét hoàn

cảnh trớ trêu của đôi bạn tình. Dòng thơ ngắn chỉ bốn tiếng hạ xuống như một lời trói buộc vĩnh

biệt, một hố sâu ngăn cách người con gái với người con trai đã lỡ để mất cô. Nỗi đau vì thế trở

nên quặn thắt hơn. Bên cạnh đó, việc tăng âm tiết ở câu cuối cùng đã cho ta thấy được cái ân

tình, tấm lòng vị tha của cô gái với người xưa. Chỉ một từ “dặn” thôi mà chất chứa bao nỗi

niềm, bao xa xót và cảm thông.

Nếu như hiện tượng tăng âm tiết có tác dụng đắc lực trong việc diễn đạt trọn ý thì việc kết

hợp tăng - giảm âm tiết trong dòng lục và dòng bát lại tạo được ấn tượng về cảm giác dồn nén,

nhấn mạnh đầy dụng ý của tác giả dân gian:

“Anh xa em một tháng

Nước mắt em lai láng hai mươi tám đêm ngày

Khi nào gió đánh tan mây

Sông Lam hết nước, em đây đỡ buồn”

(5/10/6/8)

Tuy nhiên, câu ca dao này là trường hợp duy nhất của dạng biến thể xen kẽ câu dài - ngắn

mà chúng tôi đã khảo sát được trong ca dao xứ Bắc. Trong lúc đó, ca dao Nghệ Tĩnh như một

phần nhỏ dẫn chứng đã dẫn trên - không hiếm những trường hợp này. Đây cũng là một đặc

điểm nữa để phân biệt biến thể lục bát của ca dao xứ Nghệ và xứ Bắc.

Như vậy, bằng cánh phối hợp tăng giảm âm tiết một cách tự do, linh hoạt, hiện tượng biến

thể hai dòng thơ trong ca dao xứ Nghệ đã tạo được những sắc thái độc đáo, sáng tạo cho lục bát

xứ mình. Những đặc điểm ấy cũng đã góp phần đắc lực trong việc thể hiện cái muôn hình vạn

trạng của tâm tư tình cảm con người xứ Nghệ, cá tính con người xứ Nghệ.

Hình thức lục bát biến thể trong ca dao xứ nghệ bằng việc tăng giảm âm tiết trong dòng

thơ đã thể hiện được ưu thế của mình trong việc diễn đạt những hoàn cảnh, điều kiện khó khăn

và sự quyết tâm khắc phục những trở ngại ấy. Điều đó lý giải vì sao lục bát biến thể xuất hiện

nhiều trong đề tài tình yêu nam nữ, bởi không có gì phong phú bằng, không có gì phức tạp bằng

lĩnh vực tình cảm này. Cũng cần phải nói thêm về hiện tượng biến thể cấu trúc trong ca dao xứ

Nghệ. Bởi lẽ đây là hiện tượng tuy xuất hiện không nhiều nhưng lại có ý nghĩa rất lớn. Trước

hết, nó là một hình thức đặc biệt để biểu hiện nội dung :

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô…”

Lời thơ kết thúc ở dòng lục (chứ không phải dòng bát như thường lệ) như một lời chào

mời e ấp, dí dỏm. Tại sao lời mời gọi lại kết thúc ở câu lục chứ không phải câu bát như thông

thường? Chúng ta không cho rằng cấu trúc này xuất phát từ nét cá tính thô vụng của người

Nghệ để suy luận lời bỏ lửng tiếp đó sẽ là “không vô thì thôi “ như một tác giả đã nhận định.

Mà thực ra, theo chúng tôi, cấu trúc này là dụng ý nghệ thuật của tác giả dân gian. Câu ca dao

có cái vẻ làm duyên rất có duyên của những cô gái lần đầu đến với tình yêu. Đó là lời mời gọi

tha thiết nhưng cũng rất ý tứ khi để một khoảng trống cho sự lựa chọn của du khách, đồng thời,

lời ca dao chưa được hoàn thành về mặt hình thức cũng tạo cho người thưởng thức cảm giác

còn bao nhiêu điều kì thú, bao nhiêu bí mật đang ẩn dấu, chưa nói lên thành lời. Và như thế, hỏi

có du khách nào lại không muốn bước chân vào vùng đất của non xanh nước biếc, của non xa

núi gần này để khám phá, để hoàn thành lời ca còn dang dở kia. “Kết thúc mở” ấy quả đã đem

lại nhiều ý nghĩa cho câu ca. Ở trong một bài ca dao khác :

“ Tấm yếm đào sao khéo giữ màu

Răng đen nhưng nhức, mái đầu em hãy còn xanh

Sao em ở vậy cho nó đành

Em không kiếm chút chồng lành kẻo thế mỉa mai

Chữ rằng xuân bất tái lai …”

Lại là một bài ca dao được kết thúc bằng dòng lục. Nếu ở phần đầu, nhan sắc và cảnh ngộ

của người con gái đã được thể hiện rất rõ nhờ những câu lục bát biến thể thì ở câu cuối, lời đúc

kết của nhân vật trữ tình lại là một câu thơ “ý tại ngôn ngoại”. Dĩ nhiên, điều tác giả dân gian

muốn nói không chỉ dừng lại ở việc tuổi xuân rực rỡ kia không trôi đi một cách phí phạm. Một

lần nữa, biến thể cấu trúc của lục bát lại phát huy tác dụng.

Cũng có lúc, hiện tượng biến thể cấu trúc diễn ra theo chiều hướng khác: bài ca dao không

được bắt đầu bằng dòng lục :

“Buồn rầu buồn rĩ nghĩ lại buồn riêng

Hay tay bưng quả đào tiên

Miệng cười hớn hở dạ phiền tương tư

Trầu ăn là nghĩa, thuốc xỉa là tình

Ấy ai cất mối tơ mành

Cho thuyền quên bến cho anh quên nàng”

Trong những lời ca dao trên, dòng mở đầu tác phẩm có ý nghĩa như là một lời đề từ của

toàn bài để từ đó những ý nghĩa thơ được làm rõ và mở rộng. Nếu như cách kết thúc bằng dòng

lục gợi trong ta cảm giác ý thơ còn chưa kết thúc thì hình thức biến thể này với độ dài của câu

mở đầu lớn hơn câu lục lại thể hiện được dụng tâm nhấn mạnh ý của tác giả dân gian. Như vậy,

cả hai loại biến thể cấu trúc đều đã góp phần vào việc thể hiện nội dung. Ngoài ra hình thức

biến thể cấu trúc này, đặc biệt là loại biến thể mở đầu không phải bằng dòng lục đã bổ sung và

mở rộng thể loại của ca dao Việt Nam. Đó là đóng góp lớn lao của dạng biến thể cấu trúc trong

ca dao xứ Nghệ mà ta cần ghi nhận.

Tóm lại, hình thức lục bát biến thể xuất hiện nhiều trong ca dao xứ Nghệ chủ yếu là do chủ

ý của tác giả dân gian. Tác giả dân gian từ việc nắm vững các quy tắc của thể lục bát đã chủ

động co giãn câu thơ, tạo cho lục bát một nhịp điệu mới, một sức biểu hiện mới. Ngoài ra, lục

bát biến thể cũng hết sức hữu dụng trong môi trường diễn xướng. Lục bát biến thể không những

làm câu thơ được đủ ý, rõ ý mà còn nhấn mạnh được những hoàn cảnh khó khăn và quyết tâm

khắc phục hoàn cảnh khó khăn ấy, đồng thời cũng rất đắc dụng trong những lời ca châm biến

trào phúng.Với những ý nghĩa ấy, lục bát biến thể xứ Nghệ đã tạo được cho mình một vị trí

riêng, không thể thay thế và trộn lẫn với các thể loại khác.

Ngoài những vai trò trên, không thể không kể đến những đóng góp của lục bát biến thể

trong ca dao xứ Nghệ đối với các hình thức thể hiện của ca dao Việt Nam. Lục bát biến thể

Nghệ Tĩnh với những nét riêng của mình đã làm phong phú những phương thức biểu hiện của

ca dao. Nếu với ca dao Bắc, ta đã có được những biến thể nhỏ, ít đột ngột thì bằng các biến thể

đa dạng của ca dao Nghệ, ta lại có được cách biến thức linh hoạt, bất ngờ, đặc biệt là hiện

tượng biến thể cấu trúc. Sự khác biệt ấy là do đặc điểm văn hóa vùng quy định: xứ Bắc là đất

thanh lịch, nhiều quy tắc chặt chẽ đã thành nếp trong cuộc sống tạo cho con người cũng như ca

dao nơi này sự hào hoa, trau chuốt, chuẩn mực, ít biến đổi. Xứ Nghệ, ngược lại, với những khó

khăn trong điều kiện tự nhiên, lại là vùng đất của những hoạt động lao động, của lối xử sự mộc

mạc đến thô vụng, là “chặt to kho mặn”, là “ăn to nói lớn”. Những sinh hoạt lễ hội không mấy

khi xuất hiện ở xứ Nghệ. Môi trường sinh hoạt văn hóa của xứ Nghệ cũng chính là môi trường

lao động: hát phường vải,ví đò đưa, ví phường cấy, ví phường buôn… Bởi vậy, không có gì

khó hiểu khi ca từ trong dân ca xứ Nghệ không được nhẹ nhàng, thanh cao, bóng bẩy như trong

dân ca Bắc; khi ca dao Nghệ xuất hiện nhiều biến thể đột ngột với câu thơ co giãn bất thường.

Chính những đặc điểm ấy đã tạo nên nét riêng cho lục bát biến thể xứ Nghệ, khẳng định phong

cách Nghệ và làm giàu có thêm các hình thức thể hiện của ca dao Việt Nam.

3.1.2. Thể hỗn hợp và sự vận dụng trong ca dao xứ Nghệ

3.1.2.1. Thể hỗn hợp

Thể thơ hỗn hợp là thể thơ chiếm khối lượng lớn thứ hai (sau thể lục bát) trong ca dao xứ

Nghệ. Nó gồm 72 tác phẩm, chiếm tỷ lệ 1.7%, trong khi đó ở ca dao xứ Bắc là 2.7%. Thể hỗn

hợp trong ca dao xứ Nghệ vừa mang những đặc điểm chung của thể thơ này trong ca dao Việt

Nam, lại vừa có những nét riêng chỉ tìm thấy trong ca dao xứ Nghệ.

Thể hỗn hợp, đúng như tên gọi của nó, là sự liên kết, phối hợp nhiều thể thơ trong một tác

phẩm. Đó có thể là sự kết hợp giữa thể lục bát và thể song thất, giữa lục bát và những dòng thơ

dài, ngắn tự do. Trong ca dao xứ Nghệ, còn có hiện tượng kết hợp giữa thể thơ lục bát với thể 4,

5 chữ, thường theo hình thức cặp lục bát mở đầu hoặc kết thúc. Do đặc điểm kết hợp nhiều thể

thơ với nhau nên thể hỗn hợp phần lớn xảy ra ở những bài ca dao dài, thường là từ 6 đến 30

câu. Tác phẩm ngắn nhất làm theo thể hỗn hợp dài 3 câu (ba dòng thơ):

“Đất sét cày gang

Cày một buổi được ba đàng

Mới biết trai làng Ngọ”

Trường hợp này không nhiều, phổ biến là những bài hỗn hợp có sáu dòng thơ trở lên:

“Yên Nhân lắm vải lắm sồi

Vải sồi anh nỏ ngó, ngó người thanh tân

Gái thanh tân quần là áo lụa

Anh ước một người làm vợ trăm năm

Vợ trăm năm anh nằm thủ thỉ

Cảnh gia đình chồng quí vợ thương.”

(6/9/7/8/7/8)

“Mấy lâu ao ước, ước ao,

Tiện đây mận mới hỏi đào một khi

Vì đào nên mận ra đi

Đào còn mê mẩn việc gì xa xôi

Đào thấy mận, đào ngồi lơ lửng

Mận thấy đào, mận đứng mận trông

Ước khi nào đào vợ mận chồng

Đào yêu mận mến mặn nồng cả đôi”

(6/8/6/8/7/7/7/8)

Những bài ca dao vừa dẫn ở trên là sự kết tinh giữa nhiều cặp lục bát và cặp song thất

nhưng những tác phẩm ấy không thuộc thể song thất lục bát, cũng không phải là lục bát gián

thất, mà là thể hỗn hợp. Hình thức kết hợp này, như nhận xét của Nguyễn Xuân Kính trong “Thi

pháp ca dao”, là hình thức phổ biến trong ca dao Việt Nam. Ca dao xứ Bắc cũng có nhiều

trường hợp như thế:

“Nước sông đào vừa trong vừa chảy

Anh đi kén vợ mười bảy năm nay

Tình cờ bắt gặp nàng đây

Như cá gặp nước như mây gặp rồng

Mây gặp rồng phát phong phát vũ

Cá gặp nước con ngược con xuôi

Gặp nhau mừng lắm nàng ơi

Như kim gặp chỉ một đời bên nhau”

(7/8/6/8/7/7/6/8)

Bên cạnh việc kết hợp thể lục bát và thể song thất, thể hỗn hợp trong ca dao xứ Nghệ còn

có hình thức liên kết giữa những câu thơ có độ dài ngắn khác nhau với cặp lục bát. Sự kết hợp

này khá đa dạng:

“Đứng bên ni nhà thương

Ngó bên kia nhà xác

Tình chồng nghĩa vợ

Sống gửi nạc thác gửi xương

Đôi ta bén chiếu bén giường

Dù xa nhau nữa cũng lập lường tìm nhau”

Lời ca dao trên gồm hai câu năm tiếng, một câu bốn tiếng, một câu sáu tiếng và cặp lục bát

biến thể.

Trường hợp dưới đây lại gồm một cặp lục bát, một câu bốn tiếng và một câu năm tiếng:

“Nhọc nhằn nỏ muốn ăn khoai

Nấu lên nồi bộng lưa hai củ sùng

Đánh một cái “tùng”

Hai củ sùng cũng hết.”

Hay cũng có thể là:

“Nằm đêm trong bụng khấn cầu

Biết dạ chàng ăn ở nơi đâu mà dò

Miệng anh nói ngọt như bát nước dừa

Dạ anh ăn ở đong đưa ra tuồng trăng gió

Bây giờ đã tỏ anh có vợ rồi

Cợt riễu em chi

Phỉnh phờ em rứa mãi

Trách con người dạo ngãi ăn nói mau quên

Bưng bát cơm lên

Trăm cơn sầu đặt xuống, đặt xuống giữa mâm

Tưởng nghĩa tri âm

Lòng đau quằn quại như kim châm dạ vàng”

(6/8/9/10/8/4/5/9/4/9/4/9)

Trong dẫn chứng trên, tác giả dân gian đã có sự kết hợp hết sức tự do, linh hoạt các câu

thơ có độ dài ngắn khác nhau trong một tác phẩm hỗn thể. Bài ca dao vì thế đã diễn tả được rất

rõ những khúc mắc, những nỗi đau khổ uất ức của người con gái trong tình yêu.

Sự kết hợp thể song thất với thể lục bát, kết hợp các câu thơ tự do với cặp lục bát…là hiện

tượng tương đồng của thể hỗn hợp trong ca dao xứ Nghệ với ca dao xứ Bắc và ca dao toàn

quốc. Nhưng mặt khác, thể hỗn hợp của ca dao xứ Nghệ có một kiểu kết hợp không có trong ca

dao xứ Bắc và cũng không mấy phổ biến trong ca dao Việt Nam, đó là sự kết hợp giữa thể lục

bát với thể 4,5 chữ. Một tác phẩm làm theo hình thức kết hợp ấy có thể được bắt đầu bằng một

cặp lục bát, tiếp đến là những câu thể 4,5 chữ :

“Em chê bạn giã không nhà

Em về em lấy vua cha Ngọc Hoàng

Em muốn cho sang

Lấy ông Hà Bá

Em muốn ăn cá

Lấy ông Long vương

Em muốn ngửi hương

Lên chùa lấy bụt

Muốn cho tươi tốt

Lấy ông tiên sư

Cái số em hư

Lấy ông thần canh ngõ.”

Phổ biến hơn cả là hiện tượng bắt đầu bằng cặp lục bát, kế cận là những câu 4,5 chữ và kết

thúc bằng một câu lục:

“Em về Kẻ Mọ làm chi

Đồng bằng thì ít, rú ri thì nhiều

Vượn hót chim kêu

Suốt ngày buồn bã

Em về thượng hạ

Gạo trắng nước trong

Đẹp người rồi lại thong dong”

Sự kết hợp giữa thể 4,5 chữ với thể lục bát đã làm mềm mại hơn những câu thơ 4,5 chữ

vốn ít được trau chuốt về ngôn ngữ và vần điệu, đồng thời đem lại cho ca dao xứ Nghệ nét độc

đáo riêng.

Thể hỗn hợp trong ca dao xứ Nghệ có mặt ở tất cả các nội dung. Dù ở nội dung nào, thì sự

kết hợp một cách linh hoạt, tự do, độc đáo các thể thơ cũng đem lại hiệu quả đặc biệt cho tác

phẩm và tạo thành những nét riêng cho thể hỗn hợp của ca dao xứ Nghệ. Đây là điều cần ghi

nhận về đóng góp của ca dao xứ Nghệ cho kho tàng văn học dân gian nước nhà.

3.1.2.2. Sự vận dụng thể hỗn hợp trong ca dao xứ Nghệ

Thể hỗn hợp được cấu tạo từ sự kết hợp một cách khá tự do các thể thơ khác nhau trong

một tác phẩm. Đây là thể thơ được sử dụng nhiều thứ hai (sau thể lục bát) trong ca dao xứ

Nghệ. Điều này hoàn toàn dễ hiểu: tính cách bộc trực, ngang tàng, phóng khoáng của người

Nghệ Tĩnh rất phù hợp với sự tự do, không bó buộc bởi niêm luật, vần điệu, độ dài ngắn của thể

hỗn hợp.

Cuộc sống của con người vốn dĩ phong phú và phức tạp; tâm hồn, cảm xúc của con người

cũng lắm cung bậc mà nhiều khi một cấu trúc hình thức ồn định không thể diễn tả hết được

những biến thái tinh vi, những trạng thái đa dạng của nó. Những hoàn cảnh sống ấy, những tâm

trạng tình cảm ấy nhiều khi đã tràn ra khỏi những bó buộc của thể thơ, dòng thơ… để tạo nên

những lời ca tự do, phóng túng:

“Năm xưa anh đứng cội cây sung

Em đứng cội cây dừa

Nước mắt em chảy xuống như mưa

Ướt một cái quần cái áo

Cái quần anh vắt chưa ráo

Cái áo anh vắt chưa khô

Giừ thầy mẹ em đem gả bán nơi mô

Nỏ bỏ công anh băng Hán vượt Hồ tìm em”

Sự kết hợp của các dòng thơ trong bài ca dao trên không tuân theo quy tắc, niêm luật của

một thể thơ nhất định nào cả mà nó tự do tuân trào theo dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình.

Cảm xúc ấy không thể ép vào trong khuôn khổ của cặp thơ trên sáu dưới tám mà nó đã tràn ra

thành hai câu chín tiếng và mười tiếng để nhân vật trữ tình có thể nói cho thỏa thích, cho vơi

bớt những cay đắng, uất ức đang chất chứa trong lòng. Thể thơ tự do đã hết sức hữu dụng trong

trường hợp này.

