BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hà Thị Thới
TRUYỆN DÂN GIAN TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hà Thị Thới
TRUYỆN DÂN GIAN TÂY NINH
Chuyên ngành
: Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ QUỐC HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Người thực hiện
Hà Thị Thới
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt
Nam với đề tài Truyện dân gian Tây Ninh, tôi đã nhận được sự quan tâm
của Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh,
của quý thầy cô giảng dạy chuyên ngành Văn học Việt Nam (Cao học khóa
23 – Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh). Đặc biệt, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ hết sức tận tình và nhiệt thành của Tiến sĩ Hồ Quốc Hùng, người trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này. Song song đó, trong quá trình điền
dã, sưu tầm, nghiên cứu đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
người dân địa phương Tây Ninh, các tổ chức văn hóa ở Tây Ninh (Thư viện
tỉnh Tây Ninh, Bảo tàng tỉnh Tây Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh
Tây Ninh).
Tôi xin kính gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Hồ Quốc Hùng, Ban chủ nhiệm
khoa Ngữ văn, quý thầy cô, các phòng ban của trường Đại học Sư phạm Tp.
Hồ Chí Minh (Phòng Sau đại học, Thư viện trường), các tổ chức văn hóa ở
Tây Ninh và người dân Tây Ninh cũng như gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Thị Thới
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ...................................................... 10
1.1. Những vấn đề về lý thuyết có liên quan đến đề tài .............................. 10
1.1.1. Từ lý thuyết đến ứng dụng bước đầu trong công tác sưu tầm,
nghiên cứu Truyện dân gian Tây Ninh ......................................... 10
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa – tín ngưỡng ...... 18
1.2. Những vấn đề về đời sống văn hóa – tín ngưỡng của cư dân ở Tây Ninh ....... 23
1.2.1. Quá trình cộng cư giữa các tộc người ở Tây Ninh ....................... 24
1.2.2. Mối quan hệ giữa các tộc người về đời sống văn hóa – tín
ngưỡng ở Tây Ninh ....................................................................... 26
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 34
Chương 2. TÌNH HÌNH TƯ LIỆU VÀ PHÂN LOẠI, MÔ TẢ TƯ LIỆU .... 36
2.1. Tình hình tư liệu ................................................................................... 36
2.1.1. Tư liệu đã được công bố ............................................................... 36
2.1.2. Tư liệu sưu tầm, điền dã ................................................................ 41
2.2. Phân loại và mô tả tư liệu ..................................................................... 45
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 61
Chương 3. ĐẶC TRƯNG TRUYỀN THUYẾT TÂY NINH ................... 62
3.1. Đề tài .................................................................................................... 62
3.1.1. Truyền thuyết Tây Ninh gắn với lịch sử khai phá, hình thành
vùng đất ......................................................................................... 62
3.1.2. Truyền thuyết Tây Ninh gắn với địa danh, in đậm dấu tích địa phương ............ 65
3.1.3. Truyền thuyết Tây Ninh có mối liên quan mật thiết với tín
ngưỡng dân gian và tôn giáo ......................................................... 71
3.2. Cấu tạo cốt truyện ................................................................................ 76
3.2.1. Cấu tạo truyền thuyết lịch sử Tây Ninh ........................................ 78
3.2.2. Cấu tạo truyền thuyết địa danh Tây Ninh ..................................... 90
3.2.3. Cấu tạo truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Tây Ninh ..... 96
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 109
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tây Ninh là một tỉnh biên giới được hình thành với thời gian khoảng 300
năm, nằm ở phía Nam, tiếp giáp với Campuchia. Tây Ninh có vị trí chiến lược
trong an ninh, quốc phòng cũng như ngoại giao về kinh tế, văn hóa,… Xét
thấy đây là một địa phương có bề dày lịch sử văn hóa trong tổng thể của lịch
sử văn hóa vùng, miền cũng như có nhiều sự giao thoa giữa các lằn ranh văn
hóa giữa các tộc người, giữa các tôn giáo tạo nên một bản sắc văn hóa đặc
trưng của địa phương. Nhưng trong thực tế, Tây Ninh chưa được các nhà
nghiên cứu lưu tâm, nhận diện và đánh giá, chúng tôi có một sự phân vân và
vướng mắc vì lý do nào Tây Ninh “bị lãng quên” trong các công trình nghiên
cứu? Phải chăng vì vùng đất này thật sự không có gì đặc sắc về văn học dân
gian, văn hóa dân gian? Hay vì một lý do nào khác phụ thuộc vào điều kiện
của các nhà nghiên cứu?
Hướng nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa, nghiên cứu văn
học dân gian địa phương hiện nay được các nhà nghiên cứu dành một sự quan
tâm không nhỏ, nhưng xét thấy văn học dân gian ở Tây Ninh chưa được lưu ý
đúng mức. Nhất là truyện dân gian ở đây chưa được sưu tầm, gìn giữ. Mặc dù
đã có những cuộc điền dã, thực tế được tổ chức ở Nam Bộ nhưng phần lớn tập
trung ở các địa phương khác như Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang,…Trên thực
tế, truyện dân gian Tây Ninh chỉ được tồn tại một vài bản kể rải rác trong các
công trình sưu tầm, tổng hợp truyện dân gian của các tác giả (vấn đề này,
chúng tôi sẽ trình bày cụ thể trong phần Tình hình tư liệu ở chương 2).
Chúng tôi chọn đề tài này với lý do muốn góp phần tìm hiểu đặc điểm
văn học dân gian Tây Ninh, đặc biệt là ở phần truyện dân gian. Bởi vì trong
chỉnh thể văn học dân gian, truyện dân gian là bằng chứng lịch sử - văn hóa
2
sống động nhất, là bộ phận phản ánh rõ nét và đầy đủ nhất lịch sử - đời sống
của cộng đồng. Cụ thể, chúng tôi muốn hướng đến tìm hiểu vai trò, ý nghĩa
của truyện dân gian trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Tây Ninh,
cũng như mối quan hệ giữa bộ phận truyện dân gian (trong chỉnh thể văn học
dân gian) với văn hóa dân gian Tây Ninh.
Trong quá trình điền dã, sưu tầm tư liệu, chúng tôi muốn góp phần nhỏ
vào công cuộc bảo tồn, lưu giữ truyện dân gian (Tây Ninh) – vốn được xem là
“di sản tinh thần”, một nét đẹp văn hóa của dân gian (Tây Ninh).
Ngoài ra, chúng tôi muốn đề tài nghiên cứu này sẽ là một món quà tri ân
đối với quê hương Tây Ninh – cái nôi tinh thần nuôi dưỡng bản thân người
nghiên cứu đề tài.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một điều chúng tôi cần lưu ý ngay từ đầu là trong phần này chúng tôi chỉ
điểm qua những công trình sưu tầm, tổng hợp có sự “góp mặt” của truyện dân
gian Tây Ninh và những công trình mang tính chất nghiên cứu có liên quan
trực tiếp đến đời sống văn hóa – tín ngưỡng, văn học dân gian ở Tây Ninh.
Những công trình mang tính chất nghiên cứu, sưu tầm chung của vùng Nam
Bộ, tuy Tây Ninh là một bộ phận nhưng không đề cập trực tiếp đến đề tài, tức
văn hóa dân gian, văn học dân gian (truyện dân gian) Tây Ninh, chúng tôi
cũng xin được phép không nhắc đến. Chúng tôi không chủ ý phân loại tài liệu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu vì xét về số lượng cũng không nhiều, nên
chúng tôi chỉ điểm qua các tài liệu này với trình tự thời gian ra đời trước, sau
của chúng.
1/ Tây Ninh xưa và nay (1971), Huỳnh Minh sưu khảo và tự xuất bản,
sau được nhà xuất bản Thanh niên hiệu đính và xuất bản vào năm 2001 với
tên gọi là Tây Ninh xưa. Công trình Tây Ninh xưa và nay được tác giả chia
làm 7 phần, theo thứ tự từng phần tác giả trình bày đi từ khái quát đến cụ thể
về lịch sử, văn hóa, con người Tây Ninh. Theo tuần tự, phần 1, tác giả tìm về
3
lịch sử hình thành cũng như về điều kiện tự nhiên vùng đất Tây Ninh qua các
thời đại từ khi cư dân mới định hình đời sống ở đây. Phần 2, tác giả điểm qua
các di tích lịch sử ở Tây Ninh, kết hợp với việc giới thiệu các di tích là việc
sưu tầm các bản kể truyện dân gian gắn liền với các di tích ấy (nếu có). Phần
3, tác giả đi tìm lại hình ảnh của các nhân vật lịch sử “cận đại” nổi tiếng có
công tích đối với Tây Ninh trong quá trình xây dựng, bảo vệ “lãnh thổ” cũng
như công tích của họ đối với việc xây dựng đời sống, nếp sống văn hóa của
cư dân Tây Ninh. Một số bản kể được tác giả sưu tầm trong phần này đã trở
thành truyện dân gian lưu truyền trong địa phương Tây Ninh từ đời này sang
đời khác để lớp cháu con sau còn được ngưỡng vọng về quá khứ để tự hào và
biết ơn. Phần 4, tác giả ghi chép lại những “huyền thoại”, “giai thoại” Tây
Ninh được chính tác giả sưu tầm từ cư dân địa phương. Phần 5, tác giả tập
trung miêu tả các nơi tôn nghiêm: Chùa, Đình, Nhà Thờ, Tòa Thánh ở Tây
Ninh. Chủ yếu là viết về sự ra đời của các nơi ấy, có sự kết hợp miêu tả cảnh
quan và ghi chép kèm theo những mẩu chuyện linh thiêng được dân gian kể
lại. Trong phần này, tác giả lược thuật khá kỹ về Đạo Cao Đài, đó là sự hình
thành, hoạt động, và những bước thăng trầm của Đạo. Phần 6, tác giả viết về
đời sống văn nghệ ở Tây Ninh, các nhóm văn nghệ và các nhân vật nổi tiếng
trong lĩnh vực văn nghệ ở Tây Ninh thời bấy giờ. Phần 7, tác giả phác họa
Tây Ninh “ngày nay”, tức thời gian tác giả đến Tây Ninh sưu khảo.
Công trình này, Huỳnh Minh đã cung cấp cho chúng ta khá nhiều điều
thú vị và cặn kẽ về vùng đất Tây Ninh. Từ công trình Tây Ninh xưa và nay,
chúng tôi hiểu thêm về lịch sử Tây Ninh, chưa kể số lượng truyện được tác
giả sưu tầm, biên soạn từ chuyến đi thực tế ở Tây Ninh đã giúp chúng tôi kế
thừa một số lượng truyện dân gian đáng quý (sau khi chúng tôi chọn lọc) cũng
như giúp chúng tôi trong việc khoanh vùng trong công tác sưu tầm, điền dã
mà chúng tôi thực hiện khi nghiên cứu đề tài này.
4
2/ Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (1994) của Lê Trí Viễn (chủ
biên). Công trình này gồm 2 tập, phân ra cho 3 cấp học Tiểu học, Trung học
cơ sở và Trung học phổ thông, được sử dụng trong chương trình giảng dạy
thơ văn địa phương ở các trường học trực thuộc Tây Ninh. Công trình này,
mỗi tập được chia làm 2 phần văn học dân gian và văn học viết. Phần văn học
dân gian tập trung nhiều ở tập 1 (cấp Tiểu học và Trung học cơ sở) hơn là tập
2 (cấp Trung học phổ thông). Ở phần văn học dân gian, nhóm biên soạn đã đa
dạng hóa tác phẩm văn học dân gian qua việc tuyển chọn đủ hai hình thức văn
vần (ca dao, tục ngữ) và văn xuôi (truyện). Tác phẩm văn học dân gian được
nhóm tác giả tiến hành sưu tầm và biên soạn lại từ lời kể của cư dân Tây
Ninh. Một số truyện có ghi chú về nguồn kể của truyện (người kể, địa điểm).
Các truyện này được nhóm tác giả gọi chung là truyện dân gian chứ chưa có
sự phân loại thể loại. Trong công trình, có tổng cộng 8 truyện dân gian, số
truyện này đã “góp mặt” vào nguồn truyện dân gian Tây Ninh của đề tài
nghiên cứu (chúng tôi sẽ nói rõ trong phần Tình hình tư liệu ở chương 2).
3/ Miền Đông Nam Bộ con người và văn hóa, Phan Xuân Biên (2004),
Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Ở công trình này, tác giả chỉ khoanh vùng giới thiệu về lịch sử - văn hóa,
con người ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Tây Ninh là một tỉnh thuộc miền
Đông Nam Bộ nên không thể “vắng mặt” trong công trình. Ở mục bài viết
riêng về Tây Ninh, tác giả đã khái quát được lịch sử hình thành và phát triển
của Tây Ninh cũng như các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể ở địa phương
được phát hiện và cần phải được lưu giữ, phát triển. Tuy nhiên, tác giả chưa
có sự đào sâu vào mảng văn hóa phi vật thể, tức mảng văn hóa tinh thần – đời
sống tín ngưỡng, tâm linh của người dân địa phương. Nhưng một mặt nào đó,
từ công trình này, chúng tôi cũng được cung cấp một vốn tư liệu quý về lịch
sử hình thành vùng đất Tây Ninh.
5
4/ Tìm hiểu Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở Tây Ninh, Phan Kỷ Sửu
(2014), Nxb Tôn giáo.
Có thể nói đây là công trình đầu tiên đi sâu vào vấn đề Phật giáo và tín
ngưỡng dân gian ở Tây Ninh. Phật giáo là một tôn giáo có một bước đường
dài gắn bó với lịch sử hình thành và phát triển của Tây Ninh song song với tín
ngưỡng dân gian ở địa phương. Tác giả chia quyển sách làm 3 phần. Phần 1 là
tìm hiểu sự phát triển của Phật giáo theo chiều dài lịch sử ở Tây Ninh, phần 2
là đi sâu vào tín ngưỡng dân gian Tây Ninh, phần 3 là Những trang văn những
vần thơ về những cơ sở thờ tự tín ngưỡng cũng như những ngày lễ hội – văn
hóa tín ngưỡng ở Tây Ninh, có thể nói phần 3 là phần “vĩ thanh” của công
trình. Riêng phần 2, tác giả trình bày 27 bài viết nhỏ, giới thiệu về các cơ sở
thờ tự tín ngưỡng dân gian, lễ hội, nhân vật được thờ cúng bởi cư dân Tây
Ninh xuất phát từ tín ngưỡng dân gian. Tuy không chủ ý sưu tầm truyện dân
gian Tây Ninh nhưng tác giả đã có công trong việc điểm lại và hiệu đính lại
một số truyện dân gian ở Tây Ninh. Đồng thời, qua kết quả điền dã thực tế
của tác giả, chúng tôi đã chọn lọc được 1 truyện dân gian vào nguồn truyện
dân gian Tây Ninh (xem mục Tình hình tư liệu ở chương 2). Tuy nhiên, tác
giả chỉ đề cập đến văn hóa – tín ngưỡng của người Việt và người Hoa, riêng
người Khmer tác giả có một bài viết về ngày tết Chol Chnam Thmay trong
phần 1. Tộc người Chăm, không thấy tác giả nhắc đến. Công trình là kết quả
của chuyến khảo sát thực tế của chính tác giả. Từ công trình, chúng tôi có thể
tiếp cận đời sống văn hóa - tín ngưỡng dân gian ở Tây Ninh dễ dàng hơn cũng
như có thêm tư liệu để đối chiếu, so sánh với truyện dân gian (ở các công
trình khác và do chúng tôi sưu tầm, điền dã) nhằm thu được một kết quả
nghiên cứu chính xác nhất có thể.
Tóm lại, vấn đề nghiên cứu truyện dân gian Tây Ninh chưa có một công
trình nào “chính thức” bàn qua. Các công trình chỉ dừng lại ở việc sưu tầm và
biên soạn truyện dân gian Tây Ninh. Vì vậy, với đề tài này, chúng tôi tiếp tục
6
thực hiện công tác sưu tầm và đi vào nghiên cứu Truyện dân gian Tây Ninh.
Với số tài liệu nghiên cứu ít ỏi có liên quan đến đề tài này, khó khăn là điều
đầu tiên chúng tôi gặp phải. Nhưng với sự khảo sát những công trình nghiên
cứu trên đã giúp chúng tôi tạo tiền đề cũng như kế thừa vốn tri thức về lịch
sử, văn hóa, tín ngưỡng, nguồn truyện dân gian,… trong việc nghiên cứu đề
tài Truyện dân gian Tây Ninh.
3. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi nhằm mục đích sưu tầm, hệ thống
hóa và miêu tả nguồn tư liệu truyện dân gian Tây Ninh. Từ đó, rút ra mục
đích sau cùng là kết luận văn học dân gian, văn hóa dân gian địa phương Tây
Ninh cũng có những bản sắc riêng và chung trong dòng chảy vận hành của
văn học dân gian, văn hóa dân gian của dân tộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện dân gian Tây Ninh, những
truyện do cư dân người Việt ở Tây Ninh sáng tạo và chỉ lưu truyền ở Tây
Ninh.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: chúng tôi chỉ tiến hành điền dã những
truyện dân gian của cư dân người Việt ở Tây Ninh, do đó phạm vi nghiên cứu
của đề tài chỉ dừng lại ở các truyện xuất hiện trong cộng đồng cư dân người
Việt ở Tây Ninh. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, những truyện xuất
hiện trong cộng đồng cư dân người Việt, nếu như có xuất hiện dị bản của
cộng đồng dân tộc khác, thì những dị bản đó luận văn vẫn xét trong phạm vi
nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi cố gắng vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu phù hợp với khoa nghiên cứu văn học dân gian:
Phương pháp sưu tầm, điền dã: đây là một phương pháp quan trọng
mang tính chất cơ sở của luận văn. Chúng tôi tiến hành đi điền dã, sưu tầm,
7
lắng nghe, quan sát, ghi chép lại những bản kể của người dân địa phương. Từ
đó, tìm hiểu và mô thuật lại đời sống thực tế của truyện dân gian.
Phương pháp phân loại, thống kê: Là phương pháp nhóm những đối
tượng có chung những đặc điểm thành từng nhóm riêng. Luận văn sử dụng
phương pháp này để phân loại truyện dân gian thành những thể loại đã được
các nhà lý thuyết phân chia theo đặc trưng, nội dung phản ánh. Trên kết quả
phân loại, chúng tôi tiến hành thống kê, lập bảng biểu để đưa tới những kết
luận mang tính khoa học, chính xác.
Phương pháp phân tích cấu trúc: phương pháp này được sử dụng nhằm
khai thác những thành tố cấu thành chỉnh thể tác phẩm. Phương pháp này có
hữu ích khi sử dụng kèm với phương pháp thống kê, mô hình hóa tác phẩm.
Phương pháp so sánh được xem là phương pháp không thể thiếu trong
nghiên cứu văn học dân gian. Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành so sánh
tư liệu trước và sau khi điền dã, sưu tầm, đồng thời so sánh trong tổng thể tư
liệu nhằm khám phá và kiến giải những điểm giống và khác nhau của các hiện
tượng, cũng như đưa ra những nhận định, đánh giá phục vụ cho việc nghiên
cứu đề tài.
Phương pháp tiếp cận hệ thống: đối tượng mà luận văn nghiên cứu là
truyện dân gian Tây Ninh là những đơn vị tác phẩm cụ thể được nằm trong
một hệ thống lớn hơn chứ không tồn tại độc lập, riêng lẻ. Sử dụng phương
pháp này, luận văn sẽ chỉ ra sự vận động của bộ phận truyện dân gian Tây
Ninh trong hệ thống truyện dân gian Nam Bộ và cả nước có những điểm
chung và điểm riêng nào chệch ra ngoài hệ thống.
Phương pháp nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa: đề tài của
luận văn mang tính chất địa phương nằm trong không gian vùng văn hóa Nam
Bộ nên việc sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu sẽ mang lại rất nhiều
hữu ích trong việc khoanh vùng, tìm ra những nét đặc trưng riêng trong những
đặc trưng chung của vùng văn hóa.
8
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trong quá trình nghiên cứu đề tài,
chúng tôi sẽ phải tiến ngành nghiên cứu các vấn đề của các ngành dân tộc
học, văn hóa học, lịch sử học. Việc sử dụng phương pháp này thiết nghĩ sẽ bổ
trợ rất nhiều. Phương pháp này sẽ được sử dụng kèm theo phương pháp
nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa.
6. Đóng góp của luận văn
Theo chúng tôi, Luận văn với đề tài “Truyện dân gian Tây Ninh” có
những đóng góp:
- Hệ thống hóa nguồn tư liệu truyện dân gian trong bức tranh tổng thể
văn học dân gian ở Tây Ninh.
- Khám phá những nét đặc trưng trong nội dung phản ánh của truyện dân
gian Tây Ninh cũng như những điểm riêng và chung trong đời sống văn hóa
tinh thần của cư dân Tây Ninh góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa địa
phương Tây Ninh trong bản sắc văn hóa vùng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương này, chúng tôi đưa ra những vấn đề chung nhất, mang tính chất
cơ sở, làm tiền đề cho việc nghiên cứu đề tài. Chúng tôi kế thừa lý thuyết,
kinh nghiệm của người đi trước tiến đến việc ứng dụng có tính chất giới hạn
trong công tác sưu tầm, nghiên cứu đề tài. Song song đó, chúng tôi tìm hiểu
mối quan hệ giữa văn học dân gian và tín ngưỡng cũng như xác định cơ cấu
tộc người ở địa phương và tái thuật lại đời sống văn hóa – tín ngưỡng của cư
dân Tây Ninh.
Chương 2. Tình hình tư liệu, phân loại và mô tả
Chương này, chúng tôi tiến hành xác định nguồn tư liệu truyện dân gian
Tây Ninh làm dữ liệu cho việc nghiên cứu của chương 3. Chúng tôi tiến hành
9
phân loại, hệ thống hóa nguồn tư liệu, nhận diện bước đầu về nguồn tư liệu,
để khi đi vào chương 3 chúng tôi chỉ tiến hành đi sâu phân tích các vấn đề nảy
sinh trong quá trình tìm hiểu, đánh giá.
Chương 3. Đặc trưng truyền thuyết Tây Ninh
Chương này, chúng tôi tiếp cận nguồn tư liệu đã được chúng tôi chọn lọc
ở chương 2 dưới 2 cấp độ là đề tài và cấu tạo cốt truyện, xác định những kiểu
nhân vật và các yếu tố nghệ thuật ứng với mỗi kiểu cốt truyện. Từ đó, chúng
tôi tìm thấy những nét chung và riêng của đặc trưng truyền thuyết Tây Ninh
trong mối quan hệ với truyền thuyết tiểu vùng Sài Gòn - Gia Định và truyền
thuyết Nam Bộ.
10
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Những vấn đề về lý thuyết có liên quan đến đề tài
1.1.1. Từ lý thuyết đến ứng dụng bước đầu trong công tác sưu tầm,
nghiên cứu Truyện dân gian Tây Ninh
“Văn học dân gian địa phương là một bộ phận rất quan trọng của khoa
nghiên cứu văn học dân gian vì nó là nền tảng của ngành văn học dân gian
cho nên nó là một trong những đối tượng điều tra, sưu tầm và nghiên cứu” [7,
tr.89]. Quả thật, chúng ta “không thể nào nghiên cứu văn học dân gian Việt
Nam một cách thực thấu đáo trước khi nghiên cứu văn học dân gian của từng
địa phương” [38, tr.77]. Đó cũng là một cách ngụ ý, nhắc nhở về tầm quan
trọng của việc nghiên cứu văn học dân gian phải gắn liền với bối cảnh, phải
đặt văn học dân gian trong đời sống thực tế của nó, cũng như truy nguyên
nguồn gốc phát tích của nó.
Mọi công tác nghiên cứu văn học dân gian đều phải xuất phát từ một địa
bàn văn hóa – lịch sử cụ thể. Cho nên, “người nghiên cứu văn học dân gian
không thể chỉ đi vào thư viện để đọc những tác phẩm văn học dân gian qua
văn bản sưu tầm ghi chép mà còn phải đi vào môi trường sinh hoạt của nhân
dân để quan sát, tìm hiểu tác phẩm văn học dân gian ngay tại môi trường sống
của chúng” [83, tr.43]. Thật vậy, chúng ta không thể nghiên cứu văn học dân
gian trong một trạng thái “chết” mà phải nghiên cứu nó trong một môi trường
sống, trong một bối cảnh mà nó tồn tại qua từng thời đại theo chiều dài lịch
sử. Ở đó, chúng ta có thể thấy sự diễn tiến, vận động của một hiện tượng văn
học dân gian với một giá trị chân thực nhất và có lẽ cũng là đúng đắn nhất.
Chúng ta “không thể không tiếp cận với văn học dân gian trong đời sống thực
của nó để hiểu thấu đáo cái phần ngôn ngữ sinh động ẩn đằng sau văn bản.
Người nghiên cứu cần ghi chép các hình thức hành ngôn của các lứa tuổi,
11
nghề nghiệp thuộc từng vùng văn hóa, địa phương để thấy tính đa dạng, khả
năng tạo nghĩa của nó” [99]. Để tiếp cận được “đời sống thực” của các hiện
tượng văn học dân gian, đòi hỏi người nghiên cứu phải tiến hành công cuộc
điều tra, sưu tầm, điền dã. Đó là một bước quan trọng không thể bỏ qua khi
tiến hành nghiên cứu văn học dân gian địa phương.
Từ định nghĩa của nhóm tác giả Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đình Chú, Đặng
Nghiêm Vạn về văn học dân gian trong một làng bản, ta có thể xác định được
cách hiểu thế nào là văn học dân gian địa phương của họ. Đối với nhóm tác
giả, văn học dân gian làng, bản là: “Mọi sáng tác dân gian do một tập thể nhất
định, một thế hệ nhất định, một lớp người nhất định hay rộng hơn là toàn thể
nhân dân lao động trong làng ấy, bản ấy sáng tác ra hay tiếp nhận từ nơi khác
đến rồi cải biên đi hoặc giữ nguyên và truyền miệng đã ngày thành quen
thuộc” [17].
Tiếp tục bàn về cách hiểu thế nào là văn học dân gian địa phương, Bùi
Mạnh Nhị sau này cũng đưa ra một cách hiểu có phần khái quát hơn, tác giả
định nghĩa: “văn học dân gian địa phương, về cơ bản, phải là văn học dân
gian sưu tầm được ở địa phương, là văn hóa dân gian dân tộc hình thành, tồn
tại, phát triển ở địa phương” [56, tr.119].
Từ cách khoanh vùng văn học dân gian địa phương - đơn vị là làng, bản
- của nhóm tác giả Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đình Chú, Đặng Nghiêm Vạn ở
trên, cơ hồ đã định ra ba loại sáng tác đang tồn tại ở địa phương: Loại 1. Loại
sáng tác dân gian có tính chất phiếm chỉ, không rõ thời gian nào, không gian
nào, sự vật nào, sự việc nào, nhân vật nào cụ thể để nói nó được sáng tác ở
làng nào và nó nói về làng nào; Loại 2. Loại sáng tác dân gian có ấn dấu địa
phương rõ rệt. Trong đó có tên đất, tên người, có sự vật và sự việc đặc biệt…
thuộc một địa phương cụ thể, có thực; Loại 3. Loại thứ ba trong quá trình lưu
truyền, lúc thì phiếm chỉ hóa, lúc thì địa phương hóa, và do đó sinh ra nhiều
dị bản. Vấn đề này về sau được Bùi Mạnh Nhị kế thừa, làm rõ trong bài viết
12
“Tiếp cận văn học dân gian địa phương từ đặc trưng của văn học dân gian” in
trên Tạp chí văn học, số 3/1985. Bùi Mạnh Nhị cũng phân định ra 3 dạng hình
thành, tồn tại của văn học dân gian ở các địa phương: Dạng 1. Những hiện
tượng văn học dân gian nảy nở, lưu truyền ở một địa phương nhất định, do
nhân dân địa phương đó sáng tạo ra và phản ánh những đặc thù của địa
phương đó. Đây là dạng “đặc sản” của văn học dân gian địa phương; Dạng 2.
Những hiện tượng văn học dân gian có mặt ở địa phương khác nhưng địa
phương này cũng tạo nên, cung cấp những dị bản, làm giàu thêm cuộc sống
của những hiện tượng văn học dân gian đó và ngược lại; Dạng 3. Những hiện
tượng văn học dân gian có mặt ở nhiều địa phương và không hề thay đổi.
Việc xác định xuất xứ của các hiện tượng văn học dân gian thuộc dạng 3 cũng
là một vấn đề cần phải đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu. Vì nó sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc bóc tách các lớp văn hóa chứa đựng trong hiện tượng văn
học dân gian, xác định tính địa phương của văn học dân gian,… Và nhân dân
ở mỗi địa phương đều lưu truyền, mặc nhiên xem đó là tài sản riêng của họ.
Khi đó, các hiện tượng văn học dân gian này không còn bó hẹp ở địa phương
nữa mà đã vươn ra ngoài, nâng lên thành tài sản chung của cộng đồng, dân
tộc.
Tuy nhiên ở đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung sưu tầm và
nghiên cứu ở dạng 1 và dạng 2. Như vậy, đối tượng của đề tài nghiên cứu này
chỉ tập trung vào những truyện dân gian nảy nở, lưu truyền ở Tây Ninh, do cư
dân Tây Ninh sáng tạo. Những truyện đó phản ánh đặc thù của Tây Ninh, nói
cách khác là có in đậm dấu tích của địa phương Tây Ninh. Thêm nữa, là
những truyện dân gian chỉ tồn tại ở Tây Ninh, ở địa phương khác tuy có phản
ánh về đề tài đó nhưng tồn tại một bản kể khác.
Sở dĩ, chúng tôi gạt đi đối tượng truyện dân gian tồn tại ở nhiều địa
phương và không hề thay đổi là vì đối tượng này không phản ánh rõ nét đặc
trưng truyện dân gian địa phương (Tây Ninh). Nó chỉ góp phần thể hiện tính
13
cộng đồng, quốc gia của truyện dân gian địa phương, văn học dân gian địa
phương mà thôi.
Quay lại vấn đề văn học dân gian trong một làng, theo quan niệm của
nhóm tác giả Cao Huy Đỉnh thì văn học dân gian trong một làng, có thể do
nhân dân làng ấy sáng tác, cũng có thể là từ nơi khác truyền đến rồi giữ
nguyên hoặc là thay đổi ít nhiều, cũng có thể lấy đề tài từ chính làng ấy mà
cũng có thể lấy đề tài từ làng lân cận hay xa hơn nữa. Vấn đề mà nhóm tác giả
Cao Huy Đỉnh đưa ra là vấn đề dành cho người sưu tầm. Đó là chính bản thân
người sưu tầm trong quá trình điền dã, điều tra xem những sáng tác ấy có
được tập thể ở làng (địa phương) truyền miệng lâu ngày và quen thuộc
không? Riêng loại sáng tác có giữ ấn dấu địa phương và loại sáng tác vừa có
tính phiếm chỉ vừa có tính địa phương với nhiều dị bản của nó là những cái
mà ta cần sưu tầm kỹ lưỡng, vì một trong những mục đích và yêu cầu của việc
sưu tầm văn học dân gian từng làng, từng vùng là cốt để tìm hiểu sự thống
nhất giữa tính địa phương và tính dân tộc, giữa tính truyền miệng và tính dị
bản của văn học dân gian.
Văn học dân gian địa phương hình thành, tồn tại một cách có quy luật.
Có những quy luật nảy sinh từ các đặc điểm địa phương về địa lý, lịch sử, xã
hội, văn hóa, con người… Có những quy luật nảy sinh từ chính những đặc
trưng của văn học dân gian. Những quy luật đó dù nảy sinh từ đâu thì nó cũng
quan hệ chặt chẽ, gắn kết với nhau không thể tách rời. Cho nên, khi nghiên
cứu văn học dân gian địa phương, chúng ta không nên quá xem trọng sự ảnh
hưởng của đặc điểm địa phương mà xem nhẹ sự chi phối của các đặc trưng
văn học dân gian. Bao giờ nghiên cứu văn học dân gian địa phương, cũng
phải đặt nó trong một thế cân bằng, hợp lý giữa các luồng ảnh hưởng cũng
như các mức độ chi phối.
Một trong những đặc trưng của văn học dân gian là tồn tại tính dị bản.
Cho nên, nhắc đến văn học dân gian địa phương thì không thể thiếu sự tồn tại
14
của dị bản. Nguyên nhân hình thành dị bản của văn học dân gian (địa phương)
theo Bùi Mạnh Nhị chính là do: “đặc điểm địa phương về các mặt địa lý, lịch
sử, xã hội, văn hóa, con người đã thúc đẩy sự hình thành dị bản của các tác
phẩm, tạo nên nét khác biệt trong dị bản ở các địa phương về một số chi tiết,
nội dung, nghệ thuật, hoặc hình thức lưu truyền tác phẩm…” [56]. Chính đặc
trưng tính địa phương của văn học dân gian đã tạo nên tính dị bản cho chính
nó.
Liên quan đến tính dị bản của văn học dân gian địa phương là bóng dáng
của nghệ nhân dân gian. Theo Đinh Gia Khánh, nghệ nhân là “những người
kết tinh được kinh nghiệm và tài năng của quần chúng, là những người nói lên
được một cách đầy đủ hơn cả tâm tư và nguyện vọng của quần chúng” [38,
tr.78]. Họ đại diện cho quần chúng biểu diễn, sáng tạo và hơn hết là lưu
truyền các tác phẩm văn học dân gian. Chính vì điều này đã tạo nên một hiện
tượng “dị bản nghệ nhân” trong văn học dân gian. Có thể trong lúc diễn
xướng (kể, hát) do tâm lý, do tài năng sáng tạo và cũng do đặc điểm tâm lý
địa phương mà nghệ nhân có thể thêm, bớt và sáng tạo thêm tình tiết mới cho
câu chuyện. Đó là tiền đề cho sự xuất hiện hiện tượng “dị bản địa phương”
của văn học dân gian. Từ vai trò của nghệ nhân dân gian, chúng ta có thể giới
hạn đối tượng sưu tầm, điền dã trong công tác thực tế. Đó là hết sức chú ý, tập
trung vào khai thác các đối tượng được xem là nghệ nhân dân gian ở địa
phương, rồi sau đó mới mở ra các đối tượng khác như người già, người có học
thức, người được sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa,… Gặp gỡ ở
điểm này, Trần Xuân Toàn trong công trình Một số phương pháp điền dã sưu
tầm văn học dân gian (2011) đề xuất sử dụng phương pháp sưu tầm so sánh
trong quá trình sưu tầm điền dã, tức là cùng một vấn đề được nêu câu hỏi cho
nhiều người khác nhau. Thao tác này sẽ giúp chúng ta đưa ra được mức độ
chính xác cũng như tìm thấy sự khác nhau giữa ý thức, tâm thức dân gian ở
các địa điểm khác nhau. Ví dụ như cùng một vấn đề hỏi về công tích của ba
15
anh em Quan Lớn Trà Vong (anh hùng lịch sử của địa phương Tây Ninh), có
thể cư dân ở gần và cư dân ở xa các cơ sở thờ tự Quan Lớn Trà Vong sẽ kể
với một thái độ khác, có thể giữa các cư dân có đức tin và cư dân thiếu đức tin
sẽ kể với một thái độ khác, có thể người già kể khác và người trẻ kể khác,…
Và sự khác biệt ấy có thể biểu hiện ở sự rành mạch, rõ ràng và đầy đủ, đúng
đắn của bản kể. Cho nên, trong suốt thời gian thực hiện công tác điền dã, sưu
tầm, chúng tôi tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc ghi chép đầy đủ, giữ nguyên gốc
lời kể của dân gian để từ đó có thể tìm ra các dị bản (nếu có).
“Dị bản là bằng chứng chứng tỏ cuộc sống tích cực, sự vận động năng
động của văn học dân gian. Và về nguyên tắc, tất cả các dị bản đều có quyền
tồn tại, đều có ý nghĩa của nó. Còn trong quá trình nghiên cứu, nhà nghiên
cứu sử dụng dị bản nào thì đó là chuyện khác” [56]. Tuy nhiên, trong quá
trình nghiên cứu, việc so sánh các dị bản với nhau sẽ mang lại cho chúng ta
nhiều điều thú vị về văn hóa tộc người, vùng miền, địa phương. Nó giúp
chúng ta đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi vì sao bản kể này chỉ tồn tại ở
địa phương này mà không tồn tại ở địa phương khác? Vì sao bản kể này khi
lưu hành ở địa phương này thì có sức sống bền vững còn ở địa phương khác
thì không? Vì sao bản kể này mang đậm dấu ấn địa phương hơn bản kể
khác?...
Văn học dân gian có tính địa phương, được thể hiện qua ngôn ngữ, nội
dung, hình thức, thể loại. Theo Hoàng Tiến Tựu, giải quyết tốt vấn đề phân
loại văn học dân gian sẽ dẫn đến hệ quả tốt trong việc giải quyết vấn đề phân
vùng văn học dân gian vì “giải quyết tốt vấn để phân loại sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để gắn những thể loại lớn hoặc nhỏ, chung hoặc riêng vào địa bàn
sinh nở và tồn tại của nó” [81]. Từ đó, ta có thể tiến hành đi tìm được bối
cảnh lịch sử của tác phẩm văn học dân gian. Quả thật, văn học dân gian chỉ
tồn tại trong những thể loại với những tác phẩm cụ thể vì vậy nghiên cứu văn
học dân gian địa phương cũng cần đi từ thể loại, tác phẩm. Tuy nhiên, “vấn đề
16
văn học dân gian địa phương cần phải được tìm hiểu khác nhau đối với những
thể loại khác nhau, bởi vì quy luật hình thành tính địa phương của chúng khác
nhau” [56, tr.120].
Có những thể loại phát triển mạnh ở địa phương này nhưng lại thiếu sức
sống ở địa phương khác. Đó là do, “quan hệ thẩm mỹ của văn học dân gian
đối với thực tại có những cơ sở khác nhau” [56, tr.120]. Điều này phần nào lý
giải tại sao ở Nam Bộ lại tồn tại không nhiều bộ phận truyện cổ tích nhất là
truyện cổ tích thần kỳ mà ở đó chỉ tồn tại số lượng lớn truyền thuyết về những
người anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người anh hùng văn hóa trong
thời kỳ đầu khai hoang, mở đất nơi vùng đất mới? Cho nên, không phải chỉ có
nghiên cứu văn học dân gian chúng ta mới căn cứ vào thể loại mà ngay cả khi
sưu tầm, ghi chép cũng phải hết sức lưu ý đặc điểm (địa phương) của thể loại
bởi vì “mỗi thể loại quy định những công việc riêng, những hướng điều tra,
ghi chép riêng cho người sưu tầm” [56, tr.121]. Viện dẫn ra đây việc sưu tầm
những tác phẩm đặc trưng thể loại truyền thuyết ở Tây Ninh, “việc ghi chép
câu chuyện theo đúng cách kể dân gian chưa đủ, người sưu tầm còn cần phải
điều tra những hội lễ, những phong tục tập quán, những địa danh và nhiều
điều khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến câu chuyện” [56, tr.121].
Theo đó, chúng tôi lần theo những lễ hội, tham gia lễ hội, quan sát những nghi
thức, phong tục của cư dân địa phương (Tây Ninh). Những lễ hội chúng tôi
may mắn được tham gia đó là: Lễ giỗ Quan Lớn Trà Vong (ở Đền thờ Suối
Vàng ngày 20 và 21 tháng 2 âm lịch), Lễ kỳ yên ở đình Gia Lộc (nhằm ngày
14, 15, 16 tháng 3 âm lịch), Lễ kỳ yên ở đình Long Thành (ngày 17, 18 tháng
3 âm lịch), Lễ vía Bà Đen (tháng giêng và tháng 5 âm lịch), Lễ vía Đức Chí
Tôn (nhằm ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch hằng năm), Tết truyền thống của
người Khmer (ở Khedol nhằm ngày 14, 15, 16 tháng 4 dương lịch)… Nhờ
vậy, chúng tôi đã nắm bắt được tâm thức của cư dân đã ẩn hóa trong truyện kể
như thế nào và lần tìm ra mối quan hệ giữa truyện kể dân gian với lễ hội, tín
17
ngưỡng, phong tục ở địa phương ra sao.
Tóm lại, việc nghiên cứu văn học dân gian địa phương không còn là vấn
đề cũ hay mới nữa mà nó thật sự trở thành một vấn đề, một lĩnh vực cần phải
được quan tâm, đầu tư một cách thỏa đáng. Nhất là trong thời đại ngày nay,
khi giới trẻ ngày càng xem nhẹ những giá trị văn hóa cổ truyền, thế hệ người
già, lớn tuổi, hiểu biết thì đang ngày một “tàn lụi” dần. Thực tế này do chính
chúng tôi trải nghiệm và nhận thức được sau khi thực hiện điền dã sưu tầm ở
địa phương Tây Ninh. Một số người trẻ thì không hề biết và cũng chưa một
lần đặt vấn đề là phải đi tìm hiểu văn hóa dân gian. Người già có kể cho con
cháu nghe nhưng không phải tất cả con cháu đều lưu tâm và coi trọng. Một bộ
phận những người hiểu biết văn hóa dân gian, văn học dân gian thì do hoàn
cảnh nên suốt ngày đầu tắt mặt tối mưu sinh, vốn văn học dân gian đã chìm
sâu vào ẩn ức, người không có kinh nghiệm như chúng tôi thật không dễ dàng
gì khơi gợi lại được. Vốn văn hóa dân gian, văn học dân gian đang ngày càng
lẩn khuất và chìm sâu theo thời gian. Vì vậy, vấn đề điền dã, sưu tầm, nghiên
cứu văn hóa dân gian, văn học dân gian là một vấn đề cấp thiết hơn bao giờ
hết trong khoa nghiên cứu văn hóa dân gian, văn học dân gian.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ, do thời gian và công tác sưu tầm, điền
dã được thực hiện bởi cá nhân nên chúng tôi không thể tiến hành được trên
phạm vi diện rộng, điều tra theo phương pháp sưu tầm cuốn chiếu, tức là điều
tra hết địa bàn này sang địa bàn khác (tiêu chí là không bỏ sót), mà chúng tôi
chỉ có thể tiến hành theo phương pháp sưu tầm chọn hạt nhân. Tức là chúng
tôi tiến hành khoanh vùng, chọn lọc những nơi, những địa điểm được nghi
ngờ có tồn tại hiện tượng văn học dân gian, sự gợi ý này chúng tôi dựa vào
các nguồn tài liệu sưu khảo trước đó và dựa trên đặc trưng văn học dân gian
nói chung và văn học dân gian Nam Bộ nói riêng, đó là đặc trưng các hiện
tượng văn học dân gian hay gắn với đình, miếu, đền, chùa, những cơ sở tín
ngưỡng, thờ tự các vị anh hùng, những người có công khai hoang, lập làng,
18
lập ấp,… đối với cư dân vùng đất mới mà Tây Ninh là một bộ phận. Bên cạnh
đó, chúng tôi kết hợp với tiêu chí lựa chọn đối tượng điều tra, điền dã. Đó là
những người lớn tuổi, những người có vốn hiểu biết văn hóa dân gian, văn
học dân gian lâu đời ở địa phương. Kết lại, công tác sưu tầm, điền dã của
chúng tôi dựa trên hai tiêu chí: 1. Phạm vi xoay quanh đình, miếu, đền, chùa;
2. Đối tượng là những người lớn tuổi, những người hiểu biết vốn tri thức dân
gian ở địa phương. Một điều cần phải nói rõ là, chúng tôi không giới hạn
phạm vi câu hỏi điều tra xoay quanh đình, miếu, đền, chùa mà có sự kết hợp
mở rộng phạm vi câu hỏi ra những hiện tượng văn học dân gian không gắn
với đình, miếu, đền, chùa. Từ đó, sưu tầm được truyện dân gian đa dạng về đề
tài, chứ không hề có ý định “đóng gói” ở một đề tài nào cụ thể.
Bên trên, là vài điều chúng tôi đã tiếp thu được từ các tài liệu về công tác
sưu tầm, điền dã văn học dân gian địa phương và bước đầu ứng dụng mang
tính chất hoạch định phương hướng trong công tác điền dã, sưu tầm truyện
dân gian Tây Ninh của chúng tôi trên cơ sở phù hợp với thực tế địa phương
Tây Ninh. Bởi vì, tất cả các hiện tượng đều có tính đặc trưng, tức trong cái
chung luôn tồn tại cái riêng để khu biệt nó với các hiện tượng cùng cấp khác
trong một chỉnh thể mà nó là bộ phận.
1.1.2. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa – tín ngưỡng
Nghiên cứu văn học dân gian địa phương, tất yếu sẽ có liên quan nhiều
đến văn hóa dân gian địa phương. Cho nên, việc đi tìm, định hình mối quan
hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian là việc làm cần thiết không thể
bỏ sót.
Văn học dân gian vừa là một bộ phận của văn học nghệ thuật ngôn từ
vừa là một bộ phận của văn hóa dân gian. Lẽ dĩ nhiên, nó phải có những mối
quan hệ mật thiết với các bộ phận khác trong một chỉnh thể của văn hóa dân
gian. Đời sống văn hóa dân gian về mặt tinh thần không đâu được biểu hiện
sâu sắc hơn ở bộ phận phong tục, tín ngưỡng. Vì thế đi tìm mối quan hệ giữa
19
văn học dân gian và phong tục, tín ngưỡng sẽ phần nào nhận chân được bản
chất của văn học dân gian một cách định tính. Nguyễn Đổng Chi chẳng phải
đã từng nói: “Truyền thuyết và cổ tích có mối quan hệ không ít đến tín
ngưỡng, phong tục của một dân tộc […] cho nên xung quanh phong tục, nhất
là tín ngưỡng, thường vẫn có truyền thuyết hoặc cổ tích lưu hành […]. Đặc
biệt ở Việt Nam, gần như mỗi một thắng cảnh, mỗi một đền địa phương đều
có gắn liền với một hoặc nhiều truyền thuyết, cổ tích”. “Có thể nói tín ngưỡng
là vú nuôi của truyền thuyết, cổ tích, ngược lại, truyền thuyết, cổ tích là kẻ
tuyên truyền đắc lực cho tín ngưỡng”. Mặc dù chỉ khoanh vùng ở thể loại văn
xuôi tự sự dân gian nhưng bước đầu, Nguyễn Đổng Chi đã định hình một mối
quan hệ vững bền không thể tách rời giữa văn học dân gian và tín ngưỡng,
phong tục cũng như “đóng một dấu” về tính địa phương của tác phẩm văn học
dân gian. Văn học dân gian chính “là sự tự ý thức văn hoá, vì vậy, một
nguyên lí hết sức quan trọng là, trước khi tìm mã tín ngưỡng trong văn học
dân gian phải hiểu bản thân tín ngưỡng đó như một thực thể văn hoá, những
biểu hiện của nó trong thực hành văn hoá truyền thống. Từ đó mới có cơ sở để
tìm sự thể hiện nó trong văn học dân gian” [97].
Một bộ phận của đời sống văn hóa tinh thần con người mà ở đó con
người cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể, lực lượng siêu nhiên, mà
những cái đó chi phối, khống chế con người, nó nằm ngoài giới hạn hiểu
biết của con người hiện tại; sự tồn tại của các phương tiện biểu trưng
giúp con người thông quan với các thực thể, các sức mạnh siêu nhiên đó;
đó là chất kết dính, tập hợp con người thành một cộng đồng nhất định và
phân định với cộng đồng khác. Tất cả những niềm tin, thực hành và tình
cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi
trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống, theo cách
suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ [75, tr.10].
Như vậy, tín ngưỡng là:
20
Hiểu một cách nôm na, tín ngưỡng là “niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với
một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh
hoạt của con người” [97]. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên
lòng biết ơn và ngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân. Từ
tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán
và nghi lễ thờ cúng.
Con đường đi từ tín ngưỡng dân gian đến văn học dân gian phải qua một
khâu trung gian. Vì thực chất, tín ngưỡng được thể hiện trong văn học dân
gian thường không ở dạng nguyên mẫu của nó mà đã chuyển thành các biểu
tượng. Nhiệm vụ của người nghiên cứu là nhận chân các biểu tượng đó như
một cách giải mã nhằm chứng minh sự gắn kết giữa tín ngưỡng và văn học
dân gian. Nguyễn Thị Bích Hà cho rằng: “Với tín ngưỡng dân gian văn học
dân gian vừa là nơi ẩn chứa, thẩm thấu các tín ngưỡng dân gian vừa thể hiện
sự khác biệt đến đối lập với tín ngưỡng dân gian đó” [97]. Theo tác giả nhìn
nhận thì mối quan hệ giữa tín ngưỡng và văn học dân gian là mối quan hệ hai
chiều, có cả chiều thuận và chiều ngược.
Theo chiều thuận thì “truyện kể làm xương cốt, bệ đứng, chỗ dựa cho
niềm tin, còn niềm tin cùng những hành động nghi lễ hội hè tưởng niệm, làm
sống động, phong phú hơn nội dung truyện kể”. Tín ngưỡng dân gian của
người Việt Nam có sự trọng mẫu, đề cao, suy tôn nữ tính và người mẹ. Từ đó
hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu. Sở dĩ niềm tín ngưỡng trọng Mẫu có
sức sống lâu bền trong lòng dân tộc, là do những câu chuyện dân gian được
sáng tác và lưu truyền rộng rãi, phủ lên các Mẫu vầng hào quang huyền thoại
linh thiêng.
Theo chiều ngược thì tín ngưỡng là niềm tin tuyệt đối, không cần lí giải,
không có sự lựa chọn nào khác ngoài đấng siêu nhiên huyền bí mà họ gửi
gắm niềm tin, còn trong văn học dân gian, con người không chỉ thể hiện thái
độ ngưỡng mộ đối với lực lượng và sức mạnh siêu nhiên huyền bí đó mà còn
21
thể hiện cả khát vọng muốn vươn lên khám phá bí ẩn của siêu nhiên, tự nhiên
và chinh phục thế giới đó. Con người có thể bất lực trước thế giới siêu nhiên
trong thực tế nhưng họ đã chiến thắng các lực lượng và sức mạnh siêu nhiên
to lớn và đầy bí ẩn đó trong mơ ước, trong khát vọng vĩ đại của mình và thể
hiện điều đó trong văn học dân gian.
Tín ngưỡng và sự thể hiện tín ngưỡng trong văn học dân gian không
hoàn toàn trùng khớp với nhau. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai thực thể này
thì không thể chối cãi được, tín ngưỡng chính là cơ sở, là khí trời, hơi thở của
văn học dân gian, còn văn học dân gian chính là nơi lưu giữ lâu dài, làm cho
tín ngưỡng được lí giải, tạo nên xương cốt cho tín ngưỡng [97]. Tín ngưỡng
ẩn tàng trong nhiều thể loại văn học dân gian, nhưng chủ yếu là trong thần
thoại, sử thi, truyền thuyết và được thể hiện thông qua các nghi lễ, hội lễ
tưởng niệm những người anh hùng truyền thuyết, làm sinh động hơn và minh
chứng cho sự xác thực của truyền thuyết, nhưng nhiều khi cũng không hề liên
quan đến nhân vật truyền thuyết. Vì vậy, không phải bất cứ tín ngưỡng nào
cũng được đi vào văn học dân gian và được “đồ chiếu” trong văn học dân
gian như nó vốn có.
Tiếp tục lý giải mối quan hệ giữa văn học dân gian và tín ngưỡng, Bùi
Quang Thanh cũng có những luận giải xác đáng, mặc dù phạm vi chỉ tập
trung vào thể loại truyền thuyết và tín ngưỡng Thành hoàng. Ông cho rằng,
“một khi môi trường sống được mở rộng và quan hệ xã hội được phức tạp
dần, thì nhu cầu duy trì, củng cố và lãnh đạo khối thống nhất của cộng đồng
không thể nào khác được. Từ đó nảy sinh ra tín ngưỡng thành hoàng nhằm
thực hiện chức năng xã hội thiết yếu ấy. Hầu như các nhân vật trong truyền
thuyết đều được lựa chọn sàng lọc đã trở thành thần thành hoàng – cốt lũy
tinh thần – của cộng đồng làng xã. Nhiều nhân vật lịch sử trong truyện kể, giờ
đây được bao bọc giằng néo trong nhiều tàn dư tín ngưỡng nguyên thủy và
phong kiến để trở thành một lực lượng thần bí kỳ ảo linh thiêng, sinh ra trong
22
lòng cộng đồng một thứ tâm lý đa dạng, rắc rối và phức tạp. Cũng từ hiện
tượng tâm lý phức tạp này mà truyền thuyết dân gian xoay quanh các nhân vật
lịch sử được lựa chọn làm thành hoàng nảy sinh, lưu truyền và tồn tại một
cách tự nhiên, dẻo dai, bền chặt [71, tr.70]. Truyền thuyết có sẵn, nhân vật trở
thành thành hoàng và ngược lại, theo sự kiện, nhân vật là thành hoàng sẽ nảy
sinh truyện kể. Tóm lại, văn học dân gian (truyện dân gian) đã tái hiện, xây
dựng lại các nhân vật, sự kiện lịch sử gắn với nhân vật được thờ cúng – nhân
thần, và từ các nghi lễ thờ cúng, tín ngưỡng bồi đắp thêm vào trong truyện kể
những tình tiết mang tính chất ngưỡng vọng về nhân vật lịch sử gắn với sự
kiện lịch sử được chiêm bái, thờ cúng.
Chẳng có gì là không đúng khi cho rằng tín ngưỡng chính là môi trường
sản sinh, tích hợp, bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian. Bởi vì: “Tôn
giáo tín ngưỡng không thể thiếu các huyền thoại, truyền thuyết, thần tích, thần
phả, các hình thức giáo lý, kinh kệ… Để mô tả nguồn gốc, hình trạng, “đời
sống” của các thần linh…” [75, tr. 562]. Một mặt nào đó, “tôn giáo tín
ngưỡng” cũng chính là môi trường tạo nên cảm hứng cho các sáng tạo văn
hóa nghệ thuật. Thể hiện từ việc tín ngưỡng vạn vật hữu linh hình thành nên
một quan niệm hiện thực huyền ảo về thế giới – nền tảng của sự sáng tạo lưu
truyền và thưởng thức thần thoại, sử thi, truyện cổ tích (nhất là sử thi ở các
tộc người thiểu số: kể Khan (Êđê), kể Hmon (Bana),…).
Văn học dân gian và tín ngưỡng thực chất chỉ là hai bộ phận trong văn
hóa dân gian với tính chất nguyên hợp, tự thân nó là một chỉnh thể không thể
tách rời. Tín ngưỡng như là chỗ dựa tâm linh cho sự sáng tạo nghệ thuật, hơn
thế, tín ngưỡng còn được nghệ thuật hóa để trở thành những biểu tượng nghệ
thuật mang ý nghĩa kép, ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa nhân văn [97].
Dù cho có mối quan hệ mật thiết với tín ngưỡng nhưng chúng ta không
nên chỉ nhìn nhận văn học dân gian dưới góc độ là một nơi ẩn chứa tín
ngưỡng dân gian của quần chúng. Tỏ ra cẩn trọng về vấn đề này, Kiều Thu
23
Hoạch đã lưu ý rằng: “Khi coi văn học dân gian là một thành tố của văn hóa
dân gian, ta không nên xóa nhòa ranh giới giữa văn học dân gian với văn hóa
dân gian, quá cường điệu tính diễn xướng mà làm nhòe mờ đi, không chú ý
thích đáng đến hai bản chất cơ bản của văn học dân gian đó là tính văn học và
tính nghệ thuật của nó” [29, tr.15].
Bước đầu chúng tôi nhận diện cơ bản về mối quan hệ “cốt tủy” giữa văn
học dân gian (truyện dân gian) và văn hóa – tín ngưỡng, từ đó tạo cơ sở, tiền
đề cho chúng tôi trong việc khoanh vùng cũng như định hướng trong công tác
sưu tầm, điền dã, nghiên cứu đề tài.
1.2. Những vấn đề về đời sống văn hóa – tín ngưỡng của cư dân ở Tây Ninh
Nhiệm vụ của “công tác sưu tập văn học dân gian cần phải gắn bó chặt
chẽ với việc nghiên cứu toàn bộ đời sống của địa phương, đặc biệt là đời sống
văn hóa” [38, tr.77]. Tây Ninh là địa phương nằm trong tiểu vùng văn hóa Sài
Gòn – Gia Định thuộc vùng văn hóa Nam Bộ. Vùng văn hóa Nam Bộ gồm ba
tiểu vùng: tiểu vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiểu vùng sông Đồng Nai,
tiểu vùng Sài Gòn – Gia Định. Nam Bộ từ trước đến nay đều được các nhà
nghiên cứu đánh giá là “vùng có những sắc thái đặc thù khó lẫn, vừa rất riêng
mà vẫn giữ được tính thống nhất của văn hóa Việt Nam” (Trần Quốc Vượng).
Nam Bộ là vùng đất mới đa dân tộc, đa tôn giáo, vì thế ở đây có sự trộn lẫn
nhiều sắc thái văn hóa về dân tộc, về tôn giáo.
Lịch sử ghi lại, mãi đến cuối thế kỷ XVII, nhà Nguyễn mới di dân vào
khai khẩn vùng đất Nông Nại (Đồng Nai – Gia Định), thiết lập chính quyền
của triều đình chính thức ở đây qua sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược,
lập dinh Trấn Biên và Phiên Trấn để cai trị, lập làng và ấn định thuế khóa.
Nhưng người Việt thì đã đến ở, khai khẩn đất đai và sinh cơ lập nghiệp ở đây
hàng thế kỷ về trước [50]. Vấn đề an ninh, khẩn hoang, lập ấp, lập làng, mở
mang ruộng đất, dân cư (chủ yếu là người Việt) được phồn thịnh luôn là vấn
đề quan tâm của suốt mấy triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự
24
Đức,… Đến nửa đầu thế kỷ XIX, cư dân Việt đã khá đông đúc, đóng vai trò
quyết định trong sự mở mang, phát triển của Tây Ninh [6]. Địa giới Tây Ninh
vào thế kỷ XIX, cơ bản trùng với Tây Ninh ngày nay.
1.2.1. Quá trình cộng cư giữa các tộc người ở Tây Ninh
Tây Ninh là địa phương có nhiều thành phần dân tộc, bên cạnh người
Việt, còn có các tộc người Khmer, Hoa, Chăm, Tà mun,…
Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư người Việt ở
Tây Ninh cũng là quá trình khai phá và hình thành về địa vực, đơn vị hành
chính và dân cư tỉnh Tây Ninh, đồng thời đó cũng là thời kỳ lịch sử diễn ra
quá trình khẩn hoang, mở mang bờ cõi về phía Nam của Tổ Quốc chúng ta.
Trong số người Việt di cư đầu tiên có mặt rất nhiều thành phần. Đó là những
người tù tội bị lưu đày, những người trốn tránh sưu thuế binh dịch, những
người giàu có ở các tỉnh miền Trung, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ.
Nhưng thành phần chủ yếu nhất chiếm đa số là những người nông dân nghèo,
khốn khổ, cùng cực vì tai họa chiến tranh, vì bị giai cấp phong kiến áp bức,
bóc lột nặng nề, không thể sống nổi, buộc lòng phải rời bỏ quê hương, làng
xóm đi vào các vùng đất mới xa xôi để tìm đường sống. Trên vùng đất mới,
với rừng rậm đầy thú dữ, với sông sâu nhiều cá sấu, lại chưa quen thủy thổ,
cho nên họ tự gắn bó với nhau, tự động quần tụ với nhau thành thôn, thành ấp
để giúp đỡ nhau khai hoang mở đất và đối phó với thiên tai, thú dữ, địch họa.
Vì là dân “tứ chiếng” nên lớp cư dân người Việt đầu tiên hay phản
kháng, nổi dậy, ít chất thần phục quyền uy phong kiến, càng ít sự ràng buộc
của lễ giáo đạo đức Khổng Mạnh, nghĩa hiệp, ngang tàng, dũng cảm, không
sợ nguy hiểm khó khăn. Tính cách của con người cũng phần nào được quy
định bởi hoàn cảnh, môi trường sống. Họ hiểu rõ thế nào là tủi cực, tủi nhục,
có phải vì thế mà họ rất mến khách, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho những
người cơ nhỡ, khó khăn.
Theo Địa chí Tây Ninh, trong nửa đầu thế kỷ XIX, cộng đồng cư dân
25
người Việt khá đông đúc, đóng vai trò quyết định trong sự mở mang của Tây
Ninh. Từ công tác khai hoang lập ấp của các đội quân phiêu tán đến sự hỗ trợ
của các binh sĩ… đồn bảo, từ sự hưởng ứng chính sách chiêu dân lập ấp của
các “tiền hiền”, các dòng họ tiên phong đến sự bổ sung của các nhóm quân
phạm được cứu xét vào các đội khai hoang đã tạo thành một cộng đồng dân
cư - dân tộc đông đảo. Tất cả họ đã đồng tâm nhất trí, đổ mồ hôi xương máu
biến vùng đất lau sậy, rừng rậm hoang vu thành những xóm làng nối tiếp nhau
với ruộng vườn phì nhiêu. Cư dân người Việt với những làng xã của họ được
xây nên trong 50 năm đầu của thế kỷ XIX là cơ sở xã hội và nguồn lực vật
chất cho sự ra đời và phát triển của hai huyện Quang Hóa và Tân Ninh. Do
vậy, vào những năm 50 của thế kỷ XIX, phủ Tây Ninh đã được xác định rõ
ràng với ranh giới, xóm làng cụ thể trong bản đồ Việt Nam [62, tr.91].
Về phía người Hoa thì họ đến Nam Bộ chủ yếu theo dòng di dân “Phản
Thanh phục Minh”, họ được chúa Nguyễn cho phép định cư trên vùng đất
này, nhanh chóng tỏa ra nhiều nơi để sinh cơ lập nghiệp. Họ đã cùng người
Việt và các tộc người khác tại địa phương (Tây Ninh) mở mang đất đai tạo
dựng cuộc sống, lập nên các khu phố chợ khá đông đúc trên vùng đất dọc theo
sông Vàm Cỏ Đông. Họ có vai trò lớn trong việc hình thành các tụ điểm dân
cư, đặc biệt là các khu dân cư đô thị xưa ở Tây Ninh. Cộng đồng người Hoa ở
Tây Ninh bao gồm các nhóm Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hẹ…
Người Khmer, người Chăm được xem là lớp cư dân sinh sống ở vùng đất
địa phương trước nhất (so với người Việt và người Hoa). Khi lớp cư dân Việt
vào đây mở đất thì một bộ phận chung sống hòa hợp, một bộ phận đối kháng.
Chính vì thế, trong quá khứ đã xảy ra nhiều cuộc hỗn chiến giữa Việt – Miên
(Khmer). Tuy nhiên, không thấy dấu vết của sự xung đột giữa Việt và Chăm,
cả trong thực tại đời sống và trong văn học dân gian. Điều đó càng khẳng định
tình hình chung giữa các tộc người ở Tây Ninh là sự cộng cư hòa hiếu.
Thành phần dân cư ở Tây Ninh với mức dân số cứ tăng theo số người
26
vào khẩn hoang, mở đất. Nhưng vào đầu thế kỷ XX, một sự kiện quan trọng
đã tác động mạnh đến sự gia tăng dân số và phân bố dân cư ở Tây Ninh, đó là
sự ra đời của Đạo Cao Đài. Sau khi được ra đời (1926), nhất là khi “Thánh
Tượng” được dời từ chùa Gò Kén về làng Long Thành, các chức sắc Cao Đài
đã ra sức vận động dân chúng khắp miền Lục tỉnh kéo về vùng Đất Thánh để
làm “công quả”, khai vỡ đất hoang, xây cất Đền Thánh. Sau khi xây dựng
xong Tòa Thánh, dân cư đến ngày một đông, tạo nên một vùng dân cư – tôn
giáo. Khi Pháp quay trở lại chiếm Nam Bộ, dân chúng khắp nơi lại kéo nhau
về vùng đất đạo hầu mong “tránh cảnh bom cày đạn xới, được nương dưới
bóng lành đất đạo chở che”, cho nên dân cư xung quanh Tòa Thánh ngày một
đông hơn. Khi Mỹ đặt gót giày lên miền Nam, “dân lánh nạn” kéo về Tây
Ninh đông lại càng thêm đông. Chỉ trong vòng năm mươi năm từ đầu thế kỷ
đến giữa thế kỷ XX, dân số ở Tây Ninh đã tăng lên gấp 3,5 lần.
Lịch sử, hoàn cảnh đã kéo những tộc người quần cư lại với nhau, hợp lực
với nhau trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần, tín ngưỡng. Nhìn
chung giữa các tộc người ở Tây Ninh là mối quan hệ giao lưu hòa hợp, cộng
cư, cộng cảm, cộng sinh với nhau.
1.2.2. Mối quan hệ giữa các tộc người về đời sống văn hóa – tín
ngưỡng ở Tây Ninh
“Nhìn theo phương pháp tiếp cận hệ thống thì trong nhiều nhân tố tác
động để hình thành nên vùng văn hóa hay vùng thể loại, thì thường có nhân tố
chủ đạo, gọi là nhân tố tạo hệ thống. Trong phần lớn các trường hợp đó là
quan hệ giao lưu ảnh hưởng văn hóa giữa các dân tộc, các bộ phận dân cư nội
vùng và ngoại vùng” [74, tr.106]. Vùng văn hóa Nam Bộ cũng chịu sự chi
phối bởi sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người từ khi có những lớp cư dân
đầu tiên đến quần cư sinh sống cho đến nay. Nhắc đến Nam Bộ, chúng ta đều
biết đây là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây, họ vừa mang các
truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của
27
cư dân sinh sống từ trước, tạo nên bức tranh đa dạng về văn hóa - tín ngưỡng.
Tây Ninh nằm trong bức tranh văn hóa Nam Bộ đa dạng nên ít nhiều
cũng mang những nét chung của văn hóa vùng. Tây Ninh là vùng đất cư trú
của nhiều dân tộc, nên về đời sống văn hóa – tín ngưỡng tất yếu có sự đa dạng
phức tạp và không kém phần đặc sắc.
Nét đầu tiên để nhận diện đời sống văn hóa – tín ngưỡng ở một địa
phương là điểm qua các cơ sở tôn giáo – tín ngưỡng. Các cơ sở tôn giáo – tín
ngưỡng ở Tây Ninh có nhiều loại hình, bao gồm: đình, miếu, dinh, am, đền,
chùa, cung (Thanh An), hội quán (Thất phủ) của người Việt, người Khmer,
người Hoa, nhà thờ Công giáo, Tin lành, Chùa Tòa Thánh, Thánh thất Cao
Đài, Thánh đường Hồi giáo Islam của người Chăm,…
Các điểm thờ tự, tín ngưỡng đã phần nào phản ánh một quá trình cộng cư
giữa người Việt, Khmer, Chăm, Hoa,…Quá trình ấy đã diễn ra hiện tượng tồn
tại đan xen nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, nhưng giữa các dân tộc
luôn giữ được tinh thần bao dung tín ngưỡng. “Thần thánh của dân tộc khác
vẫn là tiêu biểu cho việc khuyến thiện trừng ác, tuy khác về tên gọi, về hình
tượng… đã đồng hóa, đã tôn kính rồi thì người bản địa và người mới đến
chẳng ai mang mặc cảm tự ti hoặc tự tôn. Tất cả đều bình đẳng trước thần
thánh” (theo Lê Xuân Diệm (1998) “Đồng bằng Nam Bộ trong buổi đầu tiếp
xúc Đông – Tây”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 38, tr.79-82).
Bên cạnh sự hiện diện của các tôn giáo lớn phổ biến như Phật giáo,
Thiên chúa giáo, Hồi giáo và tôn giáo bản địa là Đạo Cao Đài, ở Tây Ninh
vẫn lưu truyền hệ thống tín ngưỡng dân gian. Tín ngưỡng dân gian này có
một sức sống lâu bền và bất diệt trong lòng người dân, nó hòa hợp với các tôn
giáo khác ở địa phương, thâm nhập vào các nơi thờ tự của chính các tôn giáo
ấy như không có một trở lực nào ngăn cản, trái lại nó còn được “mời chào”
bởi chính các tôn giáo. Trong các đền chùa miếu mạo hay có sự phối hợp thờ
tự, đó là vừa thờ Thần, vừa thờ Phật, vừa thờ Bà,… Đơn cử như ở Linh Sơn
28
Tiên Thạch tự (chùa Bà Đen) thờ chính là Linh Sơn Thánh Mẫu, phối thờ có
Phật Quan Âm, Ngọc Hoàng, Bà Chúa Xứ, bên cạnh đó có các ngôi miếu nhỏ
thờ sơn thần, thổ địa, ông tà ở bên ngoài.
Tín ngưỡng dân gian có thể chia thành tín ngưỡng cộng đồng và tín
ngưỡng trong gia đình. Tín ngưỡng cộng đồng: Thờ cúng ở đình làng, Thờ
Quan Lớn Trà Vong, Thờ cúng các nữ Thần, Thờ ông Tà, Thờ cúng của
người Hoa,… Tín ngưỡng trong gia đình (Việt): điển hình nhất là Thờ ông bà,
tổ tiên. Bên cạnh đó còn có một hệ thống thần linh tín ngưỡng dân gian mang
tính bản địa hoặc mới du nhập trong quá trình cộng cư và giao lưu văn hóa
với các dân tộc (theo Huỳnh Quốc Thắng, “Yếu tố góp phần hình thành vùng
văn hóa Nam Bộ - Nét “gạch nối” của văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á”,
Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á, tr.132-133).
Thờ cúng ở đình làng được xem là một nét văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu
của người Việt, ở đình thờ chính là thần Thành hoàng, được xem là Thần
làng. Tín ngưỡng – thờ Thần Thành hoàng đồng nhất và gần gũi với anh linh
những thế hệ đi trước có công lao mở đất, lập làng, dựng ấp (Tiền Hiền khai
khẩn) và có công trạng mở trường, lập chợ, đắp đường (Hậu Hiền khai cơ)
cũng như bao gồm các hồn thiêng của anh hùng, liệt sĩ và cả các thần thánh
thiêng liêng được mang vào từ vùng quê cũ ở miền Bắc, miền Trung… Tục
thờ Thành hoàng có nội dung lịch sử và xã hội sâu sắc, là một biểu hiện của
chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng hóa, tâm linh hóa.
Riêng nói đến đời sống văn hóa – tín ngưỡng của cư dân Tây Ninh
không thể không nhắc tới hiện tượng văn hóa – tín ngưỡng Bà Đen (được tôn
xưng là Linh Sơn Thánh Mẫu). Theo ý kiến chung của các nhà nghiên cứu
văn hóa, tục thờ Mẫu ở Tây Ninh được bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần trong tín
ngưỡng bản địa có từ xa xưa. Giải thích về quan niệm này, Nguyễn Quang Lê
Theo tiến trình lịch sử dân tộc, tục thờ Mẫu (hay còn gọi là đạo Mẫu) được
cho rằng:
29
người Việt đi mở nước mang theo vào miền Trung và miền Nam. Khi đến khai
phá những vùng đất mới, tục thờ Mẫu của người Việt đã giao hòa với tín
ngưỡng thờ Nữ thần PôNagar của người Chăm ở miền Trung để trở thành tục
thờ Bà Mẹ Xứ Sở, rồi được Việt hóa thành Thánh mẫu Thiên Yana (tức Bà
Chúa Tiên ở Huế hay Bà Chúa Ngọc ở Nha Trang), được các vua của triều
đình phong kiến nhà Nguyễn sắc phong Thượng đẳng thần và tặng thêm nhiều
mỹ tự. Về sau tiếp tục đi vào Nam Bộ để thành tục thờ Bà Chúa Xứ ở Châu
Đốc, An Giang (do giao lưu với tín ngưỡng thờ nữ thần của người Chăm) và
tục thờ Bà Đen do giao lưu với tín ngưỡng Chăm – Khơmer ở Tây Ninh mà
thành [44, tr.35].
Dưới đây là sơ đồ hóa bước đường hình thành tục thờ Bà ở Tây Ninh
do Nguyễn Quang Lê “chỉ dẫn”.
Còn theo Ngô Đức Thịnh, con đường hình thành tín ngưỡng Bà Đen xem
ra có vẻ nhập nhằng hơn, nhưng lại có chiều dài địa lý ngắn hơn. Ông cho
rằng, Bà Đen là kết quả của giao lưu và hỗn dung tín ngưỡng giữa người Việt
và Khmer. Quá trình Việt hóa vị nữ thần Khmer này qua các chuỗi chuyển
tiếp Kali – Bà Đinh – Bà Chúa Động – Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu [75].
Cụ thể hơn, Ngô Đức Thịnh còn phát hiện và ghi nhận ở đền Bà Chúa
30
Xứ không có hiện tượng phối thờ Bà Đen, nhưng ở đền – chùa Bà Đen, thì
nơi chính điện, Bà Đen (Bà mặt đen) và Bà Chúa Xứ (Bà mặt trắng) ngồi
ngang nhau. Theo dân gian, Bà Đen và Bà Chúa Xứ là hai chị em. Ở một ngôi
đền lớn thờ Bà Rá (dân gian gọi là Bà Đen Phước Long), lại phối thờ linh
tượng Bà Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Đen và coi Bà Rá và Bà Đen là hai
chị em. Có thể hình dung sự phối thờ các Bà qua sơ đồ sau:
Theo đó, tín ngưỡng dân gian đã được di chuyển theo chiều dài địa lý, từ
địa phương này sang địa phương khác và hoàn toàn được “thu nạp” chứ
không phải là sự bài trừ.
Xa hơn, Ngô Đức Thịnh còn đặt vấn đề về mối quan hệ giữa Bà Chúa
Xứ (An Giang) – Bà Đen (Tây Ninh) – Bà Rá (Phước Long) với tục thờ Muk
Juk (Bà Đen) của người Chăm ở phía Đông Nam trên địa bàn Ninh Thuận,
Bình Thuận. Tuy nhiên vấn đề này tác giả vẫn còn đang để ngỏ.
Trong quá trình cộng cư, hòa nhập, giao lưu, bên cạnh những nét truyền
thống của bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, đã hình thành những sắc thái chung
giữa các dân tộc. Điển hình là ở tục thờ Bà Đen – vốn được xem là một hiện
tượng hỗn dung tín ngưỡng (Việt – Khmer – Chăm), một hình tượng Mẫu “đa
văn hóa”, “đa quốc tịch” ở Tây Ninh.
Cũng như nhiều địa phương, nhiều vùng miền trong cả nước, lễ hội dân
31
gian là một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống văn hóa – tín ngưỡng
của cư dân Tây Ninh. Đi liền với tín ngưỡng bao giờ cũng là lễ hội, tín
ngưỡng được tồn tại qua lễ hội, tín ngưỡng được nuôi dưỡng sự sống của
mình qua những lễ hội tổ chức trong cộng đồng, ngược lại lễ hội được diễn ra
đều đặn và được tổ chức long trọng trong không khí linh thiêng là nhờ có tín
ngưỡng (của dân gian). Lễ hội gồm hai khâu lễ và hội với mục đích chính là
tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với thần linh đã coi sóc che chở đời sống của
cư dân và cầu nguyện thần linh ban ân cho con người cuộc sống ấm no, hạnh
phúc; bên cạnh đó là mục đích vui chơi, giải trí trong phần hội.
Lễ hội dân gian ở Tây Ninh diễn ra gần như suốt năm, nhưng chủ yếu
tập trung vào mùa xuân (trước khi vào nông vụ) và mùa thu (sau khi thu
hoạch mùa màng). Thường thì mùa lễ hội là vào khoảng tháng 2, tháng 3 âm
lịch, còn những tháng khác trong năm cũng có diễn ra lễ hội nhưng không tập
trung. Căn cứ vào tiêu chí tộc người, có thể phân thành lễ hội người Việt và lễ
hội các dân tộc khác (Khmer, Hoa, Chăm,…). Có thể sơ đồ hóa các bộ phận
lễ hội ở Tây Ninh như sau:
Lễ hội dân gian thuần túy bao gồm các lễ hội đình, lễ hội Quan Lớn Trà
32
Vong, Lễ vía Bà Chúa Xứ; Lễ hội dân gian có yếu tố tôn giáo thì có Lễ vía Bà
Đen, với sự chủ trì của Phật giáo; Lễ hội tôn giáo có yếu tố dân gian thì có Lễ
vía Đức Chí Tôn, Lễ vía Đức Phật Mẫu của Đạo Cao Đài với nhiều hình thức
dân gian như có rước cộ, múa mâm vàng, múa bông, múa tứ linh,… Dù cho
đậm chất dân gian hay có pha lẫn yếu tố tôn giáo thì các ngày lễ hội trên cũng
đều thực sự là lễ hội của dân gian, lễ hội của quần chúng. Ở Tây Ninh không
có lễ hội làng vì nó không còn giới hạn ở phạm vi làng nữa, mà đã mở rộng
“biên giới” vượt sang các làng khác. Đó là lễ hội của làng mang tên “tín
ngưỡng” chứ không còn ở phạm vi làng hành chính, làng địa lý. Bằng chứng
là lễ hội Quan Lớn Trà Vong thu hút người dân từ khắp nơi trong tỉnh về hội
tụ, chiêm bái, kính ngưỡng; mở rộng hơn nữa là lễ hội Bà Đen với hàng nghìn
du khách địa phương và ngoài địa phương về dự lễ, hội mỗi năm. Và cũng
không có hiện tượng phân biệt lễ hội của tộc người này, tộc người khác, ngày
vía Bà Thiên Hậu hay vía Ông Quan Thánh Đế Quân không những chỉ của
riêng người Hoa mà còn có cả người Việt đến chiêm bái, cầu nguyện. Hay
như lễ vía Đức Chí Tôn (mùng 9 tháng giêng âm lịch) và lễ vía Đức Phật Mẫu
(15 tháng 8 âm lịch) của Đạo Cao Đài có đủ các thành phần dân tộc trong tỉnh
và ngoài tỉnh đến tham dự, ngay chính trong các điệu múa cũng có sự kết hợp
của các vũ khúc người Khmer, Stiêng,… Thành phần các tín đồ Đạo Cao Đài
bao gồm đủ các dân tộc: Việt, Hoa, Khmer, Tà mun,… Về phía người Chăm,
theo kết quả điền dã thực tế thì người Chăm ở Tây Ninh chỉ theo đạo Hồi, họ
đi đến các cơ sở tín ngưỡng thờ tự của người Việt, Hoa chỉ là để tham quan
chứ không hành lễ, không biết rằng người nghiên cứu có bỏ sót một bộ phận
người Chăm nào ở tỉnh hay không nhưng đó là kết quả bước đầu chúng tôi ghi
nhận.
Cần phải duy trì các lễ hội dân gian tôn thờ, tưởng niệm các vị anh hùng
lịch sử, danh nhân văn hóa tại các đền, miếu, đình, chùa vì đó là những truyền
thống tốt đẹp người xưa đã để lại cho chúng ta. Những lễ hội này như một
33
hình thức nuôi dưỡng ý chí của toàn dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và
giữ nước, nó phản ánh một quá trình gian lao nhưng đầy vẻ vang của ông cha
ta trong suốt chặng đường khai hoang mở đất, cả một chiều dài gây dựng và
tạo tác văn hóa đặc thù dân tộc. Lễ hội chính là nét đặc trưng độc đáo của bản
sắc văn hóa dân tộc.
“Việc nghiên cứu các sinh hoạt văn hóa dân gian là không thể thiếu nếu
muốn tìm hiểu thật là đầy đủ giá trị thẩm mỹ của văn hóa dân gian, bởi vì chỉ
trong sinh hoạt văn hóa dân gian, với tính chất là tác phẩm nghệ thuật nguyên
hợp, mới triển khai được giá trị thẩm mỹ của nó một cách trọn vẹn nhất” (theo
Đinh Gia Khánh, “Văn hóa dân gian là một nghệ thuật nguyên hợp”, Văn hóa
dân gian những lĩnh vực nghiên cứu, tr.32). Tín ngưỡng, lễ hội được xem là
một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian chuyển tải đầy đủ nhất những giá trị
thẩm mỹ văn hóa dân gian, văn học dân gian. Đời sống văn hóa – tín ngưỡng
của cư dân Tây Ninh không có sự phân biệt, bài xích lẫn nhau giữa các tộc
người, các tôn giáo, ngược lại nó diễn ra rất hòa hiếu và cố kết với nhau. Quá
trình cộng cư, cộng cảm của các tộc người trong đời sống văn hóa - tín
ngưỡng đã phản ánh chân thực vào văn học dân gian địa phương. Có chăng
những xung đột chỉ xảy ra trong thời kỳ đầu mở đất của tiền nhân, và những
xung đột đó cũng chuyển mình vào trong văn học dân gian, bền vững một quá
khứ anh hùng của cha ông trong chính bộ phận văn học của quần chúng.
34
Tiểu kết chương 1
Chúng tôi xin được tạm kết vài điều:
Thứ nhất, kế thừa những lý thuyết sưu tầm, điền dã của những người đi
trước, chúng tôi bắt tay vào công tác sưu tầm, điền dã trực tiếp của cá nhân
với những tiêu chí về khoanh vùng địa lý chỉ xoay quanh các địa danh, các
đền, miếu, đình, chùa, các cơ sở thờ tự tín ngưỡng; đối tượng tập trung vào
nghệ nhân dân gian, những người già, người lớn tuổi có vốn tri thức dân gian.
Kết hợp với các phương pháp sưu tầm điền dã “hạt nhân” – tức có sự lựa chọn
đối tượng, phương pháp so sánh – tức là có sự so sánh giữa các đối tượng và
giữa các bản kể. Song song đó, chúng tôi cũng định tính về mối quan hệ giữa
văn học dân gian (truyện dân gian) và tín ngưỡng. Theo đó, chúng tôi xác lập
một nhiệm vụ quan trọng trong công tác sưu tầm, nghiên cứu đó là phải có
vốn tri thức về tín ngưỡng dân gian địa phương cũng như phải trực tiếp tham
gia trải nghiệm vào nó – môi trường tín ngưỡng dân gian địa phương.
Thứ hai, Tây Ninh, do vị trí địa lý cũng như lịch sử vùng đất đã “quy
định” địa phương là nơi gặp gỡ và quần tụ nhiều tộc người mà các tộc người
chính là Việt, Hoa, Chăm, Khmer, Tà mun. Các tộc người Chăm, Khmer, Tà
mun tập trung sống theo từng xóm, ấp nhưng trong quá trình sinh sống vẫn có
sự giao lưu cởi mở với tộc người Việt, Hoa. Sự hỗn dung về văn hóa, tín
ngưỡng giữa các tộc người diễn ra tự nhiên như nó vốn thế và quá trình ấy đã
tạo nên một bản sắc văn hóa riêng cho Tây Ninh.
Thứ ba,Tây Ninh thuộc vùng đất mới Nam Bộ nên ít nhiều cũng mang
những nét đặc trưng về văn hóa, lịch sử của vùng đất mới. Đó là sự giao thoa
giữa cái cũ truyền thống và cái mới hội nhập tạo nên một nét rất riêng của
vùng đất mới mà Tây Ninh là một bộ phận. Đó cũng là nơi hội lưu và tổng
hòa văn hóa của các tộc người tạo nên một nét văn hóa mới có tính chất khu
biệt so với vùng đất truyền thống là Bắc Bộ, một phần nào đó với Trung Bộ.
35
Những đặc điểm văn hóa – tín ngưỡng, tộc người ở Tây Ninh được nêu
trên tất yếu nó sẽ được soi chiếu vào văn học dân gian Tây Ninh mà truyện
dân gian Tây Ninh là một bộ phận. Để nắm bắt rõ hơn, chúng tôi thiết nghĩ
cần phải khảo sát tình hình tư liệu của đề tài, tức tình hình truyện dân gian
Tây Ninh.
36
Chương 2. TÌNH HÌNH TƯ LIỆU VÀ PHÂN LOẠI, MÔ TẢ
TƯ LIỆU
2.1. Tình hình tư liệu
Việc đầu tiên của tổng hợp tư liệu là phải xác định cho được tiêu chí
chọn lọc tư liệu. Theo chúng tôi, một tác phẩm là truyện dân gian Tây Ninh
phải đáp ứng 2 tiêu chí sau:
1. Tác phẩm phải được lưu truyền trong cộng đồng cư dân ở Tây Ninh;
2. Đối tượng phản ánh trong tác phẩm nhất thiết phải liên quan đến con
người và đời sống con người (trong quá khứ) ở Tây Ninh;
Những tác phẩm nào đáp ứng đầy đủ 2 tiêu chí trên, kết hợp với đối
tượng của đề tài nghiên cứu chúng tôi đề cập ở mục 1.1.1 sẽ được chúng tôi
chọn lọc, tổng hợp trong nguồn tư liệu của đề tài nghiên cứu.
Dưới đây, là tình hình tư liệu của đề tài nghiên cứu, chúng tôi phân tách
tư liệu thành hai nhóm: nhóm tư tiệu đã được công bố và nhóm tư liệu được
sưu tầm, điền dã.
2.1.1. Tư liệu đã được công bố
Có nhiều công trình tồn tại bản kể truyện dân gian Tây Ninh nhưng sau
khi tìm hiểu và xem xét, chúng tôi nhận thấy giữa các công trình có sự trích
dẫn qua lại nên để tránh sự trùng lặp chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình
và có kèm theo sự trích dẫn cụ thể. Chúng tôi sắp xếp theo mức độ bao quát
về phạm vi rộng, hẹp của công trình và sau đó là tiêu chí về thời gian trước,
sau.
1. Tổng tập Văn học dân gian người Việt (2003) (tập 5): Truyền thuyết
dân gian người Việt (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) có 1 bản kể Bà Đênh –
Linh Sơn Thánh Mẫu (trích dẫn từ Các nữ thần Việt Nam) và một bản khác
Tích Bà Đen ở Tây Ninh (trích dẫn từ Chuyện xưa tích cũ).
37
2. Chuyện kể địa danh Việt Nam (2000) Vũ Ngọc Khánh có 1 bản kể Núi
Bà Đen và 1 khảo dị Nàng Rê Đeng.
3. Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng của Việt Nam
(2009) (Nguyễn Minh San) do chỉ tập trung vào truyện kể về các thần nữ
danh tiếng nên tác giả chỉ đề cập đến truyện kể Sự tích Bà Đen ở Tây Ninh
được chọn lọc từ các sách Tây Ninh xưa và nay Huỳnh Minh (2 bản), Nếp cũ
hội hè đình đám (1991) Toan Ánh (2 bản). Đặc biệt ở đây, tác giả trích dẫn từ
Nếp cũ hội hè đình đám, sự tích thành lập Điện Bà, với chủ ý của tác giả đây
chỉ là một nguồn cung cấp thông tin, nhưng chúng tôi nhận thấy với nội dung
lưu truyền này thì nó có thể là một truyện gian gian độc lập, được xếp ngang
với các bản truyện dân gian khác. Chúng tôi mạnh dạn, đưa nó vào phụ lục
truyện dân gian Tây Ninh với tên gọi Sự tích về việc thành lập Điện Bà.
4. Truyện kể dân gian Nam Bộ (1987) (Nguyễn Hữu Hiếu) được tác giả
chọn lọc lại từ các công trình sưu khảo của các tác giả khác: Tây Ninh xưa và
nay (Huỳnh Minh), Truyện cổ Khơ-me Nam Bộ (Huỳnh Ngọc Trảng). Đó là
bản kể Sự tích Bà Đen (1 bản chính, 2 khảo dị), Sự tích tảng đá nằm trên
ngọn cây dầu Trại Bí hay ông khổng lồ.
5. Nghìn năm bia miệng (2 tập) (1992) (Huỳnh ngọc Trảng – Trương
Ngọc Tường): gồm các truyện được chọn lọc từ nhiều nguồn: Cọp vắt khăn
(trích dẫn từ báo “Tuổi Trẻ chủ nhật” năm 1990), Sự tích miếu ông Gốc và
Bến Trường Đổi, Võ Văn Sâm với vị Yết Ma Bùi Kiệm (trích dẫn từ Tây
Ninh xưa và nay), Nước nóng trừ bệnh điên” (trích dẫn từ Đối cổ kỳ quan).
Riêng truyện Nước nóng trừ bệnh điên tuy có đầy đủ cốt truyện, nhân vật,
ngôn ngữ kể nhưng nó không có chất dân gian, không thể hiện được tâm tư,
nguyện vọng cũng như quan điểm đánh giá của quần chúng nên chúng tôi
không xếp truyện vào nguồn truyện dân gian Tây Ninh.
6. Tây Ninh xưa và nay (1971) do Huỳnh Minh sưu khảo, tác giả chia
công trình thành nhiều phần, trong đó ở các phần Di tích lịch sử; Danh nhân
38
lịch sử; Tây Ninh qua các huyền thoại, giai thoại, chúng tôi trích lọc được 18
truyện dân gian (kèm theo 2 khảo dị).
7. Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (1994) (Lê Trí Viễn chủ biên)
gồm 2 tập với 7 truyện dân gian trong phần văn học dân gian.
8. Tìm hiểu Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Tây Ninh1 (2014) (Phan
Kỷ Sửu). Ở một số điểm thờ tự, tín ngưỡng, tác giả có nêu gốc tích, truyện
tích lý giải nhưng chỉ là sự kế thừa và có phần chỉnh lí lại. Tuy nhiên bản ghi
về tích Thành hoàng đình Thái Bình được tác giả trực tiếp điền dã, sưu tầm lại
trong cư dân. Chúng tôi nhận thấy, bản ghi này có đủ tiêu chí để là một truyện
dân gian. Nên chúng tôi ghi nhận vào nguồn truyện dân gian Tây Ninh với tên
gọi Thành hoàng đình Thái Bình.
9. Luận văn thạc sĩ “Khảo sát văn học dân gian Stiêng”2 (2013), trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh của Từ Thị Thơ, có 1 bản kể
Truyền thuyết về núi Bà Đen và Bà Rá liên quan đến nguồn gốc núi Bà Đen
ở Tây Ninh. Tuy là tư liệu chưa xuất bản thành sách nhưng đây là kết quả của
tác giả thu thập được trong công tác sưu tầm, điền dã tộc người Stiêng ở Bình
1 Đây là công trình nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương, chúng tôi chỉ trích lọc được 1 truyện trên cơ sở nhận diện nên chúng tôi không đưa vào bảng hóa tư liệu. 2 Đây là một công trình mang tính chất giới hạn ở tộc người Stiêng Bình Phước nên ở phần bảng hóa tư liệu chúng tôi không đưa vào làm cứ liệu nhận xét, tuy nhiên chúng tôi sử dụng nó như một bản truyện của nguồn truyện dân gian Tây Ninh.
Phước (tiếp giáp Tây Ninh), nên vẫn có mức độ tin cậy.
39
Có thể bảng hóa nguồn tư liệu vừa điểm qua như sau:
TÊN SÁCH TÊN TRUYỆN SỐ LƯỢNG
1 (1 khảo dị) “Bà Đênh – Linh Sơn Thánh Mẫu” (“Tích Bà Đen ở Tây Ninh”) 1. Tổng tập Văn học dân gian người Việt (2003) (tập 5): Truyền thuyết dân gian người Việt
2. Chuyện kể địa danh Việt Nam (2000) 1 (1 khảo dị) “Núi Bà Đen” (“nàng Rê Đeng”)
“Sự tích Bà Đen” “Sự tích thành lập Điện Bà” 2 (3 khảo dị)
3. Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng của Việt Nam (2009)
4. Tây Ninh xưa và nay (1971) 18 (2 khảo dị) “Sự tích Linh Sơn Thánh Mẫu” Một số truyện khác (Phụ lục 1)
5. Truyện kể dân gian Nam Bộ (1987) 2 (3 khảo dị)
“Sự tích Bà Đen” Sự tích tảng đá nằm trên ngọn cây dầu ở Trại bí (hay ông khổng lồ)
3
6. Nghìn năm bia miệng – sự tích và giai thoại dân gian Nam Bộ (2 tập) (1992) Cọp vắt khăn Sự tích miếu ông Gốc và Bến Trường Đổi Võ Văn Sâm với vị Yết Ma Bùi Kiệm
7 “Sự tích núi Bà Đen” Một số truyện khác (Phụ lục 1) 7. Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (1994 – 1995)
Từ bảng tư liệu, ta có thể rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, công trình số 1, 2, 3 là những công trình mang tính chất bao
quát cả nước nhưng con số mà truyện dân gian Tây Ninh góp mặt chỉ dừng lại
1 truyện liên quan đến địa danh núi Bà Đen (không kèm khảo dị). Đó là một
40
con số quá ít ỏi. Từ đó, đặt ra một vấn đề phải chăng nguồn truyện dân gian
Tây Ninh quá nghèo nàn hay là kém phần đặc sắc?
Thứ hai, công trình số 5, 6 là hai công trình mang tính chất sưu khảo (có
sự tổng hợp từ các công trình sưu khảo khác) trong phạm vi vùng, phạm vi Nam Bộ3 (18 tỉnh, thành). Con số truyện dân gian Tây Ninh góp mặt ở đây
cũng không nhiều nếu không nói là quá ít với 2/95 truyện (2%) (Truyện dân
gian Nam Bộ), 3/201 truyện (1,5%) (Nghìn năm bia miệng – 2 tập). Đặt vấn
đề là tại sao truyện dân gian Tây Ninh lại quá ít ỏi trong nguồn truyện dân
gian phong phú của Nam Bộ như vậy?
Thứ ba, công trình số 4, 7 là hai công trình mang tính chất sưu khảo
trong phạm vi địa phương. Tây Ninh xưa và nay là một trong những công
trình sưu khảo hàng loạt địa phương của Huỳnh Minh trong những năm 70,
71 của thế kỷ XX, thời điểm mà nhắc tới đã thấy khó khăn trong việc sưu
tầm, điền dã. Với công trình này, tác giả không chỉ sưu tầm những mẩu
chuyện dân gian mà còn tìm hiểu và ghi chép về văn hóa, lịch sử nói chung
của địa phương. Trong đó, chúng tôi đã trích lọc ra được 18 truyện dân gian
(2 khảo dị) trên cơ sở dựa vào tiêu chí truyện dân gian Tây Ninh được chúng
tôi xác định ở trên. Nhắc lại, công trình được tác giả thực hiện trong hoàn
cảnh khó khăn, còn thiếu thốn sự hỗ trợ về phương tiện, vật chất mà đã thu
thập được 18 truyện thì còn số này quả là đáng kể và đáng ghi nhận.
Công trình Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường của cố giáo sư Lê Trí
Viễn cũng nằm trong một loạt những công trình Thơ văn địa phương trong
nhà trường được tác giả biên soạn theo đề án của Bộ giáo dục và đào tạo trong
những năm 1994 – 1995. Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường được chia làm 2
tập dành cho 3 cấp Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Quyển 1
(Tiểu học & Trung học cơ sở) gồm có 5 truyện, quyển 2 (Trung học phổ 3 Dĩ nhiên số công trình sưu khảo truyện dân gian Nam Bộ không dừng lại con số 2 mà còn nhiều hơn, nhưng trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ dẫn ra những công trình phục vụ cho đề tài, tức là những công trình có dung chứa truyện dân gian (có liên quan) đến Tây Ninh.
41
thông) có 2 truyện nằm trong phần văn học dân gian (trong đó còn có các thể
loại văn vần văn học dân gian). Công trình này do nhóm biên soạn sưu tầm
trong nhân dân ở địa phương, một số truyện có ghi nguồn (người kể, địa chỉ
người kể). Truyện Xã Hòa Hiệp dường như đã được “gia công” của người
sưu tầm nên đã mất đi phần nhiều chất dân gian. Cụ thể là miêu tả tâm lý
nhân vật quá nhiều (đi ngược lại đặc trưng truyện dân gian, chỉ chú trọng
hành động nhân vật). Về số lượng truyện, con số 7 trong 2 tập (vì đây chỉ là
phần văn học địa phương trong nhà trường nên khâu biên soạn, tuyển chọn
không nhiều) bao gồm cả văn học dân gian và văn học viết thì đó là con số
tương đối.
Thứ tư, tất cả các công trình (trừ Nghìn năm bia miệng) đều tồn tại bản
truyện về Sự tích Bà Đen (kèm theo khảo dị). Vấn đề đặt ra là tại sao mẩu
truyện này lại phổ biến như vậy? Và tuy mang dấu tích địa phương Tây Ninh
nhưng mẩu truyện này đã vượt ra ngoài phạm vi địa phương trở thành tài sản
chung của cộng đồng, dân tộc. Phải chăng do nội dung tín ngưỡng thờ Mẫu
Bà Đen của cư dân Tây Ninh được phản ánh từ truyện kể đã bắt gặp và hội tụ
vào một “con đường chung” của tín ngưỡng thờ Mẫu của cả cộng đồng, dân
tộc?
Thứ năm, trong tất cả các công trình (trừ Tổng tập văn học dân gian
người Việt (tập 5): Truyền thuyết dân gian người Việt) thì các truyện dân gian
đều được gọi chung bằng các tên gọi khi là truyện dân gian, khi là sự tích, khi
là huyền thoại, khi là giai thoại. Những tên gọi sự tích, huyền thoại, giai thoại
không hàm chứa ý thức thể loại văn học dân gian mà chỉ nhằm vào nội dung
cổ xưa, còn được truyền tụng trong dân gian. Các tác giả chưa có sự phân loại
thể loại ở đây. Từ đó, đặt ra cho chúng tôi một nhiệm vụ phân loại truyện dân
gian (sẽ đề cập ở phần sau).
2.1.2. Tư liệu sưu tầm, điền dã
Một vấn đề mà chúng tôi gặp phải khi tiến hành sưu tầm, điền dã. Đó là
42
chúng tôi chủ trương không giới hạn tộc người, mà mở rộng ra tất cả các tộc
người đang sống ở Tây Ninh nhưng trong quá trình đi thực tế chúng tôi không
thu được kết quả khả quan ở bộ phận dân tộc ít người. Cụ thể như sau: ở tộc
người Khmer (Tây Ninh), chúng tôi tiến hành ở xóm người Khmer thuộc ấp
Thạnh Đông (xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh). Chúng tôi đến đó đúng
vào dịp Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay của người Khmer. Chúng tôi ăn
Tết với họ trong 3 ngày, song song với việc tìm hiểu tập tục, cách thức lễ tết
của họ, chúng tôi có tiến hành điều tra về tình hình hiện tồn của truyện dân
gian nhưng mặc nhiên không ai biết và không ai nhớ. Duy đến ngày thứ 3,
chúng tôi được tiếp xúc với già làng Cao Văn Chiên thì được ông kể cho nghe
2 câu chuyện giải thích phong tục đắp núi cát (Sự tích núi cát) và phong tục
kéo vải trắng (Sự tích miếng vải trắng) của người Khmer (có sự hỗ trợ thông
dịch của một cư dân người Việt, sống và lớn lên từ nhỏ trong cộng đồng
người Khmer). Già làng còn nói thêm rằng, ông có kể cho con cháu nghe,
nhưng chúng không thích, cũng không nhớ và không hiểu được. Ở tộc người
Chăm, chúng tôi tiến hành điền dã truyện dân gian ở ấp Chăm (xã Suối Dây,
huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh). Người dân ở đây rất nồng hậu, thân tình. Họ
nhiệt tình trả lời các câu hỏi của chúng tôi. Tuy nhiên, tình hình truyện dân
gian ở đây cũng không khả quan hơn, hỏi về truyện dân gian, chúng tôi chỉ
nhận được câu trả lời là không có, không nhớ. Có thể do chiến tranh, loạn lạc,
phải di cư nên những vốn tri thức dân gian đã bị lẩn khuất đâu đó trong tâm
thức của họ. Một bác đã ngỏ với chúng tôi nguyện vọng ghi chép, phục sức lại
vốn văn nghệ dân gian của dân tộc (phạm vi ở xóm Chăm) từ một cụ già đã
gần 100 tuổi nhưng sức khỏe của cụ quá yếu, tuổi quá cao nên không thể kể,
diễn lại được vốn tri thức mà cụ đang “sở hữu”. Được biết cụ là một nghệ
nhân dân gian của xóm Chăm. Qua hai trường hợp trên, có thể là do kinh
nghiệm không có nên chúng tôi chưa khơi gợi, chạm ngõ được mạch nguồn ý
thức dân gian của người dân nên không thu được nguồn truyện theo ý muốn.
43
Nhưng một vấn đề lớn hơn được rút ra là từ lời tâm tình của 2 người lớn tuổi
của 2 dân tộc Khmer, Chăm mà chúng tôi được tiếp xúc thì vốn tri thức dân
gian đang lùi dần, mất dần theo những người “sở hữu” nó. Quay lại vấn đề
khoanh vùng điền dã, sưu tầm, vì không thu được nguồn truyện nên chúng tôi
quyết định giới hạn phạm vi, tiến hành khoanh vùng điền dã nguồn truyện dân
gian chỉ xoay quanh (và có liên quan đến) người Việt.
Sau chuyến đi điền dã, sưu tầm chúng tôi thu thập được 12 truyện (xem
Phụ lục) (không kèm 2 truyện của dân tộc Khmer). Trong đó có một số truyện
được chép lại trong gia phả, nhưng vẫn được người dân trong vùng biết đến
và lưu truyền. Một số truyện xoay quanh Đạo Cao Đài, phạm vi xảy ra là ở
Tây Ninh được ghi chép lại trong những tài liệu chuyền tay của các tín đồ và
được tín đồ kể lại cho nhau nghe hàng ngày như một sự củng cố niềm tin tôn
giáo của họ. Những truyện này, chúng tôi được nghe kể từ những tín đồ Đạo
Cao Đài, trong lúc kể, họ đặt niềm tin tuyệt đối, không nghi ngờ gì về nội
dung trong câu chuyện, đối với họ đó là một chuyện có thật, một sự thật hiển
nhiên không gì bàn cãi. Niềm tin ở đây đã chuyển hóa thành đức tin bền vững
trong lòng tín đồ Đạo Cao Đài nói riêng và cư dân Tây Ninh nói chung.
Một số truyện gắn liền với đình, miếu, đền, chùa như Dinh Vàm Bảo,
Ông Thần Hai đình Long Thành, Thành hoàng Đình Long Thành, Thần
đình Long Chữ,… được người dân kể lại với một niềm kính ngưỡng tuyệt
đối. Đặc biệt, đối với truyện Thành hoàng Đình Long Thành, người dân khi
kể họ gọi ông thần là ông Cố. Bất cứ ai, dù già trẻ, lớn bé đều gọi là ông Cố -
cách gọi vừa kính ngưỡng vừa thân tình, đó cũng là một cách xác tín máu mủ,
ruột rà của dân gian. Đối với họ, đó không chỉ là ông thần mà còn là tổ tiên.
Hãy xem thái độ tự hào của người dân, qua câu nói của họ: “Trong các ông
thần thì ông Cố là ông thần lớn nhất, được Đức Chí Tôn giáng bút phong là
Đức Văn Xương Đế Quân”. Có một vấn đề nảy sinh ở đây, Đức Chí Tôn là
danh xưng Đấng Cha Trời của Đạo Cao Đài đã hòa vào tín ngưỡng dân gian,
44
phong sắc cho vị thần của dân gian. Một mối quan hệ không thể bỏ qua trong
hiện tượng này đó là mối quan hệ giữa tôn giáo (Đạo Cao Đài) và tín ngưỡng
dân gian (chúng tôi xin được làm rõ ở chương 3). Niềm kính ngưỡng của dân
gian còn được thể hiện tuyệt đối ở một số người nguyện cả đời coi sóc đình,
miếu, đền, dinh. Cụ thể là trường hợp của cố bà Phạm Thị Sợi cả đời chăm
nom ở Đền thờ Quan Đại thần Huỳnh Công Nghệ, sau khi mất bà được thờ ở
phần hậu đền, ngay tại bàn thờ bà có dòng chữ “Suốt đời thờ Ông và mãi sống
trong con cháu”. Niềm kính ngưỡng ấy còn được thể hiện qua dòng người
ngày ngày, nhất là vào những dịp lễ hội, ra vào đền, miếu, đình, chùa thắp
hương tưởng nhớ và cầu nguyện những bậc tiền bối mà đối với họ đó là
những vị Thần.