Sự kết hợp của thể hỗn hợp nhiều khi còn là sự liên kết giữa cặp lục bát và những câu thơ

tám chữ:

- “Thương ai em nói lúc đầu

Để cho thầy mẹ ăn trầu một nơi

- Ăn trầu người ta như chim mắc nhạ

Uống rượu người ta như cá mắc câu

Anh yêu em không nói khi đầu

Làm chi giang dở giữa cầu bắc ngang”

Nếu như cặp lục bát mở đầu bài ca dao tạo được cảm giác nhẹ nhàng trong lời trách móc

của chàng trai thì hai câu thơ tám chữ tiếp theo với cách ngắt nhịp 4/4 và cách gieo vần trắc lại

đưa đến cho ta ấn tượng vế hoàn cảnh đầy khó khăn, trở ngại mà cô gái đã vướng phải. Độ dài

của dòng thơ như trải rộng thêm những trở ngại ấy. Nó đã tạo thành một bức tường chắc chắn

ngăn cách chàng trai và cô gái. Cặp lục bát biến thể xuất hiện cuối bài đã nói lên được lời chê

trách của người con gái trước sự muộn màng trong tình yêu của người con trai. Xuất hiện nhiều

hơn trong thể thơ hỗn hợp là sự liên kết giữa thể lục bát và thể song thất. Chẳng hạn:

“Mấy lâu ao ước ước ao

Tiện đây mận mới hỏi đào một khi

Vì đào nên mận ra đi

Đào còn mê mẩn việc gì xa xôi

Đào thấy mận, đào ngồi lơ lửng

Mận thấy đào, mận đứng mận trông

Ước khi nào đào vợ, mận chồng

Đào yêu mận mến, mặn nồng cả đôi”

Những trường hợp này đúng như nhận xét của Nguyễn Xuân Kính: “Thường bên cạnh

nhịp điệu uyển chuyển của những cặp lục bát, vần trắc và tiết tấu theo nhịp 3/4 của các cặp

song thất có khả năng nhiều hơn trong việc diễn tả những tình cảm khúc mắc, những nỗi đau

khổ uất ức, những trở ngại hoặc nỗi éo le của người dân lao động” [109].

Như vậy, về hình thức cơ bản ta thấy thể hỗn hợp trong ca dao Nghệ không hề bị ràng

buộc bởi số câu, số chữ, niêm, đối. Nó là sự kết hợp một cách tự do các thể thơ khác nhau trong

cùng một tác phẩm. Nhưng sự tự do trong liên kết ấy không xuất phát từ sự kém cỏi, sự non nớt

về mặt nghệ thuật của tác giả dân gian mà ngược lại, đó là sự sáng tạo, là sự bứt phá ra khỏi

những ràng buộc khe khắt của luạt thơ để có thể thể hiện được một cách tự do, phóng túng,

chính xác những cung bậc tinh tế của tình cảm và sự phong phú của hiện thực. Chính bởi sự kết

hợp tự do ấy mà thể hỗn hợp có được những câu thơ với độ dài ngắn khác nhau và cách ngắt

nhịp gieo vần khác nhau (dù với cùng số lượng âm tiết như nhau) bởi vì mạch thơ ở dạng này

không bị chi phối bởi quy luật nào mà mở rộng theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang một cách

phóng khoáng, còn nhịp điệu thì thường gắn với đối tượng trực tiếp miêu tả hơn là gắn với nhịp

điệu vốn có. Những đặc điểm ấy đã phục vụ đắc lực cho thể hỗn hợp trong việc biểu hiện nội

dung. Không những thế nó còn góp phần làm cho những nội dung ấy được thể hiện hiệu quả

hơn, sâu sắc hơn.

Tóm lại, thể hỗn hợp xứ Nghệ với cách kết hợp một cách tự do, linh hoạt các thể thơ, với

sự uyển chuyển, sinh động của trường độ câu thơ, với cách gieo vần phóng túng, với nhịp điệu

mới mẻ, sáng tạo… đã góp phần lớn trong việc thể hiện những cảm xúc tinh tế trong tâm hồn

con người và những nội dung đa dạng của hiện thực. Bằng cách kết hợp giữa thể lục bát với thể

4, 5 chữ, thể hỗn hợp của ca dao Nghệ đã làm phong phú thêm hình thức thể hiện của thể thơ tự

do trong ca dao Việt Nam. Với những ý nghĩa ấy, thể hồn hợp đã có một vị trí quan trọng trong

ca dao xứ Nghệ. Nó là thể thơ không thể thiếu với tính cách Nghệ, con người xứ Nghệ.

3.1.3. Thể song thất lục bát

3.1.3.1 Song thất lục bát chính thể

Cách hiểu về thể thể song thất lục bát đã được Nguyễn Xuân Kính đề cập khá đầy đủ trong

“Thi pháp ca dao”. Chúng tôi tán thành ý kiến của ông: Một khổ thơ bao gồm bốn dòng (hai

dòng bảy tiếng + một dòng sáu tiếng + một dòng tám tiếng) là đơn vị tế bào của thể song thất

lục bát”. Về khuôn vần, song thất lục bát có cách gieo vần như sau: Chữ thứ năm của câu hai

bắt với chữ thứ bảy của câu một (trắc), chữ thứ sáu của câu ba bắt với chữ thứ bảy của câu hai

(bằng), chữ thứ sáu của câu bốn bắt vần với chữ thứ sáu câu ba (bằng).

Thể song thất lục bát chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong ca dao xứ Nghệ: 1,5% (64/4157 bài),

trong đó bao gồm cả song thất lục bát chính thể, biến thể và lục bát gián thất. Tỉ lệ này cũng

tương đương với ca dao xứ Bắc (1,7 %). Song thất lục bát chính thể trong ca dao xứ Nghệ có 14

bài, mỗi bài chỉ gồm một khổ (4 dòng thơ) không có lời nào có độ dài từ hai khổ trở lên. Trong

khi đó ở ca dao xứ Bắc trong đề tài “Chống phong kiến và đế quốc” có tác phẩm song thất lục

bát dài tới 104 câu. Thể thơ này được phân bố khá đều trong các đề tài của ca dao xứ Nghệ. Có

lúc, đó là những lời thơ mộc mạc, giản dị trong đề tài về đặc điểm địa phương xứ Nghệ :

“Nước sông Giằng vừa trong vừa mát

Đường chợ Rạng lắm cát dễ đi

Hỡi ai là bạn tương tri

Nhớ ai nhớ cả đường đi lối về”

Lại có khi là những câu thơ trau chuốt đầy dụng ý nghệ thuật trong ca dao tình yêu nam

nữ:

“ Dưới mặt nước chói lòa yếm đỏ,

Trên bầu trời rạng tỏ mây xanh

Từ ngày chia rẽ duyên anh

Nước trời còn đó, ai đành phụ nhau”

“ Lời thề thốt quên quên nhớ nhớ

Bức thư tình mở mở phong phong

Bạn về có nhớ ta không

Hai hàng châu lệ, cánh hồng gửi lên”

Hay đầy triết lý:

“Ngọc nhìn lâu sẽ nhìn thấy vết

Hoa để gần sẽ hết mùi hương

Xa nhau mong ước mơ màng

Gần nhau rồi sẽ phũ phàng biết đâu”

Cũng có lúc là lời tâm sự vừa cay đắng vừa hài hước trong đề tài hôn nhân, gia đình:

“Muốn có chồng mà chồng chẳng lấy

Biết giá chồng đắt mấy mà mua

Em mong cho đến vụ mùa

Để em đi mót, em mua một chồng”

Mặc dù chỉ chiếm một số lượng nhỏ trong ca dao xứ Nghệ nhưng song thất lục bát chính

thể đã thể hiện tính hoàn chỉnh của một thể thơ. Ngôn ngữ thơ vừa giản dị, vừa trau chuốt, vừa

hồn nhiên, mộc mạc, vừa mang tính triết lí đã góp phần tạo nét riêng cho song thất lục bát chính

thể trong ca dao xứ Nghệ.

3.1.3.2. Song thất lục bát biến thể

Chúng tôi quan niệm song thất lục bát biến thể là những bài ca dao mang hình thức của thể

song thất lục bát nhưng số lượng âm tiết không nhất thiết là 7-7-6-8 mà có thể co giãn, nhưng

vẫn đảm bảo được khuôn hình về vần của thể thơ. Song thất lục bát biến thể chiếm số lượng lớn

nhất trong các dạng của thể thơ này (song thất lục bát chính thể, song thất lục bát biến thể và

lục bát gián thất): có 37 bài ca dao được viết theo dạng biến thể của song thất lục bát. Tỷ lệ lớn

gần gấp ba lần song thất lục bát chính thể. Hiện tượng biến thể song thất lục bát có thể xảy ra ở

cặp song thất (bảy chữ) theo hướng tăng thêm một âm tiết :

“ Gạo Đô Lương không ai vo mà trắng

Nước sông Lường không ai lóng (lắng) mà trong

Đôi ta làm bạn thong dong

Duyên em ai tạc mà lòng anh say”

(8/8/6/8)

Tăng một âm tiết là hiện tượng phổ biến nhất trong biến thể dòng bảy chữ (15/18 trường

hợp tăng âm tiết). Ngoại lệ, số âm tiết ở cặp song thất có thể tăng lên đến 10:

“ Thiếp với chàng như tam túc với yêu lượng

Chàng đối với thiếp như sĩ tượng với pháo xe

Yêu nhau giữ trọn lời thề

Tương tư trong dạ đi về nhớ thương”

Ngoài ra có hiện tượng biến thể xảy ra ở cặp lục bát và cũng theo chiều hướng tăng âm

tiết:

“Anh nghe em đau đầu chưa khá

Anh băng ngàn bẻ lá anh xông

Biết mần răng cho đó vợ đây chồng

Để mồ hôi ra thì anh chận, ngọn gió nồng anh che”

(7/7/8/12)

“ Đường đi ra thì gặp giặc giã

Đường rẽ ngã thì gặp vua quan

Cô quạnh thân em không chú bác họ hàng

Đi theo chàng có đặng hỡi chàng chàng ơi”

(7/7/9/9)

“Lên đường quan thấy đá ba lát

Đi ngang cầu dưới cát trên vôi

Hai ta đi khứ về hồi

Thiệt tình thương không bạn, đường xa xôi ta chớ nề”

(7/7/6/11)

Đặc biệt có khi hình thức biến thể còn có mặt ở cả cặp song thất lẫn cặp lục bát:

“Ngọn cờ phất ngọn phi lau cũng phất

Nồi đồng sôi nồi đất cũng sôi

Hai đứa ta duyên nợ thề bồi

Dù xa nhau đi nữa cũng tại ông trời mới xa”

(8/7/7/11)

Song thất lục bát biến thể có mặt trong mọi đề tài của ca dao xứ Nghệ. Nó chiếm một số

lượng lớn trong thể song thất lục bát. Nó có hình thức thể hiện khá độc đáo trong sự kết hợp hài

hòa giữa biến thể dòng thất với biến thể lục bát. Đó là nét riêng của song thất lục bát biến thể

xứ Nghệ. Đồng thời, với dung lượng tác phẩm ngắn (chỉ gồm bốn dòng thơ) song thất lục bát

biến thể xứ Nghệ cũng tìm được sự tương đồng với thể song thất lục bát của ca dao Việt Nam.

3.1.3.3. Sự vận dụng thể song thất lục bát trong ca dao xứ Nghệ

Nếu lục bát là thể thơ dân dã, tương đối dễ làm thì song thất lục bát với nhịp điệu và

khuôn vần ổn định, chặt chẽ lại là thể thơ mang tính bác học khó làm. Nó chỉ xuất hiện trong ca

dao xứ Nghệ với một tỉ lệ nhỏ: 1,5%. Nói như vậy không có nghĩa là thể thơ này có một vai trò

khiêm tốn trong thơ trữ tình dân gian Nghệ Tĩnh, mà thực ra, mỗi một thể thơ có một chức

năng, vai trò riêng mà thể thơ khác, dù phổ biến hơn cũng không thể có được, không thể thay

thế được. Chọn thể song thất lục bát cho việc biểu hiện một số nội dung nhất định, tác giả dân

gian xứ Nghệ đã tỏ ra rất am hiểu vai trò của hình thức thể hiện với nội dung thể hiện. Đó là sự

ý thức: “Thể thơ phải là tiếng nói tình cảm mà tác giả muốn diễn đạt. Với bài này, thể thơ 8 chữ

hợp hơn 5 chữ, với các bài khác thơ 6 – 8 chữ hợp hơn 10 chữ chẳng hạn. Lại cũng có khi,

trong một bài tác giả xen vào những câu 6 – 8. Đó là cái lợi tình cảm của tác giả nó cần như

thế”[162]. Thể song thất lục bát trong ca dao xứ Nghệ với cấu trúc 7+7+ 6+8 và ngôn ngữ thơ

trau chuốt đã tỏ ra rất đắc dụng khi diễn tả những tình cảm, những hoàn cảnh mang tính chất

trang trọng. Có thể thấy rằng, do tính chất bác học của thể thơ mà việc lựa chọn từ ngữ trong

thể thơ song thất lục bát thường được chú trọng hơn :

“Bể Thái Bình mênh mông lời thệ hải

Núi Giăng Màn tạc mãi chữ minh sơn

Đôi ta hẹn ngọc thề vàng

Chàng về bỏ cuộc giao lương sao đành”

“Sông Lam Giang càng ngày càng rộng

Núi Hồng Lĩnh mỗi bậc mỗi cao

Bấy lâu nay nguyệt tỏ với đào

Búp hoa tàn hết nhụy, chàng tính sao bây giờ”

Cũng bởi tính chất cầu kì trong diễn đạt và xây dựng hình ảnh này mà song thất lục bát xứ

Nghệ thường không thể kéo dài bởi vì đúng như Nguyễn Xuân Kính đã nhận xét, tác giả dân

gian “ít có khả năng dụng công nghệ thuật”. Một tác phẩm làm theo thể này thường chỉ gồm

bốn câu thơ. Trái lại ở những dạng biến thể của song thất lục bát (song thất lục bát biến thể và

lục bát gián nhất) do ít bị bó buộc bởi hình thức, do tự do hơn trong diễn đạt nên ngôn ngữ thơ

cũng giản dị, dân dã hơn, trường độ bài thơ có thể dài hơn :

“Hai đứa như gà một bụng

Không như gà đưa trụng nước sôi

Dẫu cho thầy mẹ có có đem giỏ bỏ trôi

Thả thì mặc thả, thiếp không thôi nghĩa chàng”

Dĩ nhiên, mỗi một hình thức biểu đạt có một ưu thế của nó. Ta không thể không thán phục

tác giả dân gian xứ Nghệ bởi cách gieo vần, cách đối rất chỉnh và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

đạt đến độ điêu luyện mà tác giả văn học viết cũng không dễ gì có được:

“Lời thề thốt quên quên nhớ nhớ

Bức thư tình mở mở phong phong

Bạn về có nhớ ta không

Hai hàng châu lệ, cánh hồng gửi lên”

Một lời đưa đẩy rất duyên dáng bởi độ khép – mở của những từ ngữ

được lặp lại đầy dụng ý nghệ thuật: quên quên – nhớ nhớ, mở mở - phong phong; đồng thời nó

cũng đầy trang trọng, đầy ý tứ bởi những từ Hán Việt và từ mang tính ước lệ được sử dụng ở

đây: châu lệ, cánh hồng.

Cấu trúc 7-7-6-8 ở đây đã cho phép tác giả dân gian nói được: “sự đi về của cảm xúc như

những đợt sóng lên cao xuống thấp rồi lại dàn ra đón lấy một đợt sóng khác” [134]. Nếu trong

tác phẩm song thất lục bát chính thể tác giả dân gian xứ Nghệ đã tuân thủ đầy đủ niêm luật của

thể thơ thì ở những dạng biến thể của nó, luật thơ đã không còn quá nghiêm ngặt nữa:

“Thiếp gặp chàng như Ngưu lang gặp hội

Chàng gặp thiếp như hạc độ lưng quy

Cứ lời em dặn anh ri

Giàu sang mặc họ, khó khăn chi cũng vợ chồng”

Sự phóng túng, phá cách trong luật thơ cùng với ngôn ngữ thơ giản dị, không màu mè đã

tạo cho song thất lục bát biến thể xứ Nghệ nét dân dã, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói

hàng ngày. Đặc điểm này, thể song thất lục bát của văn học viết không thể có được.

Nhìn chung, thể song thất lục bát xứ Nghệ thích hợp với khá nhiều nội dung. Những nội

dung mang tính nghiêm túc, trang trọng thường được thể hiện trong song thất lúc bát chính thể

với ngôn ngữ thơ trau chuốt, nhịp điệu thơ ổn định, cách đối, cách gieo vần chuẩn mực. Trái lại,

khi thể hiện nội dung ít nhiều mang tính phóng túng (trong tương quan với song thất lục bát

chính thể) thì song thất lục bát biến thể và lục bát gián thất lại hết sức đắc dụng. Ngôn ngữ thơ

ở những dạng biến thể này không còn quá cấu kỳ, trau chuốt nữa mà giản dị, mộc mạc hơn. Nó

khá gần gũi với ngôn ngữ đời thường bởi sự xuất hiện của những từ địa phương và thành ngữ

trong tác phẩm. Điều đáng lưu ý là hiện tượng ấy chỉ xảy ra ở cặp lục bát, còn ở cặp song thất,

ngôn ngữ thường bao giờ cũng được lựa chọn khe khắt, kĩ lưỡng hơn. Nhịp thơ ở thể song thất

lục bát biến thể cũng thay đổi tùy thuộc theo số lượng âm tiết tăng - giảm trong dòng thơ, vần

gieo vì thế cũng xê dịch theo. Những hình thức biến thể này có mặt trong ca dao Nghệ Tĩnh còn

bởi rất nhiều lời song thất lục bát được đem phục vụ cho diễn xướng. Thể hát nói xứ Nghệ chủ

yếu sử dụng lục bát, song thất lục bát và các dạng biến thể của hai thể loại này trong biểu diễn

nên không có gì khó hiểu khi phần lời của dân ca - ca dao xứ Nghệ lại có nhiều song thất lục

bát biến thể. Dân ca xứ Bắc không có những hình thức này nên hiện tượng biến thể ít xảy ra

hơn.Với xứ Nghệ thể loại này đã làm phong phú hơn các dạng thức của thể song thất lục bát,

đồng thời làm giàu có vốn thơ lục bát gián thất vốn dĩ vô cùng hiếm hoi trong ca dao Việt Nam.

Thể song thất lục bát với cấu trúc số lượng âm tiết không bằng nhau giữa các câu trong

bốn câu thơ đã tạo được ấn tượng “giả” tự do về thể loại. Phát huy đặc điểm ấy và những ưu thế

khác của thể thơ, tác giả dân gian xứ Nghệ đã tạo ra những tác phẩm song thất lục bát xuất sắc

cả ở hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Nó vừa trang trọng, chuẩn mực lại vừa

dân dã, phóng túng. Đó cũng là đặc điểm để nhận diện song thất lục bát xứ Nghệ trong kho tàng

ca dao Việt Nam.

3.1.4. Lục bát gián thất

“Nếu một tác phẩm gồm một hoặc nhiều khổ thơ mà mỗi khổ thơ mở đầu bằng cặp lục bát

rồi kết thúc bằng hai dòng bảy tiếng thì thể thơ đó được gọi là lục bát gián thất” [109]. Lục bát

gián thất trong ca dao xứ Nghệ chỉ gồm 13 bài, mỗi tác phẩm là một khổ (bốn dòng thơ). Lục

bát gián thất có cả hiện tượng chính thể lẫn biến thể:

Lạ lùng anh mới tới đây

Như chim lạ bầy như cá lạ ao

Cá lạ ao muốn vào mà sợ

Chim lạ bầy chờm chợ trên cây”

(Lục bát gián thất chính thể)

“ Đầu rồng sánh với đuôi ly

Trai thanh tân Đông Thượng sánh với nữ nhi Mỹ Tường

Trai Đông Thượng thời thường bơi lặn

Gái Mỹ tường đều đặn múa mênh”

(6/11/7/7)

”Thương anh ruột héo gan khô

Nhân sâm quế phụ hết mấy bồ cho ngưôi

Vì đâu tương tư mà hư nhan sắc

Chẳng phải bệnh gì thuốc bắc thuốc nam”

(6/9/8/8)

(Lục bát gián thất biến thể)

Lục bát gián thất không chỉ là hiện tượng hiếm hoi trong ca dao xứ Nghệ mà còn là hiện

tượng ít phổ biến trong ca dao Việt Nam. Bởi vậy, mỗi tác phẩm lục bát gián thất là một tư liệu

quý cho việc nghiên cứu thể thơ của ca dao dân tộc.