Bàn về hiện tượng truyện dân gian xoay quanh núi Bà Đen, như trên
chúng tôi đã dẫn, có nhiều bản truyện và khảo dị của các tác giả công bố
trước đây. Nhưng khi chúng tôi tiến hành điền dã, thì chỉ nhận được bản
truyện với tích Bà Đen là hóa thân của nàng Lý Thị Thiên Hương, sau khi
thác thì hiển linh và có phò trợ Nguyễn Ánh, sau được sắc phong Linh Sơn
Thánh Mẫu. Vấn đề đặt ra là vì sao hiện nay chỉ tồn tại một bản kể? Có nên
đặt dấu chấm hỏi về mức độ tin cậy ở các bản kể khác không? Hay là thời
gian đã làm “biển hóa cồn dâu”, những ký ức xưa nay đã chìm sâu vào ẩn ức?
và cũng có thể do chính bản thân người điền dã, sưu tầm đã bỏ sót? Dù là lý
do gì thì căn cứ vào tình hình thực tế, chúng tôi quyết định chọn bản kể Sự tích núi Bà Đen với nhan đề Sự tích Linh Sơn Thánh Mẫu4 trong Tây Ninh
xưa và nay làm bản chính (phù hợp với bản kể hiện nay nhất).
Ở Nam Bộ, “truyện ma” là một bộ phận trong chỉnh thể truyện dân gian
vùng. Đây là một bộ phận truyện dân gian cũng góp phần phản ánh, tái hiện
một quá khứ lịch sử của một vùng đất hoang vu, hiểm trở, đầy ghê rợn. Tuy
nhiên, ở Tây Ninh không như các địa phương khác của vùng, bộ phận truyện 4 Chúng tôi đổi tên thành Sự tích núi Bà Đen cho hợp với tên dân gian thường gọi.
45
ma ở đây không được hoàn thiện cốt truyện so với các nơi khác. Để tiếp cận
nguồn truyện này của Nam Bộ, chúng ta có thể tìm thấy trong các công trình
như Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ, Truyện kể dân gian Nam Bộ,…
Nhắc đến chuyện “ma quỷ” lộng hành, người dân Tây Ninh nhất là những
người già lớn tuổi, không ai là không ám ảnh. Họ kể về chuyện “ma quỷ” nhát
người, hại người ra sao, tuy nhiên cũng có một bộ phận “hiền lành”, đó là
“những người khuất mặt” chỉ cho người đang sống biết sự tồn tại của họ và
cho biết “trách nhiệm” gìn giữ đất đai của họ. Người dân Tây Ninh kể lại
những mẩu chuyện này, tuy chỉ là những mảnh ký ức vụn của “hồi đó” nhưng
tuyệt nhiên không ai cho đó là chuyện giả dối, đặt ra để mà dọa dẫm, họ kể
với một thái độ tin tưởng của một người “tận mắt chứng kiến” và của một
người “trải nghiệm” trong khoảng thời gian “hồi đó” đầy “ám ảnh”. Như vậy,
so với truyện dân gian Nam Bộ thì truyện dân gian Tây Ninh đã để một
khoảng trống ở bộ phận “truyện ma”.
Tóm lại, về cơ bản nguồn truyện dân gian của chúng tôi được tổng hợp
từ hai nguồn, đó là nguồn tư liệu sưu tầm, tổng hợp đã được công bố trước đó
và nguồn tư liệu do chính chúng tôi thực hiện công tác điền dã, sưu tầm. Hệ thống lại tư liệu chúng tôi xếp vào nguồn truyện dân gian Tây Ninh tạm thời5
có 39 truyện (của người Việt), trong đó có 12 truyện do chúng tôi điền dã, sưu
tầm và 27 truyện được chúng tôi chọn ra từ các tài liệu tổng hợp, sưu khảo
trước đó.
2.2. Phân loại và mô tả tư liệu
“Trong ngành khoa học nào cũng vậy, phân loại là cơ sở và tiền đề của
việc nghiên cứu các tài liệu một cách thực chất” [61, tr.303]. Vấn đề đặt ra
yêu cầu phân loại đã được chúng tôi đề cập đến trong mục 2.1.1. Tư liệu đã
được công bố. Vì trong các nguồn tư liệu trước, truyện dân gian đều được gọi 5 Chúng tôi nói tạm thời vì trong quá trình điền dã, sưu tầm chắc chắn chúng tôi sẽ có bỏ sót một số truyện, hi vọng sẽ có một dịp khác, chúng tôi hoặc một tác giả khác cung cấp đầy đủ hơn nguồn truyện dân gian Tây Ninh.
46
chung bằng các tên gọi khi là truyện dân gian, khi là sự tích, khi là huyền
thoại, khi là giai thoại. Những tên gọi sự tích, huyền thoại, giai thoại không
hàm chứa ý thức phân loại thể loại văn học dân gian mà chỉ nhằm vào nội
dung cổ xưa, còn được truyền tụng trong dân gian.
“Cơ sở của mọi việc nghiên cứu folklore, bao gồm cả cơ sở của việc
phân loại, đó là thể loại, phải bắt đầu từ đơn vị thể loại” [61, tr.305]. Vì sao
phải bắt đầu từ đơn vị thể loại? Việc phân loại văn học dân gian dựa trên thể
loại sẽ giúp chúng ta bước đầu nhận diện được đặc điểm nội dung, nghệ thuật
cũng như giá trị thẩm mỹ của tác phẩm. Tiếp cận theo hướng thể loại kết hợp
với hướng tiếp cận theo vùng văn hóa – lịch sử sẽ bù đắp được những khoảng
trống mà mỗi hướng đã để lại khi áp dụng riêng rẽ. Nó như là một bước tiếp
cận toàn diện để nhìn nhận đủ hai mặt văn hóa và văn học của tác phẩm văn
học dân gian.
Vấn đề xác lập tiêu chí nhận diện thể loại đã được nhiều nhà nghiên cứu
bàn tới và gây tranh cãi không ít, đặc biệt là ở thể loại truyền thuyết, một thể
loại mà từ khi tên gọi của nó “được khai sinh” đã không ít người chối bỏ nó
trong “ngôi nhà” thể loại, và muốn “hòa tan” nó vào các thể loại khác. Tuy
nhiên, theo chiều dài lịch sử, người ta đã thừa nhận sự sống của thể loại
truyền thuyết – như là một thể loại độc lập bên cạnh các thể loại khác của văn
học dân gian.
Bàn về tiêu chí nhận diện thể loại, có nhiều công trình của các tác giả
quan tâm nghiên cứu. Giữa các nhà nghiên cứu tuy có lệch nhau một vài
điểm, nhưng về cơ bản đều nhìn nhận truyện dân gian có thể chia thành các
thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện
cười (về sau có thêm giai thoại). Nhìn chung các công trình có sự thống nhất
về chức năng, nội dung phản ánh, biện pháp nghệ thuật của từng thể loại.
Riêng công trình Văn học dân gian Việt Nam mang tính chất giáo trình của
Đinh Gia Khánh (chủ biên), ở mục Các thể loại tự sự dân gian do chính ông
47
biên soạn, ông không đồng ý thuật ngữ truyền thuyết là một thuật ngữ văn học
dân gian và không cho đó là một thể loại. Đó là quan điểm ban đầu, trong lúc
khoa nghiên cứu văn học dân gian còn đang trên đà định hình, phát triển của
nó. Chu Xuân Diên sau này đã nói có những sự kiện và quan điểm chỉ còn có
ý nghĩa lịch sử, như một lời khẳng định về sự thay đổi trong quan niệm học
thuật không phải là một hiện tượng bất cập.
Theo V.Ia.Propp: “Mỗi thể loại đều có những đặc trưng của nó thể hiện
ra ở quan hệ đối với thực tại và ở những phương tiện nghệ thuật mà nó dùng
để phản ánh thực tại ấy. Những thể loại khác nhau hình thành trong những
thời đại khác nhau, có số phận lịch sử khác nhau và phản ánh những khía
cạnh khác nhau của lịch sử chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân” [61,
tr.474]. Tức là để xác định đặc trưng mỗi thể loại, chúng ta phải đi tìm câu trả
lời cho những câu hỏi xoay quanh một hiện tượng văn học dân gian: Thực tại
được phản ánh là gì? Thực tại được miêu tả bằng những biện pháp nào? Cách
đánh giá thực tại ấy ra sao? Thái độ đối với thực tại? Thái độ ấy được thể hiện
như thế nào?
Tựu trung lại, chúng ta gồm có ba tiêu chí xác định thể loại đó là thi
pháp, tính ứng dụng trong đời sống (chức năng sinh hoạt – xã hội), hình thức
diễn xướng và mối quan hệ với âm nhạc [61, tr.313]. Đồng thời đó cũng là
tiêu chí phân biệt giữa các thể loại với nhau. Tuy nhiên, “ranh giới giữa các
thể loại không phải bao giờ cũng vững chắc và đôi khi cũng bị phá vỡ” [61,
tr.309]. Bởi vì, “một thể loại có những chức năng trùng với các thể loại khác
và ngược lại nhiều thể loại khác nhau có thể có những chức năng chung giống
nhau hoặc gần nhau” [81, tr.17]. Cho nên, vấn đề là phải xác định được đâu là
chức năng chủ yếu của thể loại.
Kế thừa tiêu chí phân loại thể loại của các nhà nghiên cứu văn học dân
gian đưa ra trước đó, chúng tôi tạm xếp nguồn truyện dân gian Tây Ninh vào
bốn thể loại sau:
48
Thể loại Số lượng Tỉ lệ
Thần thoại 1 2.56%
Truyện cổ tích 3 7.69%
Giai thoại 2 5.12%
Truyền thuyết 33 84.63%
Từ bảng phân loại, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, trong bảng phân loại, chúng tôi nhận thấy một sự vắng mặt của
các thể loại truyện ngụ ngôn, truyện cười. Vì sao không có truyện cười và
truyện ngụ ngôn trong nguồn truyện dân gian Tây Ninh? Câu trả lời là khi
chúng tôi đi sưu tầm, điền dã, đời sống người dân đặc biệt là thế hệ trẻ cũng
có sự tồn tại truyện cười, truyện ngụ ngôn (ít hơn so với truyện cười) nhưng
nhìn chung không mang dấu ấn Tây Ninh, mà mang dấu ấn chung của vùng
miền. Có lẽ, người dân địa phương Tây Ninh biết đến truyện cười chủ yếu
qua sách vở, thông tin đại chúng nên bước đầu còn chưa định hình sáng tác
mang dấu ấn riêng của địa phương.
Thứ hai, tại sao lại có sự chênh lệch quá lớn giữa 4 thể loại thần thoại,
truyền thuyết, truyện cổ tích và giai thoại trong nguồn truyện? Bỏ qua vấn đề
là có thể người sưu tầm, điền dã đã bỏ sót nguồn truyện, và xét trong cái
phông nền chung của truyện dân gian vùng đất mới Nam Bộ thì chúng ta có
thể xác tín một điều, sự chênh lệch này có sự “gặp gỡ” giữa các địa phương,
chứ không riêng gì ở Tây Ninh.
Về thần thoại, thể loại này ra đời nhằm giải thích nguồn gốc của con
người, vũ trụ với một cảm hứng suy nguyên về một thời kỳ xa xưa của con
người bằng một niềm tin “hồn nhiên” bền vững. Giải thích tại sao thần thoại
lại xuất hiện một cách khan hiếm như vậy?Như chúng ta đã biết, cư dân Tây
49
Ninh là cư dân vùng đất mới với một ý niệm đã xa ý niệm nguyên thủy, nên
người ta đã không còn cái niềm tin “ngây thơ”. Nếu có còn thì nó đã chìm sâu
vào tâm thức và chuyển hóa vào một thể loại khác gần gũi hơn với một niềm
tin xác tín hơn – đó là truyền thuyết. Những mẩu truyện truyền thuyết mang
niềm cảm hứng sáng tạo của dân gian theo một xu hướng mới, xu hướng
thiêng hóa thực tại nhưng lại kéo về với đời sống con người, chứ không còn là
một cái gì trừu tượng, mang tính chất ý niệm như một thời tổ tiên của họ đã đi
qua – điều này được thể hiện trong thần thoại.
Về thể loại cổ tích thì chúng tôi xin mượn kiến giải của Bùi Mạnh Nhị để
thay cho câu trả lời. Lý giải tại sao Nam Bộ lại hiếm hoi truyện cổ tích, nhất
là truyện cổ tích thần kỳ, Bùi Mạnh Nhị cho rằng Nam Bộ là miền đất mới,
vào thời điểm khi mà cha ông ta từ các miền ngoài vượt bể, băng rừng, xuyên
núi tiến về đây mở đất thì truyện cổ tích thần kỳ đã đi qua, đã chấm dứt từ rất
lâu thời nở rộ nhất của nó [56]. Còn về thể loại giai thoại, trước hết phải biết
rằng “giai thoại không phải là câu chuyện mẩu chuyện bình thường, mà đó
phải là những câu chuyện hay, lý thú, gợi được những khoái cảm thẩm mỹ”
[60, tr.23]. Xét về tiêu chí nhận diện giai thoại của Võ Phúc Châu trong sự đối
sánh với truyền thuyết thì giai thoại nhất thiết phải có đối thoại trong diễn
biến cốt truyện [10]. Nếu xét theo tiêu chí này thì hai mẩu chuyện được chúng
tôi xếp vào nguồn truyện ở thể loại giai thoại đã bị loại. Nhưng chúng tôi vẫn
kiên quyết nhìn nhận nó vì theo chúng tôi hai mẩu chuyện này đã gây được sự
lý thú, gợi được khoái cảm thẩm mỹ (Võ Văn Sâm với vị Yết Ma Bùi Kiệm –
cảm hứng châm biếm, Chạy mau hơn ngựa – cảm hứng bất ngờ trước một
chuyện lạ). Giai thoại thường xoay quanh những sự kiện, nhân vật nếu không
nổi tiếng thì cũng gây được một sự quan tâm, chú ý của địa phương (xét về
phạm vi hẹp), đất nước. Góp phần cùng với truyền thuyết giúp ta hiểu rõ hơn
về một sự kiện, nhân vật nào đó. Chính vì vậy mà Chiêng Xom An trong bài
viết “Bàn thêm về thể loại truyền thuyết” (in trên Tạp chí Văn hóa dân gian,
50
số 2/1992) đã cho rằng có một số truyền thuyết được phát triển từ giai thoại.
Vậy câu trả lời là gì cho câu hỏi đặt ra về số lượng quá ít ỏi của giai thoại ở
Tây Ninh? Có thể là do ký ức của người dân đã lãng quên đi những hiện
tượng chỉ tồn tại một thời? Cũng có thể ở địa phương không có sự kiện, nhân
vật nào đáp ứng tiêu chí trên – giả thiết này xem ra ít độ tin cậy hơn.
Về thể loại truyền thuyết, số lượng tác phẩm của nguồn truyện dân gian
chủ yếu được xếp vào đây. Kế thừa những lý do đưa ra kiến giải cho những
vấn đề đặt ra ở trên, kết hợp với cách nhìn và tư duy của dân gian ở vùng đất
mới, đó là vừa thể hiện sự kiến giải đầy tưởng tượng trước thiên nhiên bí ẩn
vừa là sự tỉnh táo vượt thoát ra phần lớn những yếu tố hoang đường. Sự kiến
giải ấy phải được bám víu vào một dấu tích cụ thể, xác định có thực trong đời
sống (ở địa phương). Cộng với lịch sử buổi ra đi khai hoang, mở đất trong
khoảng thời gian trên dưới 300 năm – khoảng thời gian không quá cũ kỹ
nhưng cũng không quá mới mẻ, một khoảng thời gian đủ để dân gian phản
ánh vào tâm thức của mình những ý niệm về sự thiêng hóa của các nhân vật
lịch sử đã từng có một cuộc đời thực. Tức là, cảm quan sáng tạo của dân gian
thời kỳ này, tại vùng đất mới này không quá “ngây thơ, hồn nhiên” mà cũng
không quá “đời thực”, và lại càng không phải là “thuần hư cấu, tưởng tượng”
nên không phải là thần thoại, cũng không phải là giai thoại, truyện cổ tích lại
càng không mà phải là truyền thuyết. Dĩ nhiên khi sáng tạo, dân gian chỉ cốt
sáng tạo phù hợp, dựa trên tâm lý của dân gian, chứ không hề có sự dụng
công, bởi ở đây là xuất phát từ niềm tin, từ tư duy chất phác vốn có của dân
gian. Cho nên, “niềm tin được xem là phẩm chất hàng đầu của truyền thuyết”
[33].
Lý giải về sự vắng mặt cũng như sự chênh lệch giữa các thể loại, Cao
Huy Đỉnh cách đây gần nửa thế kỷ đã bàn tới, ông cho rằng: “Do hoàn cảnh
cụ thể của từng thời kỳ mà nhân dân quan tâm đặc biệt đến vấn đề này hay
vấn đề khác. Cũng do yêu cầu của cuộc sống và những truyền thống văn hóa
51
thẩm mỹ sẵn có ở từng thời kỳ mà một số thể loại nảy sinh phồn thịnh, đậm
đà tính chất nội dung và tính chất thời đại trội hơn các thể loại khác” [18,
tr.14]. Thiết nghĩ đó là một lý giải có tính chất khái quát có thể áp dụng vào
hiện trạng văn học dân gian Nam Bộ nói chung và văn học dân gian Tây Ninh
nói riêng, cụ thể là ở bộ phận truyện dân gian.
Trước khi tập trung vào truyền thuyết, ta cũng nên điểm qua các hiện
tượng thể loại khác. Trước tiên là thể loại thần thoại, nguồn truyện dân gian
Tây Ninh chỉ có duy nhất một truyện Dấu chơn ông khổng lồ trên núi (Tảng
đá nằm trên ngọn cây dầu Trại Bí. Không khí huyền thoại phảng phất, đọng
lại ở hình tượng nhân vật ông Khổng lồ. Ông Khổng lồ tìm vợ, có phải là sự
tiếp nối của dị bản Sự tích núi Bà Đen với cốt truyện Tứ Tượng và Nữ Oa thi
tài để quyết định xem Tứ Tượng có được cầu thân với Nữ Oa hay không?
Huỳnh Ngọc Trảng trong bài viết của mình cũng đặt vấn đề là cốt truyện này
là phụ bản của ông Khổng lồ cưới bà Nữ Oa. Rõ ràng, ký ức văn hóa vẫn còn
bảo lưu nhưng không hoàn toàn mà đã có sự biến đổi. Nói cách khác, đây
không phải là một thần thoại “chuẩn mực” mang tính chất truyền thống như
một thần thoại vốn có.
Bàn về cách lý giải sự hình thành dấu chơn, cũng như vị trí tảng đá,
Huỳnh Ngọc Trảng cho rằng: “Cách lý giải như vậy là sự suy nguyên giản
đơn: cái gì không phải con người làm ra được thì là do các đấng siêu phàm
tạo nên”. Song song đó, chúng ta tuyệt nhiên không tìm ra được tình tiết thần
kỳ nào liên quan nhân quả với những dấu chân khổng lồ ấy. Tất cả chỉ dừng
lại ở dấu tích. Mượn lời của Huỳnh Ngọc Trảng để tiếp tục giải thích về hiện
tượng này, đó là “những hạt giống hồn nhiên thần kỳ của thần thoại thời sơ
khai, thậm chí kiểu cách thần kỳ của cổ tích xa xưa không còn đất thích hợp
để nẩy mầm và đơm hoa kết trái một cách hoàn toàn thuận lợi” [86, tr.11].
Đặc điểm nổi bật có tính chất định tính cho xu hướng sáng tác truyện dân gian
Nam Bộ là trình độ nhận thức về thế giới cùng với khả năng làm chủ tự nhiên
52
và xã hội của cư dân vùng đất này trong khoảng 300 năm trở lại đây đã khác
trước.
Cần phải nói thêm qua về cốt truyện này, nó mang tính chất giải thích
dấu tích, địa danh kép, một là về dấu chơn, hai là về tảng đá trên cây dầu.
Hình như dân gian đã có một sự gán ghép ở đây, nhưng lại hợp lý và rất có
logic, một thứ logic dân gian.
Về hiện tượng truyện cổ tích ở Tây Ninh, mặc dù số lượng truyện cổ tích
quá ít nhưng không phải là vắng mặt hoàn toàn. Điều đó cho thấy, truyện cổ
tích tuy đã đi qua cái thời kỳ vàng son của nó nhưng không có nghĩa là nó sẽ
lụi tàn. Trong ba truyện thì truyện Xã Hòa Hiệp có thể được xem là một
truyện cổ tích địa danh, và mang tính địa phương hơn cả, vì nó đã để lại dấu
tích địa phương ở Tây Ninh qua tên gọi của xã – ý nghĩa của truyện được hội
tụ vào một địa danh, một tên gọi. Theo Trần Thị An thì trong truyện cổ tích
địa danh, “mỗi một địa danh đều mang chở biết bao tâm sự của người kể
chuyện về sự éo le trắc trở, về nỗi khát khao hi vọng hoặc niềm ân hận đau
xót. Và thông qua đó, tác giả dân gian gửi gắm một bài học nhân sinh” [2,
tr.597]. Như vậy, yếu tố giải thích địa danh thực chất chỉ là cái cớ, cái chính
là cảm hứng nhân đạo của dân gian, ẩn đằng sau địa danh là số phận, cảnh
ngộ cần được bênh vực, chở che.
Câu chuyện Xã Hòa Hiệp có cốt truyện như sau:
Hai làng thù hận Đôi trai gái (ở hai làng) yêu nhau bị cấm đoán
Tìm lấy cái chết bảo toàn tình yêu Hai làng giải mối thù hận.
Cốt truyện về tình yêu đôi lứa bị ngăn cấm do mâu thuẫn, thù hận giữa
hai dòng họ, hai làng,… ta có thể bắt gặp khá phổ biến trong kho tàng truyện
cổ của Việt Nam. Riêng truyện Xã Hòa Hiệp với nội dung thấm đẫm vết tích
gắn liền với lịch sử Tây Ninh, nó đã phản ánh sự xung đột ở giai đoạn đầu,
trong quá trình di cư, khai khẩn, nảy sinh xung đột giữa hai dân tộc Việt –
53
Khmer. Trong truyện, để giải quyết sự xung đột, tác giả dân gian đã mượn
mối tình chung thủy của đôi trai gái và cái chết của họ. Cái chết của đôi trai
gái xứng đáng là một sự hi sinh vì đã đổi lấy được cái bắt tay “hòa hiệp” giữa
hai làng. Đó một mặt là cảm hứng nhân đạo của tác giả dân gian về mối tình
đẹp, bi thương của đôi trái gái, một mặt còn là ước mơ mà dân gian gửi gắm
về một đời sống cộng cư, hòa hiệp giữa hai dân tộc. Có thể đây không phải là
chuyện có thực, “truyện cổ tích không bao giờ mạo nhận là hiện thực”
(V.Ia.Propp), nhưng đó chính là sự chuyển hóa của ước mơ mà dân gian gửi
gắm. Chính tính chất “bịa đặt” của truyện cổ tích đã hấp dẫn người nghe, nhờ
đó những ước mơ, tâm tư, nguyện vọng của người dân bao giờ cũng được
chuyển tới đích mà nó cần tới.
Mặc dù, người sưu tầm, biên soạn truyện Xã Hòa Hiệp đã có sự “gia
công” trong việc miêu tả tâm lí, nỗi đau của cô gái và chàng trai nhưng về cơ
bản cốt truyện vẫn thấm đẫm chất dân gian.
Hai truyện Vì sao nước biển mặn? và Nhân tham tài tắc tử, điểu tham
thực tắc vong đều tồn tại các bản kể khác ở địa phương khác. Có thể hình
dung cốt truyện trong sự đối sánh với một bản kể khác như sau:
Đối chiếu hai cốt truyện Vì sao nước biển mặn?
1. Vì sao nước biển mặn? (Tây Ninh)
Hai anh em mồ côi Anh giàu có (tham lam), em nghèo khổ Người em nằm mơ Người em được cối xay Người em được giàu có Người anh chiếm cối xay Bị trừng phạt (chết) Kết thúc.
Hai anh em mồ côi Anh giàu có (tham lam), em nghèo khổ Người em cứu ông lão Được hũ quý Người em giàu có Người anh chiếm hũ quý Người anh bị trừng phạt (chết) Kết thúc.
2. Vì sao nước biển mặn? (Trích dẫn trong Chuyện xưa tích cũ)
Mô hình ( Kiểu truyện về người em út)
Hoàn cảnh nhân vật Thử thách (phẩm chất) Được tặng phẩm Chung cục.
54
Cốt truyện Vì sao nước biển mặn? ở Tây Ninh, có sự xuất hiện của tình
tiết hai vợ chồng người em ra sức cày xới đất, tìm thấy tặng vật. Tình tiết này
xuất hiện muộn hơn so với tình tiết cứu người được trả ơn của mô-típ thử
thách – ban thưởng. Nó có thể lý giải do sự chi phối của hoàn cảnh con người
lúc đó hay không? Hoàn cảnh của những con người khai khẩn đất hoang, đòi
hỏi phải ra sức lao động thì mới được đền đáp. Phần thưởng của con người
chính do sức lao động của con người tạo nên. Nhưng người dân lại nhìn nó
như một món quà của lực lượng siêu nhiên ban tặng. Tuy muộn mằn nhưng
yếu tố thần kỳ vẫn giữ vai trò chi phối cốt truyện cổ tích.
Đối chiếu 2 cốt truyện Nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong
1. Nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong (Tây Ninh)
Ông lão tìm thấy rương vàng Tạo thông tin giả Nhận thức được, bỏ
rương vàng Ba người tiều phu tìm thấy rương vàng Chết (tham lam)
Chim ăn thức ăn độc Chim chết Kết thúc.
Hai anh em mồ côi Người anh giàu có (tham lam), người em nghèo khổ
Người em được cây lúa thần kỳ Chim đại bàng đến ăn Người em
được trả ơn Người em giàu có Người anh chiếm cây lúa thần kỳ
Chim đại bàng đến ăn Người anh được trả ơn Người anh bị trừng phạt
Kết thúc.
2. Nhân tham tài nhi tử, điểu tham thực nhi vong
(Trích dẫn từ Chuyện xưa tích cũ)
Mô hình 1: Hoàn cảnh Nhận thức Chung cục.
Mô hình 2: Hoàn cảnh nhân vật Thử thách (phẩm chất) Nhân vật
tặng phẩm Được tặng phẩm Chung cục.
Hai cốt truyền hoàn toàn “xa lạ” với nhau nhưng lại dùng để lý giải cho
một câu nói vần “nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong” (đồng
55
nghĩa với “nhân tham tài nhi tử, điểu tham thực nhi vong”). Truyện 1 không
có sự tham gia của yếu tố thần kỳ, sự chi phối cốt truyện không bởi một yếu
tố thần kỳ mà do nhận thức con người, về mặt nào đó truyện này đang tiến
gần đến thể loại ngụ ngôn. Truyện 2 vẫn còn mang đậm đặc trưng của truyện
cổ tích thần kỳ, xét ra nó lại thuộc kiểu truyện “Cây khế”. Kiểu truyện “Cây
khế” thực chất là một biến thể của kiểu truyện người em út.
Cốt truyện của ba truyện cổ tích thuộc nguồn truyện dân gian Tây Ninh
tuy có cùng đề tài với các truyện cổ tích ở các vùng khác nhưng vẫn mang nét
độc lập, riêng biệt. Về cơ bản, chúng vẫn nằm trong hệ thống kiểu truyện cổ
tích của cả nước. Điều này có thể được lý giải từ vốn tài sản tinh thần quý giá
mà những di dân đã mang theo làm hành trang khi từ giã cái nôi văn hóa
truyền thống để đi vào một vùng đất mới. Song song với những cái mới được
sáng tạo, cũng có những cái cũ được nhắc nhớ, chuyển hóa vào cái mới, tạo
nên bộ mặt vừa quen vừa lạ cho vốn truyện dân gian được sinh thành muộn
mằn ở Nam Bộ (mà Tây Ninh là một bộ phận), nhất là ở thể loại truyện cổ
tích.
Như đã bảng hóa nguồn tư liệu, thì thể loại truyền thuyết là một thể loại
chiếm ưu thế ở địa phương Tây Ninh, trên bức tranh truyện dân gian Tây
Ninh, truyền thuyết được tô màu đậm bên cạnh các thể loại khác với gam màu
nhạt. Vì vậy, chúng tôi sẽ tập trung vào tìm hiểu đặc điểm truyền thuyết ở Tây
Ninh như một đại biểu cho truyện dân gian Tây Ninh.
Để tiếp cận một thể loại, người nghiên cứu luôn luôn tiến hành phân cắt
nó ra thành những biến thể dưới cấp thể loại. Vấn đề này đã được nhiều nhà
nghiên cứu tiến hành trong các công trình lớn, nhỏ từ trước đến nay. Ở đây,
6 Bùi Quang Thanh (1979) “Về một thể loại văn học dân gian”, Tạp chí Văn học, (4), tr.125. Chiêng Xom An (1992) “Bàn thêm về thể loại truyền thuyết”, Tạp chí Văn hóa dân gian, (2), tr.32.
chúng tôi chỉ xét các công trình mang tính chất giáo trình, không xét các bài nghiên cứu nhỏ đăng trên các tạp chí chuyên ngành6.
56
Dưới đây là sự nhóm hóa các truyền thuyết của các nhà nghiên cứu mà
chúng tôi bao quát được.
Tên tác giả Các biến thể truyền thuyết
Lê Chí Quế
Hoàng Tiến Tựu
Tên công trình Văn học dân gian Việt Nam Văn học dân gian (Tập 2)
Đỗ Bình Trị
Kiều Thu Hoạch
Văn học dân gian (Tập 1)
Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết anh hùng; Truyền thuyết các danh nhân văn hóa; Truyền thuyết tôn giáo. Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang; Truyền thuyết về thời kì Âu lạc và Bắc thuộc; Truyền thuyết về thời kì phong kiến tự chủ; Truyền thuyết về thời kì Pháp thuộc. Cách 1: Những truyền thuyết về thời các vua Hùng; Những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng. Cách 2: Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phổ hệ; Truyền thuyết lịch sử. Truyền thuyết nhân vật; Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phong vật.
Hồ Quốc Hùng
Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết lịch sử.
7 Trong công trình “Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến” (Tlđd), Kiều Thu Hoạch phân truyền thuyết thành hai nhóm là truyền thuyết nhân vật và truyền thuyết phong vật.
Khải luận7 (Tổng tập văn học dân gian người Việt: Tập 4 & 5 – Truyền thuyết dân gian người Việt) Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại
57
Cách phân chia nhóm truyền thuyết của những nhà nghiên cứu trên đây
chủ yếu dựa vào hai hướng. Một hướng là dựa vào nội dung của lịch sử qua
từng thời kì (Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị/ cách 1), một hướng dựa vào đối
tượng được truyền thuyết kể đến (Lê Chí Quế, Đỗ Bình Trị/ cách 2, Kiều Thu
Hoạch, Hồ Quốc Hùng). Không khẳng định cách chia nào là đúng đắn, nhưng
theo chúng tôi nhận thấy, cách chia nhóm loại theo đối tượng được truyền
thuyết kể đến sẽ thể hiện được đặc trưng về đối tượng phản ánh của truyền
thuyết. Dĩ nhiên phân chia theo lịch sử có ưu điểm của nó, tức là có những nét
khu biệt của truyền thuyết qua các thời kỳ, cũng như thấy được quá trình vận
động, phát triển của truyền thuyết. Nghiên cứu văn học dân gian địa phương,
phân chia theo hướng thứ 2, tức dựa vào đối tượng được truyền thuyết kể đến
là khả dụng hơn cả.
Tuy nhiên, như V.Ia.Propp đã nói: “Cơ cấu thành phần thể loại được xác
lập đối với folklore một dân tộc không thể máy móc đem áp dụng cho folklore
một dân tộc khác” [61, tr.310]. Không chỉ folklore giữa các dân tộc có sự
khác nhau mà folklore giữa các địa phương cũng có sự khác nhau đáng kể.
Cho nên, việc phân chia các biến thể truyền thuyết của các nhà nghiên cứu chỉ
có thể là sự kế thừa, chứ không thể rập khuôn, bởi vì đại thể mà nói thì giữa
các nguồn tư liệu có sự sai biệt một khoảng cách nào đó, chứ không phải
thuần túy giống nhau.
Trên cơ sở sự phân chia của người đi trước, kết hợp với nguồn truyền
thuyết Tây Ninh hiện có, chúng tôi tạm thời xếp chúng vào ba biến thể: truyền
thuyết địa danh, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và
tôn giáo. Với số lượng và tỉ lệ tương ứng như sau:
Biến thể truyền thuyết Truyền thuyết địa danh Truyền thuyết lịch sử Số lượng 9 12 Tỉ lệ 27.2% 36.4%
36.4% Truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và tôn giáo 12
58
Sự phân bố các truyền thuyết Tây Ninh vào trong những biến thể tiểu
loại chênh lệch không nhiều, truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết tín ngưỡng
dân gian và tôn giáo đều nhau về số lượng, chiếm tỉ lệ ít hơn về số lượng là
truyền thuyết địa danh.
Song, phải thừa nhận một điều rằng: “Khi quy tụ những mẩu truyền
thuyết vào một đặc điểm này hay đặc điểm khác không có nghĩa là cho rằng
toàn bộ truyền thuyết ấy chỉ có ý nghĩa tư tưởng ấy, ngược lại cũng không
máy móc cho rằng một truyền thuyết nào đó là có đủ mọi đặc điểm tư tưởng
của tiểu loại truyền thuyết đó” [59, tr.75]. Mọi vấn đề đều chỉ dừng lại ở một
ngưỡng mang tính chất tương đối. Có thể ở nhóm loại truyền thuyết địa danh,
truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và tôn giáo ta sẽ bắt gặp yếu tố lịch sử,
hoặc giả là “cái lõi lịch sử”. Vì suy cho cùng, truyền thuyết là sự thiêng hóa
thực tại ngay từ trong quá khứ. Có thể ở nhóm loại truyền thuyết địa danh,
truyền thuyết lịch sử, ta sẽ tìm thấy sự kính ngưỡng thiêng liêng, yếu tố niềm
tin tôn giáo, tín ngưỡng. Vì rằng, hầu hết truyền thuyết đều gắn liền với các
đình, miếu, đền, chùa, với các lễ hội, tín ngưỡng của dân gian.
Lại nói về quá trình chúng tôi nhận diện tư liệu, có vài vấn đề hiện tồn
thiết nghĩ nên nói qua như một sự chia sẻ. Một số mẩu chuyện có nội dung
giải thích địa danh nếu không soi xét kỹ lưỡng thì ta sẽ dễ lầm tưởng đó là
một truyền thuyết địa danh, và sự lầm tưởng đó chắc chắn gây khó khăn về
sau, khi chúng ta tiếp cận văn bản để tìm hiểu cốt truyện, nhân vật,… Theo
như Kiều Thu Hoạch, một khi đã là một truyền thuyết địa danh thì “nhất thiết
nội dung truyện kể phải được gắn với nhân vật hoặc sự kiện lịch sử đặc biệt
nào đó, nếu không thì đó chỉ có thể đơn thuần coi là một câu chuyện giải thích
địa danh theo thần thoại suy nguyên hoặc một kiểu giải thích từ nguyên học
dân gian hoặc từ nguyên học thông tục mà thôi” [59, tr.36].
Dẫn ra trong công trình Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường có truyện
Sông Cẩm Giang, được nhóm tác giả ghi nhận đó là một truyện dân gian,
59
được đưa vào chương trình văn học dân gian (lớp 4), nhưng theo chúng tôi
văn bản này chưa thành truyện, chưa kể là văn bản này đã được viết hóa, sẽ
không được nhìn nhận là văn bản dân gian. Nói cách khác, văn bản này đã
được - một - tác - giả - viết lại với sự miêu tả “cố tình”. Trong khi, một hiện
tượng văn học dân gian không quan tâm đến yếu tố miêu tả (thiên nhiên) và
yếu tố tâm lý, chỉ quan tâm đến hành động của nhân vật. Do đó, chúng tôi đã
loại văn bản này ra khỏi nguồn truyện dân gian Tây Ninh.
Hiện trạng này tồn tại khá nhiều trong Tây Ninh xưa và nay, tác giả sưu
khảo và gọi chúng với những tên gọi như: Sự tích hang Chàm và cống Chàm
ở Tây Ninh, Sự tích Suối Đá, Sự tích Suối Vàng, Con đường Sứ, … Những
văn bản này chỉ mới có “tích” chứ chưa có “sự”, chưa có sườn truyện, cốt
truyện. Vì vậy, chúng tôi cũng quyết định loại các văn bản trên ra khỏi nguồn
truyện dân gian Tây Ninh.
Tương tự như vậy, trong quá trình điền dã, sưu tầm, chúng tôi có ghi
nhận một câu chuyện kể “Sông Đua Trường Thành”. Địa danh Sông Đua,
Trường Thành đến bây giờ vẫn được cư dân Tây Ninh nhắc lại như một dấu
tích của triều vua Nặc Ông Chân của Cao Miên. Hay như Sự tích sân Chầu,
câu chuyện nhắc lại thuở bôn ba của Nguyễn Ánh chống lại quân Tây Sơn.
Những câu chuyện giải thích địa danh nhưng đó mới chỉ dừng lại là một câu
chuyện nhắc nhớ quá khứ, đi kèm theo một cảm niệm về sự đổi thay theo sự
vận động của thời gian, lịch sử chứ chưa định hình được cốt truyện dân gian.
Liệu rồi, độ lùi thời gian, khoảng cách quá khứ có “sáng tạo” nên cốt
truyện xoay quanh những địa danh, tên gọi lịch sử ấy theo những quy luật
sáng tạo của dân gian hay không? Bởi một trong những quy luật sáng tạo đó
chính là nhu cầu giải thích, định danh những gì xung quanh con người mà con
người không biết rõ, không thể “cầm nắm” được, từ đó vươn lên sở hữu nó,
kéo nó về vốn hiểu biết của mình. Câu hỏi này chỉ có thể được trả lời trong
một khoảng thời gian – không – hạn – định.
60
Bàn về sự sai biệt giữa các bản truyện về sự tích Bà Đen (chỉ xét ở bản
có tích là nàng Lý Thị Thiên Hương và nàng Đênh), chúng tôi có sự đối
chiếu, so sánh giữa các bản truyện của các tác giả đã công bố. Từ đó, tìm ra
được có sự thêm bớt một số tình tiết giữa các bản truyện.
Vấn đề đặt ra là đây là những dị bản hay là sự ghi chép sai do sự sơ sót
của những người sưu tầm và biên soạn? Nếu như đó là những dị bản thì là
một minh chứng rõ nét nhất cho sự vận động của văn học dân gian, và là một
minh chứng cho tính chất khả biến của cốt truyện trong cấu tạo bất biến của
nó. Tất cả các bản truyện về sự tích Bà Đen, cơ bản đều theo một cấu tạo:
Xuất thân Hành trạng Hiển thánh Phụng thờ, sắc phong
Như đã đề cập ở phần 2.1. Tình hình tư liệu, giữa các bản kể về sự tích
Bà Đen, chúng tôi chọn bản kể Sự tích núi Bà Đen của Huỳnh Minh trong
công trình Tây Ninh xưa và nay (có tên là Sự tích Linh Sơn Thánh Mẫu).
Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã nói: “Văn học dân gian không có cái tồn
tại chính thức duy nhất” nên vấn đề chọn bản nào để nghiên cứu là phụ thuộc
vào người nghiên cứu. Ở đây, chúng tôi chọn lựa trên cơ sở đối chiếu, so sánh
giữa các bản kể và có sự kết hợp với đời sống thực tế của truyện trong quá
trình điền dã, sưu tầm.
61
Tiểu kết chương 2
Chúng tôi xin được kết lại vài điều:
Thứ nhất, nguồn tư liệu truyện dân gian Tây Ninh không nhiều so với
các địa phương khác trong vùng (Nam Bộ). Kết luận được rút ra từ sự so sánh
với các nguồn truyện dân gian địa phương khác của vùng Nam Bộ như An
Giang, Vĩnh Long, Bình Phước, Bến Tre,… Một số truyện chưa được dân
gian hóa hoàn toàn, song song đó là một số bản kể vụn vặt, rời rạc chưa hoàn
chỉnh thành truyện.
Thứ hai, nguồn truyện dân gian Tây Ninh chủ yếu được tập trung từ các
công trình sưu khảo của các tác giả trước và do chính chúng tôi sưu tầm, điền
dã. Nhưng tỉ lệ truyện do chúng tôi sưu tầm, điền dã không nhiều, chỉ chiếm
12/39 truyện (khoảng 31%). Chúng tôi cho rằng tư liệu – truyện dân gian Tây
Ninh vẫn còn tồn đọng đâu đó trong thực tế, có thể do vẫn còn bị lẩn khuất
trong tâm thức của dân gian theo bao lớp thời gian nhưng bản thân chúng tôi
chưa đủ kinh nghiệm và khả năng để khơi dậy nó. Cũng có thể do loạn lạc,
chiến tranh đã khiến dân gian “bỏ quên” vốn văn hóa quý, nếu như có dụng ý
lưu truyền thì cũng không có điều kiện. Kết lại, vốn tư liệu tức nguồn truyện
của đề tài chưa phải là tất cả “tài sản” mà Tây Ninh đang “sở hữu”.
Thứ ba, xét trong cơ cấu truyện dân gian Tây Ninh thì thể loại truyền
thuyết ở Tây Ninh được lưu truyền rộng rãi và phong phú hơn các thể loại tự
sự dân gian khác (84.63%). Từ đó, kết luận cơ cấu thể loại truyện kể dân gian
ở Tây Ninh nghiêng hẳn về truyền thuyết. Vì vậy, chúng tôi quyết định chỉ tập
trung đi sâu vào khảo sát đặc trưng thể loại này như một đại diện tiêu biểu cho
đặc trưng truyện dân gian Tây Ninh.
62
Chương 3. ĐẶC TRƯNG TRUYỀN THUYẾT TÂY NINH
Như trên, chúng tôi đã thống kê và thu được một sự chênh lệch nghiêng
hẳn về bộ phận thể loại truyền thuyết trong tổng số truyện dân gian Tây Ninh.
Tiếp cận truyền thuyết Tây Ninh đặt trong mối tương quan vùng, chúng tôi
bước đầu nhận diện đặc trưng của nó trên hai khía cạnh đề tài (đối tượng nội
dung phản ánh) và cấu tạo (trên hai bình diện cốt truyện và kiểu nhân vật).
3.1. Đề tài
3.1.1. Truyền thuyết Tây Ninh gắn với lịch sử khai phá, hình thành
vùng đất
Ở nước ta, từ thế kỷ XVI – XVII, công cuộc mở đất được đẩy mạnh.
Công cuộc ấy được tiến hành tự phát thời kỳ đầu, sau được nhà nước quan
tâm, tổ chức thành phong trào, có chính sách cụ thể, rõ ràng. Vùng đất mới,
hứa hẹn sự trù phú, phì nhiêu nhưng đi kèm là sự hoang vu, hiểm trở, nói như
dân gian thì đó là chốn “rừng thiêng, nước độc”. Chính vì vậy, quá trình khai
phá ấy phản ánh sức sống mãnh liệt, tình thần kiên trì, bền bỉ của thế hệ cha
ông tưởng không có gì có thể đo đếm được. Và tất yếu, quá trình di dân mở
đất ấy sẽ được phản ánh chân thực, sinh động trong truyện dân gian về những
vị tổ làng vùng đất mới phía Nam – những người lao động dũng cảm, tài trí
phi thường, đại diện lỗi lạc nhất của thế hệ đầu “mang gươm đi mở đất”. Bộ
phận truyện dân gian này, theo Đỗ Bình Trị đó là lớp “truyền thuyết phổ hệ”
[89]. Dân gian đâu có thể nào bỏ quên một thời đại “hào hùng” ấy, không thể
chép sử như những nhà học thức, quan lại, dân gian chép sử vào lòng, vào trí
nhớ và truyền miệng cho nhau từ người này qua người khác, từ đời này qua
đời khác. Nội dung lưu truyền ấy, không được dân gian gọi là sử mà được gọi
là chuyện đời xưa, chuyện hồi xưa, chuyện hồi đó,…
Hệ thống truyện kể lịch sử của dân gian ở Tây Ninh bao gồm hai hướng.
63
Có thể là về một nhân vật lịch sử đặc biệt, cụ thể của địa phương. Có thể là
một sự kiện gắn liền với nhiều nhân vật, nhóm người hoặc là cả địa phương.
Ở vùng đất mới, khẩn hoang, lập làng, đánh giặc giữ làng, bảo vệ đất đai
được khẩn hoang, khai phá là nét đặc thù trong tư tưởng thẩm mỹ chính trong
truyện kể dân gian, cụ thể là bộ phận truyện thuyết. Vì thế, truyền thuyết lịch
sử đứng ở một góc độ nào đó có thể gọi là “truyền thuyết khẩn hoang”. Tuy
nhiên, không thể hoàn toàn gọi truyền thuyết lịch sử là truyền thuyết khẩn
hoang, bởi vì xét về phạm vi thì “truyền thuyết khẩn hoang (chỉ) bao gồm các
hệ thống truyện kể về lai lịch, công tích các vị “tiền khai khẩn, hậu khai
canh”, trưởng các dòng họ, các ông tổ nghề” chứ không có sự “trải rộng” như
truyền thuyết lịch sử [31, tr.71].
Các vị anh hùng địa phương Tây Ninh, nhất là các vị có công đầu trong
việc khai khẩn đất hoang, lập làng, lập chợ đều được nhân dân ghi nhớ công
ơn. Phát triển tục thờ cúng tổ tiên của mình, dân gian đã tôn các vị anh hùng
địa phương thành các vị thần ở làng, thờ cúng trong đình mà dân gian vẫn
quen gọi là ông thần làng, có nơi gọi là ông Cố (truyện Thành hoàng đình
Long Thành), ông Cả (truyện Ông Cả). Công đức của các vị tiền hiền, hậu
hiền luôn khắc sâu bền chặt trong tiềm thức sùng bái, kính ngưỡng không gì
lay chuyển được của dân gian. Bằng chứng là hằng năm cứ đến lệ, dân gian
đều tổ chức cúng đình qua các lễ kỳ yên, lễ cầu bông. Đa số các thần ở đình
đều do “dân phong”. Có trường hợp “dân phong” trước rồi vua sắc phong sau.
Nhưng dù có được sắc phong của vua hay không thì công tích của các vị
thành hoàng vẫn được dân gian ghi nhớ và lưu truyền. Đây là điểm khác biệt
so với miền Bắc, vùng đất “cũ” với một bề dày truyền thống tư tưởng phong
kiến, ở vùng đất “mới” này, công tích các thần không phải đợi đến một tờ sắc
của vua chúa mới được dân gian tôn thờ.
Nhắc đến nhân vật lịch sử, ngoài các nhân vật là các tổ khai canh, tổ
dòng họ, thì ở Tây Ninh nhất thiết phải nhắc đến ba anh em Quan Lớn Trà
64
Vong (Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công Nghệ). Bộ ba
này, theo dân gian truyền lại thì vào thế kỷ 18, theo lệnh của triều đình Huế,
vào Tây Ninh để bảo vệ bờ cõi miền Tây đất nước trước sự tấn công của giặc
Miên (Khmer). Họ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng như những vị tướng tài
ba, uy dũng. Sau khi ngã xuống, họ được dân gian thờ phụng ở các miếu, dinh
một cách kính cẩn và trang nghiêm. Dân gian gọi họ là Quan Lớn Trà Vong.
Những câu chuyện kể, chứng tích miếu đình, một mặt là sự ghi nhớ công ơn
những người đã ngã xuống để bảo vệ an ninh vùng đất, một mặt đó là sự phản
ánh, đồ chiếu lại một giai đoạn loạn lạc, giặc giã trong suốt quá trình “mở
cõi” của cha ông ta.
Theo Huỳnh Ngọc Trảng thì “thể loại truyền thuyết lịch sử trong buổi
đầu khai thác đất Gia Định nổi bật lên hàng đầu có hai tiểu loại: truyện kể về
người đánh cọp, bắt sấu và truyện kể về người có công đầu khai phá đất đai
lập nên thôn làng, tức là truyện kể về các bậc “tiền hiền khai khẩn” và “hậu
hiền khai cư” … là một loại sử thi của địa phương, có chức năng giáo dục,
khai hóa tạo thành ý thức lịch sử và phát triển thụ cảm thẩm mỹ, kinh nghiệm
lịch sử của quần chúng” [86, tr.13]. Tây Ninh là một địa phương thuộc vùng
đất Gia Định bấy giờ. Thiết nghĩ, truyền thuyết lịch sử Tây Ninh cũng nằm
trong quy luật vận động ấy. Ở bên trên chúng tôi đã nhắc đến mảng truyện kể
về những bậc tiền hiền, hậu hiền. Vậy còn mảng truyện kể về người đánh cọp,
bắt sấu thì sao? Ở Tây Ninh, theo kết quả điền dã của chúng tôi thì không có
sự tồn tại của truyện kể về người đánh cọp, bắt sấu. Có chăng chỉ là những ký
ức tản mác, vụn vặt của người dân về một thời quá khứ “xa xưa” có nhiều thú
dữ (cọp, sấu) gây nguy hiểm đến đời sống, tính mạng con người. Để bảo toàn,
họ thường quần cư với nhau lại mà sống, đi đâu cũng phải cùng nhau đi và lúc
nào cũng có sẵn vũ khí bên người (vũ khí thô sơ có thể là một khúc tầm vông,
tre,…). Ký ức về một thời “lộng hành” của thú dữ, bởi con người “xâm lấn”
lãnh thổ của chúng vẫn còn đọng lại, nhưng chỉ là những ký ức vụn vặt, tản
65
mác, chưa được thành truyện. Chỉ có một bản truyện “Cọp vắt khăn” trong
Nghìn năm bia miệng (tập 1), được Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm từ báo Tuổi
Trẻ năm 1990. Hiện chúng tôi chưa có điều kiện đến địa điểm được đề cập
trong truyện kể để điền dã nhưng xét trên văn bản thì đã đạt được tiêu chí
truyện kể dân gian. Nên ở phần tư liệu chúng tôi đã mạnh dạn xếp vào nguồn
truyện.
Tuy nhiên, phải thừa nhận một điều rằng những sự kiện lịch sử trong
truyền thuyết địa phương Tây Ninh vẫn chưa được truyền thuyết hóa hoàn
toàn.
3.1.2. Truyền thuyết Tây Ninh gắn với địa danh, in đậm dấu tích địa
phương
Đối với người dân Việt Nam cái tên gọi rất quan trọng, họ “luôn luôn tự
hào về cái tên của quê hương bản quán của mình, dù cái tên ấy có thể không
văn hóa, chữ nghĩa”. Đối với họ, đó không chỉ đơn thuần là cái tên mà còn là
truyền thống, là cội nguồn, là bề dày lịch sử của địa phương. Có thể nói, cái
tên, địa danh như là một thứ để phân biệt với các địa phương khác, làm thành
cái bản sắc địa phương. Nhiều địa danh còn lưu lại dấu tích của một nhân vật,
một người anh hùng, một sự kiện “chấn động” nào đó diễn ra trong quá khứ ở
địa phương. Vì thế, có thể nói không ít địa danh chỉ là cái cớ để truyền thuyết
bám vào tạo nên một tổng hòa cảm giác về nhận thức, về niềm tin, về tình yêu
đối với quá khứ, và trên hết đó là niềm tự hào thiêng liêng.
Vũ Ngọc Khánh đã nói về mục đích đặt tên địa danh của dân gian như
sau: “Hoặc để kỷ niệm một thành quả lao động, để tỏ lòng biết ơn và sùng mộ
một con người hay một chiến công, hoặc để lưu giữ trong ký ức ngàn đời về
một sự kiện lịch sử, một hiện tượng xã hội. Có khi địa danh là nhằm giải thích
một cách thơ ngây hoặc thông tục về một hiện tượng kỳ lạ của cảnh vật, của
thiên nhiên” [41, tr.8]. Từ nhu cầu định danh sự vật, dân gian đã bồi đắp trí
tưởng tượng của mình, phủ một lớp lạ hóa, huyền hoặc lên “lịch sử”, kết quả
66
là tạo nên một “sự thật quá khứ” đầy niềm tin và tự hào trong lòng mỗi người
dân địa phương. Vùng đất được ghi dấu sự tồn tại qua các địa danh được lưu
lại trong các mẩu truyện được truyền từ người này sang đời khác, từ người
này sang người khác, tạo nên một ký ức tự hào, một ý thức quê hương, bản
quán của dân gian.
“Truyện kể địa danh thực ra chính là truyện kể về những con người,
những người đã gắn mình với tên sông tên núi hoặc đã làm nên non sông đất
nước” [20, tr.420]. Mượn cớ giải thích địa danh để nói về công tích của một
nhân vật nào đó trong lịch sử, về một cuộc đời đáng được lưu dấu với thời
gian để người đời chiêm bái, noi gương và mục đích sau cùng là biến những
con người ấy thành chỗ dựa tâm linh bền vững cho dân gian. Như vậy, về bản
chất sự xuất hiện của truyền thuyết địa danh mà địa danh chỉ là cái cớ có hai
mục đích song song. Thứ nhất là tôn vinh, ngợi ca những con người để lại dấu
tích nơi xóm làng, địa phương. Thứ hai là tìm chỗ dựa tâm linh trong đời sống
của những con người bình thường. Họ vừa thể hiện bản tính yếu đuối, vừa thể
hiện sức mạnh của một kẻ quyền uy, qua việc níu kéo những gì kính ngưỡng,
thiêng liêng lại gần với cuộc sống con người, bằng chứng là những vị nhân
thần gắn với địa danh được thờ phụng đều có nguồn gốc từ những con người
bình thường, từ trong dân gian mà đi vào cõi vô biên của quyền năng thần
thánh.
Đó là lý do tại sao, mỗi một địa danh trong truyền thuyết địa danh
thường gắn với một chiến công, một kỳ tích tạo dựng của tiền nhân. Nói như
Hồ Quốc Hùng, “ký ức lịch sử cần được định vị dưới dạng vật thể”, chính xác
là chủ thể “nhân dân muốn mượn vật thể làm điểm tựa cho niềm tin và nguồn
nuôi dưỡng ký ức” của chính mình [33, tr.13]. Tự nhiên trong truyền thuyết
địa danh không nằm trong quá trình sắp xếp tự thân nữa mà đã chịu sự qui
định của lịch sử. Lịch sử đã làm một cuộc sắp xếp lại, định vị lại núi sông, đặt
tên cho núi sông [2, tr.597]. Chính cảm hứng lịch sử đã khoác thêm những
67
ánh hào quang cho sông núi vô tri để cho non nước này gắn bó với sự tồn tại
của một cộng đồng, là nơi chất chứa hồn thiêng dân tộc.
Điển hình như truyện Sự tích núi Bà Đen, ngọn núi trong lịch sử không
biết tên gọi là gì chỉ biết có chùa Vân Sơn/ Linh Sơn ngự trị trên núi trước đó
(Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí) nhưng trong ký ức của
người dân thì ngọn núi này từ xưa đã mang tên gọi là Bà Đen qua các mẩu kể
về huyền tích Bà Đen. Dân gian luôn có cách giải thích hợp lí cho sự chọn lựa
và gán ghép của mình. Nếu cuộc đời trước đây của Bà Đen là Lý Thị Thiên
Hương (bản chính) thì dân gian sẽ giải thích tên gọi theo vẻ bề ngoài của Bà
đó là nước da ngâm đen. Nếu cuộc đời trước đây của Bà Đen là nàng Đênh
(Khảo dị 1) thì dân gian sẽ giải thích theo tên gọi Bà Đênh rồi đọc trại ra
thành Bà Đen. Thêm nữa còn có các bản kể khác trong hệ thống các bản kể về
núi Bà Đen. Ở đó, dân gian không giải thích về nguồn gốc của vị Thánh Mẫu
được thờ phụng trên đỉnh núi mà lại giải thích về nguồn gốc của chính ngọn
núi sừng sững, uy nghiêm này (Khảo dị 2 và Khảo dị 3). Bàn về các bản này,
ta lại thấy ở đó dấu vết của thần thoại khởi nguyên, ở sự sáng tạo của các thần
và được thực hiện bởi một nguyên nhân là từ mô-típ khởi đầu thi tài – thách
cưới. Ở đây, không phải là ngọn núi được tạo nên do các thần tạo tác vạn vật
từ một cõi hỗn độn mà là từ mục đích mang tính chất tâm lý của con người –
đó là cưới xin. Cho nên, có thể nói các bản kể này là những mẩu vụn còn sót
lại trong ký ức của những người dân di cư từ một vùng văn hóa cổ sang một
vùng văn hóa mới. Ở đó, nó vừa tồn đọng cái cũ nhưng không phải là cái cũ
hoàn toàn mà đã có sự thu nạp thêm vào nó cái mới. Đó phải chăng là một nét
đặc trưng của truyện dân gian vùng đất mới? Vừa có sự kế thừa từ “đất cũ”
vừa có sự sáng tạo trên cơ sở thực tại đời sống. Chúng tôi tạm gọi những dị
bản này là những truyền thuyết hóa thần thoại – “truyền thuyết thần thoại”
(Hồ Quốc Hùng). Về Khảo dị 5 Truyền thuyết về núi Bà Đen và Bà Rá, bản
kể này cũng giải thích về sự hình thành ngọn núi Bà Đen nhưng cũng không
68
giải thích vì sao lại gọi tên là Bà Đen chỉ giải thích về sự xuất hiện của ngọn
núi. Xem xét thể loại của bản kể này, Từ Thị Thơ cho đó là truyền thuyết,
nhưng theo chúng tôi nó chưa phải là “truyền thuyết thuần chủng” (Hồ Quốc
Hùng). Bởi nó cũng do một vị Tổ khổng lồ tạo tác, do vậy nó mang hơi hướm
của thần thoại thể hiện qua sự xuất hiện của mô-típ đắp núi, nhưng mặt khác
nó lại được định vị là truyền thuyết ở việc ý thức xác định cương vực, lãnh
thổ, bảo vệ bờ cõi, chống lại sự xâm chiếm của các tộc người khác. Đó là tâm
thức khoanh vùng lãnh thổ, ý thức về cương vực lãnh thổ của dân gian được
định hình qua núi sông. Xoay quanh hệ thống bản kể về núi Bà Đen, người
viết đặt một câu hỏi, phải chăng ở giai đoạn đầu, còn thấm đẫm tâm thức thần
thoại nên dân gian còn đi tìm về sự hình thành núi sông, sau này tâm thức
truyền thuyết, gần gũi hơn với đời sống con người thực tại, dân gian lại đi tìm
và sáng tạo nên những huyền tích giải thích về tên gọi ngọn núi với một cốt
truyện hoàn toàn mới. Và dĩ nhiên qua các bản kể, người tiếp nhận sẽ thấy
được đâu là bản kể ra đời trước và đâu là bản kể ra đời sau. Bởi nó có sự phân
tầng rõ rệt, như đã nói ở trên, một số bản còn phảng phất không khí thần
thoại, tất yếu đó sẽ là những bản ra đời sớm nhất. Chưa kể bản chính (theo
Luận văn) Sự tích núi Bà Đen với cốt truyện nàng Lý Thị Thiên Hương lại
có chút hơi hướm của truyện cổ tích. Nói như một số người, truyện phản ánh
mâu thuẫn giữa bọn quan lại thống trị và người dân bị trị rõ rệt. Cô gái Lý Thị
Thiên Hương bị chế độ phong kiến họ Nguyễn vùi dập đến mức phải tự tử.
Đây là bản án tố cáo nạn cường quyền của quan lại họ Nguyễn vào những
năm thế kỷ XVIII (?). Qua Lê Sĩ Triệt, người dân bị bắt buộc đi lính để phục
vụ cho mưu đồ khôi phục chế độ phong kiến phản động của chúa Nguyễn (?).
Nếu nói như vậy thì tính chất tự nguyện, vì nước của Lê Sĩ Triệt được thể
hiện trong truyện sẽ được lý giải ra sao? Và sự hiển thánh, âm phù của Bà
Đen dành cho Nguyễn Ánh trên bước đường tao loạn là trên cơ sở nào? Cũng
như sắc phong của triều đình nhà Nguyễn dành cho Bà lại được nhân dân đón
69
nhận và xem đó là một sự thật không thể chối cãi thì phải giải thích ra sao?
Chưa kể, những mẩu truyện linh thiêng đó lại góp phần tăng thêm lòng kính
ngưỡng của dân gian dành cho Thánh Mẫu Bà Đen. Sự tích núi Bà Đen có
phải chỉ đơn thuần là một sự nhào nặn sự tích, biến nạn nhân của chế độ
phong kiến thành người ủng hộ chế độ? Xin thưa rằng không, vì mọi yếu tố
không thuộc về dân gian sẽ bị “chết yểu” chứ không thể tồn tại đến ngày nay,
xác định từ cái mốc của thời điểm chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu đến bây giờ đã
là gần ba thế kỷ, chỉ số thời gian đủ quyết định vận mệnh của một bản kể có
thuộc về dân gian hay không thuộc về dân gian.
Đó là xét từ quan điểm đối với lịch sử của nhân dân, còn đây là quan
điểm của nhân dân về đời sống con người. Một số nhà nghiên cứu cho rằng,
với quan niệm “kẻ chết oan không nhắm mắt”, người ta cho rằng cô gái đáng
thương nọ đã hiển thánh. Ta có thể tìm thấy thân phận qua số phận của người
con gái, đó là thân phận bị áp bức. Người con gái không tái sinh như trong
truyện cổ tích Tấm Cám, nhưng vẫn còn sống với cái tên mới – Bà Đen – giúp
đỡ dân gian vượt qua khó khăn, bất hạnh.
Xét theo hai góc độ trên mà chúng tôi cho rằng truyền thuyết này có hơi
hướm truyện cổ tích. Tuy nhiên, nó chưa đạt đến mức để xác nhận là cổ tích
hóa truyền thuyết, vì yếu tố thuộc về cổ tích chỉ là cái bóng nhợt nhạt đằng
sau cảm thức truyền thuyết, đó là cảm hứng ngợi ca và tôn vinh, được củng cố
bằng một niềm tin to lớn của dân gian. Cũng không thể gọi là truyền thuyết
hóa cổ tích, vì suy cho cùng nó không phải được phát triển từ những yếu tố
của truyện cổ tích. Cho nên, về bản chất đây vẫn là một truyền thuyết địa
danh chứ không như một số người, khẳng định bản kể Sự tích núi Bà Đen là
một truyện cổ tích.
Nói về tên gọi của núi Bà Đen, người Khmer gọi là Phnom Chơn Bà
Đênh. Có thể, do bản kể của người Khmer có cốt truyện Nàng Đênh có chi
tiết còn sót lại khúc chân nên người Khmer gọi là Chơn Bà Đênh. Cư dân Việt
70
thì qua mỗi bước đường lịch sử thì gọi là Vân Sơn, Linh Sơn, Bà Đen, có sách
lại nói là Bà Đen là do cách gọi trại tên Bà Đinh, không biết là dựa trên dữ
liệu nào của dân gian? Cho nên về cơ bản người ta vẫn cho rằng, Bà Đen có
“quốc tịch” không rõ ràng. Đó là trường hợp một địa danh lại có nhiều cách
giải thích khác nhau. Có thể lý giải do tâm lý chung của con người là muốn
định danh núi sông, và tâm lý ấy còn phải tùy thuộc vào độ dài thời gian, tâm
thức tộc người. Từ đó hình thành nhiều cách giải thích khác nhau, tạo nên
nhiều bản kể khác nhau về cùng một địa danh, một hiện tượng (núi) Bà Đen.
Giải thích vì sao xung quanh ngọn núi Bà Đen lại có nhiều khảo dị đến
Trong tâm thức folklore của các thế hệ cư dân vùng đồng bằng Nam Bộ
vốn quanh năm quen với miệt vườn, miệt sông bằng lặng thì ngọn núi
cao này gợi lên trong họ những biểu tượng về Đấng-Tối-Cao, nơi các lực
lượng siêu nhiên trú ngụ và điều khiển sự sống, cái chết của muôn loài
cũng như những chuyện mưa, nắng, gió, bão. Ngọn núi Bà Đen đã là nơi
chung đúc khí thiêng của Trời - Đất. Bởi vậy, tâm linh các thế hệ cư dân
sinh sống ở Nam Bộ đã hướng về đây để xây nên một linh tượng muôn
năm đã tỏa sáng qui tụ và dẫn dắt hồn người vào cõi Chân – Thiện – Mỹ
[67].
vậy, chúng tôi xin mượn lời của Nguyễn Minh San:
Bên cạnh địa danh Núi Bà Đen, hệ thống truyền thuyết dân gian Tây
Ninh còn lưu lại các địa danh khác như: Bàu Cỏ Đỏ, Mô súng, Giếng mạch,
Suối Ông Hùng,… nhưng tất cả hiện nay đã không còn vết tích chỉ còn lại cái
tên gọi là sống cùng với thời gian, lịch sử. Qua đó, càng khẳng định thêm tính
bền vững của địa danh dân gian.
Có những địa danh như Suối Bà Tươi, Cầu Bà Mai, Bàu Sóc, Bàu Tròn,
Bàu Vuông… nghe nôm na, đẫm chất dân gian nhưng đi tìm hiểu thì không ai
biết vì sao gọi như vậy? Ông Đặng Bình Chí (Trảng Bàng, Tây Ninh) nói rằng
đó là những địa danh, tên gọi của người Khmer trong quá khứ chứ không phải
71
của người Việt nên không biết gốc tích ra sao. Điều ấy hoàn toàn có cơ sở, vì
trước đây người Khmer (Miên) sống lẫn với người Việt, đúng hơn là định cư
ở đây trước người Việt.
Đó là lý do nguồn truyền thuyết địa danh ở Tây Ninh không nhiều mặc
dù các địa danh, tên gọi dân gian xuất hiện khắp nơi qua từng xóm, từng làng.
3.1.3. Truyền thuyết Tây Ninh có mối liên quan mật thiết với tín
ngưỡng dân gian và tôn giáo
Trong công trình Truyền thuyết Việt Nam, Trần Thị An đã khẳng định
truyền thuyết chính là “chiếc cầu nối giữa niềm tin, cảm xúc của cộng đồng
với tín ngưỡng, phong tục, tập quán” (dẫn theo Hồ Quốc Hùng, [33, tr.21]).
Và nơi lưu giữ, nuôi dưỡng tín ngưỡng, phong tục, tập quán không đâu khác
chính là các cơ sở tín ngưỡng đình, miếu, đền, chùa,… và những lễ hội dân
gian. Võ Phúc Châu gọi đó là các “chứng tích văn hóa”. Phát triển lập luận về
mối quan hệ giữa “chứng tích văn hóa” và truyền thuyết, Võ Phúc Châu cho
rằng: “Sự hiện hữu của những chứng tích (này) trong đời sống vật chất, tinh
thần người dân Nam Bộ hôm nay minh chứng cho sự tồn tại, sức sống mãnh
liệt của hệ thống truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết tồn tại không chỉ trong
văn bản kể, mà cả trong những chứng tích văn hóa sống động. […] Truyền
thuyết góp phần tạo dựng và lưu truyền, làm sống động, linh thiêng chứng
tích văn hóa”[10, tr.204-205].
Nói một cách rõ ràng hơn, bộ phận truyện kể truyền thuyết góp một phần
không nhỏ vào công cuộc kiến tạo không gian thiêng cho đình, miếu, đền,
chùa,… chưa kể một số truyện (tình tiết truyện) trở thành yếu tố, bộ phận
trong nghi lễ ở đền, miếu, đình, chùa. Ngược lại, đền, miếu, đình, chùa nuôi
dưỡng sức sống cho truyền thuyết, gìn giữ cái thiêng cho truyền thuyết.
Truyền thuyết đôi khi lại được hình thành trên chính cơ sở của hoạt động tín
ngưỡng ở đền, miếu, đình, chùa,… Một loạt các truyện Chuyện ở đình Gia
Lộc, Chuyện ở đình Thạnh Đức, Chuyện ở miếu Đại thần Huỳnh Công
72
Thắng,… là sự minh họa cho việc truyền thuyết hình thành dựa trên tín
ngưỡng ở đền, miếu, đình, chùa.
Tóm lại, ở Tây Ninh, truyền thuyết có thể ra đời trước sự có mặt của đền,
miếu, đình, chùa và cũng có thể ra đời sau sự có mặt của đền, miếu, đình,
chùa. Giữa truyền thuyết và đình, miếu, đền, chùa có một sự liên kết bằng hai
chữ niềm tin, nâng lên thành tín ngưỡng. Có thể minh họa mối quan hệ “ruột
thịt” giữa ba đối tượng vừa kể trên qua sơ đồ sau:
Truyện gắn với tín ngưỡng thể hiện niềm tin vào lực lượng ngoài con
người. Từ quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá”, người ta tin rằng mỗi
cuộc đất, khúc sông, góc rừng,… nơi con người đặt chân đến khai khẩn, sinh
sống đều có một vị thần trấn giữ, cần phải tôn trọng, không được mạo phạm,
kéo theo đó còn là lòng kính tín đối với tự nhiên.
Trong bộ phận truyền thuyết gắn với tín ngưỡng dân gian và tôn giáo,
tồn tại hai quan niệm cơ bản của dân gian. Đó là quan niệm “thiên nhân tương
ứng” và quan niệm “duy hồn”. Trong bộ phận truyền thuyết, chủ yếu là bộ
phận truyền thuyết này, các yếu tố huyền hoặc bắt nguồn từ các giáo thuyết
khác nhau đã chiếm một tỉ trọng lớn lao lấn át các yếu tố thần kỳ thường thấy
trong thần thoại, cổ tích truyền thống.
Quan niệm “thiên nhân tương ứng” được biểu hiện đậm nét trong những
73
mẩu chuyện về Nguyễn Ánh gặp những điều kỳ diệu trên đường bôn tẩu
(Chúa Nguyễn Ánh gặp Thần nữ), các mẩu truyện tôn giáo (Đạo Cao Đài)
trong những lần đi tìm báu vật ở núi Bà Đen một cách bí nhiệm (Báu vật lấy
từ núi Bà, Đi lấy vàng ở núi Bà Đen) và các mẩu truyện khác như: Sự tích
Ông Đá nứt hai trên núi Điện Bà, Thần Đình Long Chữ, Chùa Ông Thánh
Công,…
Quan niệm “duy hồn” của dân gian có một sự gắn kết không nhỏ với
quan niệm luân hồi nhân quả của Phật giáo. Sự gắn kết ấy đã chi phối đến xu
hướng sáng tạo truyện của dân gian. Biểu hiện của quan niệm “duy hồn” đó là
quan niệm của dân gian về những người chết oan, chết bất đắc kỳ tử sẽ không
được siêu thoát, họ vẫn tiếp tục cuộc sống ở một dạng khác đó là hiển hách
thiêng liêng, thành thần bảo hộ dân chúng. Tuy nhiên không phải ai cũng vậy
mà chỉ có giới hạn ở một phạm vi, chỉ riêng “nhân vật truyền thuyết, có một
đời sống sau cái chết, đó là sự hiển linh âm phù cho đời sau. Cái chết của
nhân vật truyền thuyết mở ra một đời sống mới, một đời sống tinh thần ở cấp
độ cao hơn, bởi nhân vật truyền thuyết được liệt vào hàng “tôn ti đẳng cấp”,
ngăn cách với độc giả bằng một “khoảng cách giá trị” (Trần Thị An). Ở một
bộ phận nhân vật, đúng như dân gian vẫn quan niệm, đó là “sinh vi tướng tử
vi thần”. Các yếu tố huyền hoặc, ảo lạ trong truyện chỉ nhằm một mục đích là
biểu đạt những ước vọng chân chính mà cuộc sống thực chưa đạt được và
theo đó cũng “bộc lộ xu hướng thẩm mỹ - đạo đức: sùng bái những người có
công đức, những anh hùng nghĩa khí và đề cao cái thiện, trừng răn điều ác”
của dân gian [86, tr.24].
Nói về mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo, có thể quay
lại truyện Sự tích núi Bà Đen. “Với người Việt và người Cao Miên, trước khi
xuất hiện Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu và Điện Bà trên núi Bà Đen thì trên
núi này đã có chùa, “có tượng Phật bằng đá rất linh thiêng” (hoặc có tu sĩ Đạo
Trung 31 năm cô đơn sớm chiều lo tụng kinh niệm Phật)” [67]. Tín ngưỡng
74
dân gian (Bà Đen) ở địa phương (Tây Ninh) có phải được phát tích từ Phật
giáo? Bởi vì, “Các bà chúa Liễu, bà Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn, cuối
cùng đều chọn con đường qui y, cùng với Phật để trở thành những đấng siêu
nhân nhằm giải thoát chúng sinh, cầu cho cả thế giới này được hòa bình an
lạc” [92]. Bà Đen lúc còn sống cũng rất sùng mộ đạo Phật, đến khi chết Bà
báo mộng cho nhà sư tu hành trên núi chứ không phải là một người nào khác.
Có thể đó chính là nhà sư Đạo Trung, nhân vật được nhắc đến trong Sự tích
việc thành lập Điện Bà. Đạo Phật muốn đi vào lòng dân phải tạo lập nên
huyền thoại phù hợp với tín ngưỡng dân gian, tức là đáp ứng mong muốn có
một vị thần, Bà Mẹ Xứ Sở coi sóc, trông nom, phù hộ, che chở cho đời sống
của bá tánh. Noi theo đó, thì có thể kết luận: “Đạo Phật muốn tồn tại lại phải
đồng hóa với tín ngưỡng dân gian bản địa” [18, tr.41]. Kéo tín ngưỡng dân
gian hòa nhập vào với tôn giáo, hay đó là một sự dân gian hóa tôn giáo, một
Phật giáo dân gian chỉ có thể tồn tại ở Việt Nam? Lại nói về mùa lễ vía Bà
Đen cũng do đạo Phật tiến hành chứ không theo nghi lễ cổ truyền của một lễ
hội thờ Bà (Mẫu) như các nơi khác (Bà Chúa Xứ núi Sam).
Ở trên, chúng tôi đã điểm qua mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian và
Phật giáo. Tây Ninh được xem là cái nôi phát tích Đạo Cao Đài. Vậy giữa
Đạo Cao Đài và tín ngưỡng dân gian ở Tây Ninh có một mối quan hệ nào hay
không? Có thể khẳng định rằng, Đạo Cao Đài cũng có một sự kết nối mật
thiết với tín ngưỡng dân gian Tây Ninh. Qua việc, Đức Hộ Pháp (người sáng
lập Đạo) thỉnh Bà Đen về thờ ở Chùa Tòa Thánh, chưa kể trong những truyện
lưu truyền từ Đạo Cao Đài cũng có sự xuất hiện của Bà Đen (Đi lấy vàng ở
núi Bà Đen). Ở truyện Thành hoàng đình Long Thành, có một sự giao thoa
hòa nhập mạnh giữa tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Cao Đài, thể hiện ở tình
tiết phong thần hiệu Văn Xương Đế Quân cho thần Thành Hoàng đình Long
Thành của Đức Chí Tôn (Đấng Cha Trời của Đạo Cao Đài). Hiệu ứng của sự
giao thoa này là càng củng cố thêm niềm tin bền vững của dân gian vào sự tồn
75
tại của hai hình thức tín ngưỡng, cả tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn
giáo. Tức là có một đấng siêu linh là thành hoàng (tín ngưỡng dân gian), được
phong thần hiệu bởi một đấng siêu hình từ tôn giáo.
Nói về tín ngưỡng thì không thể không nhắc đến không gian duy trì và
nuôi dưỡng nó, đó chính là lễ hội dân gian. Trong lễ hội dân gian, có sự dung
chứa tín ngưỡng, phong tục, tập quán qua lòng thành kính, nghi thức, nội
dung cúng tế, hội hè,…
Lễ hội dân gian tiêu biểu nhất ở Tây Ninh là lễ hội Bà Đen. Đây là lễ hội
tiêu biểu của tiểu vùng Đông Nam Bộ (Sài Gòn – Gia Định) và của cả vùng
Nam Bộ với các khía cạnh đặc thù của địa phương như về dân tộc (Việt, Hoa,
Khmer, Chăm,…), về tôn giáo tín ngưỡng (Phật giáo và tín ngưỡng dân gian),
về địa lý (biên giới, núi non), về lịch sử (vùng đất sớm được khai phá và in
dấu nhiều sự kiện lịch sử). Nó là “vùng hội lưu văn hóa nhưng không phải là
con số cộng các giá trị văn hóa”. Đó là sự hòa hợp chứ không phải là sự góp
nhặt rời rạc. Người ta tìm thấy ở đó sự thiêng liêng để nuôi dưỡng lòng kính
ngưỡng qua bao lớp thời gian càng thêm sâu đậm. Lễ hội Bà Đen được nuôi
dưỡng bởi truyền thuyết về Bà Đen sẽ không bao giờ nhạt trong tâm thức dân
gian cũng như ngọn núi uy nghiêm tôn thờ vị Thánh Mẫu của dân gian.
Bên cạnh đó, còn phải nhắc đến hệ thống lễ hội Quan Lớn Trà Vong ở
Tây Ninh, một lễ hội đậm đà bản sắc dân gian chỉ riêng có ở địa phương Tây
Ninh. Nó được tổ chức long trọng và trang nghiêm ở các đền, dinh thờ phụng
ba anh em Quan Lớn Trà Vong trong suốt mấy tháng đầu năm. Lòng kính tín
của dân gian được bền vững đến ngày hôm nay là nhờ những truyền thuyết
về công tích của ba anh em Quan Lớn Trà Vong, tinh thần quả cảm vì dân, vì
nước của họ. Lễ hội Quan Lớn Trà Vong về cơ bản gần giống với lễ hội Đình
ở Tây Ninh. Trong cuộc lễ, có sự tái hiện lại không khí cổ xưa qua trang phục
của các tướng sĩ. Mọi người nhắc nhở nhau về một thời quá khứ vàng son,
thiêng liêng của địa phương qua một bài tóm tắt công tích của Ông bằng một
76
giọng đọc “diễn xướng” của một nghệ nhân. Giây phút ấy, mọi người kính
cẩn, lặng im như tất cả đều thấm nhuần công ơn của cha ông thời mở cõi.
Diễn xướng dân gian đã thâm nhập vào tận trong các nghi lễ qua việc:
đọc bài thài, đi kiểu trong dâng hương, trò lễ,… Nguyễn Chí Bền cho rằng:
“địa điểm tổ chức hình thức diễn xướng trong nghi lễ của ngày hội với người
Việt Nam Bộ đã có thay đổi, không ở cửa đình mà ngay trước bàn hương án.
Thế là chất thiêng liêng của buổi tế trong ngày hội đình ở làng Việt Nam Bộ
xưa đã phai nhạt dần, nhường chỗ cho chất thế tục len vào”. [5] Chúng tôi tự
hỏi “chất thế tục” mà tác giả đề cập ở đây là gì? Và theo tác giả “chất thiêng
liêng” như thế nào mới đủ tiêu chuẩn? Theo chúng tôi, nghi lễ thế nào là
thiêng liêng còn phải tùy thuộc vào tâm thức dân gian chứ không phải chỉ
dựa vào hình thức bề ngoài mà đoán định.
Tóm lại, đằng sau những lễ hội, những cơ sở thờ tự, tín ngưỡng đều có
sự tồn tại của một (hay nhiều) truyền thuyết, nếu như chưa thành truyền
thuyết thì cũng là những mẩu kể tản mác để dân gian vin vào đó làm chỗ dựa
niềm tin, tín ngưỡng cho chính mình. Tỷ như, Đền thờ Quan Lớn Trà Vong
Suối Vàng, không phải do người dân tự sắp chọn địa điểm ở đó, mà theo dân
gian truyền lại thì do Ông Lớn về báo mộng cho ông tư ở xóm biết, kể từ đó
nhân dân mới quyên góp tiền của, công sức mà xây nên cơ sở thờ tự. Đó chỉ
là một mẩu kể nhỏ, giải thích nguyên nhân xây cất Đền thờ Quan Lớn Trà
Vong Suối Vàng chứ chưa thành truyện. Theo một cách đặt vấn đề trước đó,
phải chăng cần có độ lùi thời gian nhất định để những mẩu kể nhỏ, vụn ấy
phát triển thành truyện? Nếu như nó hợp với tâm lý dân gian, còn không nó
sẽ lùi sâu vào ký ức và bị lãng quên.
3.2. Cấu tạo cốt truyện
Tiếp cận cấu tạo truyền thuyết (truyện kể dân gian), chúng tôi tiến hành tiếp
cận hai yếu tố quan trọng của truyện kể đó chính là: cốt truyện và nhân vật.
Theo V.Ia.Propp thì: “Cùng một cấu tạo có thể làm cơ sở cho nhiều cốt
77
truyện và ngược lại nhiều cốt truyện có cơ sở là cùng một cấu tạo. Cấu tạo là
nhân tố bền vững, bất biến, còn cốt truyện là nhân tố hay thay đổi, khả biến”
[61, tr.527]. Có thể minh họa mối quan hệ giữa cấu tạo và cốt truyện bằng
sơ đồ sau:
Như vậy, xác định được cốt truyện của truyện kể chúng ta có thể truy tìm
cấu tạo của nó, nhưng không có nghĩa là xác định được cấu tạo truyện thì có
thể truy tìm được cốt truyện. Bởi vì, cốt truyện là nhân tố khả biến nên vô
hình chung việc truy tìm một cốt truyện từ cấu tạo có thể sẽ sáng tạo nên một
cốt truyện mới. Cấu tạo mang tính trừu tượng và cốt truyện mang tính cụ thể.
Cũng theo V.Ia.Propp, thì cơ sở của mọi truyện kể là cốt truyện và cơ sở
của mọi cốt truyện là hành động của nhân vật. Một chuỗi hành động có mở
đầu, phát triển và kết thúc [61, tr.456]. Chính vì thế, nhân vật trong truyện kể
bị cốt truyện chi phối, phải phục tùng cốt truyện.
Chuỗi hành động của nhân vật thực chất chính là sự sắp xếp của nhiều
tình tiết trong đó có mô-típ.
“Cốt truyện và nhân vật tuy khác nhau nhưng gắn bó với nhau mật thiết,
78
tuy hai mà như một, tuy một nhưng lại là hai; nghĩa là không thể tách rời, biệt
lập, nhưng cũng không thể hợp nhất và hòa đồng” (Hoàng Tiến Tựu, Bình
giảng truyện dân gian, tr.18). Vì thế, nhân vật không thể thoát li nằm ngoài
cốt truyện, cốt truyện là cốt truyện của nhân vật (chính). Tuy nhiên, truyền
thuyết Tây Ninh nói riêng và truyền thuyết Nam Bộ nói chung, mức độ ảo hoá
trong truyện chưa nhiều, nhân vật còn gần con người thật bởi chưa đủ thời
gian cho quá trình hư cấu nhân vật, cốt truyện. Đặc trưng này của nhân vật sẽ
kéo theo sự thay đổi đặc trưng của cốt truyện, cũng như cấu tạo truyền thuyết
Tây Ninh so với truyền thuyết cổ điển, truyền thống.
Tăng Kim Ngân còn đưa ra khái niệm “sườn truyện”, theo tác giả, chúng
ta có thể dựa vào sườn truyện để xác nhận truyện kể dân gian trong tình trạng
nhận diện từ các tài liệu cổ đã bị sử hóa hoặc là đang trong quá trình hình
thành chưa rõ nét, chưa định hình được cốt truyện. Bởi vì, theo Tăng Kim
Ngân dù sườn truyện chưa phải là cốt truyện nhưng về cơ bản thì: “Sườn
truyện cũng như cốt truyện trong truyện kể dân gian chỉ nhằm thông báo một
loạt sự kiện và hành động liên tiếp của nhân vật chính” [54, tr.18].
Theo nhu cầu dễ nhớ, dễ kể, dễ lưu truyền của dân gian, cốt truyện của
truyện kể dân gian được tổ chức theo một trình tự thời gian một chiều, trong
một không gian khép kín có giới hạn.
3.2.1. Cấu tạo truyền thuyết lịch sử Tây Ninh
Khảo sát truyền thuyết lịch sử Tây Ninh, chúng tôi bước đầu xác định
chúng tồn tại theo bốn kiểu cốt truyện:
3.2.1.1. Kiểu cốt truyện về các nhân vật tiền hiền vừa có công khai
khẩn đất hoang, lập làng, lập ấp; vừa có công đánh đuổi giặc Miên ở thời kỳ
đầu khai mở đất đai địa phương Tây Ninh. Kiểu cốt truyện này có công thức:
Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật Hành trạng, công tích của nhân vật Nhân vật hi sinh, qua đời Hiển linh Được nhân dân thờ cúng.
79
Ứng với kiểu cốt truyện này có các truyện: Đền thờ Đại thần Huỳnh
Công Thắng, Quan Lớn Trà Vong, Ông Cả, Thành hoàng đình Long
Thành, Thành hoàng đình Thái Bình.
Truyện có năm bước, bước thứ 1 là nguồn gốc, đặc điểm nhân vật. Đây
là bước truyện phổ biến trong hầu hết truyện kể truyền thuyết. Các nhân vật
của kiểu truyện này thường là những người có xuất thân từ các tầng lớp có địa
vị trong xã hội, nếu không nói là quan lại trong triều đình. Chỉ riêng ông Võ
Văn Oai – ông thần ở đình Thái Bình (Thành hoàng đình Thái Bình) là xuất
thân từ tầng lớp nông dân nghèo.
Ba anh em Quan Lớn Trà Vong Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Thắng,
Huỳnh Công Nghệ là tướng của triều đình, được nhà Nguyễn phái vào Tây
Ninh bảo vệ bờ cõi, chống Miên (Quan Lớn Trà Vong, Đền thờ Đại thần
Huỳnh Công Thắng).
Ông Cả Đặng Văn Trước (Ông Cả), Ông Trần Văn Thiện (Thành hoàng
đình Long Thành) vốn xuất thân từ những gia đình hào môn, khá giả. Họ là
những người có đủ tài lực, vật chất chiêu mộ, tạo điều kiện cho dân chúng
khẩn hoang, lập nhà, lập làng, lập xóm. Họ hoàn toàn xứng đáng là thủ lĩnh
trong nhóm người khẩn hoang, vừa khai khẩn đất đai, vừa chống người Miên
tràn xuống quấy nhiễu, cướp phá. Theo lịch sử ghi lại thì những người giàu có
sẽ tụ họp dân chúng (đủ mọi thành phần) khai khẩn, cho dân vay lúa thóc, đến
khi nào có đất đai, người dân có thể sống được bằng nghề nông, cày cấy thì sẽ
hoàn trả lại. Nhưng trong truyện không hề tồn tại chi tiết này mà chỉ thấy dân
gian nhắc đến lòng hào hiệp trượng nghĩa của họ đã thu hút dân chúng đi
theo. Rõ ràng, dân gian đã sớm có ý thức tôn thờ tấm lòng quảng đại của họ.
Dù cho xuất thân từ tầng lớp nào thì các nhân vật này cũng xứng đáng là
những bậc tiền hiền, xứng đáng là tổ tiên của cư dân người Việt ở Tây Ninh.
Dân gian thờ cúng họ, thực chất cũng bắt nguồn từ đạo lý thờ cúng tổ tiên, tất
80
nhiên không ngoài mục đích chỗ dựa tâm linh.
Bước truyện thứ 2 là hành trạng, công tích của nhân vật, thì điểm gặp gỡ
chung của các nhân vật này về công tích đó là họ đều là những thủ lĩnh đi đầu
trong công cuộc khai khẩn và bảo vệ bờ cõi (chống giặc Miên). Chỉ có điều là
công tích nào nổi trội hơn giữa các nhân vật mà thôi. Ba anh em Quan Lớn
Trà Vong cùng với ông Võ Văn Oai nổi trội về công tích chống giặc Miên,
bảo vệ bờ cõi; Ông Cả Đặng Văn Trước, Ông Trần Văn Thiện thì nổi trội
công tích khai hoang, lập làng, lập ấp, để dân chúng ngụ cư.
Bước truyện thứ 3 là nhân vật hi sinh, qua đời. Tưởng khi tuổi già, sức
yếu qua đời là tất yếu nhưng ở đây có điều đáng tiếc thương hơn cho các anh
hùng. Ba anh em Quan Lớn Trà Vong (Quan Lớn Trà Vong), ông Võ Văn
Oai (Thành hoàng đình Thái Bình) đều hi sinh trong trận chiến không cân
sức với giặc Miên. Quân lính nơi triều đình xa xôi, ở Tây Ninh, họ phải tự
sung quân ngũ, thêm vị đất đai, thổ nhưỡng ở vùng đất mới còn chưa thích
nghi nên không thể chống lại với quân số dồi dào và sự thích nghi từ trước
của giặc Miên. Sự hi sinh của họ được dân gian hết sức ca ngợi, và dường như
có một sự biện minh cho sự thất bại của họ trong truyện kể. Bao giờ dân gian
cũng cho sự thất bại của họ là do “cuộc chiến không cân sức”, do bị đánh “bất
ngờ”. Và trước khi hi sinh, những người anh hùng ấy đều đã khiến quân Miên
thiệt hại vô số, thất kinh hồn vía. Chính sử thiếu vắng những trang sử hào
hùng này, dân gian đã làm tiếp nhiệm vụ của các nhà sử học, chép lại những
gì các nhà sử học “không biết” và đôi khi “cố tình lãng quên”. Đáng lưu ý
nhất là trường hợp của ông Cả Đặng Văn Trước, ông chết do bị đầu độc bởi
những người thua kiện ở làng An Tịnh. Ông bị đầu độc ở quán Cây Cau
nhưng ông vẫn lên ngựa và về đến chợ Trảng Bàng (làng Gia Lộc) ông mới
mất.
Bước truyện thứ 4 là hiển linh. Đây là một bước truyện cũng khá là phổ
biến trong các kiểu cốt truyện truyền thuyết không chỉ ở Tây Ninh mà còn ở
81
nhiều địa phương khác. Như trên chúng tôi đã nói, do chịu sự chi phối của
quan niệm “duy hồn”, dân gian tin rằng, những người anh hùng một khi “ngã
xuống” thì vẫn còn nặng nợ với núi sông, vẫn còn vương vấn trần gian. Họ ở
lại dưới một dạng thức khác của con người – linh hồn. Lúc ấy, dân gian
không xem họ là những linh hồn bình thường mà đã đắc vị thần thánh. Họ
hiển linh với nhiều hình thức khác nhau, có thể là báo mộng, có thể là đạp
đồng. Họ quở phạt những kẻ sai quấy, nhạo báng thần thánh, và giúp đỡ dân
lành, phù hộ cho dân chúng có cuộc sống cơm no áo ấm. Riêng truyện Thành
hoàng đình Thái Bình không có bước truyện thứ 4. Nhưng không vì thế mà
dân gian giảm bớt sự kính ngưỡng đối với ông.
Bước truyện thứ 4 được xem là tiền đề của bước truyện thứ 5. Vì có sự
linh ứng, vì có sự kính ngưỡng nên nhân dân thờ cúng, có thể là ở đình, do
dân gian tự sắc phong họ là Thành hoàng, gọi nôm na là ông Thần làng; cũng
có thể ở đền, miếu, dinh như trường hợp của ba anh em Quan Lớn Trà Vong.
3.2.1.2. Kiểu cốt truyện kể về các nhân vật là các vị tướng, các anh
hùng địa phương, làng xóm
Kiểu cốt truyện này bao gồm hai dạng công thức:
Thứ nhất là dạng công thức cốt truyện về những vị tướng, những người
anh hùng chống giặc, sau đó tử tiết nhưng vẫn còn nặng nợ với núi sông. Có
công thức sau:
Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật Tài năng, chiến công của nhân vật
Nhân vật hi sinh Vật lạ Hiển linh Được nhân dân thờ cúng.
Ứng với công thức cốt truyện này có hai truyện đó là: Chuyện ở dinh
Vàm Bảo, Miếu thờ Ông Gốc.
Miếu thờ Ông Gốc có cốt truyện đủ các bước truyện ở trên, riêng
Chuyện ở Dinh Vàm Bảo chỉ bắt đầu từ bước truyện thứ 4 “Vật lạ”. Có thể
82
gọi đó là sự đồng hành chỉ phân nửa cốt truyện? Ban đầu, chúng tôi đi điền
dã, thu được truyện Chuyện ở dinh Vàm Bảo, chúng tôi vẫn còn ngờ ngợ, vì
có thể nào đây chỉ là một truyện? Nhưng sau đó, qua sự kiểm chứng của nhiều
người dân, họ đều quả quyết Ông Gốc ở dinh Vàm Bảo là sự linh ứng của ông
Huỳnh Công Nghệ (một trong ba anh em Quan Lớn Trà Vong). Vậy đã rõ đó
là hai truyện khác nhau, nói về hai vị anh hùng khác nhau. Nhưng vấn đề là
tại sao mô-típ vật lạ lại không phải là cái gì khác mà lại là một gốc cây? Sự
giống nhau tình cờ đến bất ngờ, gốc cây cứ trôi ngược nước và chỉ quẩn
quanh ở một chỗ. Trong tâm thức của dân gian, cây (gốc cây) có ý nghĩa gì?
Từ đây, ta có một sự liên hệ đến hình tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na, bà
cũng hóa thân thành một khúc gỗ (cây) trôi về quê hương. Sau người ta đúc
cốt tượng Bà là cốt tượng gỗ. Trong hai truyền thuyết này, người ta không
đúc cốt tượng mà thỉnh Ông Gốc lên thờ, hằng năm đều thay một miểng vải
mới màu đỏ cho Ông (Chuyện ở dinh Vàm Bảo). Riêng truyện Miếu thờ
Ông Gốc, người ta không thỉnh Ông Gốc (Nguyễn Phương Hồng, tướng đánh
Pháp) lên thờ mà chỉ lập miếu trước chỗ Ông trôi nổi. Về sau, người ta không
thấy Ông nữa. Dân gian cho rằng có thể hồn thiêng của Ông đã được an ủi.
Ở bước truyện “hiển linh”, nếu như Chuyện ở Dinh Vàm Bảo được thể
hiện dưới hình thức đạp đồng thì Miếu thờ Ông Gốc lại được thể hiện qua
hình thức báo mộng. Đây là hai hình thức hiển linh thường xuất hiện nhất
trong các cốt truyện truyền thuyết ở Tây Ninh.
Có thể xem, Chuyện ở dinh Vàm Bảo là một sự viết tiếp về đoạn kết của
tướng Huỳnh Công Nghệ trong truyền thuyết Quan Lớn Trà Vong.
Thứ hai là dạng công thức cốt truyện về vị tướng, người anh hùng địa
phương, làng xóm nhưng không có đoạn kết tử tiết:
Kết thúc (được nhân dân lưu truyền).
Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật Hành trạng, công tích nhân vật
83
Khác với các công thức cốt truyện khác, công thức cốt truyện này không
có sự xuất hiện của yếu tố kỳ ảo. Nhưng không phải vì vậy mà truyện trở
thành tẻ nhạt, ngược lại nó vẫn chứa chan cảm hứng ngợi ca, tôn vinh những
lớp người đi trước, thế hệ ông cha với tinh thần quả cảm bằng một tình yêu
tha thiết xóm làng.
Ứng với công thức cốt truyện này, có truyện Cọp vắt khăn và Lãnh
Binh Két tung hoành một cõi biên thùy. Hai truyện theo đuổi hai chủ đề
khác nhau, một là diệt cọp trừ hại cho dân lành, hai là đánh Pháp, chống giặc
ngoại xâm.
Truyện được phân thành ba bước, bước thứ 1 là giới thiệu về nguồn gốc,
đặc điểm nhân vật. Trong truyện Cọp vắt khăn, nhân vật diệt cọp là một
người có hành tung bí ẩn, mọi người gọi ông là ông Thổ lai Chà Lang Bang,
ông đến ngụ cư ở xóm nhưng không cất nhà mà chỉ ngủ trên cây, ông có sức
vóc khác thường, chuyên giúp đỡ người khác và giúp đỡ rất nhiệt tình. Để
diệt được cọp, người bình thường không thể chiến thắng, nhất là con cọp này
lại rất dữ dằn và lộng hành. Việc xuất hiện một nhân vật có ngoại hình khác
thường, có một sức mạnh thần kỳ hơn người là đáp ứng đầy đủ tiêu chí,
nguyện vọng của dân gian. Có thể đây là một nhân vật hoàn toàn có thật,
nhưng cũng có thể do dân gian đã vẽ lên nhân vật có thật ấy một lớp màu sức
mạnh phi thường để có thể thực hiện nhiệm vụ mà dân gian đề ra sắp tới.
Nhân vật Lãnh Binh Két trong truyện Lãnh Binh Két tung hoành một cõi
biên thùy, dân gian cũng không biết tên thật của ông là gì, chỉ quen gọi là
Lãnh Binh Két, giữ chức lãnh binh và anh dũng chống Pháp.
Bước truyện thứ 2 là hành trạng, công tích của nhân vật. Đây là bước
truyện phổ biến trong các kiểu cốt truyện truyền thuyết ở Tây Ninh. Nhân vật
ông Thổ lai Chà Lang Bang (Cọp vắt khăn) đi tìm một cây roi thật chắc để
diệt cọp, ông chiến đấu với con cọp vắt khăn nhiều ngày, mọi người không
chứng kiến tận mắt nhưng nghe âm thanh vọng lại từ rừng, đủ để thấy dân
84
gian hình dung trận đánh đó rất là “kinh thiên động địa”. Cuối cùng, ông Thổ
đã giết được cọp, trừ hại cho dân lành. Trong hệ thống truyền thuyết Tây
Ninh, chỉ tồn tại một bản kể về người diệt cọp, nhưng ở các địa phương khác
thuộc vùng Nam Bộ, nhất là ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, số lượng
truyện về chủ đề này rất phong phú. Ở đó, có thể là người giết cọp, người
thuần hóa cọp, người thỏa hiệp với cọp và có cả người giúp đỡ cọp. Trong các
truyện này, phần lớn xuất hiện những yếu tố kỳ ảo. Hình như, con người
không hoàn toàn tin vào sức mạnh của chính mình, họ phải vin vào một sức
mạnh khác, một sức mạnh mang tính chất kỳ ảo không phải ai cũng có được.
Chủ đề, người thuần hóa cọp có xuất hiện mờ nhạt trong lời kể của cư dân
Tây Ninh, qua việc, cọp đến chùa, nhưng tuyệt nhiên không làm hại ai (Sự
tích chùa Quan Huế). Trong truyện Ông Trung – Chưởng quản Phước
Thiện đi chơi núi Bà, có sự xuất hiện của cọp nhưng với một ý nghĩa khác
(chúng tôi sẽ nói cụ thể ở phần sau).
Hành trạng, công tích của Lãnh Binh Két (Lãnh Binh Két tung hoành
một cõi biên thùy) gắn liền với chiến công đánh Pháp của ông. Quy mô trận
đánh của ông không lớn, chủ yếu đánh đột kích, nhưng đã làm cho giặc Pháp
bao phen thất điên bát đảo, chúng không lần nào bắt được ông. Đó cũng là
một cái tài của người anh hùng.
Bước truyện thứ 3 là được nhân dân lưu truyền. Nhân dân chúng ta, ở
đâu cũng vậy, đều có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, nó đã tạo thành
bản sắc nên dù đi đến đâu, nó vẫn là một nét đặc trưng trong tính cách con
người. Lưu truyền công tích, truyền miệng truyện kể về người anh hùng (địa
phương) cũng là một cách để ghi nhớ công ơn của họ.
Dĩ nhiên là trong các truyện của kiểu cốt truyện này thì truyện Cọp vắt
khăn phản ánh vấn đề hoàn toàn khác, theo đó người anh hùng trong truyện
này phạm vi lưu truyền cũng không rộng rãi như những người anh hùng trong
các truyện còn lại.
85
3.2.1.3. Kiểu cốt truyện về việc có liên quan đến sự kiện lịch sử ở địa
phương. Có công thức cốt truyện như sau:
Giới thiệu hoàn cảnh, sự kiện Diễn biến sự kiện Kết thúc Ứng với công thức cốt truyện này, có hai truyện đó là truyện Đạo binh
vô hình và truyện Ngọn đèn hồn tử sĩ hay là lão bộc Huỳnh Trung.
Đạo binh vô hình kể về đạo âm binh của cố tri phủ Huỳnh Công Giản
(Quan Lớn Trà Vong). Ngọn đèn hồn tử sĩ hay là lão bộc Huỳnh Trung kể
về tấc lòng trung cang của lão bộc Huỳnh Trung bạc mệnh. Họ là những
người vì nước, vì dân, dốc đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ sự nghiệp, lí
tưởng. Khi thác rồi, vẫn không nguôi tấc lòng, vẫn đeo mang nghiệp cả. Đạo
âm binh của Quan Lớn Trà Vong thường đêm hiện ra diễn tập. Đó không phải
là một sự quấy nhiễu dân lành mà là một sự vương vấn những gì lúc còn sống
họ chưa kịp thực hiện. Liệu chúng ta có thể gọi sự kiện ấy là “sống đánh giặc,
thác cũng đánh giặc”? Lão bộc Huỳnh Trung tận tụy, trung thành nhưng phải
bỏ mạng bởi sức tàn lực kiệt, nhưng sau khi chết, linh hồn của lão vẫn không
thể hòa vào núi sông mà theo dân gian lão vẫn còn lẩn quẩn ở vùng núi Điện
Bà hóa thân thành ngọn đèn giúp đỡ khách bộ hành trong đêm tối. Rõ ràng,
theo dân gian, những vị tướng lĩnh, những con người khí khái đáng biểu
dương, ca ngợi ấy khi thác rồi cũng khác thường, cũng hóa thành linh thiêng.
Yếu tố huyền hoặc trong truyện đã giúp dân gian chuyển tải được quan niệm,
tư tưởng của dân gian về những con người ấy.
Ở công thức cốt truyện này, dân gian không quá chú tâm vào hành trạng,
công tích của nhân vật lúc còn sống mà chỉ chú tâm vào hành trạng của họ sau
khi mất, có nghĩa là dân gian chú tâm vào sự linh thiêng của họ. Kiểu cốt
truyện nửa chừng này xuất hiện nhiều hơn trong biến thể truyền thuyết tín
ngưỡng dân gian và tôn giáo Tây Ninh.
86
Kết thúc của công thức cốt truyện này là niềm tiếc thương xen lẫn với
cảm hứng ngợi ca những nhân vật lịch sử anh hùng, có thể là chỉ ở một phạm
vi địa phương Tây Ninh nhỏ hẹp nhưng đối với dân gian họ thật to lớn, xứng
đáng được nhân dân kính ngưỡng và tôn thờ.
3.2.1.4. Kiểu cốt truyện về Chúa Nguyễn Ánh
Công thức cốt truyện này trùng với cốt truyện vì ứng với kiểu này chỉ có
một truyện duy nhất, đó là Chúa nguyễn Ánh gặp Thần nữ. Có công thức
cốt truyện như sau:
Chúa Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng chạy trốn Tây Sơn gặp nhiều khó khăn Điềm báo Khấn hứa Thựa hiện theo điềm báo Lên ngôi Thực hiện lời hứa, phong sắc thần.
Có thể gọi đây là cốt truyện có ý nghĩa kép, vì kết thúc truyện song song
với việc thực hiện lời hứa, sắc phong là việc giải thích tên gọi Tây Ninh, vùng
đất phía Tây, Chúa Nguyễn Ánh bôn ba trong những năm chống Tây Sơn nay
đã được an ninh. Ý nghĩa kép này chỉ mang tính chất phụ vì nó không gắn kết
với các bước truyện diễn biến ngay từ đầu.