Thể thơ song thất lục bát trong ca dao xứ Nghệ cũng như trong ca dao xứ Bắc và ca dao

toàn quốc chỉ được sử dụng với số lượng ít ỏi (64 bài), thế nhưng bằng sự chủ động nắm lấy

quy tắc của thể thơ, tác giả dân gian xứ Nghệ đã tạo ra những tác phẩm song thất lục bát đặc

sắc, giàu tính sáng tạo, mang giá trị biểu cảm lớn. Thể thơ này – đặc biệt là các dạng biến thể –

đã góp phần làm nên cái hấp dẫn của ca dao xứ Nghệ.

3.1.5. Một số thể thơ khác

Tìm hiểu về ca dao xứ Nghệ, ngoài thể lục bát, thể hỗn hợp, thể song thất lục bát là những

thể thơ phổ biến trong ca dao Việt Nam, ta còn tìm thấy những thể thơ khác mang tính đặc thù:

thể 4,5 chữ, thể 7 chữ (song thất).

3.1.5.1. Thể bốn chữ và năm chữ

Trong ca dao xứ Nghệ, những bài ca dao được viết theo thể bốn chữ, năm chữ chiếm số

lượng không nhiều (gần 0.9 %) nếu ta không xét tới hát giặm, nhưng đây là nét đặc thù của ca

dao Nghệ Tĩnh. Ca dao xứ Bắc theo khảo sát của chúng tôi không có hiện tượng này.

Làm theo thể 4,5 chữ, mỗi bài ca dao nếu đơn thuần chỉ có bốn hoặc năm âm tiết trên một

dòng thơ thường có dung lượng ngắn, vần được gieo là vần lưng và vần chân:

“Tiên Hồ, Tiên Xá

Bứt là nấu vôi

Thổ đã dạm rồi

Mà vôi chưa chín”

(thể bốn chữ)

“Ba bốn nơi gấp ghé

Chín mười nơi gập gành

Lưa mô đén phần anh

Đừng lội gây chó sủa

Dừng dỡ rào chó sủa”

(thể năm chữ)

Với cấu trúc câu cuối cùng lặp lại câu kế cận và bằng việc gieo vần trắc cuối câu, những

bài ca dao trên là những bài hát giặm. Đây là đặc điểm của những tác phẩm được viết theo thể

4,5 chữ trong ca dao xứ Nghệ. Có thể thấy ngay rằng dẫn chứng thứ hai trên nay chính là một

khổ hát giặm. Hát giặm còn được gọi là vè. Nếu chúng ta xem ca dao là phần lời cơ bản của dân

ca thì vè cũng là ca dao. Ở Nghệ Tĩnh bên cạnh “ Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (chỉ có hai tập)

còn có kho tàng vè xứ Nghệ” (gồm 9 tập), nghĩa là dung lượng lớn hơn ca dao. Với phạm vi

chuyên luận này, trong trường hợp sử dụng nguồn tư liệu của các nhà sưa tầm đã xác định trong

phần mở đầu, chúng tôi không đi sâu vào thể vè mà chỉ bàn tới thể thơ 4,5 chữ .

Một đặc diểm cần lưu ý trong thể thơ này là trong những bài ca dao khoảng 4,5 chữ có sự

xen kẽ một số âm tiết không đều nhau giữa các câu, nhịp thường rất linh hoạt:

“Mở rương ra

Lấy áo the hoa

Cha đồ mặc

Mẹ đồ mặc

Quần lụa Hạ mới cắt

Áo lương Hạ mới may

Của thầy mẹ mới cho đây

Khi đi thi, đi khoá

Khi đi làng, đi xã

Đã có áo nu bầm

Đã có áo kép thâm

Hãy đang còn lên nước…”

Trong khi đó, nhịp thơ ở thể bốn chữ thường ổn định nhịp 2/2 và ở thể năm chữ, để có thể

hát giặm được, nhịp thơ luôn là nhịp lẻ trước chẵn sau:

“Anh chưa lấy được em

Aó mùa thu chưa mặc

Quạt mùa hạ chưa chơi

Chiếc gương tàu chưa soi

Đôi lược ngà chưa chải

Anh lấy được em rồi

Aó mùa thu mới mặc

Quạt mùa hạ mới chơi

Chiếc gương tàu mới soi

Đôi lược ngà mới chải”

Việc sử dụng thể bốn, năm chữ trong ca dao xứ Nghệ đã đem lại một nét riêng cho thể loại

trữ tình dân gian này của quê nhà. Thể thơ này, với tư cách là một tiểu loại của ca dao xứ Nghệ

đã tạo được một nét độc đáo trong hiện tượng lặp cấu trúc ở hai câu cuối mỗi khổ thơ, trong sự

kết hợp gieo vần trắc với nhịp lẻ - chẵn ở thể thơ năm chữ để phục vụ cho hát giặm. Việc gắn

bó mật thiết với môi trường diễn xướng (hát giặm) của thể bốn, năm chữ đã đem lại cho thể thơ

này nét riêng, không thể trộn lẫn với ca dao xứ khác.

3.1.5.2. Thể bảy chữ (song thất)

Một khổ thơ bao gồm 2 dòng, mỗi dòng bảy tiếng và chữ cuối của dòng đầu thuộc vần trắc

là đơn vị tế bào của thể song thất. Song thất là thể thơ chiếm tỷ lệ rất ít trong ca dao xứ Nghệ:

0,7% (27 bài), trong đó gồm cả song thất chính thể lẫn biến thể. Thể song thất trong ca dao xứ

Nghệ - cũng như ca dao Bắc - chủ yếu được cấu tạo bằng hai dòng thơ :

“ Cau không buồng ra tuồng cau đực

Gái không chồng có bực không cô?

-Lươn vào nò không lo nó chết

Cá mắc câu đã hết phận rồi”

Hiện tượng này chiếm 19/27 bài song thất. Ngoài ra còn có trường hợp một bài ca dao

được xây dựng bằng hai cặp song thất:

“Con không cha như nhà không nóc

Gái không chồng như cóc có đuôi

Cóc có đuôi vẫn còn nhảy được

Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi”.

Cũng bắt gặp có bài kéo dãn đến 10 dòng thơ:

“Một thương em đông đào tây liễu

Hai thương nàng niên thiếu xuân xanh

Ba thương em răng đen má phấn

Bốn thương nàng chỉ tấm lòng son

Năm thương em dạ còn trinh tiết

Sáu thương nàng mắt liếc đưa qua

Bảy thương em da ngà tóc phượng

Tám thương nàng bộ dạng tốt tươi

Chín thương em nụ cười hoa nở

Mười thương nàng gót trở theo anh”.

Hiện tượng này là độc nhất vô nhị trong ca dao xứ Nghệ và cũng vô cùng hiếm hoi trong

ca dao Việt Nam. Trong ca dao Bắc, như đã nói trên, không có trường hợp này và chỉ phổ biến

hiện tượng một lời ca dao được làm bằng một, hai cặp song thất. Nếu như trong hình thức chính

thể, ca dao Nghệ và ca dao Bắc vẫn có đôi nét khác biệt ở dung lượng dòng thơ thì ở hình thức

biến thể của thể song thất, ca dao hai vùng lại có được tiếng nói chung:

“ Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ

Anh thương một người có mẹ không cha ”

(Ca dao xứ Nghệ)

Còn ca dao Bắc :

“ Mưa lâm râm ướt dầm bông sói

Em cảm thương chàng ăn nói khôn nguôi ”

Đây không chỉ là sự tương đồng trong nội dung thể hiện mà còn cả trong dạng biến thể: cả

ca dao xứ Nghệ và ca dao xứ Bắc đều tăng số âm tiết thêm một ở dòng thơ thứ hai. Hiện tượng

này cũng là hiện tương phổ biến trong biến thể song thất của ca dao xứ Nghệ:

“Ăn của sen, Sẻ ẻ ra vàng

Ăn của nhà Sàng ẻ ra bạc

Ăn mà nhát thì đi lên Sen

Ai mà siêng thì về đồng Hậu Luật”

Nhìn chung, cách gieo vần cũng như số lượng âm tiết của thể song thất trong những sáng

tác dân gian không bị bó buộc chặt chẽ như những tác phẩm viết theo thể thất ngôn của văn học

viết. Điều này làm cho thể song thất của ca dao có được sự linh hoạt, tự do, nhưng đồng thời

cũng làm mờ nhạt tính chất hàm súc, cô đọng của thể thơ bảy chữ.

Thể song thất xứ Nghệ cũng như xứ Bắc đều chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn trong ca

dao hai vùng (xứ Nghệ: 0,7%, xứ Bắc 1%). Nó không tập trung ở một đề tài nào mà nằm rải rác

ở hầu hết các nội dung. Thể thơ này có được sự linh hoạt (trong hình thức biến thể) và sự chặt

chẽ (trong chính thể). Nó là phần nhỏ, nhưng cũng là phần không thể thiếu khi đề cập đến thể

thơ trong ca dao xứ Nghệ.

Như vậy, mặc dù chỉ chiếm một số lượng nhỏ nhưng thể bốn, năm chữ, thể song thất của

ca dao Nghệ Tĩnh đã có vị trí riêng trong nhiều tác phẩm trữ tình dân gian .Vị trí ấy có được

nhờ sự độc đáo, đặc sắc của thể loại, nhờ những đặc điểm riêng biệt chỉ tìm thấy trong ca dao

xứ Nghệ.

Tìm hiểu ca dao xứ Nghệ, một điều dễ nhận thấy là ca dao của miền “đất cổ nước non nhà” có

sự tương đồng với ca dao xứ Bắc và ca dao toàn quốc (trong việc sử dụng các thể loại). Trong

ca dao xứ Nghệ, thể lục bát chiếm tỉ lệ lớn nhất: 95,2%. Các thể loại thơ con lại (thể bốn, năm

chữ, song thất. Song thất lục bát, thể hỗn hợp) chỉ chiếm 4,8%. Tỷ lệ này cũng tương đương với

ca dao xứ Bắc: 95% bài ca dao được làm thể lục bát, 5% là các thể còn lại. Thế nhưng khi đi

sâu tìm hiểu các thể thơ cụ thể ta lại tìm thấy những nét khác biệt của ca dao xứ Nghệ: nếu như

ở thể lục bát xứ Bắc hình thức lục bát chính thể chiếm ưu thế thì trong lục bát xứ Nghệ, lục bát

biến thể lại chiếm một tỷ lệ lớn: 23,7%. Các dạng biến thể trong ca dao hai vùng cũng không

giống về tỷ lệ và hình thức thể hiện. Ở các thể khác, tình hình cũng tương tự: ca dao xứ Nghệ

luôn có nhiều hiện tượng biến thể. Ngoài ra, ca dao xứ Nghệ còn có thể thơ mà chúng tôi không

tìm thấy trong ca dao xứ Bắc (ở những tài liệu đã khảo sát): thể lục bát gián nhất và thể bốn,

năm chữ. Một điểm khác biệt nữa là trong ca dao Nghệ, các thể loại chủ yếu tập trung ở đề tài

tình yêu nam nữ, đặc biệt là các hình thức biến thể. Trong khi ở ca dao Bắc, các thể thơ được

phân bố đều hơn.

Chính những nét tương đồng của ca dao xứ Nghệ với ca dao xứ Bắc và ca dao toàn quốc

đã đặt ca dao Nghệ Tĩnh vào dòng chảy chung của dòng thơ trữ tình dân gian đất Việt. Bên

cạnh đó, những đặc điểm riêng, những hình thức độc đáo tạo cho ca dao Nghệ sức hấp dẫn lớn,

làm giàu có, phong phú thêm kho tàng văn học dân gian nước nhà. Đóng góp ấy của ca dao xứ

Nghệ cần được chúng ta khẳng định và trân trọng.

3.1.5.3. Sự vận dụng thể bốn, năm chữ và thể bảy chữ trong ca dao xứ Nghệ

Trong ca dao xứ Nghệ, ngoài thể lục bát, song thất lục bát và thể hỗn hợp, các thể thơ

còn lại chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn: 1,6% .Thế nhưng đây lại là những thể thơ mang đậm dấu

ấn địa phương xứ Nghệ, là “thổ sản” của xứ Nghệ .

a) Thể bốn, năm chữ

Thể bốn năm chữ chiếm 0,9% trong ca dao xứ Nghệ. Thể thơ này theo khảo sát của

chúng tôi không có trong ca dao xứ Bắc nhưng nó vẫn có mặt trong kho tàng ca dao người Việt.

Chúng tôi xem nó là thổ sản của xứ Nghệ bởi vì không có thể thơ bốn, năm chữ của địa phương

nào có những đặc điểm như thể thơ bốn, năm chữ của ca dao xứ Nghệ.

Thể bốn, năm chữ trong ca dao xứ Nghệ, do đặc điểm là phần lời của lối hát giặm nên có

cấu trúc rất đặc biệt. Mỗi khổ thường gồm năm câu. Câu thứ năm láy lại câu thứ tư và được

gieo vần trắc:

“Ba bốn nơi gấp ghé

Chín mườii nơi gập gành

Lưa mô đến phần anh

Đừng lội gây chó sủa

Đừng dỡ rào chó sủa”

Điều cần nói là, cấu trúc ấy không chỉ để phục vụ cho việc hát giặm. Nó không chỉ là phần

đệm để đưa hơi như trong ca dao Bắc mà khi tách khỏi phần nhạc, việc láy lại ấy vẫn mang ý

nghĩa văn chương, đúng như Nguyễn Đổng Chi đã nhận xét: “Nếu tác giả khéo mở rộng và sử

dụng đúng lúc thì câu láy lại trở nên một câu không những có lợi mà cần thiết, vì nó làm nhiệm

vụ nhấn mạnh một ý cũ có tính chất tổng kết ”. Trong bài ca dao trên phần láy lại đã nhấn mạnh

lời chối từ của cô gái với chàng trai đang để ý đến cô. Cấu trúc lặp lại làm cho lời chối từ của

người con gái càng trở nên dứt khoát, cương quyết và cũng vì thế chàng trai càng khó vượt qua

“vật cản ngôn ngữ” chắc như đinh đóng cột của cô gái. Ở một bài ca dao làm theo thể năm chữ

khác :

“Răng giừ lươn lên rừng làm tổ

Vượn chống nốc đi buôn

Chuột khoét thủng Hoành Sơn

Ruồi đậu gãy cành cơn

Anh với em mới xa ngái

Thiếp với chàng mới xa ngái”

Hiện tượng xen kẽ dòng thơ 6,7 chữ và 5 chữ (chiếm phần lớn) như trên được xem là dạng

vãn năm biến thể. Nó vẫn giữ cấu trúc của thể giặm năm chữ với việc láy lại câu cuối cùng:

“Anh với em mới xa ngái

Thiếp với chàng mới xa ngái”

Nếu như ở bài ca dao thứ nhất, bằng biện pháp láy câu này ta đã thấy được lời chối từ dứt

khoát của cô gái thì ở đây cấu trúc lặp câu một lần nữa lại đắc đụng ở một nội dung khác: đó là

lời khẳng định sự gắn bó khăng khít khẳng định sự son sắt, vững bền trong tình yêu của đôi bạn

tình. Hai câu thơ lặp lại đã tạo cho người đọc cái ấn tượng “đinh ninh hai miệng một lời song

song”. Trai gái xứ Nghệ đã yêu nhau thì không chỉ “ tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng

lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua” mà còn mượn đến cả những quy luật bất biến của thiên

nhiên để chứng minh khẳng định cho tình yêu ấy nữa. Thể bốn, năm chữ trong ca dao xứ Nghệ

có tiết tấu khỏe và nhanh của nhịp điệu lao động, thường là theo nhịp chẵn và nhịp lẻ trước

chẵn sau. Ngôn ngữ thơ trong bài bốn, năm chữ thường mộc mạc, có nhiều từ địa phương, gần

với khấu ngữ. Nó phản ánh được nhiều nội dung trong ca dao Nghệ và cũng mang những đặc

trưng của ngôn ngữ xứ Nghệ .

Tóm lại, thể bốn, năm chữ trong ca dao xứ Nghệ có những vai trò cơ bản sau: thứ nhất,

nó phục vụ đắc lực cho việc diễn xướng, cụ thể là phục vụ cho việc hát giặm; thứ hai, cấu trúc

láy hai câu trong một khổ thơ và cách gieo vần trắc cuối dòng thơ đã mang lại một sức nặng đặc

biệt khi thể hiện nội dung, nhất là khi nội dung đó cần được lưu tâm, nhấn mạnh; thứ ba, thể

bốn, năm chữ trong ca dao Nghệ đã góp cho ca dao Việt Nam một tiểu loại mới: giặm bốn, năm

chữ.

b) Thể bảy chữ (song thất)

Thể thơ này chiếm tỷ lệ ít nhất trong ca dao xứ Nghệ: 0,7%. Nó cân đối nhưng hơi nặng

nề bởi cách gieo vần trắc:

“Cau không buồng ta tuồng cau đực

Gái không chồng có bực không cô”

Chính việc thiếu nhẹ nhàng, thanh thoát trong phát âm này mà thể bảy chữ rất thích hợp

khi diễn tả những hoàn cảnh khó khăn, bất bình thường, những tâm trạng tấm tức. Ta thử so

sánh hai lời ca dao sau:

“Thương chồng phải khóc mụ gia

Ngẫm tôi với mụ có bà con chi”

Và:

“Thương chồng phải mụ gia chi khốc

Tôi với mụ có cóc bà con.”

Hai lời ca dao này có cùng một nội dung: nỗi ấm ức muôn đời của các nàng dâu với mẹ

chồng. Thế nhưng nếu ở lời ca dao thứ nhất, nỗi ấm ức ấy với thể lục bát và cách gieo vần bằng

vẫn chưa đến độ cao trào thì lời ca dao sau, thể bảy chữ với vần trắc đã đẩy những tấm tức của

nàng dâu lên tới đỉnh điểm. Nó như một lời tuyên chiến trực tiếp chứ không phải là nỗi uất ức

ngấm ngầm: “Ngẫm tôi với mụ có bà con chi ” nữa! Như vậy, có thể nói thể thơ bảy chữ đã làm

nổi rõ hơn mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng trong bài ca dao này.

Thể bảy chữ trong ca dao xứ Nghệ cũng như ca dao xứ Bắc và ca dao toàn quốc thường có

dung lượng ngắn: một cặp song thất, nhưng những nội dung mà nó cung cấp lại không ít ỏi chút

nào. Có thể thấy là ca dao bảy chữ của xứ Nghệ rất hàm súc, thường là lời đúc kết kinh nghiệm

sống của người dân:

“Lươn vào nò không lo nó chết

Cá mắc câu đã hết phận rồi”

Thể bảy chữ trong ca dao Nghệ còn có cả biến thể:

“Trầu không vôi ắt là trầu nhạt

Cau không hạt ắt là cau già

Mình không lấy ta ắt là mình thiệt

Ta không lấy mình ta biết lấy ai.”

Những biến thể bảy chữ theo chiều hướng tăng âm tiết như trên làm cho tác phẩm uyển

chuyển, sinh động hơn và cũng giúp cho việc thể hiện nội dung được rõ hơn.