Đặt trong hệ thống truyện của cả vùng Nam Bộ, truyện về chúa Nguyễn
Ánh ở Tây Ninh quả thật ít ỏi, nếu nói về sự kiện lịch sử đã được dân gian
hóa thì có thể nhiều hơn con số 1 nhưng để thành truyện thì quả là quá ít so
với số lượng tác phẩm của các địa phương khác, nhất là các tỉnh ở miền đồng
bằng Sông Cửu Long. Vết tích gắn với những bước đường bôn tẩu của chúa
Nguyễn Ánh còn tồn tại ở Tây Ninh cho đến ngày nay được dân gian lưu lại
qua các tên gọi Chùa Ông Gia Ninh, Sân Chầu, Dinh Ông Chúa Tàu, Núi
Điện Bà. Đây chỉ là một công thức cốt truyện trong nhiều công thức cốt
truyện về truyền thuyết liên quan đến Chúa Nguyễn Ánh mà chúng ta có thể
mô hình hóa từ hệ thống truyền thuyết liên quan đến chúa Nguyễn Ánh ở cả
87
vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ khác ở một
đề tài khác, đặt ra cho những người nghiên cứu.
Kết hợp với các truyền thuyết khác liên quan đến bước đường bôn tẩu
của Chúa Nguyễn Ánh đối phó với quân Tây Sơn giành lại chính quyền họ
Nguyễn, ta có quyền đặt ra câu hỏi tại sao ở Nam Bộ và một số địa phương
Nam Trung Bộ, dân chúng lại tôn sùng Chúa Nguyễn Ánh như vậy? Trong
khi lịch sử lại cho rằng Tây Sơn nổi dậy là một cuộc khởi nghĩa chính nghĩa
đứng về quyền lợi của những con người bần nông? Lịch sử chính thống đi vào
sử dân gian có thể giữ nguyên hiện trạng, nhưng cũng có thể thay đổi qua
cách nhìn, cách nghĩ, quan niệm của dân gian, nó có thể hoàn toàn ngược lại
với chính sử, có thể tốt hơn hoặc xấu hơn.
Ở đây, Chúa Nguyễn Ánh chẳng những được người dân giúp đỡ mà còn
được thần linh, những lực lượng siêu nhiên giúp đỡ. Có người lý giải đó là
lớp truyện dân gian sau này được nhà Nguyễn nhào nặn ra để thuyết phục
lòng dân. Cũng có thể. Nhưng chúng tôi lại nghĩ khác. Như chúng tôi đã trình
bày trước đó, nếu như có bàn tay can thiệp của họ Nguyễn vào thì liệu những
vốn truyện ấy có được sống đến bây giờ, chưa nói là càng ngày sức sống ấy
càng mạnh mẽ. Chẳng phải quy luật của truyện dân gian là chỉ nuôi dưỡng
những gì thực chất của dân gian sao? Cho nên, điều có thể chấp nhận là cốt
truyện ấy do họ Nguyễn nhào nặn nhưng mặt khác nó cũng được sự tiếp sức
từ dân gian. Dân gian gửi gắm niềm tin vào đó, tin tưởng đó là sự thật. Rõ
ràng, Chúa Nguyễn Ánh đã thu phục được lòng thành của những lớp cư dân ở
vùng đất mới. Có lẽ nào do chính sách khai khẩn đất hoang của họ Nguyễn
tạo tiền đề cho sự xuất hiện của lòng thành và nuôi dưỡng lòng thành ấy như
tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh (Luận án Đặc trưng thể loại truyền thuyết dân
gian vùng đồng bằng Sông Cửu Long, 2013, Trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn) đã đặt ra? Đó cũng là một cách lý giải có cơ sở lịch sử. Vấn đề
là ở đây có thể vịn vào thuyết trung quân hay không? Có thể nói giai đoạn đầu
88
ở vùng đất mới, nỗi khổ của dân chúng chỉ đến từ phía thiên nhiên còn hoang
dã, kẻ thù bốn chân, chứ nỗi khổ từ phía quan lại thì không nhiều, và thậm chí
là không có. Họ Nguyễn chăm lo, bảo vệ bờ cõi, bảo vệ dân chúng bằng cách
cho các quan quân vào đây chống giặc, tổ chức quản lý. Xét về mặt này, dân
chúng đã phải chịu ơn của họ Nguyễn. Họ chưa có nhiều lý do, thậm chí là
không có lý do nào để chống lại họ Nguyễn. Đó cũng là một cách lý giải của
chúng tôi, theo sự nương nhờ những tài liệu lịch sử thời kỳ khẩn hoang ở
Nam Bộ.
Qua sự khảo sát nhóm truyện truyền thuyết lịch sử chúng tôi nhận diện
được những mô-típ sau: mô-típ hiển linh, mô-típ điềm báo, mô-típ vật lạ, mô-
típ báo ứng, mô-típ con vật trung thành với chủ. Trong đó tần suất xuất hiện
của mô-típ hiển linh và mô-típ điềm báo là nhiều hơn cả. Cần phải nói thêm,
chúng tôi nhận diện mô-típ trong hệ thống mô-típ của truyện dân gian ở phạm
vi vùng (hoặc cả nước) chứ chúng tôi không hạn chế trong phạm vi truyện
dân gian của địa phương Tây Ninh.
- Mô-típ con vật trung thành với chủ chỉ xuất hiện ở truyện Ông Cả, thể
hiện qua chi tiết con ngựa rỏ nước mắt, quỳ xuống rồi lăn ra chết, chi tiết diễn
ra trước cảnh chôn cất Ông Cả. Mô-típ này có vai trò tôn vinh công đức của
Ông Cả, công đức ấy đã được cảm thấu đến cả con vật ngày ngày theo ông.
- Mô-típ vật lạ chỉ xuất hiện ở nhóm 3.2.1.2, tức là ở hai truyện Chuyện
ở dinh Vàm Bảo, Miếu thờ Ông Gốc. Mô-típ này đã góp phần vào việc kỳ ảo
hóa người anh hùng. Sau khi chết vẫn còn nặng nợ với nước với dân, nên đã
hóa thân vào vật lạ. Mô-típ này có vai trò dẫn dắt mô-típ điềm báo, hiển linh
xuất hiện ở phía sau.
- Mô-típ báo ứng xuất hiện riêng ở truyện Ông Cả, qua chi tiết ông vật
chết những người bỏ thuốc độc hại ông. Mô-típ báo ứng này còn xuất hiện ở
các truyện Chuyện ở đình Gia Lộc, Chuyện ở đình Thạnh Đức,… thuộc
nhóm truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Tây Ninh.
89
- Mô-típ điềm báo, mô-típ hiển linh xuất hiện trong hầu hết các truyện,
chỉ trừ Cọp vắt khăn, Lãnh Binh Két tung hoành một cõi biên thùy, Thành
hoàng đình Thái Bình là không có sự xuất hiện của hai dạng mô-típ này.
Mô-típ điềm báo được thể hiện qua hai hình thức là báo mộng (Thần nữ báo
mộng cho Chúa Nguyễn Ánh, Ông Gốc – Nguyễn Phương Hồng báo mộng
cho người dân) và hình thức đạp đồng. Hình thức đạp đồng xuất hiện nhiều
hơn, được thể hiện ở các truyện Ông Cả, Thành hoàng đình Long Thành,
Chuyện ở Dinh Vàm Bảo. Mô-típ điềm báo, mô-típ hiển linh xuất hiện với
vai trò khẳng định sự thiêng hóa của các nhân thần, thể hiện sự quan tâm,
chăm sóc đời sống cư dân của các thần nhân, từ đó góp phần nuôi dưỡng niềm
tin, tín ngưỡng cho dân gian. Riêng mô-típ điềm báo trong truyện Chúa
Nguyễn Ánh gặp Thần nữ còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là thể hiện sự
tham gia của nhân vật phò trợ, góp phần khẳng định lập trường đúng đắn của
Nguyễn Ánh (vì đúng đắn nên mới được sự phò trợ của thần nhân), cũng như
góp thêm một yếu tố vào sự thành công của Nguyễn Vương sau này. Thật ra
mô-típ điềm báo, mô-típ hiển linh là được bắt nguồn từ quan niệm anh linh
của tiền nhân phù hộ cho con cháu.
Các nhân vật trong truyền thuyết này phần lớn được nhân dân thờ phụng,
cúng bái thường niên. Ở các đình, miếu, đền, dinh hằng năm thường tổ chức
các lễ kỳ yên, lễ vía để tưởng nhớ các nhân vật có công với địa phương.
Trong những ngày lễ hội, dân gian thường tái hiện lại không khí cổ xưa qua
sự xuất hiện của binh sĩ trong trang phục lính thú ngày xưa, những cung nữ,
tướng tá mặc giáp trụ. Riêng ở lễ kỳ yên đình Gia Lộc, còn có sự xuất hiện
của hình ảnh một người trong trang phục lính hầu dắt ngựa về đình, người ta
nói Ông Cả ngồi trên chính con ngựa ấy, về đình dự hội với dân làng.
Cần phải nhìn nhận một sự thật rằng: “Những nhân vật lịch sử ở những
thế kỷ sau ít được truyền thuyết và hội lễ cùng chú ý tới. Truyền thuyết về
những nhân vật này càng ngày càng thưa vắng tính chất diệu kỳ. Hội lễ về họ
90
cũng theo thời gian mà ít dần tính chất hoành tráng. Phải chăng cần có một độ
lùi rộng rãi về mặt thời gian để nhân dân dựa vào cốt lõi của lịch sử mà tưởng
tượng, mà xây đắp nên những nhân vật truyền thuyết theo cách của riêng
mình” [43, tr.111]. So với hội Gióng, hội ở đền Hát Môn,… ở miền Bắc thì
đó là một điều hoàn toàn đúng đắn, không thể chối cãi được. Ở Tây Ninh,
không tìm thấy sự liên hệ kết nối nào giữa lễ hội và truyền thuyết, truyện tích.
Trong diễn xướng nghi lễ không có sự tái hiện lại truyền thuyết, dù chỉ là một
tình tiết nhỏ. Có chăng chỉ là một phần trong nghi thức lễ, đó là phần nhắc lại
công tích của các vị thần nhân đối với vùng đất qua một bản kể ngắn gọn
được thể hiện bằng một giọng tế của một nghệ nhân địa phương.
Một số truyện trong nhóm truyện này mang dáng vấp của một truyền
thuyết phổ hệ, tức là những truyền thuyết xoay quanh những nhân vật hay sự
kiện lịch sử cụ thể có vai trò đối với cộng đồng hẹp là chính, thường giới hạn
trong phạm vi làng, xã, dòng họ (thế hệ bình dân tiên phong mở cõi). Cách kể
của những truyền thuyết này gắn với sử biên niên. Đáp ứng với tiêu chí này
thì các truyện Ông Cả, Thành hoàng đình Long Thành, Thành hoàng đình
Thái Bình có thể gọi là những truyền thuyết phổ hệ. Thực chất, truyền thuyết
phổ hệ là một hình thức của truyền thuyết lịch sử nhưng ở phạm vi hẹp hơn,
phạm vi dòng họ.
3.2.2. Cấu tạo truyền thuyết địa danh Tây Ninh
Truyện kể địa danh có hai dạng, có dạng lấy chủ đề giải thích địa danh
làm mục đích chính, có dạng thì chỉ xem việc giải thích địa danh như là một
cái cớ [20, tr.419]. Truyện mang chủ đề giải thích địa danh: các tình tiết gắn
với tên gọi địa danh ngay từ đầu và đều hướng vào mục đích đó. Truyện
không mang chủ đề giải thích địa danh thì yếu tố giải thích địa danh chỉ được
lắp ráp vào phần kết của truyện, còn toàn bộ phần thân truyện trình bày những
vấn đề khác không liên quan hoặc rất ít liên quan đến địa danh.
91
3.2.2.1. Kiểu cốt truyện xem việc giải thích địa danh chỉ là cái cớ
Những truyện thuộc nhóm này, việc giải thích địa danh không phải là
mục đích chính. Đối với dân gian, giải thích địa danh chỉ là một cách để họ
khắc sâu hơn vấn đề được phản ánh thông qua cốt truyện. Giải thích địa danh
chỉ là một mục đích “tạm” mà mục đích “bền vững” có thể là một bài học về
luân lý, có thể là một nhân vật lịch sử đáng ghi danh, cũng có thể là một chiến
công vẻ vang trong quá khứ của cha ông,…
Trong nhóm truyện này phân thành hai dạng công thức cốt truyện:
Thứ nhất, công thức cốt truyện về địa danh đã được định vị ngay từ đầu.
Định vị địa danh Nguồn gốc, đặc điểm nhân vật Hành trạng, công tích của nhân vật Đoạn kết của nhân vật và việc lý giải tên gọi địa danh.
Ứng với công thức cốt truyện này có các truyện: Sự tích núi Bà Đen,
Suối Ông Hùng.
Truyện Suối Ông Hùng lý giải về tên gọi của một làng, xã. Tên gọi vẫn
được lưu truyền đến ngày nay như một sự nhắc nhớ về một người có công
quần tụ xóm làng. Ông không chủ trương kêu gọi, lãnh đạo nhân dân khai
khẩn đất hoang giống như những bậc tiền hiền khác. Mục đích ban đầu của
ông, một vị quan bất mãn triều đình là đi ẩn danh. Nhưng theo dấu chân ông,
nhiều người cũng đến quần cư. Công tích của ông được người đời ghi mãi là
diệt cọp, trừ khử thảo khấu, bảo vệ đời sống dân sinh. Ghi nhớ công ơn của
ông, dân gian gọi vùng đất được ông khẩn hoang, bảo vệ là Suối Ông Hùng.
Dân gian không nhất thiết phải nhớ tên họ đầy đủ của ông, chỉ một cái tên
giản dị nhưng cũng dung chứa hằng bao nghĩa tình.
Riêng truyện Sự tích núi Bà Đen, đoạn kết nhân vật có sự phức tạp hơn.
Nó theo trình tự diễn tiến là:
Nhân vật tử tiết Báo mộng Hiển linh, âm phù Được nhân dân
thờ cúng (sắc phong).
92
Đoạn kết này, có sự trùng hợp ngẫu nhiên với đoạn kết của kiểu cốt
truyện lịch sử. Qua đó càng khẳng định mối quan hệ nhập nhằng giữa truyền
thuyết địa danh và truyền thuyết lịch sử ở Tây Ninh. Như đã nói, sự phân loại
cũng chỉ là tương đối.
Ở đoạn kết này, có sự xuất hiện của các mô-típ nhân vật tử tiết, mô-típ
điềm báo qua hình thức giấc mộng, mô-típ hiển linh, âm phù. Các mô-típ này
cũng xuất hiện nhiều trong kiểu truyện của truyền thuyết lịch sử Tây Ninh.
Trong truyện này, mô-típ nhân vật tử tiết có ý nghĩa khẳng định tấm lòng thủy
chung son sắt của người con gái, hoàn toàn khác với ý nghĩa của mô-típ này
trong các truyền thuyết lịch sử Tây Ninh nhằm biểu hiện tấm lòng trung cang,
nghĩa khí, tính chất anh hùng của các nhân vật lịch sử. Mô-típ điềm báo
thường đi kèm với mô-típ hiển linh, âm phù. Có mô-típ hiển linh, âm phù tất
yếu sẽ có mô-típ điềm báo trước đó. Hai mô-típ này đều giữ nguyên ý nghĩa
của nó đó là thể hiện sự linh thiêng hóa những con người “không bình
thường” để tạo thành một chỗ dựa niềm tin vững chắc cho cuộc sống con
người. Đoạn kết của truyện còn có tác dụng cổ súy cho bài học đạo lý mà dân
gian muốn chuyển tải, đó là bài học về tấm lòng trung trinh tiết liệt của người
phụ nữ thời xưa.
Kiểu nhân vật ứng với kiểu cốt truyện này là những con người bình
thường, nhưng có khí tiết. Riêng có nhân vật trong truyện Suối Ông Hùng là
xuất thân từ tầng lớp quan lại, nhưng chán ngán cảnh quan trường nên mai
danh ẩn tích.
Thứ hai, công thức cốt truyện về địa danh chưa được định vị. Công thức
cốt truyện như sau:
Nhân vật hoặc sự kiện lịch sử có liên quan đến địa danh Hành trạng,
công tích nhân vật Đoạn kết của nhân vật hoặc sự kiện lịch sử và
việc lý giải tên gọi địa danh.
93
Ứng với công thức cốt truyện này có các truyện: Sự tích Dinh Ông, Bàu
Cỏ Đỏ, Sự tích chùa Quan Huế, Am Mả Dộc. Tuy có cùng một công thức
cốt truyện nhưng cảm hứng ở các truyện không giống nhau. Nếu như truyện
Sự tích Dinh Ông là cảm hứng ngợi ca pha lẫn niềm tiếc thương, thì truyện
Bàu Cỏ Đỏ là cảm hứng tự hào về chiến công, tôn vinh người anh hùng. Hai
truyện hoàn toàn đi ngược nhau, một bên là sự thất trận, dẫn đến sự hi sinh
của nhân vật; một bên là sự chiến thắng, chiến công của nhân vật. Từ cảm
hứng khác nhau dẫn đến các lý giải địa danh cũng khác nhau. Một bên là giải
thích về nơi thờ tự nhân vật Ông Chúa Tàu, một bên là giải thích về vùng đất
ghi dấu chiến công – Bàu Cỏ Đỏ, một cách gọi vừa đánh dấu chiến thắng của
ta, vừa phản ánh sự thất bại của quân giặc. Riêng truyện Sự tích chùa Quan
Huế, được xây dựng từ cảm hứng ghi nhớ công ơn của người thành lập ngôi
chùa. Dân gian không gọi theo tên ngôi chùa được đặt trên bảng tên, mà gọi
theo tục danh do dân gian gán cho người sáng lập. Họ không biết tên họ chính
xác của ông là gì, chỉ biết ông là một vị quan của triều đình Huế, vì chán ghét
cảnh chém giết mà khoác áo nhà tu, tìm nơi thanh tịnh. So với các truyện khác
thì Am Mả Dộc là truyện đi theo một cảm hứng khác. Nó không phải được
xây dựng trên một cảm hứng ngợi ca, tôn vinh của dân gian xuất phát từ tấm
lòng biết ơn, ngưỡng vọng đối với những con người lập nên công tích để lại
cho đời, mà nó được xây dựng từ một cảm hứng bi thương. Địa danh không
được đặt theo tên của nhân vật mà được đặt theo kết quả hành động của nhân
vật. Nhân vật xuất thân là một thợ săn. Trong một lần ông đã bắn chết con dộc
mẹ, chứng kiến cảnh thương tâm, ông bèn chôn con dộc và xây một cái am.
Theo đó, người đời gọi là Am Mả Dộc. Tại sao nói truyện được xây dựng
theo cảm hứng bi thương? Vì xuất phát từ cảm hứng bi thương mà mới có sự
ra đời của Am Mả Dộc, và cũng chính vì bi thương mà người thợ săn chuyển
sang nghề hốt thuốc. Truyện có nhằm giải thích địa danh chăng? Hay đó chỉ
là một cái cớ về một bài học khuyến thiện đối với loài vật? Cảm hứng toát lên
94
trong truyện dường như không đóng chút bụi của thời gian. Nó quá gần gũi
với con người của chúng ta ngày nay. Liệu rằng đây là truyện dân gian mới
được hình thành của thời kỳ sau này?
Về bước truyện đoạn kết, cần lưu ý đoạn kết của truyện Sự tích Dinh
Ông. Khác với các truyện còn lại, ở truyện này đoạn kết có sự trùng khớp so
với đoạn kết của kiểu cốt truyện lịch sử đó là nhân vật hi sinh, sau đó nhân
dân tưởng nhớ và lập miếu thờ.
Kiểu nhân vật gắn với công thức cốt truyện này là những người thuộc
tầng lớp trên của xã hội. Người là một vị chúa tàu (tức thuyền trưởng bây giờ)
được Chúa Nguyễn Ánh tin tưởng trên bước đường bôn tẩu, trốn tránh quân
Tây Sơn, Ông hết lòng trung thành, đến chết vẫn bám trụ. Một vị là ông Đặng
Văn Tòng, con ông Cả Trước (truyện Ông Cả), giữ chức Phó Lãnh Binh hết
lòng chiến đấu bảo vệ bờ cõi, bảo vệ đời sống của người dân. Một vị là quan
võ của triều đình, không phải ông từ chối nhiệm vụ, mà sau khi hoàn thành
nhiệm vụ, ông mới tìm chốn ẩn danh, tu hành. Chỉ riêng truyện Am Mả Dộc,
nhân vật là một con người bình thường nhưng có một tấm lòng biết hướng
thiện đáng trân trọng.
Hình thức truyện thì kể về địa danh nhưng thực chất truyện lại kể về con
người, lịch sử, qua đó ghi nhớ công lao khai hóa, công ơn của những con
người này đối với lịch sử, địa danh của địa phương. Đôi khi, truyền thuyết địa
danh cũng là một cách khẳng định chủ quyền qua địa danh trên bước đường
mở cõi của ông cha ta. Điển hình là địa danh núi Bà Đen, mỗi tộc người ở
Tây Ninh đều có một truyền thuyết về Bà. Một mặt nó thể hiện tín ngưỡng
của các tộc người, một mặt nó như một sự nhìn nhận, khẳng định “chủ quyền”
về quả núi của tộc người. Bởi vì nơi đó đang thờ vị thần của chính họ.
95
3.2.2.2. Kiểu cốt truyện lấy chủ đề giải thích địa danh làm mục đích
chính.
Kiểu cốt truyện này có công thức cốt truyện sau:
Hoàn cảnh Giải quyết hoàn cảnh Lý giải tên gọi địa danh
Theo công thức cốt truyện này, có các truyện: Sự tích Bến Trường Đổi,
Giếng mạch, Mô súng.
Bước truyện thứ 1 ở các truyện không thuộc cùng một kiểu hoàn cảnh. Ở
truyện Sự tích Bến Trường Đổi là sự tuyệt giao buôn bán của người Chàm
đối với người Pháp, truyện Giếng mạch là sự thiếu nước ngọt trong thời kỳ
còn khan hiếm, truyện Mô súng hoàn cảnh có sự nhập nhằng, vì trước đó đã
hình thành mô súng nhưng tên gọi hoàn toàn khác, đó là một cái mả to chôn
cả 500 đến 700 người bị liên lụy từ sự nổi dậy của Lê Văn Khôi. Đó là một sự
kiện bi thương trong lịch sử.
Bước truyện thứ 2 là giải quyết hoàn cảnh. Do sự chi phối của bước
truyện thứ 1 mà sự giải quyết hoàn cảnh sẽ diễn ra phù hợp với từng cốt
truyện. Để giải quyết hoàn cảnh do người Chàm tạo ra, Pháp phải ra lệnh cho
người Việt vào tận trong xóm ấp người Chàm buôn bán để hàng hóa được lưu
thông. Sự giải quyết hoàn cảnh trong truyện Giếng mạch không do con người
chi phối như ở truyện Sự tích Bến Trường Đổi mà là do một sự ngẫu nhiên,
tình cờ. Không ai ngờ rắng, mạch nước ngọt quý báu lại do trẻ nít chăn trâu
tìm thấy, người ta nghĩ đó là món quà trời ban, mang tính chất ban thưởng.
Đó là lý do tại sao dân gian lại dựng miễu thờ Bà Đen – Lê Sơn Thánh Mẫu
(theo cách gọi của người dân). Dân gian cho rằng không phải tự nhiên mà có
mạch nước ngọt, đó phải là một món quà của thánh thần. Tại sao lại cho rằng
mạch nước xuất phát từ núi Bà Đen? Chẳng phải núi Bà Đen được xem là
biểu tượng linh thiêng của cư dân Tây Ninh sao? Ở cốt truyện Mô Súng, Pháp
tận dụng mô đất cao để cho lính tập bắn súng, bất kể sự thật lịch sử đằng sau
96
mô đất cao ấy là gì?
Bước truyện thứ 3, dân gian sẽ định vị lại sự kiện, nơi chốn đề cập trước
đó bằng một tên gọi, như là một cách thức để lưu dấu những sự kiện đáng nhớ
trong quá khứ địa phương. Tại nơi người Chàm buôn bán, trao đổi với người
Việt được dân gian gọi là Bến Trường Đổi, cách lý giải tên gọi địa danh dựa
theo vị trí địa lý và hành động của con người, cụ thể đó là hành động đổi
chác, bán mua của người Chàm và người Việt. Dân gian không đặt tên riêng
cho giếng nước mà gọi bằng một cái tên nôm na, bình dị – giếng mạch. Mạch
ở đây chỉ là mạch nước hay mang tính chất là một nguồn mạch của sự sống
con người? Về tên gọi Mô súng, dù ngày nay không còn nữa, nhưng vẫn được
người đời gọi tên, có thể đó là thói quen lưu truyền tên gọi. Cách lý giải địa
danh này dựa vào hình thể của một địa điểm và hành động của con người ở
đó.
Từ đó có thể thấy, cách gọi tên địa danh của dân gian rất là đa dạng. Họ
có nhiều cách gọi tên mà chúng ta không thể ngờ tới. Có những địa danh có
trước, sau dân gian mới sáng tạo nên truyện kể giải thích địa danh. Thường
kiểu này chúng ta sẽ có những địa danh tự nhiên, được dân gian gửi gắm ý
thức, tâm thức của mình vào. Và cũng có những truyện kể có trước, sau mới
hình thành địa danh. Thường kiểu này chúng ta có những địa danh hình thành
dưới sự tác động của hoặc có liên quan đến con người.
Trong hai dạng truyện thì dạng truyện kể lấy chủ đề giải thích địa danh
làm mục đích chính lại tỏ ra mờ nhạt trong bộ phận truyền thuyết địa danh ở
địa phương Tây Ninh.
3.2.3. Cấu tạo truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Tây Ninh
3.2.3.1. Kiểu cốt truyện truyền thuyết tín ngưỡng dân gian
Ở kiểu cốt truyện truyền thuyết tín ngưỡng dân gian, các truyện được
quy đình theo ba dạng công thức cốt truyện tuần tự như sau:
1/ Giới thiệu nơi thờ tự, tín ngưỡng Sự linh thiêng Kết thúc
97
Ứng với công thức cốt truyện này có các truyện: Chùa Ông Thánh
Công, Chuyện ở Đình Gia Lộc, Chuyện ở Đình Thạnh Đức, Chuyện ở
Miếu Đại Thần Huỳnh Công Thắng.
Trên cơ sở đó các truyện này cơ bản giống nhau ở các bước, chỉ có bước
truyện thứ 2 là sự linh thiêng được thể hiện khác biệt giữa truyện Chùa Ông
Thánh Công với các truyện còn lại.
Ở truyện Chùa Ông Thánh Công sự linh thiêng được thể hiện qua hai
trình tự. Thứ nhất là hình thức thể hiện sự linh thiêng, thứ hai là kiểm chứng
sự linh thiêng. Hình thức thể hiện sự linh thiêng là qua việc trừ bệnh cho dân
lành thường kỳ. Sự kiểm chứng đến từ những người theo đạo Công giáo,
nhưng cuối cùng họ vẫn phải thừa nhận. Niềm tin của dân gian đã chiến
thắng. Vai trò của niềm tin trong tín ngưỡng của dân gian phải là tuyệt đối.
Nó quyết định chi phối tín ngưỡng của dân gian có bền vững với thời gian
hay là bị phủ định theo thời gian. Tín ngưỡng luôn luôn phải đi kèm với niềm
tin.
Ở các truyện Chuyện ở Đình Gia Lộc, Chuyện ở Đình Thạnh Đức,
Chuyện ở Miếu Đại Thần Huỳnh Công Thắng sự linh thiêng được thể hiện
cũng qua hai trình tự. Thứ nhất, là gây ra lỗi lầm, xúc xiểm thần thánh; thứ
hai, là báo ứng, trừng phạt của thần thánh. Rõ ràng, bao giờ yếu tố niềm tin
cũng là vấn đề được đặt ra trong các kiểu cốt truyện tín ngưỡng. Vì thiếu đức
tin nên mới buông lời nhạo báng thần thánh, gây ra những việc làm ngạo mạn.
Ở đây, chúng tôi nhận diện được hai mô-típ, mô-típ thiếu niềm tin (đức
tin) và mô-típ báo ứng – trừng phạt. Mô-típ thiếu niềm tin giữ vai trò dẫn dắt,
tạo tiền đề cho sự xuất hiện của mô-típ báo ứng – trừng phạt. Đây là một cặp
mô-típ sóng đôi với nhau. Có sự tồn tại của mô-típ này tất yếu sẽ có sự tồn tại
của mô-típ còn lại.
Bước truyện thứ 3 là kết thúc. Kết thúc ở truyện Chùa Ông Thánh Công
98
rất đơn giản, những người thiếu đức tin đã thừa nhận sự linh thiêng. Còn kết
thúc ở các truyện Chuyện ở Đình Gia Lộc, Chuyện ở Đình Thạnh Đức,
Chuyện ở Miếu Đại Thần Huỳnh Công Thắng là sự hối lỗi, sửa sai của
những nhân vật “lầm lỡ” với thánh thần. Bao giờ các nhân vật này biết hối lỗi,
sửa sai thì mô-típ báo ứng – trừng phát sẽ kết thúc “đời sống” của nó trong sự
diễn biến của truyện.
Nguồn gốc nhân vật Đạp đồng Công tích nhân vật Thờ phụng 2/
Ứng với công thức cốt truyện này chỉ có truyện Ông thần Hai ở đình
Long Thành. Truyện nghe ra có vẻ hoang đường nhưng lại được lưu truyền
trong nhân dân, sống trong tâm thức của nhân dân. Điều đáng nói là truyện
mới chỉ bắt đầu cuộc sống trong khoảng hơn chục năm trở lại đây. Cái mốc
đánh dấu sự ra đời của truyện là việc tu sửa Lăng mộ Đức Đại Thần Trần Văn
Thiện và đình Long Thành. Công tích của nhân vật được ghi dấu qua việc kêu
gọi tu sửa hai cơ sở thờ tự tín ngưỡng này. Điều đáng nói ở đây là công tích
của nhân vật được thực hiện qua hình thức đạp đồng. Tức là nhân vật thực
hiện công tích một cách gian tiếp. Niềm tin của nhân dân càng được củng cố
hơn qua nguồn gốc nhân vật, đó là ông Hai Giáo Văn – một chức sắc của Đạo
Cao Đài. Từ niềm tin tín ngưỡng dân gian, người ta chuyển vào niềm tin tôn
giáo, và từ niềm tin tôn giáo, quay trở lại củng cố niềm tin trong tín ngưỡng
dân gian.
3/ Hoàn cảnh nhân vật Khấn vái Thành công Thực hiện lời khấn
Ứng với công thức cốt truyện này là truyện Thần đình Long Chữ.
Truyện gửi gắm đức tin vào tín ngưỡng dân gian qua mô-típ khấn vái, cầu
xin. Khi đạt được sở nguyện, người ta không tin vào khả năng của chính
mình, mà cho rằng đó là sự phò trợ, phù hộ của thần thánh. Quan niệm thiên
nhân tương ứng một lần nữa lại được đề cập đến. Thành công của nhân vật
chính là kết quả của quan niệm thiên nhân tương ứng, người ta cho rằng có
cầu ắt có đắc. Có thể vì quan niệm truyền thống này mà niềm tin của tín
99
ngưỡng dân gian nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung mới có sức sống
bền vững với thời gian đến vậy trong tâm thức dân gian.
Truyện nghe có vẻ là đi giải thích vì sao vị thần ở đình Long Chữ lại thờ
Quan Đại thần Huỳnh Công Thắng, nhưng theo chúng tôi đó chỉ là cái cớ, cái
chính là mục đích khẳng định đức tin của dân gian đối với vị thần được dân
gian chiêm bái, phụng thờ.
3.2.3.2. Kiểu cốt truyện truyền thuyết có liên quan đến tôn giáo
Chúng tôi gọi đây là kiểu cốt truyện truyền thuyết có liên quan đến tôn
giáo chứ không phải là truyền thuyết tôn giáo, vì ở đây truyện không tập trung
vào việc lý giải nguồn gốc, xuất thân, hành trạng của một nhân vật tôn giáo,
không nhằm tuyên truyền giáo thuyết tôn giáo mà chủ yếu là hướng đến
những việc làm mang tính chất đời thường của họ nhưng có sự chêm xen của
yếu tố kỳ bí, góp phần ca ngợi công tích của họ. Các truyện trong nhóm này
có thể kể đến như: Sự tích Ông Đá nứt hai trên núi Điện Bà, Sự tích về việc
thành lập Điện Bà, Ông Trung - Chưởng quản Phước Thiện - đi chơi núi
Bà, Đức Hộ Pháp xử án, Báu vật lấy từ núi Bà, Đi lấy vàng ở núi Bà Đen.
Ở kiểu cốt truyện truyền thuyết có liên quan đến tôn giáo, có các truyện
tuân theo năm dạng công thức cốt truyện tuần tự như sau:
Ứng với công thức cốt truyện này có truyện Sự tích Ông Đá nứt hai
1/ Sự kiện, hoàn cảnh Giải quyết hoàn cảnh Kết thúc
trên núi Điện Bà. Truyện không có yếu tố huyền hoặc, kỳ ảo nhưng lại có
yếu tố thần kỳ. Giải thích sự thần kỳ này, dân gian cho rằng đó là do lòng
thành của ông Đạo nhỏ Tánh Thiền. Ở đây, chúng tôi nhận diện được mô-típ
lòng thành cảm động trời đất, làm cho những việc không thể nào có thể xảy ra
trong đời sống lại xảy ra và bày ngay trước mắt. Sự kiện cần được giải quyết
đó là tảng đá to chắn ngang lối đi, Tổ Tánh Thiền thương dân khó nhọc nên
Tổ đã tụng kinh cầu nguyện bên tảng đá 100 ngày, điều kỳ diệu đã hiển hiện.
100
Đó là sự linh ứng – đá nứt hai, chừa lối đi lên chùa Hang. Trong dân gian,
mỗi khi cầu xin trời đất việc gì, người ta hay lấy móc 100 ngày để thử thách
lòng thành. Trong truyện có sự xuất hiện của hai mô-típ, mô-típ lòng thành và
mô-típ 100 ngày. Trong đó mô-típ lòng thành được xem là mô-típ quan trọng,
dẫn dắt mô-típ 100 ngày. Truyện được hình thành bởi quan niệm thiên nhân
tương ứng của dân gian.
Giới thiệu hoàn cảnh Linh hiển Xuất hiện cốt tượng Thờ phụng 2/
Ứng với công thức cốt truyện này có truyện: Sự tích việc thành lập Điện
Bà. Công thức cốt truyện này giống với một bản kể của Bà Chúa Xứ núi Sam
chỉ khác ở chi tiết là được thỉnh bởi các cô gái đồng trinh chứ không phải như
ở đây được thỉnh bởi nhà sư Đạo Trung – đại diện của Phật giáo. Rõ ràng đã
có một sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo (Vấn đề đã được
chúng tôi nói qua trong khi đề cập đến bản kể Sự tích núi Bà Đen). Bản kể
này có thể được ảnh hưởng từ bản kể về Bà Chúa Xứ hay không? Vì các bản
kể khác hoàn toàn không nhắc tới sự xuất hiện một cách thần kỳ của cốt
tượng Bà Đen, có chăng là tình tiết Chúa Nguyễn Ánh cho người đúc cốt
tượng Bà Đen mà thôi. Phải chăng bản kể này đã thật sự ra đời từ sau khi dân
gian tiếp xúc với huyền tích về Bà Chúa Xứ, nhưng đã có sự chỉnh sửa cho
phù hợp với đặc điểm của địa phương, đó là sự hiện diện của Đạo Phật trên
núi Bà Đen từ trước đó.
Ứng với công thức cốt truyện này là truyện Ông Trung - Chưởng quản
3/ Hoàn cảnh sự kiện Chứng kiến điềm lạ Kết thúc
Phước Thiện - đi chơi núi Bà.
Ở truyện này, chúng tôi đặc biệt lưu ý mối quan hệ giữa ông Trung và
nhà sư trên núi Bà Đen. Qua đó, cho thấy mối quan hệ giao hảo giữa Đạo Cao
Đài và Phật Giáo. Các tôn giáo ở Nam Bộ không khắt khe phân biệt, bài trừ
lẫn nhau, ngược lại là sự hòa thuận, “chung sống” với nhau trên bước đường
101
truyền đạo, giáo hóa con người – tín đồ. Đó là dấu vết của quan niệm tam
giáo đồng nguyên được khởi thủy ngay từ thời cha ông Lý – Trần. Với dân
gian thì mọi tôn giáo đều có chung một nguồn gốc, một mục đích (tam giáo
đồng quy). Chẳng phải vua Trần Thái Tông – một vị vua sùng Phật (viết
nhiều về tư tưởng Phật giáo, đơn cử là Khóa hư lục) đã từng nói “khi chưa tỏ
thì người đời còn lầm lẫn phân biệt Tam giáo, chừng đạt tới gốc rồi thì cùng
ngộ một tâm”. Giữa các tôn giáo nên là tình giao hảo, đó mới là điều đúng
đắn theo ý nguyện dân gian.
Trong truyện có sự xuất hiện của mô-típ thú vật canh giữ núi rừng qua
tình tiết con cọp ra cản đường, và nghe lời nhà sư - chủ nhân ở đó. Đây là mô-
típ thường thấy xuất hiện trong các truyện bàn về những bậc căn tu, đạo hạnh
có thể cảm hóa thú dữ. Mô-típ này còn xuất hiện trong truyện Báu vật lấy từ
núi Bà.
Hình ảnh ao sen huyền bí trên núi Bà mà ông Trung được nhà sư dẫn
đường đi dạo có phải cũng là hình ảnh ao sen xuất hiện trong truyện Báu vật
lấy từ núi Bà? Ao sen ấy theo lời nói của nhà sư không phải ai cũng đến
được, chỉ ai may duyên lắm mới được vô tình đến đây một lần. Liệu đó có
phải là cảnh tiên kỳ ảo được truyền tụng trong dân gian mà Trịnh Hoài Đức
Núi này cao lớn, trấn hạt đều trông thấy cả… trên núi có chùa Vân Sơn,
dưới có ao hồ, cảnh trí thực là u nhã, xung quanh rừng có hổ sâu thẳm
bao la… Lại có đồ xưa bằng vàng ngọc, người ta thường đào được,
tương truyền có khi trông thấy cả chuông vàng trong hồ, cũng giống như
việc cái khánh nổi ở bến sông Tứ, cái chuông thấy được ở bến sông
Gianh vậy, nhưng đến gần thì biến mất. Lại có đêm trời quang mây tạnh,
thấy có thuyền rồng bơi lượn hát du dương, lại thấy con rùa vàng lớn hơn
một trượng bất thần bơi lượn trong hồ, như vậy là do linh khí tụ lại, chứ
không phải là việc quái đản.
đã ghi chép lại trong Gia Định thành thông chí?
102
Huyền thoại dân gian xung quanh núi Bà Đen quả là phong phú vô cùng.
Đây là những huyền thoại được lưu truyền có thể có trước khi có những bản
kể về sự tích Bà Đen.
Ứng với công thức cốt truyện này có truyện Đức Hộ Pháp xử án.
Bối cảnh sự kiện Nhân vật nằm mộng và xử án Kết thúc 4/
Truyện mang tính chất giải oan. Theo quan niệm của dân gian, những người
thác oan thường không đi đầu thai mà cứ mãi vương vấn trần gian, chưa kể họ
còn bị phạt vì cái tội chưa hết số mệnh mà tự vẫn, theo dân gian đó là một cái
tội rất nặng. Quan niệm này được đi thẳng vào Đạo Cao Đài. Chính vì thế,
câu chuyện đã để cho vị giáo chủ Đạo Cao Đài, người có đủ quyền năng để
giải oan, xóa tội cho các vong hồn. Câu chuyện nghe ra rất ly kỳ, yếu tố kỳ ảo
nằm mộng và xử án trong mộng trong truyện, góp phần khẳng định huyền vi
mầu nhiệm của Đức Hộ Pháp. Đức Hộ Pháp được Đức Chí Tôn ban đặc ân để
nghe lại được tình tiết sự kiện cái chết của ba con người. Sự xuất hiện gián
tiếp của Đức Chí Tôn ẩn tàng bóng dáng của nhân vật phò trợ, một quyền
năng thiêng liêng, giúp đỡ nhân vật chính hoàn thành nhiệm vụ.
Cần phải lưu ý một đặc điểm là cư dân Tây Ninh có quá nửa là tín đồ
Đạo Cao Đài. Nên việc hình ảnh Đức Hộ Pháp xuất hiện như một vị quan tòa
để giải quyết một vụ án bi thương trong ký ức của dân gian là điều dễ hiểu.
Truyện thể hiện đậm đặc quan niệm duy hồn của dân gian. Hình ảnh gò
đất cao ở một thế đất hoang vắng dễ tác động vào suy nghĩ của dân gian như
là những nấm mộ nhiều hơn. Có thể thấy điều này ở truyện Sự tích Dinh
Ông, nơi ông Chúa Tàu hi sinh sau hóa thành một gò đất cao, tại đó người ta
lập dinh thờ Ông. Gò đất ấy không là ngôi mộ theo quan niệm của dân gian
thì đó là gì? Có thể chỉ là do biển hóa cồn dâu, nhưng qua tâm thức của người
dân, sự thật đôi khi chỉ còn là “cốt lõi”, là hình bóng chứ không phải là
nguyên trạng. Nội dung phản ánh trong truyện dân gian tuân theo sự sáng tạo
103
của dân gian, ở nếp cảm, nếp nghĩ của dân gian.
Ứng với công thức cốt truyện này là hai truyện Báu vật lấy từ núi Bà, Đi
5/ Được giao nhiệm vụ Thực hiện nhiệm vụ Hoàn thành nhiệm vụ
lấy vàng ở núi Bà. Hai truyện đều có chung một chủ đề là đi lấy báu vật,
cùng một địa điểm là ở núi Bà Đen. Một lần nữa lại đề cập đến núi Bà Đen.
Núi Bà Đen là biểu tượng linh thiêng của Tây Ninh. Đó có phải là lý do xuất
hiện nhiều bản kể xoay quanh núi Bà Đen với nhiều chủ đề khác nhau. Có thể
là đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp. Điểm khác nhau ở hai truyện là nhân vật
thực hiện nhiệm vụ. Nếu như ở truyện Đi lấy vàng ở núi Bà, Đức Hộ Pháp là
nhân vật giao nhiệm vụ, các đệ tử là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thì ở
truyện Báu vật lấy từ núi Bà, Đức Hộ Pháp chính là nhân vật trực tiếp thực
hiện nhiệm vụ, các đệ tử chỉ là người đồng hành.
Bước truyện thứ 2 thực hiện nhiệm vụ xuất hiện tình tiết kỳ ảo ở cả hai
truyện. Trong truyện Báu vật lấy từ núi Bà là các tình tiết Đức Hộ Pháp chấp
bút để hỏi ý các Đấng Thiêng liêng, tình tiết tránh đường của các thú dữ cho
Đức Hộ Pháp đi, tình tiết ngủ mê của các tín đồ và tình tiết uống nước thạch
nhũ làm cho người khỏe mạnh, không đói khát. Các tình tiết đó càng làm tăng
thêm tính chất kỳ bí. Phải chăng chỉ có người tu hành đắc đạo, với sự giúp đỡ
của Ơn Trên thì mới tìm được đường đi tìm báu vật? Không có sự giúp đỡ của
thần nhân thì không thể đến được? Như ở truyện Đi lấy vàng ở núi Bà, các đệ
tử nhớ đường, quay lại lần hai, nhưng lạ một điều đi đúng đường cũ mà cứ
mãi loanh quanh một chỗ. Ở đây rõ ràng có sự can thiệp của thần nhân một
cách vô hình. Phải có sự cho phép, phò trợ của họ thì mới được vào lấy “báu
vật”. Bởi vì ở đây họ giữ trách nhiệm canh đường giữ lối. Đó có phải là một
trong những nguyên nhân làm cho núi rừng lúc nào cũng mang tính chất hiểm
trở và đầy tính huyền bí?
Riêng truyện Đi lấy vàng ở núi Bà có thêm phần vĩ thanh, đó là sự liên
104
lạc vô hình giữa Đức Hộ Pháp và Linh Sơn Thánh Mẫu khi Đức Hộ Pháp bị
đày ở hoang đảo Madagasca trong thời kỳ Pháp thuộc. Yếu tố niềm tin mãnh
liệt của dân gian rằng giữa các vị thần, các đấng tối cao đều có sự liên lạc, đều
có mối quan hệ với nhau. Vấn đề ở đây tại sao trong tập hợp các Đấng đến
thăm hỏi Đức Hộ Pháp lại có sự “góp mặt” của Bà Đen – Linh Sơn Thánh
Mẫu? Bằng một lý do hết sức hợp lý, dân gian đã lý giải điều đó. Nhưng dân
gian không lý giải tại sao Bà Đen lại xuất hiện mà không phải là một vị Thánh
Mẫu nào khác, họ chỉ lý giải tại sao có sự thông báo trước sự xuất hiện của
Bà. Tín ngưỡng dân gian Bà Đen chẳng những có mối liên hệ mật thiết với
Phật giáo mà còn có mối quan hệ thân tình với Đạo Cao Đài. Liệu rằng đó là
cách thức đến gần dân gian của mọi tôn giáo? Để gần gũi, hợp nhứt với lòng
dân, các tôn giáo đã đi đến “dung hòa”, “kết thân” với tín ngưỡng dân gian
bản địa.
Hai truyện đều tập trung vào chủ đề thể hiện sự huyền vi mầu nhiệm của
Tạo hóa, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của Đức Hộ Pháp, cũng như sự
thông linh với thần thánh. Sự liên lạc, phò trợ của thần thánh trong truyện có
liên quan đến tôn giáo Cao Đài hầu như đã trở thành đặc trưng, mang tính
chất công thức không thể thiếu. Nó có vai trò thúc đẩy nhiệm vụ được hoàn
thành.
Truyền thuyết tín ngưỡng dân gian và tôn giáo Tây Ninh là một bộ phận
phản ánh đắc lực nhất đời sống văn hóa - tín ngưỡng của cư dân Tây Ninh bên
cạnh nhóm truyền thuyết lịch sử.
105
Tiểu kết chương 3
Chúng tôi xin kết lại vài điều sau:
Thứ nhất, sự phân chia các biến thể truyền thuyết chỉ là tương đối, giữa
các biến thể truyền thuyết vẫn có sự đan xen, hòa trộn trong nhau.
Thứ hai, truyền thuyết Tây Ninh thiếu tính chất thần kỳ do xuất hiện ở
giai đoạn muộn, chính vì vậy nó phản ánh lịch sử đậm đặc hơn. Một số không
ít truyền thuyết mang bóng dáng của một văn bản biên niên sử nhưng đã được
dân gian hóa. Một số truyền thuyết lịch sử có thể được xếp vào nhóm nhỏ hơn
đó là nhóm truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết khẩn hoang do chức năng
phản ánh của nó.
Thứ ba, một nét riêng đặc trưng về đề tài của truyền thuyết Tây Ninh là
một số lượng không nhỏ truyền thuyết Tây Ninh (dù là được xếp vào nhóm
biến thể truyền thuyết nào) trên một mức độ nhất định đều có liên quan đến
núi Bà Đen, Thánh Mẫu Bà Đen. Từ đó, có thể kết luận núi Bà Đen, Thánh
Mẫu Bà Đen chính là biểu tượng của văn hóa – tín ngưỡng Tây Ninh.
Thứ tư, trong hệ thống truyền thuyết Tây Ninh có sự tồn tại của các loại
mô-típ phổ biến trong hệ thống truyền thuyết Nam Bộ, truyền thuyết dân tộc.
Tuy không xuất hiện dày đặc nhưng sự xuất hiện của các mô-típ này (mô-típ
hiển linh, âm phù, mô-típ điềm báo,…) cũng khẳng định một điều rằng truyền
thuyết Tây Ninh là một bộ phận trong hệ thống truyền thuyết cộng đồng, dân
tộc.
106
KẾT LUẬN
Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian địa phương chưa bao giờ cũ kể từ
ngày nó được giới nghiên cứu, sưu tầm nhận diện và đề xuất. Nghiên cứu đề
tài Truyện dân gian Tây Ninh, chúng tôi cũng đi theo tiếng gọi cấp thiết đó.
Việc sưu tầm, thẩm định, bảo lưu, và giữ gìn di sản văn học dân gian địa
phương, vùng miền có lẽ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là lạc hậu.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi trên cơ sở sưu tầm, nghiên cứu nguồn
tư liệu truyện dân gian Tây Ninh đã đạt được những kết quả bước đầu.
Thứ nhất, chúng tôi đã sưu tầm và hệ thống hóa lại nguồn truyện dân
gian Tây Ninh. Nguồn truyện này phản ánh lại một quá trình khẩn hoang,
quần tụ dân cư, thiết lập xóm, ấp trong thời kỳ đầu – thời kỳ “mở cõi” của cha
ông. Do đặc thù phản ánh của nó, nên trong cơ cấu thể loại truyện dân gian
Tây Ninh, thể loại truyền thuyết xuất hiện và tồn tại phong phú, bền vững hơn
các thể loại khác và sức sống của thể loại này vẫn đương mạnh hơn các thể
loại khác. Đó là một nét đặc trưng của truyện dân gian Tây Ninh đồng thời
cũng là nét chung trong mối quan hệ với tình hình truyện dân gian vùng Nam
Bộ. Tuy nhiên, nếu như truyện cười là một thể loại tự sự dân gian xuất hiện
dày đặc trong cơ cấu tự sự dân gian của Nam Bộ vào thời kỳ sau này thì ở
Tây Ninh, truyện cười xuất hiện không nhiều, nếu có cũng không thể hiện
được dấu ấn địa phương. Giai thoại cũng là một thể loại phát triển mạnh ở
Nam Bộ nhưng ở Tây Ninh cũng tỏ ra “khan hiếm”.
Thứ hai, chúng tôi đã nhận diện được các kiểu cốt truyện, các kiểu nhân
vật truyền thuyết Tây Ninh hoàn toàn khác so với truyền thuyết Bắc Bộ. Tức
là, nó không tuân theo công thức cũ và cũng hoàn toàn thiếu vắng yếu tố thần
kỳ trong truyện (nguồn gốc xuất thân, phép lạ,…). Về đại thể các kiểu cốt
truyện và các kiểu nhân vật truyền thuyết Tây Ninh có sự gặp gỡ với truyền
107
thuyết Nam Bộ, truyền thuyết đồng bằng Sông Cửu Long. Đó là các kiểu
nhân vật tiền hiền, hậu hiền có công khai hoang lập ấp, kiểu nhân vật anh
hùng chống giặc ngoại xâm thời kỳ mở cõi, kiểu nhân vật tôn giáo,… Điểm
riêng, đặc trưng của truyền thuyết Tây Ninh so với truyền thuyết Nam Bộ
được thể hiện qua dấu tích, vết tích của địa danh, con người Tây Ninh được
soi chiếu trong truyện. Tuy nhiên, kiểu truyện về anh hùng kháng Pháp ở Tây
Ninh lại được biểu hiện mờ nhạt so với Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Song song đó là sự tồn tại của các mô-típ, các mô-típ này vẫn giữ nguyên
chức năng truyền thống của nó. Bên cạnh đó, cũng có một số mô-típ được
xuất hiện với những hình thức mới. Đơn cử như mô-típ điềm báo, bên cạnh
hình thức cũ là báo mộng, thì trong truyền thuyết Tây Ninh còn kèm theo hình
thức đạp đồng.
Thứ ba, chúng tôi đã bước đầu thẩm định mối quan hệ giữa tín ngưỡng
dân gian và các tôn giáo bản địa (tín ngưỡng dân gian và Phật giáo, tín
ngưỡng dân gian và Đạo Cao Đài), cũng như mối quan hệ giữa các tôn giáo
(Phật giáo và Đạo Cao Đài) với nhau. Mối quan hệ này được xây dựng dựa
trên tình giao hảo, sự gắn kết, thắt chặt chứ không phải là sự bài xích, chống
đối lẫn nhau. Mối quan hệ hòa hợp này như truyền thống văn hóa dân tộc đã
làm nên bản sắc đó là sự dung hợp của các tôn giáo. Tây Ninh là nơi phát tích
của Đạo Cao Đài, được nhân dân gọi là “đất Đạo”, “vùng đất Thánh Địa”.
Cho nên, Đạo Cao Đài được coi là “cái rốn” của văn hóa – tín ngưỡng ở Tây
Ninh. Cũng như núi Bà Đen và Thánh Mẫu Bà Đen là biểu tượng của Tây
Ninh không chỉ ở tín ngưỡng mà cả trong diện rộng đời sống.
Thứ tư, kết quả sưu tầm điền dã truyện dân gian Tây Ninh của cá nhân
chúng tôi chưa phải là kết quả cuối cùng. Công tác sưu tầm, điền dã vẫn có
thể tiếp tục ở một phạm vi rộng hơn với một khoảng thời gian dài hơn và với
nhiều kinh nghiệm hơn, có thể sẽ mang lại một kết quả phong phú hơn về
nguồn truyện. Sẽ còn đó những bí ẩn văn hóa – tín ngưỡng chưa được lý giải
108
thỏa đáng.
Việc nghiên cứu đề tài này, đã góp phần đặt ra những nhiệm vụ nghiên
cứu còn để ngỏ đó là: Sự vận động của truyện dân gian trong chỉnh thể văn
học dân gian Tây Ninh, Đặc trưng của truyện dân gian Tây Ninh trong mối
tương quan với đặc trưng của truyện dân gian Nam Bộ, và các đề tài nghiên
cứu các mảng khác của văn học dân gian Tây Ninh như Đặc trưng Ca dao dân
ca Tây Ninh, bởi vị bộ phận ca dao dân ca được phát triển rất là dồi dào và
mạnh mẽ ở Tây Ninh, nguồn ca dao dân ca ở địa phương rất phong phú. Cũng
từ đề tài nghiên cứu của chúng tôi, thiết nghĩ nên nghiên cứu truyện dân gian,
văn học dân gian của các địa phương khác.
109
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Thị An (1994) “Nghiên cứu truyền thuyết – Những vấn đề đặt ra”,
Tạp chí Văn học, (7), tr.34-37.
2. Trần Thị An (1999) “Truyện kể địa danh - Từ góc nhìn thể loại”, Tuyển
tập 40 năm Tạp chí văn học (tập 1) – Văn học dân gian, tr.591-605.
3. Trần Thị An (2001) “Văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam – nhìn từ
cuối thế kỷ XX”, Tạp chí Văn học, (5), tr.56-64.
4. Trần Thị An (2003) “Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền
thuyết dân gian người Việt”, Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập
19) – Nhận định và tra cứu, tr.724-744.
5. Nguyễn Chí Bền (2003), Văn hóa dân gian Việt Nam – Những phác thảo,
Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
6. Phan Xuân Biên (2004), Miền Đông Nam Bộ con người và văn hóa, Nxb
Đại học Quốc gia Tp. HCM, Tp. HCM.
7. Trần Đức Các (1978) “Về việc điều tra văn học dân gian từ một điểm đến
việc nghiên cứu một thể loại”, Tạp chí Văn học, (3), tr.89-98.
8. Nông Quốc Chấn (1974) “Nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam trong
mối quan hệ giữa các dân tộc”, Tạp chí Văn học, (1), tr.7-9.
9. Võ Phúc Châu (2010), Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa
chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn,
Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, Tp. HCM.
10. Võ Phúc Châu (2011), Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa
chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918), Nxb Thời đại, Hà Nội.
11. Nguyễn Đổng Chi (1971) “Qua việc khoanh vùng sưu tầm văn học dân
gian tại một xã thí điểm”, Tuyển tập 40 năm Tạp chí văn học (tập 1) –
Văn học dân gian, tr.143-158.
12. Nguyễn Nghĩa Dân (1978), Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 1: Văn học
110
dân gian, phần I, chương II & III), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
13. Chu Xuân Diên (2008), Nghiên cứu văn hóa dân gian, phương pháp, lịch
sử, thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
14. Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc bằng Type và Mô-típ,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
15. Cao Huy Đỉnh (1968) “Vị trí của văn học dân gian từng làng trong khoa
nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam”, Tổng tập văn học dân gian
người Việt (tập 19) – Nhận định và tra cứu, tr.153-167.
16. Cao Huy Đỉnh (1969), Người anh hùng làng Dóng, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
17. Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Đình Chú, Đặng Nghiêm Vạn (1969), Phương
pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn, Hà Nội.
18. Cao Huy Đỉnh (1976), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
19. Nguyễn Xuân Đức (2001) “Vấn đề phân loại truyện dân gian”, Thông báo
văn hóa dân gian 2001, tr.356-365.
20. Nguyễn Bích Hà (1986) “Bước đầu tìm hiểu nguồn truyện kể địa danh
Việt Nam”, Tuyển tập 40 năm Tạp chí văn học (tập 1) – Văn học dân
gian, tr.416-421.
21. Vũ Tố Hảo (2001) “Tìm hiểu quan điểm lịch sử của nhân dân qua văn học
dân gian”, Thông báo văn hóa dân gian 2001, tr.366-381.
22. Đỗ Thị Hồng Hạnh (2011) “Một số tiêu chí để nhận diện thể loại truyền
thuyết dân gian vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Khoa học xã
hội, (1), tr.32-42.
23. Nguyễn Văn Hầu (2004), Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ (2 tập),
Nxb Trẻ, Tp. HCM.
24. Nguyễn Ngọc Hiệp (2001) “Phương pháp sưu tầm và sắp xếp các tư liệu
folklore của Arnold Van Gennep”, Thông báo văn hóa dân gian 2001,
111
tr.584-596.
25. Nguyễn Hữu Hiếu (1987), Truyện kể dân gian Nam Bộ, Nxb Tp. HCM,
Tp. HCM.
26. Nguyễn Hữu Hiếu (1997), Nam kỳ cố sự: chuyện kể Nam Bộ, Nxb Đồng
Tháp, Đồng Tháp.
27. Nguyễn Hữu Hiếu (2011), Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nxb
Thanh niên, Tp. HCM.
28. Kiều Thu Hoạch (1971) “Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong
kiến”, Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian
Việt Nam, tr.172-232.
29. Kiều Thu Hoạch (2003) “Về khái niệm văn học dân gian”, Tạp chí Văn
học, (12), tr.7-15.
30. Nguyễn Thị Huế (2001) “Thế kỷ XX và việc sưu tầm nghiên cứu truyện
cổ dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn học, (6), tr.55-62.
31. Hồ Quốc Hùng (1998) “Về nhóm truyền thuyết khẩn hoang ở một vùng
đất mới”, Tạp chí Văn học, (4), tr.71.
32. Hồ Quốc Hùng (1999), Những đặc trưng cơ bản của truyện dân gian vùng
Thuận Hóa, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM.
33. Hồ Quốc Hùng (2003), Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại, Nxb
Trẻ, Tp. HCM.
34. Văn Đình Hy (1979) “Quá trình chuyển hóa từ Pô I-nư Nư-ga (Chàm) đến
Thiên Y A Na (Việt), Tạp chí Văn học, (6), tr.45-57.
35. Jan-Ojvind Swahn (Trần Thị An dịch) (1996) “Các trường phái nghiên
cứu truyện cổ dân gian trên thế giới”, Tạp chí Văn học, (1), tr.50-54.
36. Nguyễn Xuân Kính (1989), Văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
37. Nguyễn Xuân Kính (1991), Thi pháp học và việc nghiên cứu văn học
112
nghệ thuật dân gian, Tạp chí Văn hóa dân gian, (3), tr.3-11.
38. Đinh Gia Khánh (1967) “Văn học dân gian các địa phương và vai trò của
nghệ nhân dân gian”, Tạp chí Văn học, (1), tr.76-80.
39. Đinh Gia Khánh (1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn
hóa Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
40. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2006), Văn học dân
gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
41. Vũ Ngọc Khánh (2000), Chuyện kể địa danh Việt Nam, Nxb Thanh niên,
Hà Nội.
42. Vũ Ngọc Khánh (2005), Hành trình vào thế giới folklore Việt Nam, Nxb
Thanh niên, Tp. HCM.
43. Lê Văn Kỳ (1997), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và Hội lễ
về các anh hùng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
44. Nguyễn Quang Lê (2011), Nhận diện bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền
thống người Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
45. Trần Gia Linh (1991) “Văn học dân gian hôm nay”, Tạp chí Văn học, (2),
tr.44-49.
46. Dương Hoàng Lộc (2005) “Mấy suy nghĩ về tính khoan dung trong văn
hóa Nam Bộ”, Tạp chí Khoa học xã hội, (3), tr.68-71.
47. Đặng Văn Lung (1977) “Ý nghĩa của việc nghiên cứu diễn xướng dân
gian”, Tạp chí Văn học, (6), tr.19-28.
48. Đặng Văn Lung (1981) “Vấn đề vùng văn nghệ dân gian”, Tạp chí Văn
học, (6), tr.114-121.
49. Đặng Văn Lung (1991) “Tư duy mới về văn nghệ dân gian”, Tạp chí Văn
học, (4), tr.40-42.
50. Huỳnh Lứa (2000), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII,
XVIII, XIX, Nxb Khoa học xã hội,Tp. HCM.
51. Nguyễn Văn Mạnh (2002) “Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội
113
hiện đại”, Tạp chí Văn hóa dân gian, (2), tr.3.
52. Huỳnh Minh (1971), Tây Ninh xưa và nay, Tác giả xuất bản, Sài Gòn.
53. Sơn Nam, Tô Nguyệt Đình (2006), Chuyện xưa tích cũ, Nxb Trẻ, Tp.
HCM.
54. Tăng Kim Ngân (1991) “Khái niệm cốt truyện và sự phân biệt giữa cốt
truyện của tác phẩm văn học thành văn với cốt truyện trong truyện kể
dân gian”, Tạp chí Văn hóa dân gian, (3), tr.16-20.
55. Trần Đức Ngôn (1991) “Lý thuyết hình thái học của V.Ia.Prốp và truyện
cổ tích thần kỳ của người Việt”, Tạp chí Văn hóa dân gian, (3), tr.12-
15.
56. Bùi Mạnh Nhị (1985) “Tiếp cận văn học dân gian địa phương từ đặc trưng
của văn học dân gian”, Tạp chí Văn học, (3), tr.117-123.
57. Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2003), Văn học
Việt Nam, Văn học dân gian, Những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo
dục, Tp. HCM.
58. Nhiều tác giả (1990), Văn hóa dân gian những phương pháp nghiên cứu,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
59. Nhiều tác giả (2003), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 4 & 5)–
Truyền thuyết dân gian người Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
60. Nhiều tác giả (2003), Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 11) –
Giai thoại văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
61. Nhiều tác giả (2005), Tuyển tập V.IA.PROPP (Tập II, Phần FOLKLORE
VÀ THỰC TẠI, Chu Xuân Diên và Trần Thị Phương Phương dịch),
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
62. Nhiều tác giả (2006), Địa chí Tây Ninh, Tây Ninh.
63. Võ Quang Nhơn (1999), Văn học dân gian Việt Nam (chương hai:
Các thể loại tự sự dân gian), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
64. Lê Chí Quế (2001), Văn hóa dân gian khảo sát và nghiên cứu, Nxb Đại
114
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
65. Lê Trường Phát (1987) “Về hiện tượng xen kẽ giữa văn vần và văn xuôi
trong truyện kể dân gian”, Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập
19) – Nhận định và tra cứu, tr.747-765.
66. Thạch Phương, Lê Trung Vũ (1994), Sáu mươi lễ hội truyền thống Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
67. Nguyễn Minh San (2009), Thần nữ danh tiếng trong văn hóa Việt Nam,
Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
68. Phan Kỷ Sửu (2014), Tìm hiểu Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở Tây
Ninh, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
69. Bùi Quang Thanh (1979) “Về một thể loại văn học dân gian”, Tạp chí Văn
học, (4), tr.125-134.
70. Bùi Quang Thanh (1981) “Tìm hiểu kết cấu của dạng truyền thuyết anh
hùng”, Tuyển tập 40 năm Tạp chí văn học (tập 1) – Văn học dân gian,
tr.349-357.
71. Bùi Quang Thanh (1982) “Truyền thuyết dân gian với tâm lí cộng đồng
người Việt”, Tạp chí Văn học, (2), tr.68-75.
72. Tô Ngọc Thanh (1992) “Vai trò niềm tin trong đời sống văn hóa dân gian
cổ truyền”, Tạp chí Văn học, (5), tr.14-16.
73. Nguyễn Phương Thảo (1994), Huyền thoại miệt vườn: truyện cổ dân gian
các dân tộc Nam Bộ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
74. Ngô Đức Thịnh (1993), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
75. Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam,
Nxb Trẻ, Hà Nội.
76. Phan Kim Thoa (2010) “ “Chất” Nam Bộ trong tín ngưỡng thờ cúng”, Tạp
chí Khoa học xã hội, (5), tr.70-73.
77. Nguyễn Minh Tường (2013) “Tín ngưỡng thờ thần thành hoàng trong các
115
làng xã Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội, (10), tr.96-103.
78. Nguyễn Ngọc Thường (1987) “Về mối quan hệ giữa môtip và các cốt
truyện”, Tạp chí Văn học, (2), tr.57-64.
79. Nguyễn Ngọc Thường (1988) “Môtip người khổng lồ và người anh hùng
văn hóa”, Tạp chí Văn học, (2), tr.50-58.
80. Trần Xuân Toàn (2011), Một số phương pháp điền dã sưu tầm văn học
dân gian, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
81. Hoàng Tiến Tựu (1977) “Vấn đề phân loại văn học dân gian và ý nghĩa
phương pháp luận của nó”, Tạp chí Văn học, (6), tr.7-18.
82. Hoàng Tiến Tựu (1978) “Vấn đề phân vùng văn học dân gian và ý nghĩa
phương pháp luận của nó”, Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập
19) – Nhận định và tra cứu, tr.260-281.
83. Hoàng Tiến Tựu (1982) “Về đối tượng và các bộ phận hợp thành của khoa
văn học dân gian”, Tạp chí Văn học, (1), tr.38-40.
84. Hoàng Tiến Tựu (1983), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu
văn học dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
85. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (1992), Nghìn năm bia miệng –
sự tích và giai thoại dân gian Nam Bộ (2 tập), Nxb Tp. HCM, Tp.
HCM.
86. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (1992) “Một vài thu hoạch từ
những câu chuyện truyền miệng ở mảnh đất phương Nam”, Nghìn năm
bia miệng – sự tích và giai thoại dân gian Nam Bộ, 1, tr.5-30.
87. Huỳnh Ngọc Trảng (2002), Sổ tay hành hương đất phương Nam, Nxb Tp.
HCM, Tp. HCM.
88. Phan Trần (1967) “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử”,
Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt
Nam, tr.141- 157.
89. Đỗ Bình Trị (1991) “Hệ thống thể loại của văn học dân gian”, Tổng tập
116
văn học dân gian người Việt (tập 19) – Nhận định và tra cứu, tr.199-
213.
90. Phạm Trình, Trần Minh (2012), Hành trình lễ hội Việt Nam, Nxb Đồng
Nai, Đồng Nai.
91. Lê Trí Viễn (1994), Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
92. Khúc Nhã Vọng (1992) “Văn hóa nhà chùa trong đời sống folklore Việt
Nam”, Tạp chí Văn học, (4), tr.36-38.
93. Tầm Vu (1967) “Tư tưởng chủ yếu của người Việt thời cổ qua những
truyện đứng đầu trong thần thoại và truyền thuyết”, Tuyển tập 40 năm
Tạp chí văn học (tập 1) – Văn học dân gian, tr.97-110.
94. Nguyễn Khắc Xương (1973) “Tìm hiểu quan hệ giữa thần thoại, truyền
thuyết và diễn xướng tín ngưỡng phong tục”, Văn học Việt Nam, Văn
học dân gian, Những công trình nghiên cứu, tr.153-161.
Tài liệu web
95. Phạm Tuấn Anh (2010) “Một số vấn đề lý luận về nghiên cứu cấu trúc
truyện cổ tích thần kì”.
http://khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&i
d=1573%3Amt-s-vn-ly-lun-v-nghien-cu-cu-truc-truyn-c-tich-thn-
ki&catid=97%3Avn-hoa-dan-gian&Itemid=155&lang=vi
96. Chu Xuân Diên (2011) “Văn học dân gian không có bản chính thức duy
nhất”.
http://khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&i
d=2553%3Avn-hc-dan-gian-khong-co-bn-chinh-thc-duy-
nht&catid=97%3Avn-hoa-dan-gian&Itemid=155&lang=vi
97. Nguyễn Thị Bích Hà (2011) “Tín ngưỡng và giải mã tín ngưỡng trong văn
117
học dân gian người Việt”.
http://khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&i
d=2323%3Atin-ngng-va-gii-ma-tin-ngng-trong-vn-hc-dan-gian-ngi-
vit&catid=97%3Avn-hoa-dan-gian&Itemid=155&lang=vi
98. Đặng Thị Thu Hà (2011)“Yếu tố tôn giáo và truyện cổ tôn giáo trong
truyện kể dân gian Việt Nam”.
http://khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&i
d=2547%3Ayu-t-ton-giao-va-truyn-c-ton-giao-trong-truyn-k-dan-gian-
vit-nam&catid=97%3Avn-hoa-dan-gian&Itemid=155&lang=vi
99. Hồ Quốc Hùng (2010) “Mấy vấn đề về nghiên cứu văn học dân gian qua
văn bản”.
http://khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&vie
w=article&id=2580%3Amy-vn-v-nghien-cu-vn-hc-dan- gian-qua-vn-
bn&catid=97%3Avn-hoa-dan- gian&Itemid=155&lang=vi
PHỤ LỤC
TRUYỆN DÂN GIAN TÂY NINH
Nghiên cứu một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học dân gian thì điều quan trọng
nhất là nguồn tư liệu. Theo đó, để nghiên cứu đề tài Truyện dân gian Tây
Ninh thì cũng cần phải có một nguồn tư liệu – tức nguồn truyện dân gian Tây
Ninh. Như đã trình bày trong phần chính văn, chúng tôi đã sưu tầm và hệ
thống hóa nguồn truyện dân gian Tây Ninh. Để tiện việc nghiên cứu và theo
dõi, chúng tôi lập Phụ lục Truyện dân gian Tây Ninh với tiêu chí sắp xếp
theo tộc người và thể loại. Cụ thể như sau, Phụ lục được chia làm hai phần:
truyện dân gian người Việt và truyện dân gian người Khmer. Trong truyện
dân gian người Việt được chia ra làm 4 mục nhỏ theo tiêu chí thể loại với thứ
tự như sau: thần thoại, giai thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết. Trong truyền
thuyết, chúng tôi sắp xếp các truyện theo các biến thể truyền thuyết: truyền
thuyết địa danh, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết tôn giáo. Trong mỗi
nhóm thể loại và biến thể của thể loại thì chúng tôi sắp xếp tên truyện theo
trật tự của bảng chữ cái.
Chúng tôi xin được bảng hóa danh mục sắp xếp truyện dân gian Tây Ninh ở
Phụ lục này như sau:
PHỤ LỤC TRUYỆN DÂN GIAN TÂY NINH
Truyện dân gian người Khmer Truyện dân gian người Việt
Truyện cổ tích
1. Sự tích miếng vải trắng
2. Sự tích đắp núi cát
Thần thoại 1. Dấu chơn ông khổng lồ trên núi (Tảng đá nằm trên ngọn cây dầu Trại Bí) Giai thoại
2. Chạy mau hơn ngựa
3. Võ Sâm với vị Yết Ma Bùi Kiệm
Truyện cổ tích 4. Nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong 5. Vì sao nước biển mặn?
6. Xã Hòa Hiệp
Truyền thuyết
Truyền thuyết địa danh
7. Am mả dộc
8. Bàu Cỏ Đỏ
9. Giếng mạch
10. Mô súng
11. Suối Ông Hùng
12. Sự tích Bến Trường Đổi 13. Sự tích chùa Quan Huế (chùa Cẩm Phong) 14. Sự tích Dinh Ông
15. Sự tích núi Bà Đen (5 khảo dị)
Truyền thuyết lịch sử
16. Chúa Nguyễn Ánh gặp thần nữ
17. Cọp vắt khăn
18. Chuyện ở Dinh Vàm Bảo
19. Đạo binh vô hình 20. Đền thờ Đại Thần Huỳnh Công Thắng 21. Lãnh Binh Két tung hoành một cõi biên thùy 22. Miếu thờ Ông Gốc 23. Ngọn đèn hồn tử sĩ hay là lão bộc Huỳnh Trung 24. Ông Cả (Thần Thành hoàng đình Gia Lộc) 25. Quan Lớn Trà Vong (1 khảo dị) 26. Thành hoàng đình Long Thành (đình Bến Kéo) 27. Thành hoàng đình Thái Bình
Truyền thuyết tín ngưỡng và tôn giáo
28. Báu vật lấy từ núi Bà
29. Chùa Ông Thánh Công
30. Chuyện ở đình Gia Lộc
31. Chuyện ở đình Thạnh Đức 32. Chuyện ở Miếu Đại Thần Huỳnh Công Thắng 33. Đi lấy vàng ở núi Bà Đen
34. Đức Hộ Pháp xử án
35. Ông Thần Hai ở đình Long Thành 36. Ông Trung – Chưởng quản Phước Thiện – Đi chơi ở núi Bà Đen 37. Thần đình Long Chữ 38. Sự tích Ông Đá nứt hai trên núi Điện Bà 39. Sự tích việc thành lập Điện Bà
1. Truyện dân gian người việt
1.1. Thần thoại
DẤU CHƠN ÔNG KHỔNG LỒ TRÊN NÚI (TẢNG ĐÁ NẰM TRÊN
NGỌN CÂY DẦU TRẠI BÍ)
Ngày xưa, có một vị thần thân hình vô cùng to lớn, người ta gọi là ông
Khổng Lồ.
Ông Khổng Lồ có người vợ trẻ, mà nàng ít khi nghe lời ông. Ông thường
dặn vợ, nếu ông đi vắng thì ở tại động trên núi chờ ông chớ đừng đi đâu cả.
Nhưng trưa ông đi vắng, lúc trở về thì bà vợ không có ở núi Điện Bà, có
lẽ đi hái hoa quả ở đâu đó.
Ông mới bước đi tìm vợ, một chơn ông đứng ở núi Điện Bà, một chơn
bước qua bên núi Cậu. Vì ông giận bà, ông dậm chơn hơi mạnh nên chơn lún
xuống đá, để dấu chơn lại như ngày nay.
Miệng ông kêu vợ, nhưng chưa nghe vợ trả lời, lúc đó lại có con quạ bay
ngang kêu quạ quạ, ông hỏi con quạ rằng:
“Vợ tao đi ở nơi nào?
Nếu mi có biết mau mau chỉ dùm.”
Quạ ta đã không chỉ, mà vừa bay đi vừa trả lời:
“Đàn bà lắm kẻ gian ngoa
Vợ mi mi giữ hỏi ta làm gì?”
Đang bực mình, nghe quạ đáp vô lễ như vậy, ông Khổng Lồ giận con
quạ lắm, liền vói lượm một tảng đá vừa tầm tay (nặng độ 1 tấn) liệng con quạ,
nhưng quạ khôn ngoan bay bổng lên cao. Đá không trúng quạ mà lại rơi vào
cháng ba “cây dầu cổ thọ” và nằm gọn ở đó cả mấy thế kỷ rồi, đá dính trên
cây càng ngày càng lớn.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
1.2. Giai thoại
CHẠY MAU HƠN NGỰA
Dưới thời Pháp thuộc, tại vùng Tầm Long, cách tỉnh lỵ Tây Ninh độ 7, 8
cây số có ông Lê Văn Học, người địa phương, tánh tình mau mắn, hoạt bát,
lanh lẹ. Ông giữ chức Hương Bộ trong làng nên đồng bào gọi là Hương Bộ
Học. Ông có tài chạy mau hơn ngựa không một ai dám tranh sức với ông.
Thuở ấy đường sá chưa được mở mang, còn quanh co, khúc khuỷu, gồ ghề,
lồi lõm, thế mà ông chạy như trên đất bằng.
Một hôm, ông làm gà đãi khách, vừa cắt cổ, nhổ lông, ông thấy hết rượu, liền lấy chai cặp nách móc củ ngãi8 ngậm, phóng chạy xuống chợ Tây Ninh.
Ông chạy như bay, tóc xõa dựng thẳng như lá cờ. Đến chợ mua rượu rồi trở
về đến sân nhà ông níu gốc cây xoay tròn mấy vòng lấy trớn mới dừng lại
được. Tính ra vừa đi vừa về 16 cây số, ông chạy không đầy một tiếng đồng
hồ, nồi cháo gà vừa chín, bà vợ sửa soạn dọn ra mâm.
Ngày nay, nhắc đến ông ai cũng thán phục và nhìn nhận trên đời chưa có
người thứ hai. Thuở ấy, người địa phương đặt cho ông một danh hiệu là “Truy
phong”, ví như ngựa rượt theo bắt gió, sức chạy của ông như tên bắn, tóc
ngay đuôi khó người sánh kịp.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
VÕ SÂM VỚI VỊ YẾT MA BÙI KIỆM
Võ Văn Sâm sinh năm 1868, người xã Thái Bình, Tây Ninh. Năm 25
tuổi, sau khi tốt nghiệp Tiểu học, ông ra làm thầy giáo. Nhưng được 5 năm
chán ghét cảnh làm công chức cho thực dân, ông nghỉ việc.
Về nhà, ông làm thơ, viết sách. Ông là tác giả cuốn Thi phú văn từ (Sài
Gòn, Phát Toán, 1912). Trước cửa nhà, ông treo một tấm vải trắng làm bảng
hiệu: “Đặt thi phú văn từ và làm đơn mướn”. Lúc ấy bọn tà vạy trong vùng
đều sợ ông. Mỗi khi có việc gì xấu xảy ra là ông liền đặt vè, làm thơ châm
8 Ở miệt rừng thường có nhiều loại ngãi, ngãi nuôi con nít, ngãi bó tay chơn khi bị té, còn loại ngãi ông Học ngậm để chạy là loại ngãi riêng của ông, ngậm chạy không biết mệt.
biếm. Đặt xong một bài thơ ông bỏ công ngồi chép thành nhiều bản, hoặc viết
bằng mực rồi in xu xoa, phát cho trẻ em học thuộc lòng. Qua miệng đám trẻ,
những tác phẩm của ông được lưu truyền khắp đầu làng xó chợ. Kẻ bị chỉ
trích phải nuốt bồ hòn làm ngọt. Những người lớn tuổi hiếu kỳ thì đến tận nhà
ông để xin một bản đem về nhà đọc chơi lúc nhàn rỗi cho đỡ buồn!
Tánh tình ông cương trực, ngay thẳng. thường ngày ông mặc áo dài đen,
quần trắng, đi giày vải trắng, đội nón trắng. Khi đi dự lễ quan hôn tang lễ thì
vận khăn đen. Ông không bao giờ mặc âu phục.
Năm 1914, ông Yết Ma Đ… trụ trì chùa Hang ở núi Điện Bà (núi Bà
Đen) không giữ được giới luật, tòm tem với một nữ đệ tử, vợ một thương gia
người Hoa Chợ Lớn. Tai tiếng ấy chấn động một thời.
Ông làm một bài thơ gửi đăng báo, và sao ra nhiều bản dán khắp nơi trên
núi.
Rủ nhau thừa hứng viếng chùa Hang,
Phong cảnh nguy nga một cõi nhàn.
Bầy vượn véo von chờ tục lụy,
Cửa thiền công quả khách hường nhan.
Trăng soi liêu vải năm canh tịnh,
Gió giật nhành dương mấy độ tàn.
Kẻ mến giang san, người mộ sãi,
Thích tình quên lãng mối gia cang.
Võ Sâm là một nhà thơ được nhiều người đương thời hâm mộ. Ông nổi
tiếng là người xuất khẩu thành thơ. Rất tiếc đến nay, tác phẩm của ông chưa
được ai để ý sưu tầm đầy đủ.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
1.3. Truyện cổ tích
NHÂN THAM TÀI TẮC TỬ, ĐIỂU THAM THỰC TẮC VONG
Ngày xưa trên đường chạy về nước, đoàn tùy tùng của Tô Định bị quân
Hai Bà đuổi theo rất gấp, nhưng phải mang theo rương vàng bạc châu báu của
thái thú đã cướp được rất đỗi cồng kềnh, nên đi rất chậm.
Tô Định bèn hạ lệnh cho thuộc hạ thân tín chôn rương vàng bạc trong
rừng, trên mô đất ấy trồng một cây bá bệnh, là loại cây thuốc đặc biệt chỉ có ở
phương bắc, để làm dấu, hòng sau này có dịp quay trở lại lấy.
Vài năm sau cây bá bệnh lớn lên xanh tốt.
Một hôm có ông lão chăn trâu, có biết ít nhiều về cây thuốc, phát hiện ra
cây thuốc quý ở trong rừng khi thả trâu cho ăn. Ông bèn bứng cây đem về
trồng, trong lúc moi đất, ông đụng chiếc rương ở dưới gốc cây. Khi đem được
chiếc rương lên khỏi hố, ông cạy nắp ra, thì phải chóa mắt khi thấy đầy một
rương vàng bạc châu báu.
Nhưng vốn tính cẩn thận, ông lão không vội đem rương của cải về ngay,
ông bẻ cành cây đậy lại, rồi lùa trâu về.
Về đến nhà ông bảo với vợ:
- Bà ơi! Hôm nay tôi thấy trong đít trâu có con quạ bay ra, kêu quạ…
quạ… vang rân, tôi thấy lạ kỳ quá, không biết lành dữ, tôi nói cho bà biết
thôi, bà đừng có nói lại với ai nghen bà.
Đến hôm con dâu về làm giỗ bên nhà nó, bà mẹ kêu con trai lại dặn rằng:
- Mầy chạy theo vợ đưa vợ mày qua khỏi cầu rồi hãy trở lại. Hôm nọ cha
mày bảo với tao, ổng thấy trong đít trâu có cả chục con quạ bay ra kêu vang
rân, tao sợ điềm dữ cho nhà mình, tao lo quá.
Anh chàng đưa vợ qua cầu rồi, mà trong bụng không yên, mới kể vợ
nghe điều mẹ mình nói, dặn vợ về bên nhà nhớ cẩn thận.
Đến nhà, cô gái nói với mẹ mình:
- Mấy bữa trước, cha chồng con thả trâu ngoài đồng, ổng thấy một bầy
quạ ba bốn chục con trong đít trâu bay ra kêu vang trời, điềm này chắc dữ lắm
mẹ ạ!
Đến khi cô gái trở về bên nhà chồng, bà mẹ cô trong bụng không yên. Bà
mới kêu chồng nói nhỏ:
- Ông ơi! Con mình nó nói hôm trước anh sui thả trâu cho ăn ngoài đồng,
ảnh thấy quạ đâu mà cả bầy bảy tám chục con trong đít trâu kêu vang trời dậy
đất, chắc báo điềm gì dữ lắm đến với nhà ảnh đây. Con mình nó về bển tôi lo
quá. Đâu ông qua bên ấy thăm coi có chuyện gì không?
Nghe vợ kể, hôm sau ông này qua nhà sui gia. Sau dăm ba câu chuyện,
ông mới hỏi dọ:
- Anh sui ơi! Có phải anh thấy một bầy quả cả trăm con trong đít trâu
bay ra phải không?
Nghe hỏi, ông nọ tức cười bảo rằng:
- Không có đâu, bữa đó tôi nói chơi với bà nhà tôi đó mà. Quạ thì làm
sao ở trong bụng trâu được.
Ông sui gái lại nói:
- Thôi anh giấu nhau làm chi. Tôi qua đây là có ý giúp anh. Nhà anh ở
gần rừng, tôi sợ cọp beo mò về đây gây họa đó, có điềm dữ thì mình phải dè
chừng, cẩn thận mới được. Để mai tôi biểu mấy thằng con trai tôi qua phụ anh
đốn cây làm rào, rào quanh nhà lại mới được.
Ông sui trai thì lặp đi lặp lại mấy lần là mình chơi chớ không có thật,
ông súi gái vẫn không tin. Hôm sau ông ta biểu mấy đứa con trai đến nhà sui
gia phụ làm rào.
Còn ông lão chăn trâu đêm ấy nằm suy nghĩ, hôm trước mình nói có một
con quạ mà người ta đồn ra cả trăm con. Nếu mình đem về nhà một nén vàng
mà có ai biết thì họ đồn ra cả trăm nén, mười nén thì họ đồn ra cả ngàn nén…
Trộm cướp nghe vậy thì làm sao nhà mình sống nổi, mà trước nay mình có
vàng bạc gì, gia đình vẫn đủ ăn, đủ mặc. Cuối cùng ông quyết định.
Sáng sớm hôm sau ông vào rừng, vứt hết cành cây che giấu rương vàng
bạc, để rương vàng bạc nằm tần ngần ra đó, rồi đem cây thuốc về trồng.
Ít lâu sau, có ba anh tiều phu vào rừng đốn củi. Họ bắt gặp rương vàng
bạc, mừng quá họ bỏ cả cơm nước mang theo, hè nhau khiêng rương vàng về.
Về tới bìa rừng thì đã chiều, ba người đều mệt, đói lả. Người trẻ nhất trong
bọn mới bảo hai người kia ở đó giữ rương vàng, để mình vào trong làng mua
cơm, ăn cơm xong trời tối rồi hãy khiêng về. Hai người kia đồng ý.
Gã trai trẻ vào làng đến hàng cơm ăn cơm, rồi mua hai phần nữa cho hai
người kia. Gã nghĩ trong bụng, công mình thấy rương vàng trước tiên, bây giờ
nếu đem về chia làm ba, thì mình thiệt quá, chi bằng mình mua thuốc độc bỏ
vào hai phần cơm này, đương đói thế nào thấy cơm họ cũng ăn ngay, khi hai
ông bạn già của mình chết rồi, thì một mình mình hưởng trọn. Nghĩ vậy hắn
thi hành âm mưu.
Còn hai người ở lại bìa rừng thì bàn với nhau, chờ cho gã trai trở lại, họ
sẽ núp vào chỗ kín, bất ngờ nhảy ra lấy rìu chém chết hắn, rồi lấy cơm ăn,
như vậy rương vàng sẽ chia hai, có phải sướng hơn là chia ba không. Nghĩ
vậy họ làm vậy. Khi gã trai đem cơm nước trở lại thì bị hai người chém chết.
Quá đói thấy cơm, hai người này ăn ngay, nhưng chưa ăn xong bữa hai
người đều lăn ra chết. Có một bầy chim thấy cơm vung vãi liền sà xuống ăn,
trúng độc chết cả bầy.
Hôm sau, có một ông lão đi qua ngã đó. Thấy cảnh ba người cùng bầy
chim chết la liệt, cạnh đó là rương vàng bạc. Ông nghĩ ra cớ sự, mới buột
miệng than rằng:
Nhân tham tài tắc tử
Điểu tham thực tắc vong.
Ông kéo lê rương vàng bạc châu báu đến bờ vực, ráng sức hất cả rương
xuống vực thẳm, rồi bỏ đi thẳng.
( Theo Lê Trí Viễn - Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (cấp 3), lớp 10)
VÌ SAO NƯỚC BIỂN MẶN?
Ngày xưa, có hai anh em nhà kia, người anh tham lam bủn xỉn, còn
người em thật thà hiền lành. Cha mẹ mất sớm để lại cho họ một gia tài khá
lớn, nhưng người anh giành cả về phần mình, chỉ chia cho em một mảnh đất
cằn cỗi. Tuy vậy, người em vẫn không hề kêu ca phàn nàn. Hai vợ chồng cố
hết sức làm lụng, quanh năm đầu tắt mặt tối nhưng cũng không thay đổi được
cảnh nghèo. Một hôm nhà quá túng bấn, người em đành sang hỏi vay anh một
ít gạo. Người anh chẳng những không cho còn chửi mắng em thậm tệ. Hai vợ
chồng người em hôm đó chỉ còn cách ôm nhau khóc rồi nhịn đói đi ngủ.
Trong giấc mơ, người em bỗng thấy một ông già râu tóc bạc phơ đến bảo anh:
“Con hãy chăm chỉ đào mảnh đất của mình, sẽ có kho báu”. Tỉnh dậy, anh rất
mừng kể lại cho vợ nghe. Hai vợ chồng ra sức cuốc xới mảnh đất cằn cỗi sau
nhà. Đào mãi đến gần kiệt sức, người chồng bỗng đụng phải một vật rắn, bới
ra nhìn kỹ hóa ra là cái thớt trên của một cái cối đá. Người vợ thì gặp được cái
thớt dưới. Hai người đều nghĩ cái cối thì có gì mà quý, nhưng họ vẫn đem vào
nhà cất cẩn thận. Trên mảnh đất ấy họ vãi lúa… Chẳng bao lâu đến ngày giỗ
cha mẹ, nhớ đến cái cối, người em lấy gạo mình thu hoạch định xay bột để
làm ít bánh cúng cha mẹ. Nhưng lạ thay, khi đổ gạo vào xay thì thấy ra toàn
vàng. Càng xay, vàng càng tuôn ra vô số. Mừng quá, anh bèn đem vàng phân
phát cho tất cả người nghèo trong làng và làm một bữa giỗ cha mẹ trọng thể
mời hết bà con dân làng đến dự. Khi sang mời người anh, hắn ta trề môi bảo:
“Nhà tao giỗ còn chẳng có gì xứng đáng, huống chi nhà chú mày, chắc chỉ có
uống nước lã!” Người em năn nỉ mãi, cuối cùng người anh mới nói: “Chỉ khi
nào mày lót thảm nhung từ nhà mày đến nhà tao thì tao mới tới”. Người em
về làm y theo lời anh. Vợ chồng người anh hết sức ngạc nhiên và càng kinh
ngạc hơn khi đến nhà em thấy cỗ bàn sang trọng, khách khứa đầy nhà. Hắn
tức tối trong lòng quyết gặng hỏi em cho ra lẽ. Vợ chồng người em thật tình
kể rõ đầu đuôi. Máu tham nổi lên, người anh dụ vợ chồng em cho hắn mượn
cái cối về xay kiếm ít vốn rồi sẽ trả lại. Người em bằng lòng. Về nhà, vợ
chồng tên này mua một chiếc ghe thật lớn, bỏ chiếc cối vào và đi ra biển với ý
định xay đầy một ghe vàng rồi vứt cối xuống biển không trả lại cho em nữa.
Ra đến giữa biển, cả hai vợ chồng hắn ra sức quay, nhưng thay vì ra vàng thì
cối lại tuôn ra toàn muối. Muối tuôn ào ạt một lúc gần đầy ghe. Chúng nghĩ
mới lúc đầu ra muối nhưng hết muối sẽ đến vàng, nên lại càng ráng sức quay.
Quay mãi đến khi mệt quá chừng tay cối vẫn còn quay. Muối càng lúc càng
ngập cao. Hai vợ chồng hoảng hốt ra sức xúc muối đổ xuống biển nhưng
không kịp nữa. Muối dâng lên cao nhận chìm chiếc ghe cùng hai tên tham lam
với chiếc cối xuống biển sâu.
Người ta truyền rằng vì chiếc cối vẫn cứ xay mãi làm muối tuôn ra liên
tục nên nước biển mới bị mặn cho đến ngày nay.
( Theo Lê Trí Viễn - Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (cấp 1, 2), lớp 6)
XÃ HÒA HIỆP
Thuở xưa, khi biên giới Tây Nam còn nhiều vùng rừng rậm hoang vu,
dân cư thưa thớt, giữa người Việt và người Cam-pu-chia ở hai xã giáp ranh
vẫn thường xảy ra nhiều vụ mâu thuẫn đến xung đột đẫm máu.
Lúc bấy giờ có một đôi thanh niên nam nữ yêu nhau tha thiết. Cô gái
người Cam-pu-chia, còn chàng trai là một anh thợ săn người Việt. Nhưng tình
yêu ấy đã sớm rơi vào bi kịch vì tập quán khắc nghiệt không cho phép họ
được gần nhau. Hai người chỉ còn cách gặp nhau lén lút khi chàng trai vào
rừng săn bắn và cô gái đi hái nấm bẻ măng. Năm ba hôm một lần, họ mới
được ngồi bên nhau trong chốc lát bên bờ suối buổi hoàng hôn. Nhưng gia
đình, nhất là gia đình cô gái, khi biết chuyện đã ngăn cấm quyết liệt, không
cho đôi lứa gặp nhau. Cô gái bị nghiêm cấm không được vào rừng nữa. Ròng
rã một tháng trời, bao lần chàng trai mỏi mắt đợi người yêu bên bờ con suối
nhỏ để rồi thờ thẫn quay về trong vô vàn thất vọng. Thời gian ấy, cô gái cũng
muộn phiền u uất đến lâm bệnh, ngày ngày mong có dịp gặp lại chàng. Một
buổi tối, không cưỡng được nỗi nhớ thương nung đốt trong lòng, chàng trai
bạo gan tìm đến nhà nàng để thăm dò tin tức. Khi đến đầu ngõ, chàng bị một
tốp người túc trực sẵn nơi đây đổ xô ra ngăn chặn và hành hung. Chàng dũng
cảm chống cự, đến gần kiệt sức mới thoát khỏi vòng vây. Người nhà cô gái
đem chiếc áo bị xé rách tả tơi và đẫm máu của chàng trai vào báo với nàng
rằng chàng đã bị hổ vồ mất xác trong rừng nơi người ta nhặt được mảnh áo.
Quá đau đớn vì mất người yêu, cô gái khóc lóc vật vã rồi nhịn ăn uống để tìm
đến cái chết cho trọn tình. Theo ước nguyện cuối cùng của cô gái, người nhà
chôn cất cô bên bờ suối. Một đêm trăng, tin dữ về cô gái bay tới làng của
chàng trai. Kinh hoàng và đau đớn, mặc dù chưa bình phục những vết thương,
chàng vội băng mình trong đêm tối đến nơi hò hẹn. Bên dòng suối vẫn thủ thỉ
mãi những lời hát ngọt ngào của tình yêu từng ru say đắm đôi tim, chỉ còn lại
một nấm mộ mới đắp… Sáng hôm sau, những người dân vào rừng sớm phát
hiện ra xác chết của một chàng thanh niên phủ phục bên nấm mộ. Chàng thợ
săn đã tự sát để tìm đến với người yêu mình trong một thế giới không có hận
thù. Chàng được chôn bên cạnh mộ cô gái để họ vĩnh viễn không còn xa cách.
Cái chết thương tâm của đôi tình nhân chung thủy đã gây xúc động mạnh cho
hai gia đình và cả hai xóm làng của hai dân tộc. Họ thức tỉnh và nhận ra sự
mất mát ấy hoàn toàn vô lý. Bên nấm mộ của hai người yêu nhau, hai bên đã
dắt tay xóa bỏ mọi hận thù xưa để cùng xây dựng cuộc sống hòa hợp, tươi vui
cho cả hai bên.
Để ghi nhớ sự kiện đầy ý nghĩa này, người ta đã gọi nơi hai xã thuộc hai
dân tộc giảng hòa với nhau là Hòa Hiệp. Nay vùng đất ấy là xã Hòa Hiệp,
thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, nằm sát biên giới Việt Nam – Cam-pu-
chia.
( Theo Lê Trí Viễn - Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (cấp 1, 2), lớp 8)
1.4. Truyền thuyết
1.4.1. Truyền thuyết địa danh
AM MẢ DỘC9
Ngày xưa, tại ấp Bàu Đồn, có một người thợ săn sống một mình, không
vợ con. Một hôm ông vào rừng săn thú, đang mải tìm kiếm dấu vết thú rừng,
chợt trông thấy có một đôi vợ chồng dộc (một loại khỉ) đang chuyền cành.
Dộc mẹ tay bồng một con dộc con. Chúng kêu chí chóe vui vẻ chừng như
đang đùa nghịch cùng nhau, không để ý gì đến người thợ săn. Ông giương
cung bắn một phát trúng ngay dộc mẹ. Bị trọng thương, biết mình sắp chết,
dộc mẹ ôm con chuyền vội lên cành cao cố sức cho con bú lần cuối cùng rồi
mới trao cho dộc cha và kêu lên một tiếng thảm thiết trước khi buông mình
rơi xuống đất. Chứng kiến cảnh thương tâm này, người thợ săn vô cùng đau
xót và hối hận. Ông đem xác dộc về chôn chứ không làm thịt như mọi khi và
đắp mồ kỹ lưỡng tươm tất như đối với một người thân đã mất. Đêm về, trằn
trọc không ngủ được, người thợ săn nghe xa xa như có tiếng kêu non nớt não
lòng của con dộc con mất mẹ. Rồi qua nhiều đêm, tiếng kêu dàng lúc càng
nhỏ đi, mơ hồ dần, đến một đêm kia thì không còn nghe thấy nữa. Lòng đau
đớn với ý nghĩ có thể con dộc con đã chết vì thiếu sữa mẹ, người thợ săn trỗi
dậy lúc nửa đêm, đi về phía bìa rừng nơi ông chôn con dộc mẹ. Dưới ánh
trăng khuya, ông nhìn thấy bên nấm mộ nhỏ, có một con dộc lẻ bạn đang ngồi
lặng yên, ủ rũ. Thoáng thấy bóng người, chừng như nhận ra người thợ săn dạo
nọ, con dộc cha rú lên một tiếng kinh hoàng và thê thảm rồi vọt phóng vào
rừng mất dạng. Trước cảnh ấy, người thợ săn không cầm được nước mắt, ông
trở về nhà bẻ cung ná, thề giã từ nghề săn bắn và từ đó chuyển sang hốt thuốc
không công giúp bà con dân làng. Tuy nhiên, nhiều lúc nhớ lại việc mình đã
làm, ông vẫn không nguôi dần vặt ray rứt. Ông bèn nhờ người xây một cái am
tại mồ con dộc để hương khói phụng thờ. Từ đó nhân dân gọi đấy là am Mả
Dộc, nay thuộc ấp Bàu Đồn, xã Truông Mít.
9 Con voọc. Có thể do người sưu tầm ghi theo cách phát âm địa phương của người dân.
( Theo Lê Trí Viễn - Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (cấp 1, 2), lớp 5)
BÀU CỎ ĐỎ
Truyện kể rằng hồi ấy có ông Cả Đặng Văn Trước mất đi, để lại một
người con trai duy nhất, tên là Đặng Văn Tòng. Ông Tòng nối nghiệp cha,
chăm lo giữ gìn sự yên lành cho nhân dân. Do tài giỏi và mưu lược, ông được
cử giữ chức Chánh lãnh binh trấn thủ biên giới, phòng chống giặc ngoại xâm
tràn xuống quấy nhiễu dân lành. Ông dùng binh thần diệu, tiếng vang dậy
khắp vùng, giặc rất khiếp sợ oai danh. Trong một lần giao tranh với giặc, ông
bày thế trận nơi một cái bàu trong vùng, cho ngụy trang cây cối trên bàu và
phục quân xung quanh. Bấy giờ giặc mới sang, đang kiêu căng và hung hãn.
Ông dẫn quân đón đánh rồi giả thua, dụ giặc. Khi quân giặc lọt cả vào trận
địa, quân mai phục bốn bên bất thần đổ ra đánh, thế như sấm sét. Giặc bị sa
lầy, lúng túng như cá mắc lưới, bị quân ta chém chết vô số, máu chảy nhuộm
đỏ cả bàu. Từ đó nhân dân gọi đấy là Bàu Cỏ Đỏ. Bàu tuy không lớn, nhưng
ai cũng nhớ tên, vì nó đã ghi lại chiến công oanh liệt của Ông Đặng Văn Tòng
ngày xưa.
Hiện nay Bàu Cỏ Đỏ là một vùng phát triển nông nghiệp trù phú thuộc
huyện Trảng Bàng.
( Theo Lê Trí Viễn - Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (cấp 1, 2), lớp 6)
GIẾNG MẠCH
Nguyên cách đây 60 hay 70 năm ở Trảng Bàng không có mạch nước nào
ngon ngọt hết, mà phần nhiều bị phèn nên chua khó uống lắm. Có một đám
chăn trâu, thả trâu ra ăn cỏ ở mé giếng mạch bây giờ, trưa khát nước lắm, mới
lần mò đi tìm mạch nước đặng uống. May mắn, chúng gặp được một cái mạch
nước thật ngon ngọt và mội trào lên thật mạnh. Chúng dùng nón lá để múc
nước uống. Lần hồi dấu chân chúng đi lại mạch thành đường mòn. Tiếng đồn
mạch nước tốt lan ra, những người chung quanh và trong chợ tìm ra để lấy
nước uống. Đường đi ra mạch được sửa sang và mạch nước được ghép chung
quanh bằng ván. Sau mạch nước được đào sâu xuống và đặt ống ciment cho
khỏi lở. Mạch nước thật mạnh trào lên khỏi mặt đất. Sau làng mới mở đường
ra và trải đá đỏ. Còn cái giếng thì đặt ống nhỏ (ống nầy sâu khỏi mặt đất
chừng một thước) cho chảy ra hai bên, mỗi bên ước độ 7 hay 8 thước. Chính
giữa bao trùm lên giếng cái, có cất một cái Miễu để thờ Bà Lê Sơn Thánh Mẫu10 tức Bà Đen (ở núi Bà Tây Ninh).
Tại sao lại thờ Bà Lê Sơn? Theo ông bà nói lại thì mạch nước nầy nó bắt
nguồn từ núi Bà ở Tây Ninh ăn thông xuống nên mới được một cái mạch
ngon ngọt như thế (có lẽ đồng cốt Bà nhập và cho biết) và để nhớ ơn Bà tiếp
tục cho mạch nước được trường cửu ngon ngọt hoài.
Hồi xưa hễ mỗi lần cúng đều có bóng rỗi linh đình lắm.
Cách nay mấy chục năm, nhà nào cũng gánh nước ở giếng mạch về
uống. Nhà nào không có người gánh phải mướn với giá 1 xu, sau tăng lên 2
xu một đôi nước (hai thùng dầu hôi).
(Theo lời kể của ông Đặng Bình Chí, số 97, đường Duy Tân, khu phố
Lộc Thành, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cuốn
gia phả họ Đặng).
MÔ SÚNG
Tương truyền rằng giặc Ngụy Khôi (tức Lê Văn Khôi) nổi dậy nhưng
không thành. Sau vụ nổi dậy thất bại đó, nhà vua mới ra lịnh cho quan địa
phương bắt tất cả những người cầm đầu giặc Ngụy và dư đảng đem ra đào
một cái mả thật to để giết và chôn chung lại. Tội nghiệp cho những người
không có gì, nhưng vì thù oán cá nhân nên bị bắt oan không biết bao nhiêu mà
kể. Những người tham gia cuộc nổi dậy thì toàn gia, già trẻ bé lớn gì đều bị
đem ra giết và chôn tập thể tại đó. Cái mả đó chứa cả năm bảy trăm người.
Thật là khủng khiếp (trẻ nít thì quăng sống xuống).
Sau Tây lại, mới lấy nơi đó cho lính tập, tập bắn súng (lính Việt) nên
người ta mới kêu là Mô súng. Mô súng nầy nằm gần cầu Rạch Trưởng Chừa 10 Ở Tây Ninh, Bà Đen lúc thì được gọi là Linh Sơn Thánh Mẫu, lúc thì được gọi là Lê Sơn Thánh Mẫu.
cách đình làng Gia Lộc chừng 300 thước. Hồi xưa nó cao và lớn lắm. Trời
mưa trẻ nít ưa ngồi trên cao tuột xuống chơi, kêu là đánh bàn tuột. Theo thời
gian, lần lần bị mưa gió, nó nhỏ và thấp dần lại.
(Theo lời kể của ông Đặng Bình Chí, số 97, đường Duy Tân, khu phố
Lộc Thành, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cuốn
gia phả họ Đặng).