Ngoài ra, ca dao xứ Nghệ còn có một tác phẩm làm theo thể bảy chữ kéo dài đến mười

dòng thơ :

“Một thương em đông đào tây liễu

Hai thương nàng niên thiếu xuân xanh

Ba thương em răng đen má phấn

Bốn thương nàng chỉ tấm lòng son

Năm thương em dạ còn trinh tiết

Sáu thương nàng mắt liếc đưa qua

Bảy thương em da ngà tóc phượng

Tám thương nàng bộ dạng tốt tươi

Chín thương em nụ cười hoa nở

Mười thương nàng gót trở theo anh”.

Hiện tượng này không chỉ đặc biệt với ca dao xứ Nghệ mà còn là hiện tượng vô cùng hiếm

hoi trong ca dao Việt Nam .

Như vậy, ngoài những thể loại phổ biến khác, hình thức đặc biệt của thể bốn, năm chữ, sự

chặt chẽ của thể song thất (chính thể) và sự linh hoạt ở dạng biến thể trong ca dao xứ Nghệ

không những đã góp phần vào việc thể hiện nội dung mà còn làm giàu thể loại cho ca dao Việt

Nam.

Có thể nói hệ thống thể loại trong ca dao xứ Nghệ khá phong phú. Nó bao gồm thể loại lục

bát, thể hỗn hợp, thể song thất lục bát, thể bốn, năm chữ, thể bảy chữ. Mỗi thể loại có một vai

trò ý nghĩa riêng. Thể lục bát có số lượng lớn, có nhịp điệu uyển chuyển, linh hoạt, có độ dài

ngắn tự do… thích hợp với mọi nội dung; thể hỗn hợp lại có được nét phóng túng do sự kết hợp

nhiều thể thơ với nhau đắc dụng khi thể hiện những cung bậc cảm xúc tinh tế, biến ảo của con

người; thể song thất lục bát mang tính bác học, có sự trau chuốt trong ngôn ngữ nhưng vẫn có

cái nôm na, mộc mạc của dân gian trong những hình thức biến thể vừa thể hiện được những

hoàn cảnh, những tình cảm mang tính trang trọng, vừa nói được cái phóng túng, dân dã của

nhiều hoàn cảnh sống, thể bảy chữ cân đối, ngắn gọn là những lời đúc kết kinh nghiệm sống, là

sự thể hiện xuất sắc những tâm trạng ấm ức, những cảnh ngộ không bình thường, thể bốn, năm

chữ nhịp nhàng rất thành công trong việc nhấn mạnh ý .. tất cả đã góp phần tạo nên nét hấp dẫn,

quyến rũ của ca dao xứ Nghệ, góp phần đưa ca dao xứ Nghệ vào mạch chảy chung của ca dao

dân tộc.

3.2. Ngôn từ

Từ ngữ là một trong những bình diện bộc lộ rõ nhất về đặc trưng hình thức của mỗi thể

loại thơ ca dân gian: “Từ ngữ là phương tiện được tiếp nhận hiển nhiên nhất, đơn vị thực hiện

đầy đủ các chức năng ngôn ngữ vừa phản ánh hiện thực khách quan vừa bộc lộ thái độ chủ

quan của người dùng” [120]. Việc tìm hiểu từ ngữ và kết cấu lời thơ sẽ giúp chúng ta có một

cái nhìn thấu đáo hơn về nghệ thuật ca dao xứ Nghệ.

3.2.1. Ngôn ngữ đời thường

Ngôn ngữ đời thường trong ca dao xứ Nghệ chiếm một số lượng lớn. Theo thống kê chỉ

trong mảng ca dao tình yêu xứ Nghệ đã có đến 1500 lời ca dao chứa đựng yếu tố ngôn ngữ đời

thường, chiếm tỉ lệ khoảng 79%. Mặc dù đây đó trong ca dao người ta bắt gặp lời nói ví von

hoặc có những câu vừa gần gũi đời thường vừa cách điệu :

“Đến đây thì ở lại đây

Khi nào bén rễ xanh cây lại về”

Nhưng hầu như khi khảo sát ca dao người Việt các nhà nghiên cứu đều nhận ra chất giọng

đời thường trong đại bộ phận lời ca dao. Khi khảo sát ca dao xứ Nghệ chúng ta có thể thấy đặc

điểm này còn đậm đặc hơn, mặc dầu thông thường ca dao tình yêu hay dùng lời nói ví von bóng

bẩy. Chúng ta có thể gặp một lời tỏ tình không hề bóng gió kín đáo tí nào:

“ Có yêu thì yêu cho chắc

Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn

Đừng như con thỏ đứng đầu truông

Khi vui giỡn bóng khi buồn bỏ đi”

Lời tỏ tình này ít thấy trong ca dao xứ Bắc, nó có cái sỗ sàng nóng vội nhưng lại bộc trực

thẳng thắn và mạnh mẽ của một tình cảm nồng hậu bởi người Nghệ không thích lối “ỡm ờ”, “lờ

đờ nước hến”, hay lối “vui ở, buồn đi”. Tình yêu là tình yêu. Tình yêu không phải trò chơi.

Điều này có lẽ ở đâu cũng vậy, nhưng với người xứ Nghệ ngôn ngữ đời thường đi vào ca dao

tình yêu một cách tự nhiên, gần với hiện thực, đôi khi còn hơi thô:

“Đôi ta như thể đồng tiền Đồng sấp, đồng ngửa, đồng nghiêng, đồng nằm.”

Có những lời ca dao giống như lời nói hằng ngày dứt khoắt chắc nịch dường như chất

chứa cả hơi thở mặn mà của biển và cả cái nguyên sơ rắn rỏi của núi :

“Không thương không mến thì thôi

Đừng có đánh đổ nước sôi vào lòng”

“Không thương nỏ nói khi đầu

Làm chi dan díu giữa cầu mà buông”

Ngôn ngữ đời thường trong ca dao xứ Nghệ còn được thể hiện ở những lời nói chân thành

có khi hơi thô, song đó cũng là một cách ghi nhận cuộc sống để rồi bộc lộ tình cảm của mình:

“Thân em như thể quả bù

Để cho ruồi nhặng nó bu khắp người”

Và ngay cả lời thề cũng vậy. Người Bắc thường thề dời non, lấp bể, thề “ghi lời vàng đá”:

“Rủ nhau lên núi đốt than

Anh đi Tam Điệp em mang nón trình

Củi than nhem nhuốc với tình,

Ghi lời vàng đá, xin mình chớ quên”

Người xứ Nghệ thề nguyền gay gắt hơn, thề có thể làm thật được chứ không phải là lời thề

bóng bẩy văn chương:

“Đem ra đây cái dao cái rổ

Ta cắt cổ con dê

Hai đứa ta ngậm huyết mà thề

Sống không làm được bạn, chết táng kề bên nhau”.

Có thế họ mới trách nhau ghê gớm khi phụ tình nhau:

“Anh nói với em như rìu chém đá,

Như rạ (rựa)chém đất, như mật rót vô (vào) lỗ tai

Bây giờ em đã nghe ai

Áo ngắn em mặc, cởi áo dài ai mang”.

Con người xứ Nghệ là thế, yêu ghét rõ ràng, họ dám nói thẳng ý nghĩ của mình, bộc lộ

thẳng thắn và quyết liệt. Cho nên khi tình yêu lỡ làng, họ đặt vấn đề xa nhau rất thẳng thắn và

khô khan:

“Hoa đến kì thì hoa phải nở

Đò đã đầy đò phải sang sông

Đến duyên em phải lấy chồng

Em yêu anh rứa đó có mặn nồng tùy anh”

Ca dao tình yêu xứ Nghệ cũng có những lời ví von bóng bẩy, nhưng có thể nhận thấy rằng

sự ví von trong ca dao xứ Nghệ cũng gần gũi thân thương trong cuộc sống đời thường. Người

Nghệ có ví von thì cũng tìm về với những hiện tượng bắt gặp hằng ngày trong cuộc sống đời

thường của họ:

“Yêu ta thì nói với ta

Khi trăng đang tỏ khi hoa đang thì”

Hay là:

“Không thương không nói khi đầu

Làm chi dan díu giữa cầu mà buông”

So với ca dao xứ Nghệ, ca dao xứ Bắc rất ít những lời mang ngôn ngữ đời thường. Âm

điệu chung của ca dao xứ Bắc là tinh tế, trau chuốt và khá điêu luyện:

“Ngọn đèn thấp thoáng bóng trăng

Ai đem người ngọc thung thăng chốn này”

Ca dao xứ Nghệ do có sự hoạt động mạnh mẽ của ngôn từ đời thường nên xuất hiện nhiều

lời ca dao là những văn bản tạo hình không mang cấu trúc ẩn dụ:

“Tay anh cầm con dao khoét sáo

Tay em cầm giấy phết một con diều

Chờ cơn gió thổi, buổi chiều em thả chung”.

Nhìn tổng thể trong ca dao xứ Nghệ sử dụng nhiều ngôn ngữ đời thường. Nhưng mỗi chữ

chắc nịch như đinh đóng cột, biểu thị một thái độ mạnh mẽ, rõ ràng. Những câu ca dao không

được mượt mà bay bướm ấy gây cho người đọc cảm hứng thẩm mĩ riêng của nó. Điều này

không chỉ ở ca dao, ở các thi sĩ bình dân mà với cả văn chương các nhà nho. Bùi Dương Lịch

viết: “Văn chương người Nghệ An phần nhiều mặn mà cứng cỏi, ít bóng bẩy (hoa lệ). Vì rằng

văn chương là tiếng nói của lòng, khí chất (con người) như thế, nên phát ra lối văn cũng như

thế. Bởi vì khí chất như thế không chuộng những sự hoa sức (bề ngoài) và ít lấy văn chương để

tự phụ” [123].

Tác giả Đại Nam Nhất Thống Chí viết: “ Học trò Nghệ An chuộng khí tiết, nhiều người

hào mại, dụng chí chăm học, văn chương thì dùng lời lẽ cứng cáp, không cần đẹp lời”. Phạm

Đình Hổ trong ”Vũ trung tuỳ bút” cũng có nhận xét tương tự như vậy. Và có người đã viết “Thi

sĩ ở đây (ở Nghệ Tĩnh) không quen gọt rũa những câu văn êm nhẹ, những vế đôi tài tình, nhưng

đã được giọng văn rắn rỏi và tư tưởng mạnh mẽ hơn kéo lại” [167].

Thì ra đó là tính cách chung của con người xứ Nghệ, người bình dân cũng như kẻ trí thức

khi sáng tác văn chương. Tuy nhiên sẽ rất thiển thận nếu cho rằng tất cả ca dao xứ Nghệ đều

như vậy. Ở ca dao xứ Nghệ cũng không ít những bài ca dao kết hợp với ngôn ngữ thơ khá điêu

luyện, tinh tế. Những lời ca dao trên thực sự làm phong phú, tạo ra đặc trưng riêng cho kho tàng

ca dao xứ Nghệ…Có thể nói ca dao xứ Nghệ còn giữ được dáng vẻ nguyên sơ gần với tiếng nói

hàng ngày, sự pha trộn tiếp biến có nhưng chưa đậm đặc như ca dao xứ Bắc.

3.2.2. Từ địa phương

Mỗi địa phương đều có nét riêng về ngôn ngữ và ngôn ngữ ấy in dấu đậm nét vào ca dao.

Tiếng Nghệ từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học.

“Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ

văn hoá hoặc với địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” [9]. Ngoài những giá trị ngữ nghĩa

tương đồng với từ phổ thông, (từ toàn dân), từ địa phương còn có những giá trị ngữ nghĩa khác

được cộng đồng cư dân của một vùng văn hoá thừa nhận.

Từ địa phương xứ Nghệ gắn liền với lịch sử, văn hoá của người xứ Nghệ. Trong hát

phường vải, ca dao xứ Nghệ, từ địa phương Nghệ Tĩnh đem lại sắc thái địa phương trong âm

hưởng giọng điệu và kết cấu lời thơ. Sự phối hợp vốn từ địa phương với từ toàn dân theo những

tỉ lệ phù hợp với phong cách, chức năng, mục đích giao tiếp sẽ đem lại hiệu quả biểu đạt, giá trị

tu từ, góp phần làm nên đặc điểm hình thức của mỗi thể loại.

Khi từ địa phương xuất hiện nó phải hoà phối với các lớp từ khác để thống nhất trong nội

dung, hình thức, chức năng, phong cách, trở thành một phần từ ngữ không thể thay thế trong

văn bản. Điều đó lí giải vì sao tần số xuất hiện của từ địa phương Nghệ Tĩnh ở hát phường vải

và ca dao xứ Nghệ khác nhau. Tại sao những từ này xuất hiện nhiều ở thể loại này mà ít thấy

xuất hiện ở thể loại khác và ngược lại.

3.2.2.1. Trong hát phường vải (HPV)

Hát phường vải phục vụ mục đích trao gửi tâm tình trong đối ca nam nữ, lời hát phường

vải ngắn gọn, súc tích, các hành vi biểu cảm, điều khiển cam kết … nổi lên hàng đầu so với các

hành vi tái hiện. Giọng điệu thơ lục bát trong HPV chậm, tha thiết, tình tứ, từ ngữ chọn lọc, tính

nghệ thuật, tính biểu trưng, giá trị thông tin bổ sung, ý nghĩa liên hội của từ, được ưu tiên khai

thác. Các từ địa phương trong HPV được cân nhắc lựa chọn theo yêu cầu đó:

“Ăn chi cho má em hồng

Gội chi cho tóc như dòng nước xanh”

(HPV)

Đại từ nghi vấn “chi” trong phương ngữ Nghệ Tĩnh tương đương với “gì” trong vốn từ

toàn dân nhưng gía trị biểu cảm thì khác. Từ “chi” nghe gần gũi thân mật, gợi lên sự liên tưởng

đến hoàn cảnh lịch sử, xã hội, tập quán văn hoá của con người quê hương xứ Nghệ. Có một

lượng thông tin bổ sung nằm ngoài nghĩa nghi vấn của “chi” mà tác giả dân gian tập trung khai

thác. Trong HPV ý nghĩa cụ thể, trực tiếp của từ địa phương cũng được chú ý:

“ Anh yêu em từ thuở mười ba

Mẹ bồng em đi nhởi, anh bẻ hoa em cầm”

(HPV, Tr 207)

Nghĩa của từ “nhởi” tương đương với “chơi” trong vốn từ toàn dân. Trong ngữ cảnh trên,

ở vị trí của “nhởi” không thể thay thế “chơi”. “Nhởi” mang thanh trắc, đáp ứng được luật bằng

trắc của thơ lục bát. Trọng âm câu dòng bát rơi vào “nhởi” và trong giai điệu HPV, âm tiết có

âm vực thấp nhất, âm sắc trầm nhất rơi vào vị trí của “nhởi”. Trong sự hài hoà về âm và nghĩa

với vốn từ toàn dân, nó góp phần tạo nên giá trị tu từ:

“Nếp ngâm mà đậu chưa chà,

Lòng em nói rứa còn mẹ già nói sao ?

Nếp ngâm thì đậu cũng xay,

Lòng em nói rứa mẹ thầy cũng ưng”

(HPV, tr 249)

Nếu chỉ để thoả mãn các yêu cầu về kết cấu như đối với từ “nhởi” ở trên, hoàn toàn có thể

thay thế “rứa” bằng “thế” hoặc “vậy”. Nhưng ở đây tác giả dân gian lựa chọn sắc thái biểu cảm

phục vụ cho các hành vi điều khiển, biểu cảm. “ Thế”, “vậy” có thể lịch sự hơn nhưng cũng

“khách sáo” hơn. “Rứa” dễ thương và thân mật hơn. Bên trao lời hiểu rõ tình cảm, hoàn cảnh,

vị thế xã hội của đối tượng giao tiếp nên mới chọn lời trao “lòng em nói rứa”, bên đáp lời cũng

thừa nhận “lòng em nói rứa”. Cách nói này hợp với lời nói và hiện thực. Nếu thay “rứa” bằng

“thế” hoặc “vậy” thì sự ăn khớp với hiện thực sẽ giảm sút so với “rứa” trong tâm thức của

người xứ Nghệ.

Các nghệ nhân HPV cũng rất cân nhắc khi sử dụng từ địa phương sao cho các giá trị ngữ

âm và ngữ nghĩa của nó hoà phối với các từ toàn dân từ Hán Việt tốt nhất, làm tăng hiệu quả

biểu đạt của lời thơ trong hoàn cảnh giao tiếp mà nó xuất hiện :

a) “ Thương mình mình nỏ biết cho,

Cầm bằng gánh nặng mà dò đường trơn”

(HPV, Tr 264)

b) “ Dao vàng lắt rọt tằm rơi,

Không đau không xót bằng lời em than”

(HPV, Tr 221)

c) Mời chàng mại mại không vào

Bán mua chi đó, làm cao rứa chàng”

“Nỏ” tương đương với “ không”, nhưng “ nỏ” chỉ xuất hiện ở (a) mà không xuất hiện ở

(b). Ngược lại “không” xuất hiện ở (b) mà không xuất hiện ở (a). Từ “nỏ” ngoài nghĩa là

“không” còn có sắc thái hờn giận, trách móc mà ngữ cảnh câu thơ (a) đòi hỏi. Ở câu (b), là sự

xót xa, lòng thương cảm. “Lắt rọt” biểu đạt trạng thái tình cảm đau xót hơn “cắt ruột”. Các từ

địa phương “mại mại” (mãi mãi), chi (gì), rứa (thế), ở câu (c) làm nổi bật sắc thái dân dã khiêm

tốn đối lập với thái độ “làm cao” của đối tượng giao tiếp. “Mại mại” còn là sự chơi chữ, nó

đồng nghĩa với mãi mãi. Thanh ngã xứ Nghệ được phát âm thành thanh nặng nên “mại mại” từ

địa phương cùng đồng âm với mại (mua) và mãi (bán) từ Hán Việt. Từ “mại mại” tạo giá trị tu

từ cho câu ca.

3.2.2.2. Trong những lời ca dao khác

Ca dao xứ Nghệ phong phú về đề tài. Ngoài đề tài tình yêu nam nữ còn có các đề tài về

kinh nghiệm lao động sản xuất, tình yêu quê hương, đấu tranh giai cấp, đạo lí ở đời… Từ địa

phương xuất hiện trong những lời ca dao khác tương đương với HPV (153 lượt từ / 1000 câu so

với 144 lượt từ / 1000 câu). Chúng được phân bố phù hợp với nội dung của từng đề tài. So với

HPV, lớp từ địa phương chỉ các địa danh làng xã, sông núi, suối khe, miếu, chợ đình, chùa,

không gian sinh hoạt… có tần số xuất hiện cao:

Ai về Di Nậu làm chi,

Đồng Nậy nước mặn, Đồng Si khó cày”

(KTCDXN, tr 132)

Các địa danh: Kẻ Sía, Kẻ Đìn, Làng Dầu, Làng Ngò, Làng Sen, Làng Sẻ, Kẻ Ngòi, Chợ

Trù… và hàng trăm ngàn địa danh khác phân bố hầu khắp địa bàn xứ Nghệ. Các địa danh đi

vào ca dao được đặt trong quan hệ kết hợp với các từ chỉ đặc điểm nghề nghiệp, sản vật, tập

quán lao động, tính cách con người. Các thành tố văn hoá, lịch sử, xã hội, nhân văn xuất hiện và

dần dần cố định trong các lời thơ chứa các địa danh “từ tên làng, tên xóm, tên núi, tên chợ…đều

gợi lên sự vất vả khó khăn gợi đến hình ảnh những gương mặt, bàn tay gân guốc, sạm nắng gió

của con người xứ Nghệ, trong quá trình thích nghi với môi trường và vươn lên” [25].

Việc vận dụng tiếng địa phương trong cao dao xứ Nghệ đem lại sắc thái rất riêng cho cao

dao xứ Nghệ. Người nghệ nói “ như rìu chèm đá, như rạ chém đất”. Tại sao tiếng Nghệ trọ trẹ

đó lại là mảnh đất của một nền văn nghệ dân gian giàu có, đầy bản sắc…, rằng có những từ

trong văn chương nếu dùng tiếng Nghệ sẽ “đắt” hơn nhiều so với dùng tiếng phổ thông. Nghĩa

là cái thứ tiếng trọ tre đó quí hiếm như một món ăn đặc sản của chúng ta bây giờ vốn là món ăn

đời thường của người dân ở các miền quê. Trong ca dao xứ Nghệ, âm nặng, trắc nhiều hơn nên

chất giọng Nghệ bị coi là “ trọ trẹ”, song lại có độ chuẩn cao về ngôn ngữ nhất là cách phát âm

vần “tr”và “ch”,”s” và “x”. Ca dao xứ Nghệ dù đã được phổ thông hóa ít nhiều nhưng vẫn dày

đặc phương ngữ :

“Anh thương em không nói khi đầu

Bây giờ cưởi (sương)đã bá (bán) ngành dâu đi rồi.”

“Ba bốn nơi gấp ghé (để ý)

Chín mười nơi gập ghềnh

Lưa mô (còn đâu) đến phần anh

Đừng lội gây (gai) chó sủa

Dừng dợ rào chó sủa”

Người Nghệ có bốn câu ca dao thuộc trong số những lời cao dao được nhiều người biết

đến, đó là :

“ Muối ba năm muối đang còn mặn

Gừng chin tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta tình nặng nghĩa dày

Dù có xa nhau đi “chăng” nữa thì ba vạn sáu nghìn ngày cũng nỏ xa”

Từ “nỏ” đồng nghĩa với “không” và “chẳng”. Tuy nhiên từ “không” thuộc thanh bằng, còn

từ “nỏ” và “chẳng” thuộc thanh trắc. Tính chất phủ định của thanh trắc trong trường hợp này

tạo cảm giác mạnh mẽ hơn dứt khoát hơn nên buộc phải chọn một trong hai từ thuộc vần trắc.

Từ “nỏ” có âm sắc ngắn gọn hơn. Âm sắc tạo cảm nhận về sự dứt khoát mau lẹ, nên tính chất

phủ định cao hơn. Và trong trường hợp này sự phủ định càng cao thì sự khẳng định càng mạnh.

Và sự lựa chọn từ “nỏ” trong câu cao dao này là phương án tốt nhất. Rõ ràng trong dị bản ca

dao này, tiếng Nghệ đã trở nên rất đắc dụng. Trong chủ đề về “gia đình và hôn nhân” người

Nghệ cũng biết dùng tiếng mình để tạo nên những dị bản ca dao đắt giá :

“ Râu tơm nấu với ruột bù (bầu)

Chồng chan vợ húp gật gù (gập đầu) khen ngon”

Rõ ràng nhờ từ “bù” trong tiếng địa phương xứ Nghệ ở câu lục mà sang câu bát tác giả

dân gian dùng động từ “gật gù “ phù hợp với nội dung bài ca dao. Nếu là từ “gật đầu” thì hành

động chỉ có một lần như ý kiến “biểu quyết”, còn “gật gù” là hành động lặp đi lặp lại, nó là sự

tán thưởng của người thách thức, là sự tâm đầu ý hợp của vợ chồng. Rõ ràng nhờ cái phương

ngữ “ruột bù” mà câu ca dao có được kết cục hay hơn. Tiếng Nghệ nhờ đó lại tham gia vào

ngôn ngữ văn hoá dân tộc, làm cho nó trở nên phong phú, đa dạng hơn.

Trong giao tiếp hằng ngày, lời nói của con người xứ Nghệ mộc mạc, giản dị, đời thường

như chính cuộc sống của họ vậy. Tiếng địa phương được sử dụng rất nhiều trong ca dao, khi thì

xuất hiện dưới dạng từ chỉ địa danh, địa hình:

“ Nay Cồn mai Rộ, mốt Dùng

Xong xuôi chợ Cọi biết chừng mô lên”

Hay:

“Nhất cao là động mộng Gà

Thứ nhì rút Gám, thứ ba động Thờ”

Khi thì gắn liền với tên của đồ vật, sản vật của địa phương:

“ Chồng em anh đã biết rồi

Rỗ chằng rỗ chịt chuyên ngồi gốc Mươn”

Hay:

“Anh đi anh nhớ Nghệ An

Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam Đàn thơm tương”

Từ địa phương được sử dụng với nhiều chức năng ngôn ngữ khác nhau. Có khi đó là danh

từ chỉ sự vật hay người:

“ Năm ni em mắc chăn tru

Vài năm chi nữa em về mần du mẹ thầy”

Có khi được dùng như những từ phủ định hay khẳng định:

“Nhọc nhằn nỏ muốn ăn khoai

Nấu lên nồi bộng lưa hai củ sùng”

Hay:

“Em đến đây cũng muốn chị trước em sau

Nhưng mùi trầm hương em nỏ chộ (thấy)

Mà chỉ chộ màu khói mây”

Có khi xuất hiện dưới hình thức tính từ, định ngữ:

“ Rú Bằng Rú Bể, Rú Bin

Ba rú hợp lại, rú mô ghim (gần) thì em về”

Nhưng phổ biến nhất vẫn là những từ nghi vấn (“mô”, “răng”), từ tình thái (“tê”, “rứa”,

“ri”) hay từ chỉ phương hướng:

“Trăng lên đến đó rồi tề

Nói răng thì nói anh về kẻo khuya”

“ Rồi mùa toóc mạ rơm khô

Bạn về xứ bạn biết nơi mô mà tìm”

“ Cứ lời anh dặn em ri

Giàu sang mặc họ, khó khăn chi cũng vợ chồng”

Như vậy, nhắc đến ca dao xứ Nghệ, đọc ca dao xứ Nghệ điều khác biệt đầu tiên có lẽ là

phương ngữ và cũng chính phương ngữ đã làm cho ca dao xứ Nghệ độc đáo hơn và nhờ đó

cũng có thể trở thành dữ liệu giúp cho việc tìm hiểu lịch sử văn hoá xứ Nghệ cũng như của dân

tộc Việt.

3.2.3. Ngôn ngữ bác học

Ca dao xứ Nghệ điển hình cho sự đa dạng về giọng điệu và tính chất, trong đó phải nói

đến tính chất bác học được thể hiện qua hệ thống từ ngữ gốc Hán và các điển tích trong ca dao

xứ Nghệ.

Từ Hán Việt là những từ gốc Hán đã được Việt hoá, đối lập với từ thuần Việt ở các sắc

thái trừu tượng, khái quát, trang trọng, tao nhã, cổ kính. Bên cạnh vốn từ địa phương và từ toàn

dân thuần Việt, từ Hán Việt được phân bố với một tỉ lệ lớn trong ca dao xứ Nghệ. Theo lẽ

thường, thơ ca dân gian là những sáng tác truyền miệng từ xa xưa của quần chúng lao động,

ngôn ngữ thơ ca dân gian là những từ địa phương, từ thuần Việt bắt nguồn trực tiếp từ lời ăn

tiếng nói hàng ngày, gần gũi với sinh hoạt đời thường. Chúng kiến tạo và duy trì màu sắc,

phong cách dân gian của những sáng tác truyền miệng, phân biệt với phong cách bác học của

văn học viết. Thế nhưng trong ca dao xứ Nghệ, từ Hán Việt lại xuất hiện với một tần số cao hơn

hẳn thơ ca dân gian các vùng khác.

Số liệu thống kê tần số xuất hiện từ Hán Việt trong HPV và ca dao

(So sánh với Hát ví đồng bằng Hà Bắc và ca dao Quảng Bình)

Tài liệu khảo sát Số lượng từ /câu Tỉ lệ(%)

Hát phường vải 299/1000 29,9%

KTCDXN 182/1000 18,2%

HVĐBHB 154/1000 15,4%

CDQB 108/1000 10,8%

Từ Hán Việt xuất hiện nhiều trong ca dao xứ Nghệ là có nguyên nhân của nó. Một nguyên

nhân quan trọng là vai trò của các nhà nho: “Với vốn chữ Hán Việt khá thuần thục và tinh tế, ca

dao xứ Nghệ thực sự nhuốm màu nho học… Tất cả những điển cổ, điển tích, những ý, những lời

được lấy trong những áng thơ văn cổ nổi tiếng rất đỗi quen thuộc với nguời dân, những lối chơi

chữ chiết tự của những ông đồ Nghệ, những học trò tinh nghịch đã làm nên màu sắc trí tuệ cho

ca dao vùng này” [26]. Từ Hán Việt và các điển tích điển cố xuất hiện nhiều trong ca dao xứ

Nghệ đa dạng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi tình cảm lứa đôi mà đề cập đến nhiều lĩnh vực

của đời sống, đòi hỏi sự có mặt của từ Hán Việt. Ca dao xứ Nghệ được tổ chức thiên về hệ kết

hợp, chú trọng xử lí thông tin miêu tả, sự có mặt của vốn từ Hán Việt, của các điển tích điển cố

là sự bổ sung cần thiết các thông tin thẫm mĩ vào ngữ pháp câu. Ví dụ trong lời hát mừng trong

HPV có những câu :

“Mừng nàng chân giậm tay đưa,

Miệng cười mắt liếc tình tơ tơ tình ”

(HPV, tr 159)

Sau “mừng chàng” hay “mừng nàng” sẽ là nội dung chúc tụng. Lời chúc tụng bao giờ

cũng tốt đẹp, lịch sự, trang trọng. Xu hướng đó làm xuất hiện các từ Hán Việt, các điển tích,

điển cố trang nhã.

“Mừng nàng tứ đức gồm hay,

Công dung ngôn hạnh xưa nay mấy người”

(HPV, tr 159)

Mừng chàng hai chữ công danh,

Phong lưu phú quý phụ huynh một nhà”

(HPV,tr 160)

Các hình thức hát đố, hát đối,… đòi hỏi sự tham gia của từ Hán Việt và các điển tích, điển

cố:

“Kì sơn, kì thủy, kì phùng,

Lạ non, lạ nước, lạ lùng gặp nhau

_Tri nhân tri diện tri tâm,

Kháp người, kháp mặt, kháp tri âm với nường ”

(HPV,tr185)

3.2.3.1. Trong hát phường vải

Hát phường vải tập trung lựa chọn những từ Hán Việt thuộc phong cách văn chương với

một tỉ lệ 299 lượt từ /1000 câu. Các đặc trưng nổi bật của từ Hán Việt so với từ thuần Việt như

tính trừu tượng khái quát, sắc thái trang trọng cổ kính, tao nhã… và giá trị biểu hiện của từ

được khai thác tối đa :

Trao:

“Đến đây cận thủy xa ngư

Hỏi thăm cá đã vào lừ ai chưa?

Đáp:

Con cá đợi gió đợi mưa

Trời chưa phong vũ cá chưavào lừ

Các từ ngữ Hán Việt: “phong vũ, cận thủy, xa ngư”, cũng như các từ Thuần Việt: “cá”,

“lừ” không dùng với nghĩa trực tiếp. Xét vai trò của các bên giao tiếp thì việc dùng từ Hán Việt

như trên là một sự sáng tạo đem lạị giá trị biểu cảm và hiệu quả tác động cho lời thoại. “Cá”,

“lừ” là điều kiện để “thủy” với “ngư” xuất hiện. “Cá”còn đợi nước, “đợi gió đợi mưa”, là điều

kiện “phong vũ” xuất hiện. Các từ, ngữ “cá”, “lừ”, “đợi gió đợi mưa”, kết hợp với nhau làm

thành một ẩn dụ tu từ. Các từ Hán Việt “phong vũ”, “cận thủy xa ngư” cũng được dùng với ý

nghĩa ẩn dụ. Chức năng thẩm mĩ nổi lên hàng đầu, còn chức năng định dạng trở thành thứ yếu.

Phần lớn từ Hán Việt phân bố trong HPV với mục đích xây dựng các biện pháp tu từ. Dựa trên

cơ sở đồng âm hoặc đồng nghĩa.

-Chơi chữ đồng nghĩa:

“-Cây tam thất trồng ba bảy chậu

Pháo cửu trùng đốt nổ chín nghìn phong

Chàng mà đối được thiếp theo không chàng về”

“-Núi ngũ hổ vẫy vùng năm khái

Gió bốn mùa đúc lại tứ phương

Anh đà đối được thì nường tính sao”.

(HPV,tr 183)

Lời trao sử dụng các cặp đồng nghĩa Hán Việt - Thuần Việt: tam thất - ba bảy, cửu trùng -

chín nghìn, xây dựng vế đối. Lời đáp đối lại bằng các cặp từ đồng nghĩa tương xứng: Ngũ hổ -

năm khái, tứ phương - bốn mùa .

- Chơi chữ đồng âm :

“Cây rau mùi trồng đầu cửa ngọ

Lá ti tí hái ăn dần dần

Chàng mà đối được dậu sang thân mời vào”

“-Hạt cải canh đem vãi vườn tân

Trời nhâm nhâm lại càng thêm quý

Gió không đi ngược sao em hẹn ngược thì rứa em”.

(HPV,Trang 187)

Rau mùi, cửa ngọ ti tí, dần thuần Việt như các từ mùi, ngọ, tí, dần đồng âm với tên gọi

Hán Việt các năm âm lịch: mùi, ngọ, tí, dần. Đây là chơi chữ đồng âm. Lời đáp chọn các năm

hàng can canh, tân, nhâm, quý đối lại các năm hàng chi: mùi, ngọ, tí, dần.

Từ Hán Việt phân bố ở các chặng khác nhau, chặng hát đố hát đối: mục đích thử thách trí

tuệ, tài năng, hành vi chơi đố, thách thức. Đây là chặng mà có từ Hán Việt cao gấp ba lần chặng

hát chào mừng, hát hỏi, gấp sáu lần chặng hát xe kết và hát tiễn. Điều đó chứng mình rằng

không phải chỉ có vai trò của các nho sĩ tham gia HPV quyết định sự xuất hiện của từ Hán Việt

mà còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, mục đích giao tiếp, kết cấu thể loại.

Từ Hán Việt xuất hiện trong HPV phù hợp với màu sắc phong cách của thể loại. Ở đây

việc thể hiện thế giới nội tâm, thử thách trí thông minh được ưu tiên hơn so với nhiệm vụ miêu

tả .

3.2.3.2.Trong các câu ca dao khác

Từ Hán Việt phân bố trong ca dao có tỉ lệ 182 lượt từ /1000 câu thấp hơn HPV (299 /

1000 câu). Nội dung đề tài và kết cấu câu ca dao chi phối tỉ lệ phân bố. Những lời ca dao có đề

cập đến nội dung đặc điểm từng địa phương lựa chọn những từ Hán Việt chỉ địa bàn cư trú:

“Ai xuôi về đất Phú Văn

Tằm nhiều lạc tốt quanh năm chuyên cần”

(KTXDN,T2,Tr 254)

Sắc thái trang trọng tao nhã và ý nghĩa tốt đẹp của những từ Hán Việt được lựa chọn để

thể hiện tình cảm, ước mơ của người dân lao động về một cuộc sống thanh bình hạnh phúc.

Những lời ca dao phản ánh quan hệ giai cấp tinh thần dân tộc lựa chọn những từ Hán Việt chỉ

các khái niệm chính trị xã hội :

“Tân triều, tân chính, tân gia

Gắng tân học thức để mà tân dân”

(KTXDN,T2, tr 254)

Những lời ca dao tình yêu nam nữ lựa chọn những từ Hán Việt thuộc phong cách văn

chương, có giá trị biểu cảm cao :

“Lửa hương hương lửa mặn mà

Để cho thu cúc một nhà xuân lan

Sắt cầm duyên hợp tao đoan

Để cho tình lại giao hoan với tình”

(KTCDXN,T1,Tr 327)

Những lời ca dao phản ánh quan niệm, lối sống, lựa chọn những từ Hán Việt chỉ thái độ

phẩm cách, kinh nghiệm sống :

“Bắc cân định giá trung bình

Chớ coi ai trọng chớ khinh ai thường.”

(KTCDXN,T2,Tr 96)

Trong ca dao xứ Nghệ, sự xuất hiện dễ nhận thấy là những điển cố, điển tích, nhắc tên,

vận ý hoặc lấy nguyên lời nguyên câu trong các tác phẩm văn chương bác học, những bài thơ

Đường cổ, những áng thơ văn nổi tiếng như “Kiều”, “Tống Trân Cúc Hoa”, “Lục Vân

Tiên”…Ca dao xứ Nghệ mang giọng điệu, âm hưởng, hơi thở của văn chương bác học biểu hiện ở ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng, thể thơ. Theo thống kê của Nguyễn Phương Châm [57],

trong 1894 lời ca dao trữ tình (chương 2) trong cuốn “Kho tàng ca dao xứ Nghệ ” thì có 70 lần

ca dao nhắc tên tác phẩm, nhân vật chính hoặc lấy ý, lấy câu, sử dụng các tích cổ, những lời thơ

hay quen thuộc trong các áng thơ văn nổi tiếng của văn chương bác học. Cũng thống kê như

vậy trong HPV có 177 lời trong 1771 lời HPV.

Đưa vào ca dao nhiều và thuần thục nhất là từ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. “Kiều”

được vận dụng 14 / 70 lần và 14 / 177 lần. “Kiều” được nhắc dưới nhiều hình thức khác nhau.

Có khi chỉ là sự nhắc tên tác phẩm hoặc nhân vật chính đã quá quen thuộc:

“Mấy lâu vắng hát vắng đàn

Vắng phô quyển nhị vắng than Thuý Kiều”

“Bóng ai thấp thoáng vườn hoa

Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân”

Trong nhiều trường hợp nội dung Truyện Kiều được đưa ra thử tài bằng những lời đố đáp

đầy ngụ ý và rất thông minh:

“Nghe tin anh học có tài

Đào tiên một cõi thiên thai ai trồng”

“Thiên thai là của nàng Kiều

Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra”

Bên cạnh Kiều có rất nhiều truyện thơ khác được vận dụng một cách tự nhiên. Cách vận

dụng rất linh hoạt tên nhân vật:

“Tình cờ ta lại gặp ta

Vân Tiên mới gặp Nguyện Nga một lần ”

“Ra về nước mắt phân vân

Lòng châu ta có nhớ nghĩa Trần hay không”

“Dương Lễ sánh với Lưu Bình

Đang còn kết nghĩa huống chi mình với ta”

Những truyện thơ trên được dân chúng thuộc lòng và khi được đưa vào những lời ca dao

thì sức sống, sự gắn bó của nó với đời sống dân chúng càng mạnh mẽ.

Ca dao xứ Nghệ còn có rất nhiều điển tích, điển cố lấy từ truyện cổ huyền thoại của Trung

Quốc như: Tiếng đàn Bá Nha, chén rượu Lưu Linh, giấc mộng Hoàng Lương, sông Ngân, cầu

Ô Thước, Nữ Oa đội đá và trời …

“Em đang giấc mộng Hoàng Lương

Ông tơ hồng thức dậy có khách văn chương tới nhà”

“Anh say em như bướm say hoa

Như Lưu Linh say rượu như Bá Nha say cầm”

“Sông Ngân đã bắc cầu Ô

Giàu ăn khó chịu phận do thiên tào”

Nhiều khi không chỉ lấy ý, lấy tích mà còn lấy cả dòng, cả câu trong tác phẩm văn chương

bác học:

“Người đâu gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không

Để cho anh nớ ngồi trông

O ni ngồi đợi trong lòng chẳng an”

(Hai dòng đầu là trong “Truyện Kiều”-Nguyễn Du)

“Bây giờ Nguyệt lạc ô đề

Sương phi mãn tuyết anh về kẻo khuya”

“Nguyệt lạc ô đề, sương mãn thiên” trong bài “Phong Kiều dạ bạc, của Trương Kế, thi sĩ

thời Đường. Một thể hiện nữa của tính chất bác học trong ca dao xứ Nghệ là lối chơi chữ chiết

tự chữ Hán tài tình và nhuần nhuyễn đến mức khó ngờ :

“Mừng đây phong cảnh tự trì

Ao chùa cực lạc vui thì thậm vui”

(Tự trì nghĩa ao chùa, cực lạc cũng là thậm vui)

“Cha con thầy thuốc về làng

Hồi hương phụ tử thì chàng đối chi”

(Cha con là phụ tử, về làng là hồi hương. Hồi hương, phụ tử là 2 vị thuốc bắc)

“Từ ngày thiếp vắng mặt chàng

Bây giờ liễu đã có ngang ra rồi.