SUỐI ÔNG HÙNG
Nơi người Lộc Ninh vừa đến là vùng đất Suối Hùng – đúng hơn là phải
gọi là Suối Ông Hùng như người địa phương đã gọi hàng trăm năm nay.
Người Lộc Ninh đến đây mang theo tên xã của họ với một truyền thống mới
đặt lên nền tảng lâu đời của truyền thống cũ.
Có một truyền thuyết cho địa danh Suối Hùng đầy tự hào kiêu hãnh ấy.
Con suối nhỏ lặng lẽ tự ngàn xưa vẫn tồn tại khiêm nhường mà rực rỡ ánh hào
quang lịch sử, bên cạnh những con kênh thẳng tắp, ngút ngàn, ngang dọc chạy
qua. Những tên thôn xóm mộc mạc, lạ lùng: những Bàu Sóc, Bàu Vuông, Bàu
Nang, Bàu Tràm, Bàu Láng, Biển Suối Nhánh, Bến Bà Ngợi, Đất Sét, Trảng
Trường, xa hơn nữa là Truông Mít, Bến Củi, Bàu Gòn, Bàu Sen. Những tên
đất đặc thù ấy càng gợi lên nỗi khao khát về nguồn. Truyền thuyết kể:
Một cụ già, xưa ở Bàu Chanh, thường tự hào với tiểu sử, năm mươi năm
trước thỉnh thoảng đạp xe Alcyon, chiếc xe đạp đầu tiên ở cái xứ khỉ ho cò
gáy này để qua Suối Hùng đi Dầu Tiếng, nhử mấy con chó của thằng Tây chủ
sở cao su, đập cho nó mấy củ mây già cứng hơn bất cứ loài thiết mộc nào rồi
cắm cổ đạp thục mạng trở lại vùng Suối Hùng về nhà ở tận Bàu Chanh. Cụ kể
rằng: Cuối thế kỷ trước có ông quan đàng cựu tục gọi là Ông Hùng, không
hiểu là tên hay tước hiệu, đâu ở miệt Vàm Trảng, bất mãn với triều đình nhà
Nguyễn chưa đánh đã đầu Tây, ông treo ấn từ quan không ra hợp tác với nhà
nước Lang Sa bảo hộ rồi dẫn năm người con gái mồ côi mẹ, men theo rừng
Đôn Thuận, Sóc Lào, Bà Nhã lên tận rừng già ở đây để ẩn tích mai danh. Sáu
cha con khẩn hoang làm rẫy, đốn cây cổ thụ làm một ngọn sa trên suối, vừa
trồng trọt vừa săn bắt thịt rừng, cá suối để độ thân. Dần dần, ven con suối nhỏ
ấy rải rác có dân cư thành xóm ấp, theo danh ông mà gọi xóm suối Ông Hùng.
Người đời nhớ đến ông về những đức độ anh hùng của một bậc sĩ phu, võ
nghệ cao cường, sáu cha con ông trừ khử hết cọp dữ ở rừng sâu thỉnh thoảng
về xóm quấy phá, trừ khử hết bọn thảo khấu lục lâm để bảo vệ thôn dân an cư
lạc nghiệp. Ông chết đi, gia phả không còn, năm người con gái lấy chồng
phiêu dạt về đâu không ai rõ, nhưng tên người anh hùng lỡ vận ấy đã trở
thành địa danh, từ tên một con suối nhỏ trở thành tên một vùng đất. Trải qua
bao cuộc biến thiên của thời cuộc, nơi này có người đến ở làm ăn rồi bỏ đi vì
giặc giã, lại có người trở về bám trụ kháng chiến rồi xây dựng trong hòa bình.
Tên Suối Hùng tuy đã khắc sâu vào lòng người, lòng đất, nhưng câu chuyện
ngày xưa thì chẳng mấy người lão niên còn nhớ đến.
Tên Suối Hùng đã gắn chặt với quê hương và trên nền của địa danh ấy,
lịch sử hiện đại đã ghi lại những chiến tích oanh liệt của Suối Hùng qua hai
cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta đánh Pháp rồi đánh Mỹ.
( Theo Lê Trí Viễn - Thơ văn Tây Ninh trong nhà trường (cấp 1, 2), lớp 7)
SỰ TÍCH BẾN TRƯỜNG ĐỔI
Ngày xưa, khi Tây Ninh còn dưới quyền cai trị của Nam triều, vốn là
phủ Tân Ninh. Sau, quân đội Pháp chiếm đóng, đặt guồng máy hành chánh tại
đây, nhưng đa số không khuất phục. Nhất là người Chàm, tỏ ý chán ghét
người Pháp ra mặt.
Không phục tùng người Pháp, nên nhóm người Chàm không chịu đem
các sản vật ra chợ bán cho quân giặc, để mua hàng hóa ở chợ đem về dùng.
Họ lãnh đạm, không muốn giao thiệp gì với người Pháp.
Mặc dầu người Chàm thuộc nhóm dân thiểu số, nhưng họ có tinh thần
đoàn kết, gom nhau ở một xóm. Trên nói dưới nghe. Khi họ truyền nhau bất
hợp tác thì ai nấy nhất luật tuân theo. Quân đội Pháp thấy thế hạ lịnh cho 1
tốp lính đi ruồng trong xóm, ra chỉ thị buộc người Việt đem đồ ra chợ bán, rồi
mua hàng hóa đem vào xóm người Chàm mà đổi chác mua bán với nhau.
Người Chàm thấy người Việt tổ chức các cuộc đổi chác, mua bán, cũng thuận
giao tiếp, miễn sao không có quân đội Pháp chen vào thì thôi. Địa điểm nhóm
họp giữa người Việt và nhóm người Chàm, mang tên là “Bến trường Đổi”.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
SỰ TÍCH CHÙA QUAN HUẾ (CHÙA CẨM PHONG)
Thuở xưa, vùng đất này thuộc Nam triều, ở vào địa phận phủ Tân Ninh, tổng Hàm Ninh Thượng, thôn Cẩm Giàng11 (nay là xã Cẩm Giang). Khi ấy
đất đai hãy con hoang vu, rừng cấm dày đặc, có nhiều thú dữ. Đường sá chưa
được khai thông, lối đi vất vả. Phần nạn giặc Miên ở biên giới xuống cướp
bóc quấy nhiễu, đồng bào dân chúng hết sức lầm than khổ sở. Quan địa
phương dâng sớ về triều, tâu rõ tình hình.
Triều đình cử năm vị quan đàng cựu vào Tân Ninh phủ lo vãn hồi an
ninh cho dân chúng. Năm vị quan triều phụng mạng rời kinh đô vào phủ Tây
Ninh đảm đương nhiệm vụ. Một vị là Tri phủ Huỳnh Công Giản, tục gọi là
Quan Lớn Trà Vong, ông Huỳnh Công Nghệ, ông Huỳnh Công Thắng, và hai
vị nữa không rõ tên họ.
Sau khi nỗ lực vãn hồi an ninh, mưu phúc lợi cho dân chúng xong, một
trong hai vị quan triều khuyết danh ấy, không muốn thấy cảnh chém giết núi
xương sông máu nữa, chán bả lợi danh, bèn xin tu sĩ đến Cẩm Giang thôn đốn
cây rừng, dọn phá một khoảnh đất nhỏ sát bờ sông Vàm Cỏ Đông, cất một cái
am lá nhỏ để tu hành, sớm mõ chiều chuông, vui thú cảnh thiên nhiên. Dân
chúng địa phương nghe danh vị quan tu hành như vậy, hết lòng mến mộ.
Trước ngôi chùa nhỏ của ngài, nêu rõ ba chữ Hán “Cẩm Phong Tự”.
Nhưng vì đồng bào địa phương tôn kính sùng mộ một vị quan triều ở ngoài
Huế vào có lòng đạo đức, chân tu nên cùng nhau gọi tặng là Chùa Quan Huế. 11 Thôn Cẩm Giàng: Phủ lỵ của phủ Tân Ninh ngó qua Tuần An Giang (Sông Cẩm Giang).
Lâu ngày, tên “Chùa Quan Huế” thành danh, lưu truyền để tiếng thơm cho
ngôi Cẩm Phong cổ tự.
Quyền cao lộc cả mà chẳng tưởng màng, chay lạt nâu sòng lại riêng vui
thích, đạo hạnh của vị quan triều người miền Trung kia, thật xứng đáng với
lòng ngưỡng mộ của đồng bào kêu gọi “Chùa Quan Huế”, mộc mạc mà biết
bao ý vị đáng ghi đáng mến.
Ngày xưa, mỗi đêm cọp thường vào trước sân chùa uống nước đựng sẵn
trong một cái lu. Một hôm, nước đã cạn, các chú tiểu quên xách nước đổ vào.
Cọp men đến, thấy lu trống, gầm vang như có vẻ tức giận trách cứ, rồi hai
chân ôm đập bể cái lu, nhưng tuyệt nhiên không bao giờ làm hại gì đến những
người trong chùa.
Mé trước chùa, dựa bờ sông có một cặp rắn to có mồng, thường bữa cất
tiếng gáy ghê rợn vào lúc bình minh và lúc hoàng hôn. Mà tuyệt nhiên cặp rắn
cũng không phá hại gì trong vùng. Sau nầy cây da bị lở xuống sông, cặp rắn
bắt đầu biến mất.
Sau khi vị Quan Huế viêm tịch, chùa Cẩm Phong càng ngày càng được
tiếng linh thiêng.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
SỰ TÍCH DINH ÔNG
Ngày xưa, trên đường tẩu quốc, Chúa Nguyễn Phúc Ánh có lúc di
chuyển bằng đường bộ, có lúc phải dùng ghe thuyền xuôi ngược khắp sông
rạch. Trên dòng thủy lộ, ngài và đoàn tùy tùng đi trên một chiếc ghe vào con
sông Vàm Cỏ Đông, đến làng An Thạnh (Gò Dầu Thượng) dừng chân. Ghe
vừa đến nơi, quân Tây Sơn hay đuổi theo, Ngài và các quan hộ giá phải bỏ
ghe, băng bộ đường rừng đến núi Bà Đen Tây Ninh lánh nạn, ngài mới giao
chiếc ghe ấy cho vị Chúa Tàu (cũng như vị thuyền trưởng ngày nay) để bảo
vệ. Thuở xưa, vùng này có nhiều kinh rạch liên tiếp ăn qua Đồng Tháp Mười,
ghe vô đậu đây ra không được, vì sợ lộ tung tích. Nhưng quân Tây Sơn cũng
đuổi theo bén gót giao tranh với vị Chúa Tàu, sức cô thế yếu đương cự không
lại phải tử trận. Sau này lâu ngày biển cả hóa cồn dâu nên chiếc ghe bị lấp
mất nổi lên một gò đất cao, cây cối mọc um tùm. Người địa phương thời ấy
biết chuyện, đến lập một cái miếu để thờ vị Chúa Tàu đã hi sinh vì non nước,
dân gian thời xưa lưu truyền là Dinh Ông cho đến ngày nay.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay) SỰ TÍCH NÚI BÀ ĐEN12
Ngày xưa, núi Bà Đen gọi là núi Một. Trên núi có tượng Phật đá rất linh.
Tin đồn dần dần lan truyền khắp xa gần.
Nhưng bấy giờ đường sá hãy còn sầm uất, rừng rậm bao quanh, cọp beo
khá nhiều. Đường đi lên núi khó khăn. Thập phương bá tánh vì lòng tín
ngưỡng quá nhiệt thành, bất chấp mọi gian lao nguy hiểm, hiệp nhau dọn
đường lên cúng Phật. Mỗi lần lên núi, phải hiệp đoàn với nhau mà đi cho
đông đảo, để tránh tai nạn thú dử đón đường.
Tại Trảng Bàng, có cô gái tên Lý Thị Thiên Hương thông thạo văn
chương, lại biết ít nhiều võ nghệ, mỗi ngày rằm hay lên núi lễ Phật. Tuy diện
mạo có đen đúa, nhưng duyên dáng và tài năng khiến được lòng người say
đắm. Chàng trai trong làng là Lê Sĩ Triệt đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Cũng
như nàng Lý Thị Thiên Hương, chàng Lê Sĩ Triệt văn hay võ giỏi, có tiếng
trong vùng.
Giữa lúc chàng ấp ủ mộng lòng cùng ai, ngờ đâu còn có một con trai của
viên quan để ý đến Lý Thị Thiên Hương, quyết tìm cách bắt cóc cô về làm
thiếp. Đem tiền bạc, quyền quí cám dỗ không xong, hắn bèn sai một tên thuộc
hạ dùng võ lực bắt nàng cho kỳ được.
Lý Thị Thiên Hương bị tên côn đồ đón vây bắt. Giữa lúc nguy khốn,
chàng Lê Sĩ Triệt xông ra giải cứu, đánh đuổi tên côn đồ tẩu thoát. Nàng cảm
động tạ ơn chàng, rồi về nhà thuật chuyện cho cha mẹ rõ. Để đáp ân sâu, cha 12 Tên gốc theo tác giả sưu khảo là “Sự tích Linh Sơn Thánh Mẫu”
mẹ nàng hứa gả nàng cho chàng. Dược lời như cổi tấc lòng, chàng Lê Sĩ Triệt
hân hoan. Nhưng đang buổi bấy giờ giặc dã dấy lên, làm trai há đắm say tình
mà quên nhiệm vụ. Nhân khi Võ Tánh đứng ra chiêu binh chống Tây Sơn, Lê
Sĩ Triệt tòng quân.
Ngày chia tay, nàng ngậm ngùi bảo chàng:
- Một lời đã hứa cùng nhau, thiếp nguyện thủ tiết đợi chàng. Xin chàng
tin ở thiếp, trăm năm chẳng lỗi thề, an tâm lên đường nghĩa vụ.
Chàng ra đi. Nàng ở lại vò võ trông ngày đoàn tụ. Một hôm, nàng lên
cầu khẩn trên núi lúc trở về gần chơn núi, thình lình một bọn gia nô của con
vị quan đến vây bắt. Nàng nhào xuống hố tử tiết không ai hay, ba hôm sau Lý
Thị Thiên Hương mới báo mộng cho vị hòa thượng trụ trì trên núi Tây Ninh
đang niệm Phật, bỗng thấy một người con gái mặt đen nhưng rất duyên dáng,
hiện ra mà bảo:
- Ta đây là Lý Thị Thiên Hương. Năm 18 tuổi, chẳng may gặp bọn gia
nô của quan trấn ở Trảng Bàng đuổi bắt ta nhào xuống hố thẳm tử tiết mà bỏ
xác phàm. Nhờ căn tu mấy kiếp đã trải qua, nên linh hồn siêu thoát, đắc quả
vị thần thông. Xác ta dù đã 3 ngày vẫn còn nguyên vẹn. Hòa thượng nên
xuống triền núi phía đông nam tìm thi hài ta mà chôn cất giùm.
Hòa thượng theo lời mách bảo, tìm gặp xác, đem chôn cất.
Chuyện lạ đồn vang, thấu tai Thượng quốc công Lê Văn Duyệt. Vốn
tánh cương trực, không tin điều huyền hoặc, ngài Thượng công thân hành lên
núi xem xét hư thực. Ngài tuyên ngôn cho người khuất mặt biết:
- Hồn trinh nữ Thiên Hương quả có hiển linh, hãy xuất hiện cho bổn
chức xem thử.
Lời ngài Thượng công tuyên phán với người khuất mặt vừa dứt, xảy thấy
một cô gái chạy đến ứng tiếng:
- Xin chào thượng quan.
Ai nấy đều ngạc nhiên sửng sốt, ngài Thượng công nghiêm trang:
- Có chuyện chi?
- Tôi chính là Lý Thị Thiên Hương đây.
Thì ra Lý Thị Thiên Hương nhập xác vào cô gái, và nói tiếp:
- Tôi xin mách bảo trước cho Thượng quan được biết. Hồn của Thượng
quan sau này sẽ được phong thần vinh hiển, nhưng xác của Thượng quan sẽ bị
hành hạ, mả bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét, sau mới được minh oan.
Ngài Thượng công Lê Văn Duyệt nói:
- Bổn chức không cầu xin biết tương lai của mình, mà muốn biết rõ căn
do của nàng.
Hồn Lý Thị Thiên Hương thuật rõ mọi điều, rồi nói:
- Thượng Đế chứng lòng đoan trinh của thiếp và tấc dạ trung kiên của
chàng Lê Sĩ triệt, nên đã cho được hết đọa luân hồi. Nay thiếp được ơn trên
cho xuống trần cứu nhơn độ thế.
Nhớ lúc quốc biến, chúa tôi Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam lạc hướng tại
vùng núi Điện Bà, được Bà mách bảo phải tá binh Xiêm, sau này thống nhất
được giang san. Dứt lời xác cô gái ngã nhào ra bất tỉnh hồi lâu mới tỉnh dậy.
Đã được chính mắt thấy tai nghe, ngài Thượng công không còn nghi ngờ
nữa, mới dâng sớ về triều tâu mọi việc. Vua Gia Long nhớ lại chuyện năm
xưa bèn sắc phong Lý Thị Thiên Hương là “Linh Sơn Thánh Mẫu chủ trì linh
Sơn Tiên Thạch động”, ngự ở núi Một, tức là núi Bà Đen hay núi Điện Bà ở
Tây Ninh ngày nay.
Sự hiển linh của đức Linh Sơn Thánh Mẫu như thế nào, thập phương bá
tánh đều đã biết. Ngay như lời tiên tri của đức Linh Sơn Thánh Mẫu khi xưa,
nói về cuộc đời của ngài Thượng Công Lê Văn Duyệt, sau đó quả ứng nghiệm
như lời.
Từ đó, sự linh thiêng đồn khắp xa gần, truyền mãi đến nay. Trên núi
Điện Bà, quanh năm suốt tháng khói hương chẳng dứt. Sự tôn kính đối với
đức Thánh Mẫu Linh Sơn, biểu lộ rõ ở sự kiêng gọi tiếng Bà Đen, mà gọi là
“Bà Thâm”. Và người địa phương, thường dùng chữ thâm, thay cho chữ đen,
trong ngôn ngữ.
Có thể nói rằng, uy thần hiển hách của Linh Sơn Thánh Mẫu núi Điện
Bà, không kém gì Đức Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc vậy.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
Khảo dị 1
“Tương truyền rằng thuở còn là phần đất của Cao Miên, tại vùng rừng
núi Tây Ninh, có một viên quan trấn thủ địa phương người Miên sinh hạ được
hai con: một trai tuấn tú và một gái hiền thục tục gọi là nàng Đênh.
Lúc nàng mới độ 13 tuổi có ông sư người Tàu là Trung Vân Danh, từ
Bến Cát (Thủ Dầu Một) đến núi Tây Ninh tìm chùa làm nơi để hoằng khai
Phật pháp.
Khi đến nhà quan trấn, sư ông hỏi việc truyền bá đạo Phật trong vùng và
dò la kiếm nơi ẩn trú để hành đạo. Quan trấn thủ mời sư ông tạm nghỉ nhà
mình để ông thừa dịp học đạo.
Sư ông vui vẻ nhận lời và từ đó bắt đầu hoằng khai Phật pháp trong gia
đình quan trấn thủ và cơ vệ đội.
Tuy tuổi trẻ, nhưng sớm mượn mầu thiền, nàng Đênh miệt mài nghe sư
ông giảng đạo. Quan trấn là người mộ đạo nên sau đó đã thiết lập cho sư ông
một cảnh chùa, nay còn di tích gọi chùa Ông Tàu nhằm về phía Đông chân
núi, phía làng Phước Hội lên, chưa được kiến thiết lại.
Thời gian thấm thoát trôi qua, nghĩ lại đã mấy năm xa cách thiện nam,
tín nữ Bến Cát, sư ông bèn tạm biệt quan trấn để trở về thăm gia cảnh cũ
người xưa.
Từ ngày sư ông vắng bóng, nàng Đênh vẫn một lòng sùng kính Phật đạo,
luôn luôn lo việc hương khói cho chùa.
Vốn con nhà trâm anh, lại tuổi đã tới tuần cập kê, nên nhan sắc của bà
càng thêm xinh lịch và được tiếng đồn khắp nơi. Quan trấn địa phương vùng
Trảng Bàng, cơ sở tại sông Đua Bờ thành thuộc làng Lộc Hưng nay còn di
tích, mới cậy mai đến nói với song thân của bà xin cho Bà sánh duyên cùng
trưởng nam của ông. Thân sinh của bà vui vẻ tán thành, vì trai tài, gái sắc lại
môn đăng hộ đối nên giải ngẫu và hứa với đàng trai sẽ chọn ngày lành để sánh
lễ.
Nhưng khi nói lại cho bà biết, thì trước lời hứa danh dự của song thân,
bà chưa biết phải xử trí cách nào, nên xin đình đãi để kịp suy nghĩ.
Qua nhiều đêm trằn trọc, sau những lần cân phân hơn thiệt bà định tâm
lánh mặt đợi ngày có dịp cạn tỏ để song thân biết Bà đã phát nguyện xuất gia
cầu đạo, không thể có mặt trong nhà mà không tuân lịnh song đường để làm
rạng rỡ tông môn, cũng không thể chấp nhận lập gia đình để gây mãi cho con
người kiếp luân hồi khổ não.
Một đêm, khi cha mẹ ngủ yên, bà lẻn ra đi tầm đạo.
Hôm sau, cũng tưởng con mình như thường lệ sang chùa lễ Phật nên
song thân bà không để ý đến sự vắng mặt ấy. Mãi đến bữa ăn, song thân bà
mới cho người đi gọi, hình bóng bà đâu không thấy. Ông liền sai quân lính tỏa
ra đi kiếm. Kẻ băng rừng lội suối, người vượt đá trào non, mãi đến trưa, quân
tìm theo các kẹt đá, về báo đã gặp khúc chân bà tại một hang đá.
Sau khi khóc than, song thân bà cho quân lính mai táng chân bà trên núi
và rước thầy giải oan cho bà.
Dân địa phương cho bà chết oan như thế phải hiển thánh, nên từ đó có
việc gì khó khăn đều cầu xin bà về phù hộ và thường được toại ý.
Rồi việc Bà hiển thánh đồn xa, nhân dân rất sùng kính Bà từ đấy. Vì vậy
nên khi có việc oan trái, dân địa phương thường nhang đèn sẵn trước sân,
đúng giờ Ngọ hướng về núi cầu Bà phù hộ.
Thời gian trôi qua…
Bao nhiêu năm sau, lúc ấy Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đuổi theo rất
gấp, nên từ Gia Định, Nguyễn Ánh theo “đường Sứ” qua Tây Ninh sang Lào
đi Xiêm cầu xin cứu viện.
Lúc Nguyễn Ánh chạy đến Trảng Mang Chà vùng Bùng Binh hiện nay
bị quân Tây Sơn đuổi nã, còn đang do dự chưa biết tính lẽ nào thì được nhân
dân cho biết trên núi có Bà hiển thánh, ai tin Bà cầu gì được nấy.
Nguyễn Ánh mới sai quản cơ Lê Văn Duyệt phi ngựa đến núi cầu Bà
mách giùm tương lai nhà Nguyễn.
Trong đêm, lúc mơ màng giấc điệp, Nguyễn Ánh được Bà cho biết cứ
theo “đường Sứ” đến Tây Ninh vòng qua Núi Bà, lên võ môn tam cấp, qua
Xiêm cầu viện, sự nghiệp cả sẽ nên, còn việc ngăn đón quân Tây Sơn, Bà đã
có cách. Nguyễn Ánh cùng quan quân hôm sau tiếp tục cuộc thoát thân và
công cuộc được như Bà ứng mộng. Quân Tây Sơn theo đường thủy sông Sài
Gòn đuổi theo rất gấp. Được tin, Nguyễn Ánh qua Trảng Mang Chà, quân
Tây Sơn càng hăng hái chèo thuyền không quản ngày đêm, định tận diệt dòng
họ Nguyễn.
Nhưng vừa qua khỏi khúc sông Bùng Binh, thuyền thình lình đụng vào
đá chìm trong đêm tối, làm cho quan quân Tây Sơn chết rất nhiều. Vì lực
lượng còn quá ít, nên các tướng sĩ sống sót phải dùng một vài chiếc thuyền
còn lại trở về Gia Định. Trên sông Sài Gòn tại chỗ thuyền quân Tây Sơn
chìm, nay còn xoáy nước.
Nhờ vậy, Nguyễn Ánh chúa tôi thoát nạn và về sau được các tướng hữu
doanh hợp về một mối, phá tan Tây Sơn, xây dựng lại nghiệp cũ,
Sau khi lên ngôi, xưng là Gia Long, vua bèn cho đúc cốt Bà Đênh bằng
đồng đen và giao quan trấn thủ miền Nam đưa lên núi tại động thờ và kèm
theo sắc phong cho bà là Linh Sơn Thánh Mẫu. Do đó nơi thờ Bà gọi là Linh
Sơn Tiên Thạch động.
Dân chúng nghe lại sự tích Bà, nên gọi núi Tây Ninh là núi Chân Bà
Đênh rồi nay gọi tắt và trại ra là núi Bà Đen”.
(Theo Toan Ánh - Nếp cũ hội hè đình đám)
Khảo dị 2
Thuở nọ, có hai bên nam nữ cứ tranh chấp nhau mãi, không bên nào chịu
đứng ra để cưới bên nào.
Một hôm nàng Rê Đeng rủ một chàng trai được coi là mạnh nhất trong
vùng để thi đắp núi với mình. Họ thỏa thuận mỗi người đắp một quả núi trong
một đêm, ai đắp xong được thì đốt một ngọn đèn trên đỉnh núi để làm hiệu và
ai thua cuộc thì giới mình đứng ra cưới giới của người thắng cuộc.
Chàng trai nọ ỷ mình khỏe mạnh mãi vui ca hát, ăn uống. Trong khi đó
Rê Đeng đã bắt tay làm việc ngay từ khi sao hôm mọc. Đến nửa đêm, nàng đã
đắp xong và thắp ngọn đèn trên đỉnh núi. Núi đó là núi Bà Đen ngày nay (do
tên Rê Đeng nói trại ra). Thấy đèn báo hiệu, chàng trai biết mình thua cuộc.
Chàng liền sai voi trắng của mình xông đến phá núi, nhưng voi chưa kịp phá
núi thì đã bị nàng Rê Đeng làm phép biến voi thành đá. Chàng trai nọ liền cho
bầy heo rừng của mình đến ủi núi, nhưng cũng đành chịu chung số phận như
voi trắng. Giận dữ, chàng trai liền sai bầy gà trống đến bới núi, nhưng tất cả
đều bị hóa đá. Voi, heo rừng, gà trống đều hóa đá mà ngày nay là núi Tượng,
núi Heo, núi Gà.
Cuối cùng chàng trai tự mình đến phá núi. Chàng hốt đất vãi tứ tung ra
cánh đồng phía tây núi Bà Đen. Những nắm đất ấy thành những đồi đất mà
ngày nay vẫn còn bên chân núi Bà Đen.
(Theo Huỳnh Ngọc Trảng - Truyện cổ Khmer Nam Bộ, NXB Văn Hóa,
Hà Nội, 1983)
Khảo dị 3
Bà Nữ Oa là một thần nữ khổng lồ, có mặt từ thuở khai thiên lập địa.
Người ta cho rằng bà là vị nữ thần đã xây nên núi cao, rừng rậm trong buổi
trời đất mới sơ khai. Vốn có sức mạnh phi thường nên việc xây núi mà trời
giao cho bà chỉ làm trong một thời gian ngắn. Hồi bấy giờ có nam thần là Tứ
Tượng, cũng là một thần khổng lồ cảm mến và muốn cầu thân với bà. Nhưng
Nữ Oa vì có phần xem thường tài năng Tứ Tượng, nên ra một điều kiện là
phải thi tài với mình. Nếu Tự Tượng thắng thì hai người mới nên vợ chồng.
Đó là trong vòng ba ngày mỗi người phải xây xong một hòn núi đá thật cao,
đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy được khắp mặt đất, mặt biển.
Tin ở tài mình Tứ Tượng đắc ý nhận lời. Hai thần xây núi ở hai bên riêng
biệt: ông xây núi ở phía bắc, bà xây núi ở phía nam. Họ đua nhau làm việc ráo
riết, khẩn trương Tứ Tượng lại có phần miệt mài hơn, ông làm việc suốt ngày
đêm không nghỉ. Tứ Tượng có một đôi thúng vĩ đại, có thể chứa được hàng
đồi đất. Một chuyến đang gánh, thúng đứt dây làm đổ đất xuống, thành chin
cái đồi lớn.
Sau ba ngày xây xong, hai thần trèo lên núi của nhau để xem núi nào cao
hơn. Đứng trên núi của Tứ Tượng nhìn thấy được biển Đông, thấy các nước
lân cận. Còn đứng trên núi của Nữ Oa thì thấy rõ bốn chân trời. Thế là Tứ
Tượng thua cuộc. Nữ Oa bèn đạp đổ núi của Tứ Tượng và bảo phải làm lại
núi khác. Những đất đá ở núi của thần Nam bắn vung vãi về phía bắc nước ta,
nên bây giờ đất đai ở phía bắc cao hơn phía nam. Thần Tứ Tượng vẫn không
nản lòng, lại ra công đắp nhiều núi khác rải rác từ nam chí bắc. Ngày nay,
người ta cho rằng những dấu chân to lớn còn lưu lại trên đá ở Bắc Bộ và
Trung Bộ là dấu chân của Tứ Tượng. Còn núi của Nữ Oa thì ngày nay vẫn
đứng sừng sững ở Nam Bộ. Đó là núi Bà Đen, ngọn núi cao duy nhất ở vùng này13.
Trước sự theo đuổi chí tình của Tứ Tượng, rốt cuộc Nữ Oa cũng vui lòng
kết hôn. Nói về hai thần nam, nữ trong dân gian có câu ví:
… Bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng,
13 Trong Việt Nam văn học toàn thư của Hoàng Trọng Miên, NXB. Tiếng Phương Đông, Sài Gòn, 1969, tr.80 ghi: “Núi của Nam thần ngày nay tương truyền còn dấu tích là núi Nam giới ở Hà Tĩnh”
Và … Ông Tứ Tượng mười bốn cây sào.
Để chỉ cơ thể vĩ đại của hai thần14.
(Theo Nguyễn Hữu Hiếu, Truyện kể dân gian Nam Bộ)
Khảo dị 4
“Dân Chàm ngụ tại xã Đông Tác, thường nhắc tới sự tích Phật Bà như
sau:
Ngày xưa Hoàng đế nước Chàm cưới công chúa nước Việt làm Hoàng
Hậu.
Sau xảy ra chiến tranh giữa hai nước Chàm và Việt, Hoàng hậu không
nghĩ đến việc giúp chồng gìn giữ đất nước, lại cố tình giúp đỡ nước Việt để
chiến thắng nước Chàm.
Hoàng hậu đã khuyên nhà vua đốn bỏ một cây Thần mọc ở trước cung
điện. Nước Chàm thuở ấy được thịnh vượng nhờ cây thần này, và dân Chàm
tin rằng cây Thần linh thiêng là nhờ phép mầu của Phật Bà.
Vua Chàm nghe lời Hoàng hậu đốn cây Thần, dùng gỗ cây chế tạo một
chiếc tàu chiến. Với tàu chiến, mỗi lần ra quân, quân Chàm luôn luôn thắng
quân Việt – bởi chiếc tàu chiến được Phật Bà che chở.
Quân Việt phải tìm cách cắm cừ giữa sông, chiếm đoạt được chiếc tàu,
sau đó mới chiến thắng được quân Chàm!”.
(Theo Toan Ánh - Nếp cũ hội hè đình đám)
14 Nói về sự vĩ đại của cơ thể hai thần, trong sách Các nữ thần Việt Nam của Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc, NXB. Phụ nữ, 1984, tr.15 chép: “Được lời như cởi tấm lòng, Tứ Tượng vội chọn 1 đoàn người mang lễ vật tới cưới. Đoàn người xếp thành hàng dài hướng tới nhà Nữ Oa, nhưng vì rồng rắn dùng dằng nên khi sắp đến nơi thì trời vừa tối mịt, lại còn phải qua con sông rộng nữa. Mọi người bàn tính việc bắc cầu qua sông. Tứ Tượng hiến một kế bằng cách tiện lợi nhứt là dùng sinh thực khí của mình bắc cầu để cho đoàn người nhà mình đi qua, rồi sau đó ông sẽ bước sang sau. Cầu to, vững chắc, mọi người yên chí vững bước. Nhưng không may khi đi được nửa chừng, có người quên mất tưởng đang đi trên mặt đất nên đã dụi đuốc xuống cầu cho lửa cháy to lên. Tứ Tượng giật mình làm cho một nửa số người đang đi giữa chừng ngã lăn tòm xuống nước. ở bên này, Nữ Oa thấy họ nhà trai đến bèn kéo áo lên, nhờ đó mà trời lại sáng như ban ngày. Thấy họ nhà trai đang lóp ngóp ở dưới sông, Nữ Oa đưa tay xuống nước vớt họ lên. Bấy giờ trời rét, mọi người run lên cầm cập, Nữ Oa thương tình bèn cho họ ngồi hết vào lòng để sưởi bằng sức nóng của mình nên ai nấy đều cảm thấy dễ chịu”.
Khảo dị 5
TRUYỀN THUYẾT VỀ NÚI BÀ ĐEN VÀ BÀ RÁ
Vị tổ của người Stiêng là ông Jiang, một số vùng gọi là ông Tiêng, ông
Điêng hay ông Sa Điêng. Vị tổ này rất giỏi về nghề làm rẫy, săn bắn và rèn vũ
khí. Vị tổ có hai người em gái tên là Mi Jiang và Mi Lơm (mi là cô). Jiang
đắp núi Bà Đen để cho người em gái thứ nhất trấn giữ để chống lại người
Khmer xâm lấn, còn núi Bà Rá là để cho người em gái thứ hai trấn giữ để
chống lại người Chăm lấn chiếm đất đai. Truyền thuyết còn cho rằng ông
Jiang đắp núi Bà Rá chỉ tốn bảy gùi đất, khoảng cách từ núi Bà Rá đến núi Bà
Đen là bảy cây gậy (gậy để thụt canh trong ống lồ ô, tương đương bảy mét).
Trong khi đổ đất, ông có làm rơi vãi, tạo thành các dãy núi nhỏ nhấp nhô nằm
ở phía tây bắc cuối ấp Nhơn Hòa 2, xã Sơn Giang, huyện Phước Long ngày
nay.
(Theo Luận văn Thạc sĩ “Truyện cổ dân gian Stiêng”)
1.4.2.Truyền thuyết lịch sử
CHÚA NGUYỄN ÁNH GẶP THẦN NỮ
Những ngày lận đận giữa rừng, Chúa Nguyễn Ánh thường cùng các quan
cận thần thường từ sân chầu qua lại núi Bà Đen. Một đêm Chúa tạm nghỉ nơi
sườn núi. Nửa đêm, Chúa chiêm bao thấy một thiếu nữ phong dáng uy
nghiêm mà phúc hậu hiện ra bảo rằng: “Muốn khôi phục giang sơn phải tá
binh Xiêm quốc”.
Tỉnh mộng, Chúa Nguyễn khấn hứa rằng: “Nếu phải là Thần Nữ giúp ta
dựng nước, thì ngày nào thống nhứt sơn hà, tức vị đế vương ta sẽ phong sắc
cho Thần Nữ”.
Những ngày tháng ẩn nhẫn trôi qua, Chúa tôi Nguyễn Ánh nhiều lần hết lương thực, phải dùng đến hoa quả, ngô khoai rừng, củ nần15. Xắt ra từng lát
15 Một loại củ rừng đã từng giúp cho dân nghèo Tây Ninh sống bình an trong những năm mất mùa. Trước khi ăn, phải ngâm rẻ nước 7 lần tức 7 ngày để hết ngứa.
mỏng ngâm muối để trộn với gạo nấu cơm ăn đỡ lòng.
Một hôm chúa tôi Nguyễn Ánh chạy lạc lối về hướng Bắc núi Bà Đen,
người hết cơm, ngựa hết cỏ, tình cờ thấy một loại cây có gai, trái sống màu
xanh, trái chín nâu sậm sai quằn. Nguyễn Ánh truyền cho binh sĩ bẻ ăn, nghe
trái vừa chat vừa ngọn và no lòng. Nhờ đó mà tất cả đều đỡ dạ, Nguyễn Ánh
bèn đặt cho loại trái kể tên là Trung Quân. Tuy nhiên, có truyền thuyết khác
nói rằng, khi Tây Sơn rượt Nguyễn Ánh cùng quân sĩ chạy lạc vào rừng núi
Bà Đen thì trời đã tối. Chúa tôi lâm vào mệt mỏi và đói lả ở giữa rừng. Nửa
đêm hôm đó, Nguyễn Ánh nằm mộng thấy sơn thần mách bảo rằng, nếu muốn
đỡ lòng thì hãy cho quân sĩ lên lưng chừng núi, sẽ gặp nơi đó có một loại trái
cây dùng được và lên cao chút nữa sẽ có nước mà uống.
Bừng sáng, Nguyễn Ánh tỉnh dậy, kể giấc chiêm bao cho quan cận thần
nghe và dẫn quân sĩ đi về phía núi. Quả nhiên gặp được loại trái đã kể ở trên,
và gặp thác nước ở lưng chừng núi đổ xuống y như giấc chiêm bao. Nguyễn
Ánh đặt tên cho loại trái kể trên là trái Phù Quân (cả hai nghĩa vừa giúp vua,
vừa giúp lính). Về sau có nhiều người kêu trại ra trái Mừng quân, Mùng quân,
Quần quân,…
Thực hiện theo giấc mơ mà Sơn Thần16 mách bảo, năm Giáp Thìn 1784,
Nguyễn Ánh sang Xiêm quốc và nương náu suốt 4 năm dài. Đầu mùa thu
1787, Nguyễn Ánh xua quân về lấy thành Phiên Trấn Dinh đổi vùng này
thành tỉnh Gia Định. Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhứt sơn hà, lên ngôi cửu
ngũ lấy niên hiệu Gia Long.
Ngoài việc chỉnh đốn sửa sang xếp đặt mọi nền móng quốc gia, phong
thưởng cho quan quân, Nguyễn Vương không quên vị Thần Nữ trong giấc
mộng năm xưa. Do đó, Vương đã mô tả dáng người trong chiêm bao, và ủy
nhiệm cho Tả quân Lê Văn Duyệt mang sắc đến non linh tặng phong cho
Thần Nữ tước hiệu “Linh Sơn Thánh Mẫu”, và lúc bấy giờ miền Tây của Gia
Định thành đã an ninh nên Vương cho đặt tên tỉnh Tây Ninh. 16 Theo ý người kể, chẳng lẽ Thần Nữ chính là Sơn Thần? Hay chỉ là do kể nhầm/ đánh máy nhầm?
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
CỌP VẮT KHĂN
Ở cái thuở mà người dân vùng Trường Hòa (Tây Ninh) muốn ra lộ cái
phải băng qua truông Dọn. Cái truông cành lá um tùm, phải mang theo rựa,
mác dọn đường cho mỗi bước chân. Qua truông Dọn phải coi chừng con cọp
vắt khăn. Cọp sống lâu năm rất đỗi linh thiêng, nó không có chim lịnh báo
trước, thật khó mà tránh. Đã gặp nó rồi thì bỏ vợ bỏ con. Thế mà cũng có
người kể lại con cọp đó lớn lắm. Lông bệt choàng vai như người già vắt chiếc
khăn rằn. Cọp đã moi ruột nhiều người, nhưng chưa có ai nghĩ đến chuyện bỏ
rừng, bỏ đất và bỏ cuộc sống tự do của mình cả.
Rồi con cọp vắt khăn cũng không thể làm mưa làm gió mãi. Người trừ
nó là ông Thổ lai Chà Lang Bang. Đó là một người kỳ lạ như cái tên kỳ lạ.
Không ai rõ ông từ đâu đến và thuộc sắc dân nào. Theo tên gọi thì Khơme
không phải mà Chà Và cũng không phải. Chỉ biết ông vóc dạc cao lớn, da đen
mun, mắt to, tóc xoắn. Sức ông thì khó ai bì, có thể rinh một lần toàn bộ số gỗ
làm được cái chuồng trâu. Khỏe thế nhưng buổi đầu vào xóm, Thổ cứ e dè lân
la giúp nhà nọ nhà kia mà không bao giờ đòi trả công lênh. Có ai kêu ăn cơm
thì Thổ chỉ cười, nhưng nhà phải nấu cơm nồi to kể như có ba, bốn khách.
Giống con hươu dạt móng, con ngựa chồn chân, Thổ quanh quẩn ở lại với
xóm quen, dù chưa chịu dựng cửa dựng nhà. Tối đến chỉ leo lên cháng ba cây
điều lão ngủ vắt va vắt vẻo.
Dạo đó, con cọp vắt khăn hoành hành dữ quá. Thổ như dại như điên về
những cái chết liên tiếp của mấy người quen.
Thổ xăng xái lội qua sông, đến tận rừng Nhum, tìm lựa một cây roi. Thứ
cây cồng tươi thật dẻo, thật nặng.
Thổ chống cây cồng đứng giữa sân nhà ông Éc, một ông lão trong xóm,
uy vũ như Thánh Dóng như Đam San. Thổ nói oặm ọe như gầm: “Con cọp
vắt khăn chưa dám đến cái xóm nhà. Nhưng con cọp dám ăn thịt bạn bè là
dám ăn cái ruột cái gan của Thổ. Con cọp không được sống nữa”.
Thổ vác gậy ra đi. Trai tráng trong xóm xách mác, xách rựa chạy theo.
Đến đầu truông, thổ quay lại trừng mắt:
“Thổ tôi có cái tai trong gió, có cái mũi trong đất, có cái mắt trong rừng.
Thổ qua truông không cần dọn, biết cọp không cần chim lịnh. Đừng đi theo
Thổ, khó cái tay, bận cái chân lắm!” Vụt một cái, Thổ hụp vào lùm bụi, trai
xóm ngẩn ngơ hướng theo tiếng xào xạc.
Chẳng biết cuộc săn đuổi giữa người và cọp, giữa cọp và người diễn ra
như thế nào và kéo dài đúng bao lâu. Người thì nói bảy ngày, người khác nói
chín, người lại nói mười hai. Có lần trong xóm nghe tiếng cọp gầm gần lắm.
Sau đó, cũng theo người già kể lại, người nói Thổ đã vác xác cọp to bằng con
trâu cái vật đánh huỵch bên gốc cây điều già, người nói thổ chỉ đem về cái
đầu cọp to như cái đầu lân, có người khẳng định cọp vắt khăn chỉ bị đuổi chạy
trốn sang núi Cậu…
Nói gì thì nói, câu chuyện về Thổ miệng truyền theo miệng gần với xóm
làng biết mấy nghĩa ân.
(Theo Dương Mộc Hóa/ báo “Tuổi Trẻ chủ nhật”, số 3, ngày 5.8.1990 in
trong Nghìn năm bia miệng (tập 1), Huỳnh Ngọc Trảng)
CHUYỆN Ở DINH VÀM BẢO17
Hồi nào đó, lâu rồi, có một gốc cây nước ròng trôi trở lên, nước lớn trôi
trở xuống, gốc cây chỉ trôi ngược nước, mọi người ai cũng trông thấy và cho
là việc lạ lùng. Gốc cây trôi lên, trôi xuống nhiều tháng nhiều ngày rồi mới
cập vô một chỗ (tức là trước dinh hiện nay). Gốc cây cứ trôi lên, trôi xuống,
trôi đã đời rồi cũng quay về chỗ cũ đã cập vô lúc trước. Gốc cứ một năm trôi
đi một chuyến khoảng mấy tháng sau đó quay về, gốc cây cũng trôi ngược
nước không bao giờ trôi theo con nước, người ta nói rằng gốc cây đi Miên.
17 Dinh Vàm Bảo thuộc địa phận của xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
Bẵng một thời gian, một hôm có chuyện lên đồng, truyền rằng đồng
nhập vô ông Bảy một cụ già ở xóm bây giờ đã mất, lúc đó ông mới có hai
mươi mấy tuổi, cho biết Gốc ấy chính là tướng Huỳnh Văn Nghệ nên các cụ
già thỉnh cốt ông lên thờ, để ông không phải trôi lên trôi xuống nữa. Lúc đầu
chỉ rước Gốc lên bờ, lót vài viên gạch làm bệ đỡ, và dựng một cái miếu nhỏ
bằng cây, nay với sự đóng góp của người dân đã xây được một cái dinh tươm
tất hơn. Dinh và ông Gốc được thờ tại khoảnh đất ở mặt sông, nơi ông đã cập
vô lúc trước. Theo lời của người già ở xóm, người ta chỉ dám gọi là ông Gốc
vì tránh phạm húy ông.
Tương truyền rằng, tàu bè, ghe thuyền nào đi ngang, mọi người trên đó
cũng phải lột nón xuống hết chào Ông, nếu không sẽ bị Ông quở phạt bằng
các hình phạt nặng nhẹ như ấm đầu, đau bụng,…
Ai mượn cây của Dinh để bắc cầu hay làm gì thì ngày mai phải đem vô
trả liền, không trả sẽ bị Ông đòi.
Mỗi năm phải có 1 thước rưỡi vải đỏ thay cho cốt ông tức ông Gốc, nếu
không năm đó ở xóm sẽ có chuyện, như một sự nhắc nhở.
Việc người dân lập Dinh Vàm Bảo thờ tướng Huỳnh Công Nghệ là đúng
với tâm nguyện từ xưa tới giờ của tất cả mọi người, tức là hễ ông đóng quân ở
đâu thì người dân lập miếu thờ ở đó. Tương truyền rằng, vùng đất Bến Cầu
từng là nơi dựng thành lũy đánh giặc của Ông.
Hằng năm, vào ngày 16 tháng 1 âm lịch, người dân trong vùng nô nức
làm lễ giỗ cho Ông bằng cả lòng thành kính ngưỡng của mình.
(Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đây, số nhà 79, Long Thạnh, Long
Chữ, Bến Cầu, Tây Ninh).
ĐẠO BINH VÔ HÌNH Cách nay 40 năm18, dân chúng ở vùng núi Cậu thường thấy một đạo binh
xuất hiện trên núi mỗi tháng vài ba lần và liên tục khoảng 15 năm như vậy.
18 Tính theo thời gian tác giả đi sưu khảo là 40 năm, so với hiện nay là gần 100 năm.
Đạo binh thường xuất hiện vào đêm. Vị chỉ huy oai phong lẫm liệt, lưng
giắt gươm trần, lính thì đội nón gỗ, hàng ngũ chỉnh tề, bước đi ăn rập nhịp
nhàng, đèn đuốc sáng choang, tiếng reo hò vang dội.
Tương truyền đó là đạo âm binh của cố tri phủ Huỳnh Công Giản kháng
Miên ở cánh đồng Trà Vong, mà lúc bấy giờ nhân dân gọi là Quan Lớn Trà
Vong. Trên núi nầy có miếu thờ Quan Lớn Trà Vong, đồng bào trong vùng rất
tin tưởng và kính sợ oai linh của Ngài.
Từ sau năm 1945, dân chúng vùng núi Cậu tản cư đi rất nhiều và từ đó,
người ta không còn thấy đạo binh xuất hiện nữa.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay) ĐỀN THỜ ĐẠI THẦN HUỲNH CÔNG THẮNG19
Ông Huỳnh Công Thắng là vị anh hùng dân tộc, người can đảm, tiết
tháo, đã từng tả xông hữu đột, đương đầu với bọn giặc Miên nhiều trận thư
hùng đẫm máu trên cánh đồng Trà Vong và thôn Cẩm Giang. Ông đã tử tiết
lúc sa cơ. Đồng bào chôn cất ông tại địa phương này và dựng lên đền thờ để
tưởng niệm bậc trung cang nghĩa khí.
Sống làm tướng, thác thành thần, Ngài rất hiển linh, thường hộ trì những
kẻ lâm nạn.
Nhiều người hữu sự, đến đền thờ của Ngài khấn vái, được bàn tay vô
hình của Ngài giúp đỡ.
Đôi khi Ngài báo mộng cho các kỳ lão trong làng biết trước những sự
việc sắp xảy ra, nhứt là các tai nạn, để nhân dân đề phòng ẩn tránh.
Nhiều người đồn rằng mấy năm trước trong lúc đêm khuya canh vắng,
nơi Miếu thờ Ngài, đồng bào có nghe tiếng lạc ngựa khua lên như có người
cỡi.
Bởi thế ở Cẩm Giang ai cũng kính nể oai linh của Ngài.
19 Huỳnh Công Thắng cùng Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Nghệ là 3 anh em có công đánh giặc Miên vào cuối thế kỷ 18, được nhân dân phụng thờ kính cẩn.
Hằng năm vào ngày mồng 6 tháng 4 Âm lịch là ngày cúng Ngài tại miếu
Cẩm Giang, các bô lão, thân hào, nhân sĩ đến dự đông đảo.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
LÃNH BINH KÉT TUNG HOÀNH MỘT CÕI BIÊN THÙY
Ông Két một trong những lãnh binh của miền Nam, đã anh dũng lập
chiến khu chống Pháp dưới triều vua Tự Đức, Tại Long Giang Gò Dầu cũ nay là quận Hiếu Thiện20, ông và nhiều đồng chí nghĩa quân thường đem quân đến
đột kích vào những đồn lẻ tẻ của người Pháp ở miệt Trảng Bàng, Gò Dầu,
Tây Ninh những đêm trời tối, dùng hỏa công phá đồn rồi rút lui trong bóng
tối, làm cho Pháp thất điên bát đảo với đội binh của ông. Vùng Tây Ninh ngày
xưa còn là rừng rậm hoang vu, nếu có động tịnh thì ông phân tán mỏng rút vô
rừng ẩn trốn mất dạng, không tài gì lùng bắt ông được.
Ở đây dân gian gọi ông là Lãnh Binh Két chớ không biết ông họ gì, ông
kháng Pháp đến cùng cho đến chết21, chưa hề bị bắt một lần nào cả.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
MIẾU THỜ ÔNG GỐC
Thuở xưa, vào thời kỳ quân Pháp chiếm lấy tỉnh Tây Ninh, quân ta bị
thất trận, tản lạc tứ phía. Có một võ quan tên Nguyễn Phương Hồng từ đâu
kéo đến một đoàn binh đóng tại ngọn rạch “Cái Răng” vào tả ngạn sông Vàm
Cỏ Đông thuộc về làng Thanh Điền (ấp Thanh Trung) để mai danh đặng lừa
cơ hội phục thù.
Ông ẩn tích nơi đây đã lâu. Quân Pháp hay tin, đến vây đánh. Quân ta
lương thảo ít, binh sĩ đói, ghe thuyền thiếu. Trước mặt là sông. Phía sau binh
giặc đuổi gấp. Túng thế ông cho giải tán binh lính, truyền cho chôn giấu súng
ống để khỏi rơi vào tay của địch. Giữa tình thế cấp bách, ông bèn chia lương
thực cho binh sĩ, bảo họ về quê hoặc tìm chỗ ở lo làm ăn. Phần ông, ông gieo
mình xuống nước hủy mình tử tiết, không để cho giặc bắt, cái hi sinh của ông 20 Hiện nay địa danh này mang tên Bến Cầu (Tây Ninh) 21 Khi ông mất, nhân dân lập đền thờ ông giữa Thành Bảo Long Giang (Bến Cầu) và hương khói, phụng thờ ông đến ngày nay.
vì non nước muôn đời vẫn còn sáng chói.
Sau đó, nhơn dân trong vùng thường gặp một gốc cây to trôi lờ đờ trên
mặt nước. Gốc cây không trôi đi xa, chỉ quanh quẩn nơi ông tự trầm. Có khi
gốc cây trôi ngược dòng nước. Gốc này to lớn, bề tròn có thể 3 người ôm
không giáp. Trên đầu gốc có mấy u tròn giống như đầu người.
Gốc này không biết từ đâu đến. Có người lấy sào xô ra giữa dòng sông
nhưng rồi gốc cũng trôi lại lờ đờ ở chỗ cũ. Có lẽ hồn thiêng của vị anh hùng
còn uất hận với núi sông, nên còn phảng phất nơi đây.