(Chiết tự chữ tử là con)

Thậm chí có lời ca dao dùng hầu hết chữ Hán mà vẫn được phổ biến rộng rãi :

“Ngô diệp lạc, nhạn nam qui

Lan phương cúc tú, vội chi ngôn hoàn

Kê ký minh hề, kê ký minh

Quan sơn thiên lý khách tình xin lui”.

(Lá ngô đồng đã rụng, chim nhạn đã bay về phương Nam, hoa lan thơm, hoa cúc đẹp, vội

chi nói về. Nhưng gà đã gáy rồi, gà đã gáy. Đường xa ngàn dặm phải về thôi). Lời ca dao như

một bài thơ cổ với vốn chữ Hán khá thuần thục và tinh tế. Ca dao xứ Nghệ thực sự nhuốm màu

nho học là vậy.

Những lời hay, ý đẹp của văn chương bác học, những tích Hán cổ đã đi vào ca dao xứ

Nghệ một cách tự nhiên, có tác dụng lớn trong việc diễn tả được nhiều hơn, hay hơn những

hoàn cảnh, tâm trạng, tình cảm đa dạng của dân chúng.

Cũng có những lời ca dao xứ Nghệ tuy không trực tiếp sử dụng ý tứ câu chữ điển cố điển

tích của văn chương bác học nhưng đọc lên chúng ta cảm nhận ngay được tính chất bác học

trong những lời ca dao đó:

“Đá có rêu bởi vì nước đứng

Núi bạc đầu là tại sương sa

Thấy em anh muốn nói ra

Sợ mẹ bằng đất sợ cha bằng trời

Thấy em anh muốn trao lời

Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan”.

Chất trí tuệ, sự trau chuốt ngôn từ, cách dùng hình ảnh, âm hưởng nhạc điệu được toát lên

trong lời ca. Âm hưởng giọng điệu bác học ở sự trau chuốt ngôn từ :

“Rượu ngon rót chén quỳnh tương

Gíó đưa phảng phất mùi hưong não nùng”.

Vẫn là những dòng lục bát quen thuộc nhưng từng chữ từng câu được mài giũa công phu

đạt đến trình độ cổ điển. Sự cảm nhận mùi hương phảng phất trong gió nhẹ, cảm nhận cái não

nùng, “ gió rung tiếng vàng” trong một đêm trăng sáng như in, như say hình bóng “ người

ngọc”…

Cũng có khi trong lời hỏi đáp, lời đố có cả yếu tố dân gian và bác học. Lời đố có tính chất

dân gian:

“Trăng bao nhiêu tuổi trăng già

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?”

Lời đáp có tính chất bác học :

“Trăng ba mươi tuổi trăng già,

Thanh sơn bất lão gọi là núi non”

Hoặc ngược lại :

Lời hỏi có tính chất bác học :

“Thử rằng Nghiêu hữu cửu nam,

Đan Du là một, hỏi chàng còn những ai”?

Thì bài đáp lại có tính chất dân gian :

“Phận em con gái nữ nhi,

Biết Đan Du là được, biết làm chi chín người”.

Như vậy, trong ca dao xứ Nghệ có sự thâm nhập của văn chương bác học, của những điển

tích, điển đố. Ca dao là sản phẩm của nhân dân xứ Nghệ, mà nhân dân xứ Nghệ không chỉ là

nông dân, mặc dù đội ngũ này vẫn chiếm ưu thế, còn có những ông quan thất thế về làng,

những học trò không đỗ đạt, những nhà nho bình dân. Họ mang vốn hiểu biết chữ nghĩa của

mình tham gia vào sáng tác dân gian và ngày càng được dân chúng lưu truyền rộng rãi. Ở vùng

đất xứ Nghệ có nhiều lí do khiến ca dao nơi đây mang tính bác học, nhưng cũng cần nhận thấy

sự giao lưu tự nhiên giữa hai dòng dân gian và bác học. Văn hóa dân gian nói chung và ca dao

nói riêng ở bất cứ vùng nào của nước ta cũng có sự đan xen, ảnh hưởng của văn chương bác

học song không phải ở vùng nào cũng đậm đặc, độc đáo và dễ nhận thấy như ở xứ Nghệ. Chính

đặc điểm này đã góp phần làm nên gương mặt riêng của vùng văn hóa xứ Nghệ trong lòng văn

hóa Việt Nam.

3.3. Biểu tượng

3.3.1. Khái niệm

Theo Nguyễn Xuân Kính: “Biểu tượng hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể

hiện quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả) từng

thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú” [109].

Thế giới biểu tựơng phong phú và có vai trò quan trọng trong đời sống của con người.

Jean Chevalier nhà biên soạn từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đã nhận xét: ”Nói là chúng ta

sống trong một thế giới của biểu tượng thì vẫn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống

trong chúng ta” [29]. Còn Claude Lévi-Strauss khi nghiên cứu nhân loại học ở các sự kiện văn

hóa thì cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng,

trong đó xếp ở hàng đầu là ngữ ngôn, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật,

khoa học, tôn giáo…[29].

Các biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt của một nền văn hóa ở những đường nét cơ bản

nhất.

Theo TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp thì “biểu tượng là những dạng thức dùng hình này để tỏ

nghĩa nọ, dùng một hình ảnh cụ thể để nói lên một ý niệm trừu tượng”[48].

Giữa sự vật, hiện tượng và những ý nghĩa mà nó hàm chứa (dưới góc độ biểu tượng)

không phải là sự đồng nhất mà là một sự tương ứng có thế xảy ra ở nhiều khía cạnh, cấp độ

khác nhau, làm nên sự đa nghĩa, đa trị của biểu tượng.

Biểu tượng thường mang tính qui ước và tính cộng đồng. Biểu tượng chỉ có thể tồn tại và

hoạt động, phát huy tác dụng khi nó được hiểu, được thừa nhận. Những hình ảnh con vật, đồ vật

… được cộng đồng chấp nhận, cùng ngầm thỏa thuận thống nhất với nhau là nó chỉ ra một

nghĩa nào đó ở bên ngoài nó, thì mới có thể trở thành biểu tượng. Và những hình ảnh này trải

qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, không gian. Nó dần được định hình và củng cố ngày

một chắc chắn hơn trong tâm thức dân tộc qua quá trình sử dụng. “Mỗi nhóm người, mỗi thời

đại có những biểu tượng của mình: rung động trước cái biểu tượng đó, tức là tham gia vào

nhóm người và thời đại ấy. Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết, xã hội thiếu biểu

tượng là xã hội chết. Một nền văn minh không còn có biểu tượng thì sẽ chết ; nó chỉ còn thuộc

về lịch sử”[29].

Biểu tượng, theo cách hiểu của chúng tôi và nói một cách đơn giản, là lấy một sự vật, hiện

tượng (cái B) để biểu hiện có tính chất tượng trưng một cái khác, thường mang tính trừu tượng

(cái A), “trầu cau” biểu tượng cho sự mãnh liệt, thủy chung son sắt, ngay thẳng trong tình yêu,

“đá vàng” biểu tượng cho lòng chung thủy…

Biểu tượng là một yếu tố trong thi pháp ca dao, một yếu tố hình thức mang nội dung sâu

sắc. Thế giới tự nhiên, vật thể nhân tạo và ngay cả những con số cụ thể… khi đi vào ca dao đều

có thể mang ý nghĩa biểu tượng.

3.3.2. Các loại biểu tượng và việc sử dụng biểu tượng nghệ thuật trong ca dao xứ

Nghệ

Có rất nhiều biểu tượng trong cuộc sống của chúng ta. Mỗi lĩnh vực có hệ thống biểu

tượng riêng.

Trong toán học, khoa học, biểu tượng là những kí hiệu mà dung tải qui ước đã được các

Viện tiêu chuẩn hóa xác định chặt chẽ. Trong triết học, biểu tượng lại là những hình ảnh cụ thể

của vật thể và hiện tượng của thế giới bên ngoài và của các tính chất của chúng xuất hiện trong

ý thức con người mà không có sự trực tiếp tác động của kích thích bên ngoài lên các cơ quan

cảm thụ con người đó. Biểu tượng nghệ thuật không nguyên sơ mà mang màu sắc xúc cảm,

không phải là sự miêu tả đơn thuần về thế giới khách quan mà là sự gửi gắm vào đó thế giới

tâm trạng của con người.

Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao là một loại biểu tượng nghệ thuật, được xây dựng

bằng ngôn từ (ngôn từ nói và ngôn từ viết) với những qui ước của cộng đồng. Thế giới biểu

tượng này vừa mang những đặc điểm của biểu tượng nói chung, vừa mang những nét đặc thù

của nó do nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thi ca dân gian qui định. Biểu tượng ca dao là những

hình ảnh ẩn dụ được một cộng đồng chấp nhận và sử dụng rộng rãi, phổ biến, mang đậm tính

truyền thống. Biểu tượng ở đây được xây dựng trên cơ sở tính hàm xúc, hàm nghĩa của ngôn

ngữ văn chương, hệ thống biểu tượng nghệ thuật của ca dao đã góp phần làm cho ngôn ngữ của

loại thơ ca dân gian này mang tính đa nghĩa và giàu sức khơi gợi.

3.3.2.1. Cách dùng biểu tượng

Ca dao rất ưa thích sử dụng biểu tượng, cho nên có người cho rằng biểu tượng là những

đặc trưng nổi bật và được sử dụng một cách ưu việt trong ca dao. Cũng bởi vì đặc trưng của ca

dao là ngắn gọn, kiệm lời, cho nên việc sử dụng biểu tượng sẽ phát huy thế mạnh của thể loại.

Với ý nghĩa phong phú, hàm súc, biểu tượng sẽ góp phần khắc phục hạn chế về dung lượng

phản ánh hiện thực, đồng thời tăng thêm giá trị thẩm mĩ cho lời ca.

Đối với ca dao người Việt, không mấy ai không hiểu ý nghĩa của những biểu tượng như

thuyền –bến, trúc-mai, mận-đào, loan-phượng, hoa-bướm … Những biểu tượng mang giá trị

thẩm mĩ đó đã tạo nên cách biểu hiện đặc trưng cho thể loại ca dao.

Ca dao dân ca sử dụng một số các hình tượng quen thuộc của thiên nhiên đời sống hàng

ngày như rau, sương, núi, đồi, mía, bìm bìm, mưa, nắng, chuồn chuồn, chuối, lá, măng, quả,

cây, mướp đắng, mùng tơi, nước, ao… Bên cạnh các hình tượng đơn còn có các hình tượng

sống đôi như ruộng – bờ, hoa – nắng, sông – mây, cây – cành, ổi – đào, quít – cam, cam – bưởi,

quế – cú, mướp – gà… Đó là những sự vật và hiện tượng thiên nhiên bình dị, quen thuộc trong

đời sống hàng ngày nhưng được khái quát hóa, trở thành các hình tượng nghệ thuật. Một trong

những đặc điểm của thơ ca trữ tình dân gian là hình thức sử dụng các hình ảnh thiên nhiên

không theo nghĩa trực tiếp, nghĩa đen, nghĩa biểu vật mà theo nghĩa gián tiếp với nghĩa bóng,

nghĩa biểu cảm tạo nên các hình tượng ẩn dụ và biểu tượng để diễn tả cảm xúc. Trong ca dao

một số các hình tượng ẩn dụ đơn được sử dụng thường xuyên như: chi, cá, sông, trăng, cau,

hoa, bèo, đào… Ca dao dân ca còn nổi bật với các biểu tượng sóng đôi là đại diện tiêu biểu cho

đề tài về tình yêu nam nữ như: rồng-mây, loan-phượng, trúc-mai, bướm-hoa, trầu-cau, quế-hồi,

cá nước, đào-liễu…Các cặp hình mang ý nghĩa biểu trưng rất rõ, tạo nên những công thức

truyền thống trong phương thức diễn tả nội dung.

Một trong các đặc điểm của hình tượng sóng đôi là sử dụng chủ yếu trong các lời ca có

nội dung diễn tả các tình huống hạnh phúc. Đặc biệt trong ca dao dân ca đồng bằng Bắc Bộ, chỉ

riêng Hát ví đồng bằng Hà Bắc qua khảo sát chúng tôi thấy 82% trong tổng số 35 lần xuất hiện

của các cặp hình tượng này mang nghĩa ẩn dụ cho hạnh phúc. Trong số các cặp sóng đôi truyền

thống này thì loan-phượng là hình tượng nhắc đến nhiều nhất với những cách biểu đạt khác

nhau: “chồng phượng vợ loan, loan phượng giao hòa, loan phượng vợ chồng, loan ốm lấy

phượng phượng bồng lấy loan, loan phượng sánh bày, loan phượng sánh đôi, loan phượng

sánh hòa, loan phượng đậu cành có đôi, loan phượng sánh người văn nhàn, loan phượng đẹp

đôi, phượng hợp loan, loan kêu phượng hót” :

- Bây giờ loan phương sánh đôi

Bỗng đâu cá nước chim giời gặp nhau.

- Ăn chơi cho thỏa phong trần

Chồng loan vợ phượng giao lân sánh bầy.

Cũng như vậy, các cặp sóng đôi khác mang ý nghĩa tương tự và và được thể hiện một cách

linh hoạt: Bướm-hoa có “bướm say hoa, bướm gần hoa, bướm lượn vành bên hoa, bướm chiều

hoa, hoa bướm tìm nhau, bướm đậu vườn hoa, bướm lượn cành phù du”. Rồng-mây có “rồng

tìm mây, rồng gặp mây, rồng tơ tưởng vì mây”. Trúc-mai có “sum họp trúc mai, lan huệ sánh

trúc mai, trúc với mai, trúc nhớ mai, miếng trầu lên trúc nên mai, gió trúc mai xưa”. Quế-hồi có

“quế sánh với hồi, quế tơ tưởng vì hồi”. Trầu-cau có “trầu bám cau, giầu tơ tưởng vì cau, có

trầu có cau, liền giầu có một chẽ cau”. Mận- đào có: “mận hỏi đào, mận sánh với đào, mận mận

đào đào bên nhau”. Cá nước: “cá lên khỏi nước chịu khô, nước lên cá đối ăn theo”.

Những cặp sóng đôi trên được tạo nên trong sự kết hợp bền vững của những sự vật hiện

tượng thiên nhiên tương đồng với nhau về phẩm chất, thuộc tính. Thêm vào đó, gốc rễ ban đầu

của các hiện tựợng sóng đôi đó bắt nguồn từ các điển tích, điển cố, những tác phẩm văn học. Là

sự biểu tượng mang ý nghĩa tốt đẹp trong điển cố văn học, các hình tượng sóng đôi này đã được

dân gian hóa trở thành biểu tượng lứa đôi trong ca dao dân ca và sử dụng diễn tả những trạng

thái cảm xúc đa dạng của tình yêu mà trong đó tình huống cảm xúc hạnh phúc chiếm ưu thế chủ

yếu; hay nói cách khác, xu hướng thiên về diễn tả niềm vui, hạnh phúc của các hình tượng sóng

đôi này được quy định bởi truyền thống thẫm mỹ dân tộc cô đọng trong các biểu tượng có

nguồn gốc từ điển cố, làm nên sắc thái văn hóa với phương thức biểu cảm đặc trưng của thể loại

thơ ca dân gian.

3.3.2.2. Biểu tượng trong ca dao xứ Nghệ

Nếu làm một phép so sánh ca dao xứ nghệ với xứ Bắc ta sẽ thấy tần số xuất hiện của các

loại biểu tượng là khác nhau. Sau đây chúng tôi xin dẫn số liệu thống kê tần số xuất hiện các loại biểu tượng theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Châm [25].

Số lần xuất hiện Tỉ lệ (%)

Tên biểu tượng

Xứ Nghệ X ứ Bắc Xứ Nghệ X ứ Bắc

Trầu cau 119 41 6,1 6

Trúc mai 17 19 0,9 2,7

Thuyền 31 16 1,6 2,3

Tên các loài hoa 20 16 1,1 2,3

Các dụng cụ sinh 19 17 2,6 2,4 hoạt gia đình

Trong ca dao xứ Nghệ, ta thấy có rất nhiều biểu tượng như trăng, sao, mây, gió, hoa lá, cỏ

cây, sông núi,… Có lẽ đặc biệt nhất là biểu tượng trầu cau, trúc mai. Thực ra biểu tượng trầu

cau, trúc mai không chỉ có trong ca dao xứ Nghệ. Trong ca dao xứ Bắc cũng bắt gặp các biểu

tượng này, mặc dầu mật độ khác nhau. Theo thống kê ta thấy biểu tượng trầu cau xuất hiện

trong ca dao xứ Nghệ là 119 lần (6,1%), xứ Bắc 41 lần (6%). Trúc mai xuất hiện 17 lần (0,9%)

trong ca dao xứ Nghệ, và 19 lần trong ca dao xứ Bắc (2,7%).

a) Biểu tượng trầu cau

Từ ngàn xưa, trầu cau do quan niệm dân sinh truyền thống và tập quán lâu đời, đã hiện

diện mượt mà, thơ mộng trong thi ca bình dân truyền khẩu cũng như một số bài thơ gần như

“bất tử” của một số thi bá tài danh:

“Gặp nhau ăn một miếng trầu

Gọi là nghĩa cũ về sau mà chiều”

Ở nhiều vùng đất nước, những câu thơ dễ nhớ qua hình thức ca dao luôn bày tỏ cuộc tình

tự của trai gái qua sự biểu trưng nhẹ nhàng mà sâu kín của trầu cau. Đây là lối giao cảm đặc

biệt của dân tộc Việt.

“Có trầu mà chẳng có cau.

Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm”.

Môi đỏ do ăn trầu nhưng cũng ẩn ngầm một ý khác. Trầu phải có cau mới thắm lại, thiếu

một duyên thắm sao được.

Miếng trầu là vật biểu tượng cho tình bạn, tình yêu nồng thắm, thủy chung, son sắt của

người Việt Nam. Trong ca dao xứ Nghệ, để nói đến tình duyên nồng thắm người ta cũng viện

dẫn đến trầu cau:

“Trầu xanh, cau trắng, chay hồng

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên”

Trầu cau cũng có bấy nhiêu ý nghĩa để nói hộ, bày tỏ hộ nỗi lòng mà không phải bao giờ

cũng nói thẳng ra được.

“Miếng trầu ai biệt ai bài

Ăn vào đây đó thắm hai chữ tình”

Trong giai đoạn nảy nở tình yêu, trầu cau cũng là chứng cớ của sự mãnh liệt, ngay thẳng,

tận tình, là vật thể của tình yêu được đưa ra ướm thử lòng nhau với một cách thức phải đạo:

“Miếng trầu têm sẵn ban đêm

Qua cầu nghiêng nón đưa liền trao tay”

Chàng trai xứ Nghệ đã nâng niu miếng trầu trao tặng nhau mà rằng:

“Một năm ba trăm sáu mươi ngày

Ước gì được sống một ngày bên em

Miếng trầu cánh phượng em têm

Trao anh tay gửi cả đêm lẫn ngày”

Nói chung, tình yêu trai gái trong ca dao xứ Nghệ rất lạc quan. Họ tin vào mình cũng như

tin vào người. Trong ca dao tình yêu xứ Nghệ, trầu cau bao giờ cũng gợi lên duyên tình đẹp đẽ

trong khuôn vi đạo hạnh nhưng vẫn tự do phóng khoáng.

Miếng trầu cau là chứng cứ của sự mãnh liệt và ngay thẳng chân tình trong tình yêu nam

nữ xứ Nghệ. Điều họ mơ ước thật chính đáng, điều họ mong muốn thật cụ thể, thiết tha, có khi

thật táo bạo nhưng cách thể hiện thì lại vô cùng sâu sắc và tế nhị. Đó cũng là tình cách của con

người xứ Nghệ.

b) Biểu tượng trúc mai

Trúc mai là hai loại cây mà mùa đông đến vẫn xanh tốt như mùa xuân. Trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du, trúc và mai tượng trưng cho tình yêu, cho lời thề gắn bó của con người :

“Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai “

Biểu tượng trúc mai là một hình tượng đẹp, thường được các tác giả dân gian sử dụng để

chỉ đôi bạn tình với nhiều cung bậc tình cảm: nhớ nhung, giận hờn, trách móc, nhắn nhủ, hi

vọng, nguyện ước. Ngoài những cách dùng thông thường ấy, có hai cách dùng chỉ có trong ca

dao xứ Nghệ. Đó là dùng riêng biểu tượng trúc với ý nghĩa tượng trưng cho người con gái xinh

xắn. Nghĩa này được sử dụng nhiều trong hát quan họ :

Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh

Trúc xinh trúc mọc bờ ao

Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh .

Biểu tượng của trúc mai trong ca dao xứ Bắc không phải lúc nào cũng được dùng cả cặp

mà nhiều khi nó được tách ra dễ dàng ghép với các biểu tượng khác như trúc tre, trúc thông với

ý nghĩa cũng giống như trúc mai :

“Trúc với thông như gừng cùng mọc

Trúc chưa ra cành thông đã ra hoa”

Trong ca dao tình yêu nam nữ xứ Nghệ, trúc mai được dùng xoắn xuýt với nhau thể hiện

tình cảm đôi lứa thắm thiết :

- “Ra về nhớ trúc nhớ mai

Nhớ Đào nhớ Lựu nhớ ai kết nguyền”

- “Trúc với mai, mai về, trúc nhớ

Trúc trở về mai nhớ trúc không

Bây giờ kẻ Bắc người Đông

Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư”

“Trúc” “mai” được dùng để diễn tả nhiều cung bậc tình cảm, nhiều cảnh ngộ tình duyên.

Đây là lời nhắn nhủ, hy vọng thể hiện sự thủy chung, chờ đợi:

Trồng trúc xin đừng trồng mai

Đã thương anh, không dám nghe ai dỗ dành

Đây là tâm trạng háo hức, mừng vui:

Trầu này cúc, trúc, mai, đào

Trầu này thục nữ anh đào sánh đôi

Có khi là sự tương tư :

Sáng trăng ngồi gốc cây mai

Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình

Và cũng có khi là sự trách móc, hờn giận, nghi ngờ :

Nom lên vườn trúc xanh non

Hỏi vườn trúc ấy có còn măng không

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng trầu cau và trúc mai là những biểu tượng quen thuộc

trong ca dao xứ Nghệ, nó nhằm nói lên phẩm chất, tình cảm con người xứ Nghệ. Tuy nhiên nếu

đem so sánh với tần số xuất hiện của mỗi loại biểu tượng với ca dao xứ Bắc như thống kê trên,

chúng ta sẽ thấy rằng biểu tượng trúc mai trong ca dao xứ Nghệ có tần số xuất hiện ít hơn.

Phải chăng ca dao xứ Bắc chịu ảnh hưởng của dòng văn học bác học nhiều hơn ca dao xứ

Nghệ? Như chúng ta biết, nhà nho, người quân tử thường tự ví mình là trúc mai. Trúc mai -

biểu tượng khí tiết thẳng thắn thanh tao của kẽ sĩ. Rõ ràng vùng đất phía bắc gần Thăng Long

nên chịu ảnh hưởng mạnh hơn. Ảnh hưởng ở đây không đơn giản ở chỗ ca dao dùng lại, mượn

lại hình tượng trúc mai của văn học viết mà quan trọng là bản thân các tác giả văn học viết cũng

tham gia sáng tác lưu truyền ca dao. Trái ngược biểu tượng Trúc mai, biểu tượng Trầu cau lại

bắt gặp nhiều trong ca dao xứ Nghệ hơn xứ Bắc. Tỉ lệ 119 lời trong ca dao xứ Nghệ trên số 41

lời trong ca dao xứ Bắc quả là con số đáng chú ý. Điều này hẳn cũng dễ hiểu một khi trong ca

dao xứ Nghệ còn gắn bó chặt chẽ với môi trường sống và lao động của nông dân.

c) Một số biểu tượng khác

Miền Trung có những cặp biểu tượng độc đáo gắn với môi trường văn hóa, điều kiện sinh

hoạt của từng tiểu vùng: ca dao xứ Nghệ hay dùng cặp biểu tượng sông Lam –Núi Hồng, xứ

Huế có sông Hương - Núi Ngự…Đây là những cặp biểu tượng độc đáo, bởi vì trong thế giới

tâm linh con người mỗi vùng đất đều có những ngọn núi, dòng sông linh thiêng làm nên biểu

tượng của vùng đất. Sự kết hợp sông núi đó thể hiện tư duy lưỡng hợp, lưỡng phân của những

cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Do đó hệ biểu tượng cặp đôi về sông núi vừa mang tính

uyển chuyển, mềm mại vừa có được sự mạnh mẽ vững chắc. Trong ca dao, những biểu tượng

như thế được sử dụng rất linh hoạt :

“ Sông Lam Giang càng ngày càng rộng

Núi Hồng Lĩnh mỗi bậc mỗi cao

Bấy lâu nay nguyệt tỏ với đào

Búp hoa tàn hết nhụy chàng tính sao bây giờ”

“Bao giờ ngàn Hồng hết cây

Sông Lam hết nước họ này hết quan”

Do được vận dụng sáng tạo và linh hoạt trong nhiều tình huống, các biểu tượng đã tạo nên

cách thể hiện độc đáo, tế nhị, tao nhã mà không bị xói mòn, khô cứng. Sự xuất hiện biểu tượng

với số lượng phong phú, cấu trúc đa dạng, phản ánh cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt của trai

gái khi yêu nhau, ý tình sâu sắc, mặn nồng. Phải chăng đó là cái “duyên thầm”, mang hương

sắc của ca dao xứ Nghệ .

Biểu tượng trong ca dao người Việt nói chung và ca dao xứ Nghệ nói riêng rất gần gũi với

lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân ta. Nhiều biểu tượng được sử dụng trong ngôn ngữ

thường ngày được đưa vào ca dao một cách tự nhiên, thế giới biểu tượng ấy rất đa dạng, phong

phú như chính bản thân cuộc sống - nơi cội nguồn đã sinh ra biểu tượng.

Khám phá biểu tượng trong ca dao xứ Nghệ sẽ góp phần làm chúng ta hiểu thêm đặc điểm

nghệ thuật của văn học dân gian xứ Nghệ.

KẾT LUẬN

Ca dao xứ Nghệ là một bộ phận rất quan trọng tạo nên sự đa dạng, phong phú cho ca dao

Việt Nam.

Ca dao xứ Nghệ có thể phát sinh từ đất Nghệ, cũng có thể được lưu truyền trên đất Nghệ,

đều được xem là ca dao xứ Nghệ, bởi vì đối với nghệ thuật dân gian, quá trình lưu truyền và

sáng tạo đồng nhất với nhau. Khảo sát ca dao xứ Nghệ qua hai bộ sách “Kho tàng ca dao xứ

Nghệ” (2 tập) và “Hát Phường Vải” chúng ta thấy ca dao xứ Nghệ giàu có, phong phú, có cái

chung và cái riêng so với ca dao các vùng miền trên đất nước.

Ca dao xứ Nghệ có những nét riêng về đặc điểm nội dung và nghệ thuật. Được hình thành,

lưu truyền và phát triển trên mảnh đất được xem là “địa linh nhân kiệt”, ca dao xứ Nghệ là một

bức tranh trọn vẹn đầy màu sắc về một vùng đất “nắng đốt mưa quay”.

1. Tìm hiểu về ca dao xứ Nghệ, chúng ta thấy những nét đặc sắc về nội dung, thể hiện

trong những vần thơ in bóng mảnh đất và con người xứ Nghệ. Những đặc điểm về địa lí, địa

danh, những làng nghề, truyền thống học hành khoa bảng, những con người bất khuất kiên

trung, cần cù chăm chỉ, chịu thương chịu khó, yêu thương mãnh liệt…đã được phản ánh trong

ca dao xứ Nghệ. Đây là những lời ca dao gắn bó mật thiết với cuộc sống sinh hoạt, lao động của

những người dân xứ Nghệ.

2. Cũng như ca dao xứ Bắc và ca dao các địa phương khác trên đất nước Việt Nam, ca dao

xứ Nghệ đã tìm được tiếng nói chung với dòng thơ trữ tình dân gian của dân tộc. Phần lớn lời

ca dao xứ Nghệ được sáng tác theo thể lục bát (hơn 95 %), các thể thơ còn lại chỉ chiếm 5 %.

Tuy nhiên mỗi thể loại có một vai trò, ý nghĩa riêng của nó và tất cả đều góp sức mình vào việc

thể hiện những cảm xúc phong phú, nhiều cung bậc của con người xứ Nghệ, đưa ca dao xứ

Nghệ gần gũi, thống nhất với ca dao dân tộc, nhưng đồng thời cũng giữ được phần bản sắc

riêng của mình.

Cái để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong mỗi người khi đến với ca dao xứ Nghệ chính là

những nét độc đáo riêng của nó. Cái riêng ấy nằm trong những hình thức biến thể của các thể

thơ. Có thể nói, hiếm có ca dao địa phương nào lại có nhiều biến thể như ca dao xứ Nghệ. Biến

thể lục bát, biến thể song thất lục bát, biến thể bốn, năm chữ, biến thể bảy chữ…Ở từng loại lại

có những dạng biến thể khác nhau. Có biến thể dòng lục, dòng bát, biến thể cả dòng lục lẫn

dòng bát, có biến thể âm, vần, biến thể cấu trúc, có biến thể cặp song thất, biến thể cả cặp song

thất lẫn lục bát trong thể song thất lục bát, lại có cả biến thể theo hình thức tăng âm tiết, giảm

âm tiết, kết hợp tăng, giảm âm tiết. Tất cả những hình thức biến thể ấy đã làm cho nội dung ca

dao xứ Nghệ được thể hiện sâu sắc hơn, phong phú hơn. Có thể nói, nếu sự giàu có về thể loại

đã giúp cho ca dao xứ Nghệ có được một khối lượng nội dung lớn thì những hình thức biến thể

đa dạng lại giúp những nhà thơ dân gian có điều kiện lựa chọn những hình thức phù hợp với nội

dung.

Sự xuất hiện nhiều biến thể trong ca dao Nghệ là do lời ca dao gắn với hoạt động diễn

xướng: “Đây là thơ để hát, không phải chỉ là lời để hát. Lời thơ, lời mang tính thơ để hát, đặc

điểm này dẫn đến sự biến hóa, biến thể rất mực giàu có của ca dao về mặt cấu tạo ngôn từ thơ,

tổ chức ngôn từ thơ do nhu cầu ca hát lúc đầu đòi hỏi…Sau này khi nói, ca dao vẫn giữ được

lợi thế của thơ về mặt vần và nhịp cũng nhờ như vậy” [184]. Mặt khác, lớn hơn, đó là do nhu

cầu thể hiện, bộc lộ của tác giả dân gian. Nhu cầu ấy đã khiến cho khuôn hình cố định của các

thể thơ bị phá vỡ, biến thành một hình thức mới phóng túng, tự do hơn, nhưng vì thế, nhiều lúc

cũng lỏng lẻo hơn. Cái chính là nó đem lại hiệu quả nghệ thuật rõ rệt hơn. Đây cũng là một

đóng góp làm phong phú thêm thể thơ trong ca dao Việt Nam.

3. Số lượng các lớp từ địa phương và từ Hán Việt trong ca dao xứ Nghệ khá phong phú.

Từ địa phương tạo nên chất dân dã, mộc mạc, cái đẹp hồn nhiên, thuần phác của ca dao. Các từ

Hán Việt mang lại vẻ trang trọng, giàu tính hình tượng, tính biểu cảm. Tỉ lệ sử dụng từ Hán

Việt trong HPV khá cao (299/1000 lượt câu). Từ địa phương và từ Hán Việt thuộc phong cách

văn chương, có giá trị biểu cảm cao được phân bố, tập trung ở đề tài tình yêu. Những từ địa

phương và từ Hán Việt thuộc phong cách sinh hoạt xuất hiện phổ biến trong những lời ca dao

phê phán các thói hư tật xấu và các hủ tục. Sự phân bố từ địa phương và các từ Hán Việt không

phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn chủ quan của người sáng tạo (nho sĩ trí thức hay quần chúng

lao động) mà còn phụ thuộc vào kết cấu, nội dụng đề tài, mục đích giao tiếp và phong cách của

từng thể loại.

4. Đặc biệt là các biểu tượng trong ca dao xứ Nghệ. Các biểu tượng trúc mai, trầu cau, núi

Hồng, sông Lam.. rất phong phú. Những biểu tượng này nói lên phẩm chất, tình cảm của con

người xứ Nghệ. Nếu đem so sánh tần số xuất hiện của mỗi loại biểu tượng với ca dao xứ Bắc

chúng ta thấy biểu tượng trúc mai trong ca dao xứ Nghệ có tần số xuất hiện ít hơn. Ngược lại,

biểu tượng trầu cau lại bắt gặp trong ca dao xứ Nghệ nhiều hơn trong ca dao xứ Bắc. Điều này

cũng dễ hiểu, nó nói lên sự gắn bó của ca dao xứ Nghệ với môi trường sống và lao động của

người nông dân.

Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của ca dao xứ Nghệ chúng ta hiểu thêm về một miền ca dao

có những bản sắc riêng, còn giữ được nét cổ sơ của văn nghệ dân gian. Hòa nhập vào nền văn

hoá chung của dân tộc, ca dao xứ Nghệ đã góp phần làm phong phú kho tàng văn hoá tinh thần

của con người Việt Nam. Hiểu ca dao xứ Nghệ, chúng ta hiểu tâm tư, tình cảm và tài năng sáng

tạo của người dân xứ Nghệ, cũng từ đó hiểu được những giá trị tinh thần của người Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Thị An (1990), “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu”, Tạp chí văn

học, (6), tr.54-59.

2. Trần Thị An, Nguyễn Thị Huế (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập IV

quyển 1, Tục ngữ - ca dao, NXB Giáo dục.

3. Nguyễn Chung Anh (1958), Hát ví Nghệ Tĩnh, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội.

4. Chu Văn Ba (2003), Ngôn ngữ Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc.

5. Bakhtin (1991), Những vấn đề khoa học của văn học, Hà Nội.

6. Nguyễn Nhã Bản (1996), “Đặc trưng văn hóa người Nghệ Tĩnh”, Trên dẫn liệu ngôn

ngữ, tạp chí văn hoá dân gian (1).

7. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ

điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, NXB văn hoá.

8. Nguyễn Nhã Bản (1993), “Bàn thêm về hình thức hát giặm Nghệ Tĩnh”, Tạp chí văn hoá

dân gian,(1), Hà Nội.

9. Nguyễn Nhã Bản chủ biên (2001), “Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh”, Trên dẫn

liệu ngôn ngữ, NXB Nghệ An.

10. Nguyễn Nhã Bản, Phan Thị Vẽ (1997), “Chơi chữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh”,

Ngôn ngữ, (2).

11. Nguyễn Nhã Bản và Phan Xuân Đạm (2001), “Về địa danh Nghệ Tĩnh”, TBKH, Đại học

Vinh.

12. Nguyễn Văn Bản (1985), Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, Sở Văn Hoá thông

tin Quảng Nam – Đà Nẵng xuất bản.

13. Barbier (v) (1920), Ngữ âm học An Nam.

14. Nguyễn Chí Bền (1993), “Thiên nhiên và văn hóa dân gian của người Việt đồng bằng

sông Cửu Long”, Tạp chí dân tộc học (1).

15. Bùi Huy Bích, Nghệ An thi tập, sách Hán chép tay.

16. Phạm Hưng Bình (1996), “Về một đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca sưu tầm ở

Quảng Nam - Đà Nẵng”, Văn hóa dân gian, Hà Nội, (2).

17. Tôn Thất Bình (1994), Dân ca Bình Trị Thiên, NXB Thuận Hóa, Huế.

18. Trần Hòa Bình (1985), “Ca dao Đồng Tháp Mười”, Văn hoá dân gian, (2).

19. Võ Bình (1985), “Vần trong thơ lục bát”, Ngôn ngữ, (số phụ 1), trang 12,15.

20. Lê Xuân Bột (2003), “Từ ngữ Hán - Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở Nam Bộ”,

Ngôn ngữ và đời sống, (7).

21. Bộ quốc gia giáo dục (1962), Hồng Đức bản đồ, Tủ sách viện khảo cổ, Sài Gòn.

22. Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình (1985), “Thử bàn thêm về thể thơ lục bát”, Tạp chí văn hóa

dân gian (3),(4).

23. Hoàng Trọng Canh (1995), “Một vài nhận xét bước đầu về âm và nghĩa từ địa phương

Nghệ Tĩnh”, Ngôn ngữ, (1), Trang 31-46.

24. Phan Mậu Cảnh (1995), “Suy nghĩ về mấy lời hát ví”, Văn hóa dân gian (5).

25. Nguyễn Phương Châm (1997), “Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ

Bắc”, Tạp chí văn hóa dân gian, (3)

26. Nguyễn Phương Châm (1998), “Tính chất bác học trong ca dao xứ Nghệ”, Văn hoá dân

gian, (3), Trang 46-54.

27. Nguyễn Phương Châm (2001), “Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở

Nam Bộ”, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, (6).

28. Hàn Châu (1974), “Tục ăn trầu và sinh hoạt tinh thần của người Việt”, Tạp chí dân tộc

học, (2), trang 7-19.

29. Jen Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà

Nẵng.

30. Nguyễn Đổng Chi khảo cứu (1944), Hát giặm Nghệ Tĩnh, Tân Việt, Hà Nội

31. Nguyễn Đổng Chi (1962), Hát giặm Nghệ Tĩnh, Tập 1, Nhà xuất bản khoa học Hà Nội.

32. Nguyễn Đổng Chi (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, Tập 2, Nhà xuất bản sử học Hà Nội.

33. Nguyễn Đổng Chi (1964), Vè Nghệ Tĩnh, 2 tập, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.

34. Nguyễn Đổng Chi (1964), “Vấn đề sử dụng tài liệu văn học dân gian”, Nghiên cứu lịch

sử, (63), Hà Nội.

35. Nguyễn Đổng Chi (1967), “Văn học dân gian là một kho tàng quý báu cho sử học”, Tạp

chí Văn học, (1), Hà Nội.

36. Nguyễn Đổng Chi (1971), “Qua việc khoanh vùng sưu tầm văn học dân gian tại một xã

thí điểm”, Tạp chí văn học, (6), Hà Nội.

37. Nguyễn Đổng Chi chủ biên (1995), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản

Nghệ An.

38. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, tập

1,2, NXB Nghệ An.

39. Nguyễn Đổng Chi – Ninh Viết Giao biên soạn, (1996), Ca dao Nghệ Tĩnh – Sở văn hoá

thông tin Nghệ Tĩnh.

40. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Sử học.

41. Mai Ngọc Chừ (1989), Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện ý nghĩa của lục bát

biến thể”, tạp chí văn hoá dân gian, (2).

42. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Tạp chí văn học, (2).

43. Phan Xuân Đạm, Nguyễn Nhã Bản (2002), Địa danh trong thơ dân gian Xứ Nghệ, Ngôn

Ngữ và Văn Hóa.

44. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành, Tủ

sách Đại học Tổng hợp TP.HCM xuất bản.

45. Chu Xuân Diên (1981), “Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”, Tạp chí văn

học, (5).

46. Chu Xuân Diên (1997), “Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hóa dân gian”,

Tạp chí văn học ,(9).

47. Hoàng Diệp, Thiết Mai (1962), “Thú hát ví ở Nghệ An, Hà Tĩnh”, Văn hóa nguyệt san,

Sài Gòn, (69).

48. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người

Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

49. Xuân Diệu (1967), “Các nhà thơ học tập những gì ở ca dao”, Tạp chí văn học, (1)

50. Nguyễn Kim Đính (1985), “Một số vấn đề về thi pháp của nghệ thuật ngôn từ”, Tạp chí

văn học, (5,6), trang 102-112.

51. Cao Huy Đỉnh (1966), “Lối đối đáp trong ca dao trữ tình”, Tạp chí văn học, (9), trang 10-

14.

52. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nhà xuất bản

khoa học xã hội, Hà Nội.

53. Phạm Đức Duật (chủ biên)(1981), Văn học dân gian Thái Bình, NXB Khoa học xã hội.

54. Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán (1965), Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển

13,14, Tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh (dịch giả Đông Kinh Đặng Chu Kình), NXB Văn

Hóa BVH giáo dục Sài Gòn.

55. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp Tiếng Việt – Từ loại, NXB đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội.

56. Hà Minh Đức (chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng,

Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lý Hoài Thu (1995),

Lý luận văn học, NXB GD, Hà Nội.

57. Nguyễn Xuân Đức (1997), “Tiếng Nghệ trong ngôn ngữ văn học dân tộc”, Tạp chí văn

hoá dân gian, (3).

58. Nguyễn Xuân Đức (2002), “Về thể thơ lục bát trong ca dao”, Tạp chí văn học, (2).

59. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1994), Ca dao trữ tình Việt Nam, NXB Giáo

dục.

60. Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên (1999), Từ ngữ điển cố văn học, NXB Văn học,

Hà Nội.

61. Ninh Viết Giao (1978), Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh xuất bản.

62. Ninh Viết Giao (1978), “Hào khí Hoan Châu qua một số thơ văn của các sĩ phu yêu nước

Nghệ Tĩnh”, Văn nghệ Nghệ Tĩnh,(3).

63. Ninh Viết Giao (1978), “Sinh hoạt văn nghệ trong làng xã ở Nghệ Tĩnh trước cách mạng

tháng tám”, trong Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, NXB khoa học xã hội, Hà

Nội.

64. Ninh Viết Giao (1978), “Nghệ nhân dân gian trong làng hát ví ở Nghệ Tĩnh”, Tạp chí văn

học, (4).

65. Ninh Viết Giao (1982), Về văn học dân gian Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh, Vinh.

66. Ninh Viết Giao (1993), Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ, NXB Nghệ An.

67. Ninh Viết Giao (1993), Hát phường vải, NXB Nghệ An.

68. Ninh Viết Giao (1995), Thơ văn nhà nho Xứ Nghệ, NXB văn hóa thông tin, Hà Nội.

69. Ninh Viết Giao (chủ biên) (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, tập 1,2, NXB Nghệ An.

70. Ninh Viết Giao (1996), “Về ca dao của người Việt ở xứ Nghệ”, trong Kho tàng ca dao xứ

Nghệ, NXB Nghệ An.

71. Ninh Viết Giao (chủ biên) (1999), Kho tàng vè xứ Nghệ, NXB Nghệ An.

72. Ninh Viết Giao sưu tầm và giới thiệu (1999-2000), Kho tàng vè xứ Nghệ, NXB Nghệ An.

73. Ninh Viết Giao (chủ biên) (2000), Kho tàng vè xứ Nghệ, NXB Nghệ An.

74. Ninh Viết Giao (2001), Hát phường vải, NXB văn hóa thông tin, trung tâm văn hóa ngôn

ngữ Đông Tây.

75. Ninh Viết Giao (2006), Nghệ An đát phát nhân tài, NXB trẻ.

76. Ninh Viết Giao (2008), Câu đố Việt Nam, NXB Sử địa, Hà Nội.

77. G.N. PôxPelôp (chủ biên) (1997), Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo dục.

78. Hồ Thu Hà (1997), Đặc sắc một thể loại của vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Văn hóa

dân gian, (12).

79. Lê Thị Thu Hà (2006), Vè chống Pháp ở xứ Nghệ từ góc nhìn văn hóa học, luận văn thạc

sĩ văn hóa học, viện nghiên cứu văn hóa dân gian.

80. Dương Quảng Hàm (1993), Việt Nam văn học sử yếu, Nhà xuất bản Đồng Tháp.

81. Lê Hằng (2000), “Dân ca xứ Nghệ và xây dựng môi trường hát dân ca ở Nghệ An”, Văn

hóa Nghệ Thuật, Nghệ An.

82. Nguyễn Mỹ Hạnh (1992), “Hò ví và giặm Nghệ Tĩnh”, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật,

(6).

83. Lê Văn Hảo (1996), “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca:

Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ”, Kỷ yếu hội thảo khoa học

văn học dân gian miền trung lần thứ I.

84. Lê Văn Hảo (1996), “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca:

Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ”, Kỷ yếu hội thảo khoa học

văn học dân gian miền trung lần thứ I.

85. Phạm Văn Hảo (1994), “Mấy vấn đề về từ ngữ địa phương trong sưu tâm, giới thiệu vốn

từ ngữ, ca dao”, Văn hóa dân gian, (3).

86. Vũ Tố Hảo (1990), “Vài ghi nhận về con người và bản sắc văn hóa Nghệ Tĩnh”, Văn hoá

dân gian, (3), Trang 69-72.

87. Cao Xuân Hạo (1991), Sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập I, NXB khoa học xã hội, Hà

Nội.

88. Nguyễn Văn Hậu (2000), “Biểu tượng như là “đơn vị cơ bản”của văn hoá”, Tạp chí văn

hóa và nghệ thuật, (7), Trang 24-30.

89. Đỗ Thị Hoà, 2002, “Vài nét về biểu tượng trong ca dao người Việt”, Kỷ yếu ngữ học trẻ.

90. Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giáo dục.

91. Đặng Mai Hồng (1985), “Hò và ví Nghệ Tĩnh”, Nghiên cứu nghệ thuật, Hà Nội, (2,3).

92. Nguyễn Quang Hồng (1981), Các lớp từ địa phương và chức năng của chúng trong ngôn

ngữ văn hóa tiếng Việt, NXB khoa học xã hội, Hà Nội.

93. Bùi Công Hùng (1988), “Biểu tượng thơ ca”, Tạp chí văn hoá, trang 69-74.

94. Hồ Xuân Hùng (1996), “Cảm nghĩ về ca dao xứ Nghệ”, Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Nhà

xuất bản Nghệ An.

95. Nguyễn Văn Hùng (1997), “Xứ Nghệ một vùng ca dao”, Văn hoá dân gian, (1).

96. Nguyễn Duy Hương (1997), “Nói lái ở xứ Nghệ”, Ngôn ngữ và đời sống, (6).

97. Nguyễn Văn Huyên (1995-1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam, NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội.

98. Đào Đang Hy (1938), Địa dư Tỉnh Nghệ An, Ina, Vinh.

99. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (1977), Điển cố văn học, NXB khoa học xã hội, Hà Nội.

100. Đinh Gia Khánh (1967), “Văn học dân gian các địa phương và vai trò của nghệ thuật dân

gian”, Tạp chí văn học (1), Hà Nội.

101. Đinh Gia Khánh (1997), “Thử tìm hiểu cơ sở lịch sử xã hội học của vùng văn hóa dân

gian Nghệ Tĩnh”, Văn hoá truyền thống của các tỉnh Bắc Trung Bộ, NXB khoa

học, Hà Nội.

102. Đinh Gia Khánh (chủ biên), (2000), Văn học dân gian Việt Nam, NXB giáo dục, Hà Nội.

103. Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (1995), Các vùng văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà

Nội.

104. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian với sự phát triển của xã hội Việt Nam, NXB

chính trị quốc gia,(2).

105. Vũ Ngọc Khánh (1991), Dẫn luận nghiên cứu folklore Việt Nam, Sở giáo dục Thanh Hóa

xuất bản.

106. Vũ Ngọc Khánh, (1987), “Từ những hình tượng dân gian chung quanh 99 ngọn non hồng

đến phong cách người xứ Nghệ”, Văn hóa dân gian, (2).

107. Hồ Xuân Kiều (1999), “Nghĩa từ chắc trong tiếng Nghệ Tĩnh”, Ngôn ngữ và đời sống,

(7).

108. Thái Kim (1992), “Tản mạn về hát giặm”, Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, (6).

109. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXB khoa học xã hội, Hà Nội.

110. Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao người Việt,

NXB văn hóa thông tin, Hà Nội.

111. Nguyễn Xuân Kính – Phan Hồng Sơn – Đinh Gia Khánh (chủ biên) (1995), Ca dao Việt

Nam, NXB tổng hợp Đồng Tháp.

112. Nguyễn Xuân Kính (1991), “Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp văn học nghệ

thuật dân gian”, Văn hóa dân gian, (3), Trang 3-11.

113. Nguyễn Xuân Kính (1982), “Về tên riêng chỉ địa điểm trong dân ca, ca dao”, Tạp chí văn

học, (4).

114. Nguyễn Xuân Kính (1987), “Ý Nghĩa biểu cảm của hai từ trúc, mai trong văn chương

bác học và trong ca dao, dân ca”, Tạp chí văn hóa dân gian, (4)

115. Nguyễn Xuân Kính (1990), “Những đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể thơ lục

bát”, Văn hóa dân gian, (H).

116. Nguyễn Xuân Kính (2000), “Hai nét riêng của ca dao, Hà Nội”, Tạp chí văn hóa nghệ

thuật, Hà Nội, (9).

117. Nguyễn Xuân Kính (1992), “Thể thơ trong ca dao”, Văn hóa dân gian, (4).

118. Nguyễn Xuân Kính (2007), “Ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán, Trung Quốc đối với thơ

ca dân gian người Việt”, Nghiên cứu văn học, (4).

119. Nguyễn Xuân Kính (2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt, Ca dao, tập 12, NXB

Khoa học xã hội, Hà Nội.

120. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hoà (1995), Phong cách học tiếng Việt, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

121. Trần Danh Lâm (1990), Hoan châu phong thổ thoại, NXB trẻ.

122. Mã Giang Lân, Nguyễn Đình Bưu (1976), Hát ví Đồng Bằng Hà Bắc, Ty văn hóa Hà

Bắc xuất bản.

123. Bùi Dương Lịch (2001), Nghệ An Kí, NXB Khoa học xã hội.

124. Trần Kim Liên (2004), “Tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao người Việt dưới con

mắt các nhà nghiên cứu”, Tạp chí văn hoá dân gian, (4).

125. Trần Kim Liên (2004), “Tính thống nhất về sắc thái riêng của thể thơ lục bát trong ca dao

ba miền Bắc, Trung, Nam”, Văn hóa dân gian, (1).

126. Ưng Luân (1995-1996), Ca dao xứ Huế bình giảng, Sở văn hóa thông tin Thừa Thiên

Huế xuất bản.

127. Ưng Luân (1999), Ca dao xứ Huế bình giảng toàn tập, Sở văn hóa thông tin Thừa Thiên

Huế xuất bản.

128. Đặng Văn Lung (1978), “Về tên gọi dân ca”, Tạp chí Ngôn ngữ học (4), Hà Nội.

129. Đặng Văn Lung (1980), Về một vùng ca dao Nghệ Tĩnh, Tạp chí văn học, (6).

130. Đặng Thai Mai (1958), Văn thơ Phan Bội Châu, NXB Văn hoá.

131. Trần Thùy Mai, “Ca dao tình yêu và tình cảnh con người ở Bình Trị Thiên”, Kỉ yếu hội

thảo khoa học văn học dân gian miền Trung lần thứ I.

132. Nguyễn Văn Nam (2003), “Xu hướng lựa chọn cái biểu đạt trong sự hình thành các biểu

trưng nghệ thuật của ca dao Nam Bộ”, Tạp chí văn học dân gian (2).

133. Trần Văn Nam (1999), “Ý nghĩa biểu trưng của hình tượng thiên nhiên trong ca dao Nam

Bộ”, Tạp chí văn hóa dân gian (2), trang 72-75.

134. Phan Ngọc (1984), “Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát”, Sông Hương, Huế (9).

135. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB văn hóa Việt Nam,

136. Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang và Hoàng Chương (1963), Dân ca Nam Trung Bộ, 2

tập, NXB văn hoá, Hà Nội.

137. Trần Việt Ngữ, Thành Duy (1967), Dân ca Bình Trị Thiên, NXB Văn học, Hà Nội.

138. Bùi Văn Nguyên – Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại (in lần

thứ 2), NXB khoa học xã hội.

139. Bùi Văn Nguyên (1977), “Thử tìm hiểu giọng nói Nghệ Tĩnh trong hệ thống giọng nói

chung của cả nước”, Ngôn ngữ, (4), trang 34-41.

140. Hoài Nguyên, Bình Sơn (1999), “Âm thanh xứ Nghệ trong thơ ca dân gian”, Ngôn ngữ

và đời sống, (9).

141. Triều Nguyên (2000), Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt, NXB Thuận Hóa,

Huế.

142. Trương Thị Nhàn (1991), “Giá trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong

ca dao cổ truyền Việt Nam”, Tạp chí văn hóa dân gian, (3), trang 46-52.

143. Nhà Xuất bản sử học (1960), Lịch triều hiến chương loại chí.

144. NXB Khoa học xã hội (1970), Đại Nam Nhất Thống chí của Quốc Sử quán triều

Nguyễn, Hà Nội.

145. NXB Giáo dục (1992), Sách giáo khoa Tiếng Việt 11.

146. NXB Nghệ Tĩnh (1981,1983), Danh nhân Nghệ Tĩnh, tập 1,2.

147. NXB âm nhạc Hà Nội (1960,1961), Dân ca Thanh Nghệ Tĩnh, tập 1,2.

148. Phan Đăng Nhật (1978), “Hiện tượng và tên gọi dân ca, ca dao”, Tạp chí văn học, Hà

Nội. (2).

149. Nhiều tác giả (1984), Lịch sử Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ Tĩnh, Vinh.

150. Bùi Mạnh Nhị (1984), Một số đặc điểm ngôn ngữ của ca dao – dân ca Nam bộ”, Tạp chí

ngôn ngữ, (1), trang 26-32.

151. Bùi Mạnh Nhị (1988), Phân tích tác phẩm văn học dân gian, Sở Giáo dục An Giang xuất

Bản.

152. Bùi Mạnh Nhị (1998), Thời gian nghệ thuật trong ca dao – dân ca trữ tình”, Tạp chí văn

học, (4), Trang 30-36.

153. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (1999), Văn học dân gian –

Những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục Tp.HCM.

154. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Văn học dân gian –

Những tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Tp.HCM.

155. Bùi Mạnh Nhị, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh (1984), Ca dao – dân

ca Nam Bộ, NXB TP HCM.

156. Bùi Mạnh Nhị (1980), Ca dao miền Nam về chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB TP Hồ Chí

Minh.

157. Bùi Mạnh Nhị (2000), “Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao – dân ca

trữ tình”, Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm nghiên cứu văn hóa, văn nghệ

dân gian, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB văn hoá dân tộc, Trang 423-439,

Hà Nội.

158. Nhóm Lam Sơn sưu tầm, biên soạn (1963), Ca dao sưu tầm ở Thanh Hóa, NXB Văn

học.

159. Hồ Tuấn Niêm dịch (1981), Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới.

160. Vũ Ngọc Phan (1976), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (in lần thứ tám), NXB khoa học

xã hội, Hà Nội.

161. Vi Phong (1992), Đôi điều về hát ví và sức mở cửa dân ca Nghệ Tĩnh, (6).

162. Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát, NXB Khoa học xã hội.

163. Thạch Phương, Ngô Quang Hiển (1994), Ca dao Nam Trung Bộ, NXB Khoa học xã hội,

Hà Nội.

164. Hoàng Sỹ Quý (1980), “Tục ăn trầu trên thế giới”, Tạp chí Phương Đông, Sài Gòn, (8 và

9), trang 109-121.

165. Jakốpsơn.R (1960), “Ngôn ngữ học và thi học”, (Cao xuân Hạo dịch).

166. Trịnh Sâm (1986), “Phương ngữ và ca dao dân ca địa phương”, Tạp chí văn học, (5).

167. Vũ Tuấn Sáu (1942), “Tinh thần miền Nghệ Tĩnh”, Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, (77).

168. Bình Sen - Trí Sơn (1995), “Văn hoá người Nghệ Tĩnh”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam

Á, (1).

169. Trần Đình Sử, Phương Lựu (1986-1987), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

170. Nguyễn Thanh, “Từ địa thế con người nhìn vào dân ca xứ Nghệ”, Văn hóa Nghệ thuật

Nghệ An.

171. Sông Thao, Đặng Văn Lung (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam tập IV, quyển

II – dân ca, NXB giáo dục.

172. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Thành Phố Hồ

Chí Minh.

173. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB trẻ.

174. Trương Xuân Tiếu (1997), “Đất nước con người xứ Nghệ qua kho tàng ca dao xứ Nghệ”,

Tạp chí văn hóa dân gian, (3).

175. Đào Tam Tĩnh (2000), Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Sở văn hóa thông tin Nghệ An.

176. Nguyễn Khánh Toàn (1980), “Truyền thống văn hóa dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, (10).

177. Lê Ngọc Trà (1991), Lí luận và văn học, NXB Trẻ

178. Lê Ngọc Trà (1998), “Giữ gìn văn hoá truyền thống và phát triển văn hoá của dân tộc”,

Văn hoá nghệ thuật, (5), tr 14-16.

179. Lê Ngọc Trà (1999), “Văn hoá tương tác và phát triển”, Văn hoá nghệ thuật,(6),tr 3-5.

180. Lê Ngọc Trà (2001), Văn hoá Việt Nam, đặc trưng và cách tiếp cận, NXB GD.

181. Lê Ngọc Trà (2002), Thách thức của sáng tạo, thách thức của văn hoá, NXB Thanh

niên.

182. Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương, thẩm mĩ và văn hoá, NXB GD.

183. Đặng Diệu Trang (2003), “Sinh hoạt diễn xướng môi trường nảy sinh và phát triển của

ngôn ngữ ca dao”, Văn hóa dân gian, (5).

184. Hoàng Trinh (1986), Đối thoại Văn Học – NXB Hà Nội.

185. Hoàng Tiến Tựu (1990), Ca dao trong văn học dân gian Việt Nam, NXB giáo dục, tập 2.

186. Hoàng Tiến Tựu (1998), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

187. Sách Hán chép tay, Ngũ man phong thổ ký.

188. Trần Quốc Vượng (1995), Một cái nhìn địa văn hóa về xứ Nghệ trong bối cảnh miền

Trung.

189. Lê Thu Yến (2002), Nguyễn Du và Truyện Kiều trong cảm hứng thơ người đời sau, NXB

GD.

190. Lê Thu Yến (2002), Nhà văn trong nhà trường, Nguyễn Du, NXB GD.

191. Phạm Thu Yến (1999), “Vấn đề nghiên cứu biểu tượng thơ ca dân gian”, Tạp chí văn

học, (4), trang 35-40.