Về sau, nhiều người nằm mộng được thấy ông tỏ bày tự sự, và chừng đó
nhơn dân cần thêm kính trọng sùng bái. Tin ấy đồn xa, chẳng những người
địa phương mà khách thương buôn cũng thường ghé thuyền dâng hương khấn
vái. Nhiều lái buôn mua vải tây đỏ bịt vào cái u nổi trên gốc (cho đó là cái
đầu) thì gốc trừng lên trừng xuống như vui mừng.
Nhiều người cầu nguyện đã được ông phò hộ buôn may bán đắt. Gốc trôi
đi ngược nước làm cho nhơn dân càng kinh sợ.
Có nhiều người truyền tụng rằng gặp ngày lành tháng tốt thì gốc nổi lên
cao rồi lắc lắc trôi vòng quanh chỗ cũ.
Đến năm 1920, có người khách trú (Huê kiều) mua miếng đất nơi đó để
trồng mía và lập hãng đường. Thầy, thợ, và nhân công trong hãng rất tin
tưởng ông Gốc và họ cùng nhau lập miễu để thờ. Thỉnh thoảng ông Gốc nổi
lên trước miễu. Đến năm 1938, đất này được sang lại cho người Pháp, lúc bấy
giờ nhóm lao công địa phương thấy sự hiển linh của ông Gốc mới hiệp nhau
tu bổ miễu cũ, xây lại bằng ngói gạch khang trang hơn, hàng ngày có người ở
gìn giữ khói hương. Tất cả đều gọi miễu này là: Miễu ông Gốc. Vào năm
1949, người ta còn trông thấy gốc nổi lên, hạ xuống mấy lần.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
NGỌN ĐÈN HỒN TỬ SĨ HAY LÀ LÃO BỘC HUỲNH TRUNG
Năm Mậu Tuất 1778, Chúa Nguyễn Phúc Ánh khởi nghĩa đánh Tây Sơn.
Qua năm 1780, quân binh Chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm giữ Phiên An
trấn tức Gia Định bây giờ. Nhưng, quân Chúa Nguyễn Ánh chỉ giữ được đất
Gia Định trong ít lâu rồi bị lực lượng Tây Sơn xua quân đánh bại.
Lực yếu, thế cô, Nguyễn Ánh cùng một nhóm Cần Vương bỏ đất Gia
Định chạy về phía Bắc với núi rừng trùng điệp. Trên bước đường lận đận,
chúa tôi nhà Nguyễn lạc vào giữa rừng sâu nước độc, đó là vùng núi Điện Bà,
tức núi Bà Đen.
Không lầu đài, dinh thự, không cận thần áo cao mũ rộng mà chỉ có tình
nghĩa chúa tôi đồng tâm nhứt dạ, mội khi Nguyễn Ánh nhóm họp triều thần,
chỉ tập trung trên cánh đồng cỏ hoang giữa nơi rừng thẳm. Đời sau, dân gian
truyền khẩu nơi đó là sân chầu.
Thuở lao đao lận đận trên đường chiến đấu ấy, trong đoàn quân chuyển
vận của Nguyễn Ánh có một vị lão bộc tên Huỳnh Trung. Vị lão bộc này có
phận sự chăm lo về ngựa, bò để dùng vào việc vận chuyển lương thực.
Một hôm, đoàn xe bò vận chuyển lương đến một ngỏ truông rừng, gọi là
truông Hồng Đào, cách núi Bà Đen độ bốn cây số, lão bộc Huỳnh Trung lâm
bệnh mà chết. Vì việc chuyển binh gấp rút, nên thi hài lão bộc được vùi nông
bên truông Hồng Đào.
Từ đó đến nay đã hơn trăm năm, khách dạ hành có việc đi qua xóm Độn
đến chân núi Bà Đen thường bắt gặp một ngọn đèn, được gọi là ngọn đèn thần
đưa lối khách xuyên đêm.
Khách bộ hành, đi xe ngựa hoặc cưỡi xe đẹp dù chạy nhanh hay chạy
chậm, lúc nào cũng nhìn thấy phía trước mặt cách khoảng 50 thước có một
đốm lửa đèn. Nếu khách ngừng, ngọn đèn dừng lại như đợi chờ. Khách di
chuyển, ngọn đèn cũng di chuyển giữ khoảng cách 50 thước. Khi đi gần đến
chân núi Bà Đen thì ngọn đèn vụt biến mất. Rồi khi khách rời núi trở về Tây
Ninh, lúc đến xóm Độn, ngọn đèn hướng dẫn trước mặt cũng biến như khi
đưa lên núi.
Những bậc kỳ lão và dân chúng địa phương truyền nhau rằng, đóm đèn
thần kia chính là hồn của lão bộc Huỳnh Trung hóa thành. Dù bất hạnh mất đi
trên dọc đường chiến đấu theo Chúa Nguyễn Ánh, nhưng hồn tử sĩ vẫn bừng
sáng thiên thu, giúp đỡ người đi trong đêm đỡ sai đường lạc bước.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
ÔNG CẢ (THẦN THÀNH HOÀNG ĐÌNH GIA LỘC) Ông Cả là người Bình Định22, huyện An Nam, theo cuộc Nam tiến vào ở
Bến Đồn (Bùng Binh) làm chức Trùm Xâu (Bến Đồn thuộc huyện Bình
Dương, tổng Dương Hòa thời đó).
Sau lần hồi qua Trảng Bàng, nơi đây lúc đó là rừng bụi. Ngài mới khai
phường lập ấp. Những người phương xa đến, ngài cho ở và châu cấp lúa thóc
hoặc tiền bạc để cất nhà. Nghe thanh danh và nhứt là lòng hào hiệp của Ông,
những người nghèo khổ kéo đến rất đông, chẳng bao lâu một khu rừng hoang
trở thành một ấp. Đến năm Gia Long thứ 17 (1818) ông cùng nhiều ông
Trùm: Thể, Mưu, Vị, Thứ đến làng Bình Tịnh (hiện giờ là An Tịnh) xin thêm
đất để lập làng lấy hiệu “PHƯỚC LỘC THÔN” hiện giờ là GIA LỘC xã. Sau
ngài mua thêm từ cây “Bồ Đề” chỗ công xi nhỏ, gần chùa Phước Lưu tới
Rạch bà Dỏng với giá 40 quan tiền đặng mở mang thêm.
Đến năm Minh Mạng thứ 2 là năm Nhâm Thân (1822) ông làm chức xã
trưởng. Vì để cho dân xâm lấn địa phận của làng Bình Tịnh để lập chợ và đào
kinh (dân càng ngày càng đông). Làng Bình Tịnh mới đầu đơn kiện ông nơi
quan Thượng Ti tại Phan An trấn. Quan Khâm Sai dạy ông Thơ Lại Nguyễn
Văn Phụng thừa hành mạng lệnh, xử làng Bình Tịnh phải nhường lại chỗ
“Sình Tranh chạy thẳng đến Bàu Cỏ Đỏ” để cho ông được đào kinh lập chợ.
22 Theo lời của ông Đặng Bình Chí thì địa danh Bình Định trong giai đoạn Ông Cả Trước rời đi hiện nay là trùng khớp với đoạn Quảng Bình chứ không phải tỉnh Bình Định bây giờ.
Còn về phần ông thì phải chịu trách nhiệm về việc để cho dân chiếm đất bất
hợp pháp nên bị xử mấy chục trượng.
Xứ nầy lúc đó thuộc về Cao Miên, nhưng chánh sách lấn đất, lấn ranh
của tiền nhân là cứ tiến tới, mà mình tiến tới là Miên lùi. Tức quá, chúng nổi
dậy để chiếm lại đất đã mất, nhưng đều bị ngài dẹp tan. Vì thế mà lãnh thổ ta
cứ được nới rộng ra hoài. Công của ngài được tưởng thưởng và quan trên
phong cho ngài chức Cả trong làng, mà chức Cả trong lúc đó cũng có nghĩa là
lớn hơn hết, người cầm đầu trong làng. Sau có vụ cướp ở ấp Bến Tranh, làng
An Tịnh thưa ngài ở Sài Gòn, nơi tả quân Lê Văn Duyệt. Họ đổ rằng địa phận
đó thuộc về ngài cai quản thì ngài phải chịu trách nhiệm. Nhưng sau khi truy
xét ra thì thủ phạm vụ cướp đó ở làng An Tịnh, nên Ngài vô sự.
Ngài đi hầu bằng ngựa. Khi về đến ấp cây Cau ghé quán gần cầu Trưởng
Chừa để ăn uống và giải khát thì bị 3 người ở làng An Tịnh thuốc gần chết.
Ngài ráng lên ngựa, nằm về tới chợ Trảng Bàng thì mất. Khuya lại ngài đạp
đồng cho hay tự sự và cho biết đã vật chết 3 người đó. Dân chúng thấy sự anh
linh của ngài mới lập Miễu thờ tại chợ. Ngài mất nhằm năm Bính Tý niên
hiệu Minh Mạng (1826).
Khi Ngài mất, phải đợi thầy địa lý coi huyệt mả ở Bùng Binh (nơi Ngài
trú ngụ đầu tiên). Cuộc chôn cất có cả tháng trời, vì phải phá rừng, dọn đường
đặng đi, và tới làng nào cũng có tế lễ (Lộc Hưng, Đôn Thuận). Tới nơi khi hạ
quan, thì con ngựa của ngài quỳ xuống chảy nước mắt rồi ngã ra chết. Bởi lẽ
đó, hiện giờ tại Miễu Cả có thờ con ngựa. Lối 11 giờ tới 12 giờ khuya, lâu lâu
người dân thường nghe tiếng lạc ngựa rổn rẻn. Ngựa phi từ trên đầu chợ
xuống và quẹo vô Miễu thì tiếng lạc ngựa mới dứt.
Sau có giặc Ngụy Khôi dấy lên đốt Miễu, nhưng đốt không cháy (Miễu
lợp bằng tranh) mới đem voi vô đặng càn cho sập, nhưng voi cũng thụt lùi.
Sau nầy hễ trong làng sắp có thiên tai gì xảy ra thì ngài cho người từ giữ
Miễu hay và chỉ đồ trừ trát. Dân chúng từ năm 1925 về trát nếu có chuyện gì
oan ức thì thách nhau thề ông Cả và chính những chuyện mập mờ mà làng
không giải quyết đặng, đều đem hai đương sự đến Miễu dùng gà để thề.
Dưới thời Bảo Đại niên hiệu (1933), ngài được sắc phong “BỔN CẢNH
THẦN HOÀNG” làng Gia Lộc hiện giờ.
Hằng năm, vào ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch, người dân lại nô nức tổ
chức Lễ kỳ yên ở Đình để tưởng nhớ công lao, ơn đức của Ông Cả - Thành
hoàng đình Gia Lộc. Trước đó, ngày mùng 5, 6 tháng 3 âm lịch, người dân có
cúng Giỗ ông Cả tại Miễu Cả ở chợ cũ Trảng Bàng.
(Theo lời kể của ông Đặng Bình Chí, số 97, đường Duy Tân, khu phố
Lộc Thành, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cuốn
gia phả họ Đặng và Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
QUAN LỚN TRÀ VONG Miền đất Tây Ninh vào thế kỷ thứ 1723 là vùng hoang vu, người Miên di
cư đến nơi đó trước, sau người Việt đến. Cao Miên lúc bấy giờ là chư hầu của
Xiêm, họ không thích chung chạ với người Việt. Do đó, họ nổi dậy đánh nhau
với người Việt nhiều lần giữa thế kỷ thứ 17.
Vào thế kỷ 17, đền đài của Vua Miên là Nặc Ông Chân đóng tại xã
Thanh Điền, gần ngọn rạch Tây Ninh ngày nay, dân chúng địa phương hiện
quen gọi nơi đó là Phủ Cũ.
Khi nghe tin đồn người Miên dấy loạn cướp phá tài sản người Việt, anh
hùng Việt Nam tứ xứ không hẹn mà cùng kéo về Tây Ninh trợ chiến.
Trong những anh hùng tứ xứ này có 5 vị tiền bối người Đàng Ngoài, mà
dân chúng lúc ấy gọi là Ngũ hổ tướng quân. Ngũ tướng theo ngọn sông
Saigon lên tại ngọn rạch Sanh Đôi và Bà Chiêm, tục danh là ngọn Cái Cùng
đóng đồn chống địch giúp dân gian.
Ngoài ngũ hổ tướng, dân Tây Ninh không một ai là không nghe đến uy
danh Quan Lớn Trà Vong, vị anh hùng bảo vệ đất Tây Ninh đến hơi thở cuối 23 Có nhiều tài liệu cho rằng đúng phải là năm1749. Theo đó năm 1749 mới là hợp lí vì Ông Huỳnh Công Giản mất năm 1782, ông Huỳnh Công Thắng mất năm 1826.
cùng.
Quan Lớn Trà Vong tên thật là Huỳnh Công Giản cùng người em là Huỳnh Công Nghệ, gốc người Nhựt Tảo24, võ nghệ cao cường, đã đến Tây
Ninh lập căn cứ kháng Miên.
Ông Huỳnh Công Nghệ đóng đồn tại Bến Thứ, gần ngọn rạch Sóc Om
hiện nay thuộc về xã Hảo Đước. Ông Huỳnh Công Giản chiếm cứ một cánh
đồng rộng gọi là đồng Trà Vong thuộc về xã Thái Bình. Bờ thành Trà Vong
vô cùng kiên cố.
Bấy giờ những trận đụng độ giữa người Việt và Miên liên tiếp xảy ra kéo
dài suốt mấy mươi năm với vũ khí rất thô sơ. Phía quân Việt thì có gươm,
đao, giáo, mác, cung tên, và trong đồn phòng thủ rất nhiều lu dầu Con Rái.
Một sáng tinh sương, quân Miên dùng chiến thuật biển người ồ ạt tấn
công đồng Trà Vong. Bị tấn công bốn mặt bất ngờ, nhưng quân của ông
Huỳnh Công Giản cũng kịp thời phản công mãnh liệt. Trong đồn nấu dầu con
rái sôi thụt ra khiến quân Miên bị ngã nhào lớp lớp dưới chơn hào. Tuy nhiên,
vì quân Miên quá đông, ngã lớp này lớp khác tràn lên. Trận càn chiến ác liệt
diễn ra suốt ngày trời. Quân Việt vì bị tấn công bất ngờ, không chuẩn bị việc
cơm nước, nên vừa đói, vừa mệt, quân Miên tràn ngập vào đồn Trà Vong.
Trước đó, tướng Huỳnh Công Giản nhận định biết rằng quân Miên quá
đông, nên dù quân sĩ dưới quyền ông tử thủ cũng khó kéo dài cuộc chiến nên
ông đã cho quân liên lạc với ông Huỳnh Công Nghệ kêu viện binh. Trận chiến
mỗi lúc mỗi khốc liệt, tướng Huỳnh Công Giản tả xung hữu đột như hổ dữ
giữ vòng vây của lũ chồn. Khi ông thấm mệt, nhìn lại thì quân sĩ Việt đã hi
sinh quá nhiều, trong lúc viện binh chưa đến kịp. Biết khó chuyển được thế
cờ, tướng Huỳnh Công Giản nhớ tới câu “thành mất thì tướng phải mất theo”.
Ông vung gươm tử chiến cùng giặc Miên đến lúc kiệt sức rồi gom tàn lực 24 Có nhiều tài liệu cho rằng đây là địa danh thuộc tỉnh Long An, cũng có nguồn cho rằng đây là địa danh ở Đàng Ngoài, theo sự tìm hiểu gần đây thì có người kết luận là địa danh này thuộc Hà Nội ngày nay. (Theo Phan Kỷ Sửu, Tìm hiều Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Tây Ninh, Tlđd).
quay gươm tự cắt đầu tuẫn tiết chớ không để cho quân Miên bắt sống.
Tướng Huỳnh Công Giản ngã xuống, quân Miên lại tràn thêm lớp lớp
vào thành. Trong khi ấy, viện binh của tướng Huỳnh Công Nghệ đã kéo tới.
Trước tình thế ấy, tướng Huỳnh Công Nghệ truyền lịnh quân sĩ vây thành,
chặn đường rút lui của quân Miên, quyết đánh một trận rửa hờn cho anh và
binh sĩ Việt đã hi sinh.
Quân Miên dù vẫn còn đông, nhưng lúc bấy giờ đã đói mệt, viện binh
Việt tràn vào giáo gươm tua tủa, đầu quân Miên rơi như sung rụng. Những
dãy hào chung quanh thành Trà Vong nước xanh biến thành những hồ máu
của quân Miên và thây giặc Miên trải ngập trong thành, ngổn ngang lớp lớp
trên cánh đồng Trà Vong.
Tàn quân Miên còn sống sót mở huyết lộ chạy về nước.
Từ sau trận đánh kinh thiên đó, quân Miên không còn dám xâm lấn
người Việt. Sau đó, vua Miên xin nối lại tình giao hảo với Việt Nam.
Cái chết của tướng Huỳnh Công Giản là cái chết hào hùng, rạng ngời
chánh khí, quang minh muôn đời cho lòng dân địa phương Tây Ninh.
Để tượng niệm vị anh hùng đã đem giọt máu cuối cùng, hơi thở cuối
cùng để bảo vệ cho Tây Ninh, người dân trong các ấp xã Tây Ninh đều lập
miếu thờ tướng Huỳnh Công Giản và tướng Huỳnh Công Nghệ. Dân chúng
Tây Ninh quen gọi tướng Huỳnh Công Giản là Quan Lớn Trà Vong. Người
Miên gọi là Tà Dông (Ông lớn).
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
Khảo dị:
SỐNG LÀM TƯỚNG, THÁC LÀM THẦN Khoảng năm 184625, giặc Cao Miên tung hoành cướp giựt chém giết
25 Có nhiều tài liệu cho rằng đúng phải là năm1749. Theo đó năm 1749 mới là hợp lí vì Ông Huỳnh Công Giản mất năm 1782, ông Huỳnh Công Thắng mất năm 1826.
người Việt Nam. Để đem lại an ninh cho phía Tây Gia Định Thành, triều đình
Huế phái 3 người anh em họ Huỳnh hướng dẫn quân mã đến Tây Ninh và 2 vị
nữa không rõ họ tên.
Tổng chỉ huy đạo quân bình định này là Quan Tri phủ Huỳnh Công
Giản. Quan Tri phủ từ Huế vào Gia Định Thành, rồi từ Gia Định chuyển quân
về hướng Tây (Ninh). Khi quân đến rừng Cẩm Giang thì dừng lại. Quan Tri
phủ sắp xếp, người em trai họ của Ngài tên là Huỳnh Công Thắng ở đây, cho
quân sĩ xây thành gọi là thành Cẩm Giang.
Sau khi cắt xếp cho tướng Huỳnh Công Thắng trấn giữ Cẩm Giang
Thành, quan Tri phủ Huỳnh Công Giản cùng người em út tên là Huỳnh Công
Nghệ (cũng là một hổ tướng) tiến sâu về phía rừng núi trùng điệp của Tây
Ninh trong cơn loạn lạc.
Tướng Huỳnh Công Nghệ được chỉ định đóng đồn ở Bến Thứ còn Tri
phủ Huỳnh Công Giản dấn thân vào án ngữ trên các làng hẻo lánh của dân
Việt để bảo vệ an ninh, chặn đứng mọi cuộc tấn công của giặc Miên. Đồn ấy
gọi là đồn Trà Vong. Tại đây đã xảy ra trận đánh khốc liệt nhất.
Ngày giặc Miên công hãm thành Trà Vong, tướng Huỳnh Công Thắng vì
đường xa hơn nên tiếp viện cho anh trễ, chỉ có tướng Huỳnh Công Nghệ mở
đường rừng đến kịp chân thành Trà Vong mở cuộc phục thù thảm khốc.
Và sau đó, khi Tri phủ Huỳnh Công Giản tuẫn tiết, lần lượt tướng Huỳnh
Công Thắng và Huỳnh Công Nghệ cũng chết theo vì tận lo cho Miền Tây của
Gia Định Thành được an ninh (nay là Tây Ninh).
Ngày nay, mộ của tướng Huỳnh Công Thắng26 còn ở bên chơn thành
Cẩm Giang cũ và Ngài rất hiển linh từ sau khi thác, nên dân chúng địa
26 Trong Tây Ninh xưa và nay, Huỳnh Minh có viết: “Trên mộ của Ông lại khắc là Trần Công Thắng, chẳng hiểu là do nhầm lẫn hay Ông họ Trần chứ không phải họ Huỳnh như người đời truyền tụng”. Người nghiên cứu đi điền dã và thấy rằng hiện nay trên mộ Ông là họ Huỳnh. Có lẽ do nhân dân hiệu chỉnh lại chăng?
phương rất sùng nể, lập miếu thờ phượng, cúng tế hàng năm.
Miếu của tướng Huỳnh Công Nghệ27 được lập ở Vàm Bảo, Bến Cầu, mộ
thì không ai biết chôn ở đâu.
Riêng quan Tri phủ Huỳnh Công Giản tuẫn tiết giữa vòng vây của giặc,
theo truyền thuyết Ngài được tướng Huỳnh Công Nghệ đem chôn cất. Nhưng lâu đời, dân gian không biết phần mộ Ngài nơi nào28.
Cả 3 anh em quan Tri phủ họ Huỳnh sau khi chết đều hiển thần, nên dân
chúng khắp nơi trong tỉnh đều sùng kính.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
THÀNH HOÀNG ĐÌNH LONG THÀNH (ĐÌNH BẾN KÉO)
Thành hoàng có húy danh là Trần Văn Thiện sanh năm Ất Mão 1795 tại
làng Trung Lập, phủ Bình Long, tỉnh Gia Định. Thân sinh cụ là Trần Văn Quế
một bậc hiền tài sản xuất trong gia môn hào học thuần túy hậu khá giả.
Cụ Trần Văn Thiện có thời làm thôn trưởng tại làng Trung Lập khoảng 5
năm. Lúc cụ đặng 50 tuổi, đi quan sát vùng phủ Tây Ninh thấy đất hoang,
rừng rậm nhiều, không ai khai phá. Nên cụ ông là Trần Văn Quế cùng cụ xin
khai khẩn vùng Bến Cầu, di dân lập làng đặng 4 thôn: Long Giang, Long
Chữ, Long Thuận, Long Khánh.
Sau khi cụ ông tuổi già hưởng thọ 85 tuổi, mất tại Vịnh Bà Năm, nắm
mồ yên giấc nghìn thu ở đó. Cụ Trần Văn Thiện cùng một số người nữa mới
đệ đơn xin khai mở vùng tứ cận lấy Bến Kéo làm trung tâm điểm. Các vị tận
tâm lo khai phá khu rừng đặng làm ruộng rẫy, khởi đắp đê đặng cản nước cho
dân canh tác làm ruộng. Nhưng nhầm lúc đó dân chúng không thích làm
ruộng, phần nhiều làm nghề cây củi, dầu chai, nên việc khai mở về nông
nghiệp có ý chậm. Thế mà cụ không ngã lòng, miệt mài để làm và lo để thực
27 Có một miếu khác thờ Ông rất khang trang ở Long Thành Nam, Hòa Thành, Tây Ninh (Tục gọi là Gò Duối) 28 Hiện nay, có Lăng mộ của Ngài ở Trà Vong, Tân Biên, Tây Ninh được xây dựng rất khang trang (người dân tìm thấy năm 1995).
hiện chu toàn công tác, khi cụ mở xong vùng Bến Kéo rồi cụ lại đệ đơn xin
khai khẩn khu rừng Thới Long thôn có đông tây tứ cận, lấy lý do là đất đai
rừng rậm chưa khai thác, dân chúng còn ẩn trú nơi rừng sâu nước độc, nhờ quan trên cho phép mở mang loan29 rộng, quy dân lập lại làm ăn. Phủ Tây
Ninh là ông Bạch Văn Lý chấp đơn cụ, cho phái bộ đi xem xét các nơi của cụ khai khẩn, thấy cụ đoạt30 thành hoàn bị, quan phủ cho lập 2 làng: Long Định
thôn (nay là làng Long Thành), Thái Định thôn (nay là làng Hiệp Ninh). Hai
năm sau, cụ xin lập thêm ba làng nữa: Long Thới thôn, Thái Bình thôn, Thái
Hiệp thôn. Trong thời gian khai mở 5 năm cụ đã lập thành 5 làng quy tụ dân
chúng càng ngày càng đông. Vùng Tây Ninh từ đó nghề nông rất phát triển.
Tuy dân chúng ở đông nhưng chưa có trật tự an ninh. Hằng năm, dân thổ
(người Miên) thường tràn xuống những vùng kế cận Tây Ninh để cướp bóc
dân ta, chúng dùng khí giới như: rựa, mát nhọn, cung ná,…để đàn áp.
Cụ thấy vậy đệ đơn lên quan phủ, muốn bảo an dân chúng an cư lạc
nghiệp, cần mộ các vị đầu mục cho có võ dũng, chia từng tốp, để huấn luyện
dân quân tự vệ gìn giữ mỗi thôn theo chiến thuật là “tịnh vi nông, động vi
binh”, thường đêm canh tuần, phòng thủ để bảo vệ cho dân chúng được sống
yên ổn.
Cụ cầm đầu chỉ huy đội quân đánh bọn Thổ mấy phen, có trận thật là
quyết liệt, nên bọn Thổ rất kiêng nể cụ, nghe tiếng cụ là bọn chúng bỏ chạy
dài.
Bấy giờ dân chúng mới hưởng được cuộc sống yên ổn, dân chúng càng
ngày càng yêu quý cụ nhiều hơn.
Quan phủ Tây Ninh mến tài đức của cụ nên công cử cụ làm Cai Tổng
thuộc Tổng Hòa Ninh nhầm ngày 8 tháng 10 âm lịch đời vua Thiệu Trị thứ 8
năm 1848, cụ điều hành mọi việc được yên ổn. Nhận thấy dân chúng lúc nào
29 Các cụ già không nói “lan” mà nói là “loan” chứ không phải cho người viết chép sai. 30 Tương tự, “đoạt” được sử dụng thay vì “đạt”.
cũng bị quan lại đè ép, cụ tìm đủ mọi cách đễ cứu vãn. Thừa quan trên cho
khai khẩn đất rừng, quy tựu dân chúng cho làm ruộng rẫy, cụ xin quan trên ân
xá cho những người phạm tội phải trốn vào rừng sâu nước độc không dám ra
ngoài làm ăn cho họ được miễn tội để cụ hướng dẫn mưu sinh, hằng năm sưu
thế nạp đủ cho triều đình.
Lại nói về sức khỏe của cụ, vì tuổi đã cao nên cụ cứ yếu dần. Trong các
người con của cụ có ông Trần Văn Sum rất giỏi võ nghệ theo giúp cụ trông
coi, chỉ huy đội quân.
Kế đó, cụ lên ngã ba Trảng Châu quy tựu một số dân người Việt có cả
người Thổ khai mở từ Trảng Châu lên Lò Gò lập làng tại đấy là Long Phú
thôn, vì vùng nầy có nhiều thổ sản. Ở gần, dân Thổ thường hay quấy phá, cụ
không bao giờ sờn lòng, cụ ra sức hoạt động và chinh phục bọn Thổ, lần lượt
họ cũng chịu quy phục, không quấy phá nữa.
Vì mải lo cho dân chúng, cho công cuộc khai khẩn lập làng, lập ấp nên
thể xác mỏi mòn tiều tụy, cụ tử bệnh ngày 18 tháng 9 âm lịch, hưởng thọ 89
tuổi.
Sau khi cụ mất, cụ có đạp đồng về cho dân chúng hay là đền thờ cụ phải
lập ở Bến Kéo, vì nơi đây là nơi cụ khai mở đất hoang đầu tiên, và là nơi cư
ngụ của cụ khi bắt đầu công cuộc khai khẩn lập làng. Dân chúng lập Đình Bến Kéo (nay gọi là Đình Long Thành) thờ cụ là Thành Hoàng Bổn Cảnh31.
Phần mộ của cụ được xây dựng khang trang, nằm cách Đình Long Thành
chưa đầy 1 cây số. Hằng năm, vào ngày 17, 18 tháng 3 âm lịch, dân chúng về
dự Lễ kỳ yên ở Đình xong, là lại ghé qua mộ cụ để thắp nén nhang thành
kính.
Dân chúng trong vùng bất kể lớn bé, già trẻ đều gọi cụ bằng Ông Cố. Mọi người truyền nhau rằng cụ được Đức Chí Tôn32 giáng bút phong là Văn
Xương Đế Quân. Có lẽ vì vậy mà mọi cuộc lễ ở Đình đều do Đạo Cao Đài 31 Hiện có các Đình: Đình Hiệp Ninh, Đình Long Thuận, Đình Trung – Long Khánh cũng thờ cụ Trần Văn Thiện. 32 Danh xưng Đấng Cha Trời của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (gọi tắt là Đạo Cao Đài).
phụ trách cúng kiến lễ bái. Riêng ở Đình Bến Kéo (Long Thành) chỉ cúng
chay không cúng mặn như các Đình khác.
(Theo lời kể của Ông Ba – người Từ giữ Lăng Mộ Đức Đại Thần Trần
Văn Thiện và bà tám Lá, nhà đối diện Lăng mộ Ông và tài liệu còn lưu lại ở
Đình)
THÀNH HOÀNG ĐÌNH THÁI BÌNH
Cụ Võ Văn Oai sinh năm Tân Sửu 1721 dưới triều Lê Dụ Tông (1706 –
1729), lúc ấy Đàng ngoài do Trịnh Cương nắm giữ, Đàng trong thuộc về
Nguyễn Phúc Chu. Cụ từ quê hương Bình Định vào Nam định cư ở vùng Đức
Hòa (Long An). Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo mộ đạo Phật.
Cha là Võ Đức và mẹ là Huỳnh Thị Hoa. Cha cụ vốn giỏi võ nghệ nên đã tận
tình truyền dạy cho đứa con trai vốn rất cường tráng và thông minh của mình
nhiều thế võ độc đáo từ khi lên bảy tuổi. Tương truyền rằng lúc còn trẻ cụ Oai
từng nhảy từ sân trước qua nóc nhà cao rồi xuống phía sân sau. Trước đó cụ
cũng đã thấm nhuần “thập tứ điều quy” về đạo đức làm người theo sự giáo
huấn nghiêm túc của gia đình.
Năm Kỷ Tỵ 1749, cụ Oai tròn 19 tuổi. Được biết bọn giặc phía bên kia
biên giới tràn sang, cướp phá, gây nhiều tội ác với nhân dân Tây Ninh. Cụ tập
hợp lực lượng dân binh và hội binh Gia Định nêu quyết tâm hợp lực cùng các
nghĩa sĩ khắp nơi tiến về phía biên cương đất nước. Cụ tiến quân theo sông
Sài Gòn. Từ mạn Đông sang Tây, lên ngã ba Rạch Sanh Đôi và Suối Bà Chiêm lập căn cứ. Trong lúc ấy ba anh em Quan Lớn Trà Vong33 được triều
đình Huế cử vào Tây Ninh đánh giặc tiến quân theo hướng sông Vàm Cỏ
Đông và đóng binh xây thành Cẩm Giang, thành Bảo (Long Giang – Bến
Cầu) đồn Bến Thứ, vàm Sóc Bà Om.
Lực lượng của Quan Lớn Trà Vong hợp lực với cánh quân của cụ Oai
theo thế liên hoàn hỗ tương nhau, bố trí chặt chẽ lực lương khắp các hướng để 33 Các đại thần Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công Nghệ.
sẵn sàng đẩy lui mọi cuộc tiến công của kẻ thù. Lực lượng cụ Oai trấn giữ thủ
phủ của đạo Quang Phong (là khu vực thuộc 3 làng Thái Bình, Thái Hiệp
Thạnh và Long Thới) đã liên tục lập được nhiều chiến tích vẻ vang. Phương
thức hoạt động của cụ Oai là “động vi binh, tịnh vi dân”. Khi có giặc lấn
chiếm thì cùng nhau chiến đấu, lúc bình yên trở lại thì cùng khai phá đất đai
gieo trồng, mở mang bờ cõi. Lực lượng được thường xuyên rèn luyện để nâng
cao sức chiến đấu. Cụ Oai đã chế ra vũ khí đặc biệt gọi là “hỏa hổ”, đó là sử
dụng loại dầu chai lấy từ bọng cây chai trong rừng sâu, nấu sôi đổ vào gáo
dừa hoặc ống là ống thụt để tạt hoặc là phun ào ạt vào giặc làm chúng vô cùng
khiếp sợ, hoang mang.
Ngày 12 tháng 2 năm Nhâm Dần (1782), cụ Oai hi sinh trong một cuộc chiến đấu ác liệt với kẻ thù ở thế không cân sức ở Bến Be34. Lúc đó cụ 61
tuổi. Nhân dân địa phương vô cùng cảm phục và thương tiếc đã lập miếu thờ cụ tại Bến Be35 sau khi an táng thi hài cụ tại khu vực đình Thái Bình hiện nay.
Đầu thế kỷ 19, khoảng năm 1828, nhân dân địa phương đưa miếu cụ về
thờ phụng tại nơi cụ an nghỉ. Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm thấy mộ cụ.
Sau đó, người dân đã hợp lực xây cất một ngôi đình lớn rộng, để quanh năm
hương khói, tưởng nhớ công ơn giữ nước, giúp dân của cụ. Từ đó cụ được nhân dân tôn là Thành Hoàng đình Thái Bình36.
Mỗi năm vào ngày 15 và 16 tháng 11 âm lịch, người dân lại tổ chức Lễ
kỳ yên để tưởng nhớ công đức của cụ Võ Văn Oai, Thành Hoàng đình Thái
Bình.
(Theo Phan Kỷ Sửu – Tìm hiểu Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở Tây
Ninh, ghi theo lời kể của ông Võ Thành Lên ngụ ở xã Thái Bình, huyện Châu
thành, tỉnh Tây Ninh). 34 Nằm ở góc đường Trưng Nữ Vương và Huỳnh Công Nghệ, Khu phố 5, Phường 1, Tp. Tây Ninh 35 Bến Be ngày xưa là một nhánh nhỏ chảy ra rạch Tây Ninh thuộc ấp Thái Hòa (Thái Hiệp Thạnh) mà dân gian vẫn thường gọi là Xóm Hố nằm ở góc đường Trưng Nữ Vương và Huỳnh Công Nghệ thuộc Khu phố 5, Phường 1, Thành phố Tây Ninh hiện nay. Bây giờ Bến Be chỉ còn lại một vài dấu vết là những ao nước. 36 Cụ Võ Văn Oai cũng được thờ cúng ở Đình Thanh Đông ( Thanh Điền – Châu Thành – Tây Ninh).
1.4.3. Truyền thuyết tín ngưỡng và tôn giáo
BÁU VẬT LẤY TỪ NÚI BÀ
Trước ngày lễ Trấn Thần Đền Thánh 6/1 Đinh Hợi (1947), Đức Hộ Pháp
dạy số người Phạm Môn vô chân núi, phía Suối Đá ngó qua để tìm miệng
hang.
Vâng lịnh Đức Thầy, bốn người Phạm Môn đi tìm suốt ba ngày mà
không gặp phải về báo trình lên Đức Tôn Sư Hộ Pháp hay sự việc.
Đức Thầy chấp bút, được các Đấng mách bảo cứ đi, có Sơn Thần hướng
dẫn.
Tiếp nhận lịnh trên, Đức Thầy chọn 5 vị Phạm Môn cùng đi. Quả thật
đúng như lời Thiêng liêng hướng dẫn đến một lùm cây, dây mây phủ kín,
đứng ngoài trông lên nhận diện được miệng hang, Đức Thầy dạy phải dọn
đường cho trống, chặt gai, ruồng cành cây vô tận miệng hang cho tiện đường
đi.
Sau khi dọn lùm dây mây phủ kín, quả thật có miệng hang, đường vào
hang sâu, phải nhờ đèn dầu rọi đường đi.
Đi như thế rất lâu, đến một nơi có ánh sáng bên ngoài chói vào làm sáng
lối đi, đường trong hang chỗ rộng, chỗ hẹp, có chỗ phải nghiêng người mới
qua lọt, lại có chỗ khom lưng đi qua. Sáu Thầy trò bước lần theo vách đá chập
chồng ngổn ngang dưới chân. Đi mãi như thế rất lâu mới tới một cái sân rộng,
có đủ các loại thú rừng như: chim, rắn, cọp, beo, voi,… Đến đây, số người đi
trước thấy thế hoảng sợ phải thối lui. Có lẽ, số con này có phận sự canh giữ
đường hang huyền bí. Lúc bấy giờ, Đức Hộ Pháp tiến lên đi trước, ngộ nghĩnh
thay khi Đức Thầy vừa đi đến thì các loài thú tránh ra hai bên, đầu cúi mọp
xuống dường như cung kính chào mừng.
Đến khoảng đường nầy dường như lên dốc cao. Đi độ hai giờ nữa lại gặp
một ao sen, hoa lá rất to, lá to lớn cỡ cái nia. Qua khỏi ao sen một khoảng thật
xa mà hương thơm vẫn còn bát ngát, mùi thơm của hoa sen làm cho sảng
khoái tâm thần, đi lâu mà không thấy mệt mỏi gì cả.
Đi như thế rất lâu, đến một nơi có ánh sáng chói lòa, mắt thường không
nhìn thẳng vào được, một điều rất lạ là không còn đi nữa được. Có lẽ nơi phải
đến đã đến. Làm cho số người đi phải dừng lại, kẻ đứng, người ngồi, duy có
một mình Đức Thầy đi đến chỗ có ánh sáng ấy… Không biết Đức Thầy làm
gì, thời gian là bao lâu, vì tất cả 5 người đều ngủ mê…
Cho đến khi Đức Thầy trở ra đánh thức dậy nhìn vào chỗ có ánh sáng lúc
ban đầu thấy dịu bớt, không còn chói lòa như trước nữa.
Kỳ diệu thay! Song không biết là báu vật gì. Kế Đức Thầy ra lịnh cho trở
lên miệng hang, khi trở về đi nhanh hơn vì đã quen đường cũ. Sáu thầy trò
thong thả ra tới miệng hang, nhìn mặt trời lên cao độ khoảng 9 – 10 giờ sáng;
tính ra đường đi vào hang sâu mất một ngày, đêm (có hơn 24 giờ).
Lạ một điều, không ai thấy đói, khát và mệt mỏi gì hết. Lúc đi chỉ uống
có một lần nước thạch nhũ mát lạnh, có hương vị ngọt làm cho khỏe mạnh lạ
thường.
Khi đi vào hang huyền bí này với hai tay không, lúc trở về Đức Thầy
cầm trên tay một cái hộp gói vải điều… Không ai biết trong cái hộp đựng cái
gì.
(Theo lời kể của nhiều người lớn tuổi là tín đồ Đạo Cao Đài)
CHÙA ÔNG THÁNH CÔNG
Chùa này của người Tàu. Họ đem cốt Ông Thánh Công từ bên Tàu qua.
Cái cốt chừng 6 tấc bề cao bằng cây tiện hình Ông Thánh Công và sơn màu
đỏ sậm. Chùa cất ở mé trái nhà làng Gia Lộc. Sau họ mới cất ở mé mặt ở nhà
làng, và dời cốt về đó.
Người Tàu rất tôn sùng Ông Thánh Công, và sau này người Việt thấy sự
linh hiển cũng khẩn cầu van vái khi bịnh hoạn.
Cách nay mấy chục năm, dễ gần cả trăm năm, Trảng Bàng thường bị
bịnh dịch hạch hoành hành, mà mỗi lần như vậy thì dân chúng chết thật ghê
gớm. Nhà cửa hồi xưa cất thấp xùm xụp, cửa nẻo chật hẹp, nền nhà phần
nhiều bằng đất dễ cho chuột cống khoét làm ổ. Vậy thì làm sao mà tránh bệnh
dịch đặng. Cứ mười mấy năm là bị một lần, mỗi lần bị nhà cửa bị xịt vôi, họ
đóng cửa hết bỏ đi nơi khác để tránh nạn dịch. Người ta cứ cho 12 năm (một
giáp) thì bịnh dịch đáo lệ một lần. Hễ mỗi lần như vậy thì người Tàu sai cốt
Ông lên để đuổi ma dịch và xin thuốc để trừ.
Lúc đó, Chú CHẺM (người Tàu ở Gia Bình) làm cốt và lên đồng. Chỉ có
Chú là Ông Thánh Công nhập vô thường. Chú ở trần trùn trục, miệng thì xỏ
cái quay xiên bằng sắt cỡ chiếc đũa ăn cơm ngang qua mép. Chú ngồi trên 4
cái bàn 4 người khiêng, kêu là bàn chông, vì có 3 ngọn dao thật bén chông
lên. Tay chú cầm một ngọn đao dài chừng 5 tấc. Chú hét lên thật lớn, vừa
chém quật ra sau lưng và trước ngực ầm ầm, máu chảy đầy. Vậy mà khi xã
rồi, nghĩa là xuất ra, chỉ lấy lá vàng bạc dán lên chỗ chảy máu là hết. Còn trát
nhà làng Gia Lộc, họ trải than dài độ 5 thước quạt cho đỏ. Người cốt mới đi
tới, đi lui trên đống than đó bằng chân không, vậy mà không phỏng gì cả.
Còn cái cốt của Ông Thánh Công thì để trên một cái kiệu, 4 người
khiêng. Khi muốn cho kiệu di chuyển thì trong chùa đốt bùa, đánh trống, thì
kiệu bắt đầu núc nhích rồi phát chạy. Có những người cầm cây theo cản cho
dân chúng dan ra, họ bận đồ theo kiểu mấy người múa lân đánh võ. Kiệu vụt
chạy nhanh, rồi thụt lùi, rồi sàng qua sàng lại, chạy tới chạy lui bất kể mương
dốc. Mà mỗi lần như vậy là cốt Ông đều cừng trát Miễu Ông Cả. Theo người
Tàu nói lại thì cốt đi đuổi tà mà, mà Ông Cả là Chủ của địa phương nên cốt
phải ghé đặng ra mắt. Phần nhiều người bịnh thì được cho uống tàn nhan và lá
vàng bạc đốt cháy trong đó có vẽ bùa.
Tại đây đâu hồi năm 1933, mấy người có đạo ở Tha La thấy tại sao cái
cốt bằng cây mà điều khiển 4 người chạy trối chết. Muốn ngừng cũng không
đặng. Thế thì 4 người họ tình nguyện khiêng thử xem thiệt hư thế nào.
Trong chùa mấy ông Ban Trưởng bắt đầu đánh chuông và đốt bùa ở
ngoài nầy 4 người Công giáo cũng đọc kinh Đức Mẹ và rùng chân đứng tấn
để kìm kiệu lại. Kiệu chỉ nhúc nhích chớ không xê dịch đặng. Mấy người Tàu
lại đánh chuông, đốt bùa nữa, kiệu lần này hơi sàng qua, sàng lại, nhưng rồi
cũng đứng yên một chỗ. Đến lần thứ ba, mấy người trong chùa mới vái Ông
rồi đốt bùa, gióng chuông, gióng trống thật kịch liệt. Mấy người Công giáo
cũng kiểu cũ, đọc kinh Đức Mẹ không ngừng và đọc lớn hơn. Người cốt (Chú
Chẻm) vụt phát lên, xách cặp kiếm nhảy ra chém tréo vào thành kiệu. Bốn
người khiêng kiệu (anh em đá banh ở Tha La) tưởng đâu chém họ nên quăng
kiệu (có người chụp lại kịp). Hình như họ bị một trận đòn. Kiệu bắt đầu sàng
qua sàng lại rồi phát chạy. Tưởng đâu họ lọt xuống sông, nhưng vừa tới bực
thì ngừng lại, rồi xoay lại chạy như giông, như gió. Họ muốn ngừng mà
không sao ngừng đặng. Muốn liệng cũng chẳng xong. Thật là lạ. Độ nửa giờ,
kiệu mới quay trở về chùa, mấy ông Ban mới đốt bùa vái Ông kiệu mới
ngừng. Chừng đó người ta thấy bốn người nầy chưn cẳng đều trầy trụa hết.
Họ mệt ngất, muốn xỉu, họ mới nhận là kỳ lạ và bí ẩn.
Trong lúc Ông lên nhập cốt, thường nói tiếng Bắc Thảo đặng cho toa cho
thuốc hay dạy bảo điều gì. Chỉ có 1 hai người Tàu trong Hội biết và thông
ngôn lại cho mọi người biết.
(Theo lời kể của ông Đặng Bình Chí, số 97, đường Duy Tân, khu phố
Lộc Thành, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh và cuốn
gia phả họ Đặng).
CHUYỆN Ở ĐÌNH GIA LỘC37
Năm 1948, ngôi đình bị một số người địa phương định đến thiêu hủy.
Nhưng nhờ thần linh che chở, đốt hoài không cháy, dường như có bán tay vô
hình nào dập tắt ngọn lửa bạo tàn. Chúng tức giận đổ xăng châm bồi thêm, cố
đốt cho cháy rụi. Nào hay lửa phừng lên cao thì tự nhiên có luồng gió lạ từ
37 Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh húy danh là Đặng Văn Trước (tức Ông Cả Trước). (Tiêu đề do người viết đặt lại).
đâu thổi tạt ra ngoài, nên đình thoát cảnh lửa thiêu. Sau này những người chủ
mưu đốt ngôi đình lần hồi bị chết thảm hết, làm cho trong làng phải trọng nể
kiêng dè oai linh vị Thành hoàng bổn cảnh.
Cây cối chung quanh đình, nếu có kẻ nào ngang nhiên đến đốn, lập tức
bị cảnh cáo ngay, bằng cách khiến cho họ kẹt cứng lưỡi cưa, lưỡi búa, không
thể nào cốt ngã cây cho được. Do đó họ phải vỡ mật kinh hồn, không tin cũng
chẳng được, vội đem nhang đèn cúng vái tạ lỗi, mới được ra về an toàn. Từ đó
về sau, không còn ai dám nghinh ngang xâm phạm của đình.
Vào thượng tuần tháng 3 năm 1971 dương lịch, Ban hộ hương đình có
kêu anh thợ mộc tên Võ Văn Nhàn đem dụng cụ đến đình, để lo cất rạp làm lễ
cúng thần. nhưng Ban hương đình năm nay tổ chức trễ một ngày thay vì ngày
mùng 8, anh thợ Nhàn đến trước để được sự chỉ bảo của hương chức đặng cất
rạp, anh đến chờ không thấy ai cả, tức giận cằn nhằn đủ thứ, mang đồ vật về
nhà. Chẳng dè về vừa tới nhà, anh bỗng cảm thấy đau nhói nơi ngực như có ai
dần. Anh nhào lộn rên la, rồi bỗng khai khẩu nói to:
- Tôi lỡ xúc phạm, cúi xin tôn thần tha thứ.
Chòm xóm nghe kêu van, tá hỏa hiểu ra anh thợ Nhàn đã bị tôn thần Gia
Lộc hành phạt. Có người biết chuyện, chạy ngay đến nhà ông Chánh tổng
trình bày tự sự, nhờ ông đến mở cửa đình, khấn vái xin tội giùm.
Giữa lúc thành tâm khấn vái tại đình, anh thợ mộc Nhàn tỉnh dậy nơi
nhà, khỏe khoắn như thường. Anh biết mình nói lỡ lời xúc phạm, nên bị thần
linh quở trách. Anh nguyện đến đình tạ tội và từ đây về sau lo tròn phận sự
công quả cho đình trong mấy ngày tế lễ.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay) CHUYỆN Ở ĐÌNH THẠNH ĐỨC38
Trong cuộc đất của Đình có nhiều cây danh mộc to lớn lâu đời. Khiến
cho những người có lòng tham dòm ngó, họ mượn chút quyền thế thuê người 38 Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh húy danh là Nguyễn Văn Lực (Tiêu đề do người viết đặt lại).
đến đốn cây đem về làm của riêng. Lúc cốt cây rìu búa đều bị sứt mẻ, và rốt
cuộc lưỡi rìu và lưỡi búa đều bị mắc kẹt vào thân cây, dầu cho mấy người lôi
kéo cũng không rút ra được.
Người biết chuyện bảo khấn vái và tạ lễ Thần linh, tạ lễ rồi mới rút lưỡi
rìu ra được. Người phạm lỗi sợ lắm. Từ đó về sau không ai dám làm ngang
mà đốn cây của đình nữa. Nếu có việc cần đốn cây thì hương chức phải khấn
vái xin keo, lúc xin keo được rồi mới dám cho người đến hạ cây.
Quanh đình Thạnh Đức cây cối um tùm, kẻ trộm trâu thường dẫn giấu
nơi các lùm cây rậm, đợi khi vắng người di chuyển nơi khác. Hễ kẻ trộm giấu
trâu nơi nào thì thần báo mộng cho chủ trâu hay biết để đến dắt trâu về. Nếu
kẻ trộm dắt trâu đi ngang cổng đình, thì trâu cứ đứng một chỗ dậm chưn chớ
không bước tới, dầu có bị đánh mấy cũng không bước đi được. Kẻ trộm biết
vậy, về sau, chẳng dám đem của gian đến gần đình.
Trong khu rừng cạnh đình Thạnh Đức, có một con Trăn to. Mỗi lần lễ
Kỳ yên cúng Thần vào ngày 16 tháng 8 âm lịch, có con Trăn bò về, vô đình,
nằm trước bàn hương án như đảnh lễ, xong, Trăn bò đi vòng theo vỏ ca, rồi
chun xuống hang bên cây đại thọ cạnh hông đình mà ẩn mình.
Các vị hương chức và bô lão trong làng quí con trăn đó và ra lịnh không
ai được bắt. Các hương chức đến nhìn vào miệng hang thì thấy sâu thẳm và
không ai gọi được Trăn ra. Chỉ có một bà lão tên là Cao Thị Trăn, người ở
trong xã, đến vái van rồi kêu gọi thì Trăn mới chịu bò lên cho mọi người
trông thấy.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay) CHUYỆN Ở MIẾU ĐẠI THẦN HUỲNH CÔNG THẮNG39
Cách nay vài mươi năm, nơi miếu thờ quan đại thần Huỳnh Công Thắng
rất linh thiêng. Về đêm, dân chúng quanh vùng vẫn thường nghe như có tiếng 39 Trong bản chép của tác giả ghi là Trần Công Thắng, người viết xin được hiệu đính là là Huỳnh Công Thắng cho hợp với hiểu biết dân gian. (Tiêu đề do người viết đặt lại).
lạc ngựa trong đền như có người đi trong cuộc đất.
Mỗi năm, có lệ cúng Ngài vào ngày 1640 tháng 4 âm lịch. Một lần kia,
ban tổ chức cuộc cúng tế, theo thông lệ lưu lại từ xưa, có làm lễ thỉnh sắc các
vị Thành hoàng các làng kế cận về giỗ hội, nhưng quên đến thỉnh Quan Lớn
Trà Vong Huỳnh Công Giản. Lúc ấy, bỗng có một ông lão ở xã Cẩm Giang
vùng lên đồng, thét vang điểm mặt hương chức hội tề:
- Cha chả! Các ngươi lớn mật khinh thường linh thần đến thế sao?
Mọi người giựt mình ngơ ngác. Ông lão lên đồng nói tiếp:
- Ai đời các ngươi hỗn xược, làm lễ thỉnh các vị Thành Hoàng ở đây, sao
lại không thỉnh anh ta là Quan Lớn Trà Vong41?
Ai nấy hiểu ra, càng thêm kinh dị. Một người trong ban tổ chức đánh bạo
cung kính thưa:
- Tấu lạy linh thần, xin cho chúng tôi được biết tôn danh và nhờ chỉ dạy
cho chúng tôi những điều lỗi lầm sơ sót.
Ông lão lên đồng cười gằn:
- Các ngươi muốn biết thì ta cho biết. Ta là đại thần Huỳnh Công Thắng
đây. Thấy các ngươi vô lễ không thỉnh Quan Lớn Trà Vong, nên ta phải hiển
linh khiển trách. Thật là lũ người khinh bạc, dám ngạo mạn đến cả thánh thần.
Vừa nói, ông lão lên đồng vừa tỏ ra giận dữ cực điểm, vò tai, bứt râu
ném phăng trên bàn và thật là kinh dị, ngay lúc ông lão lên đồng nứt râu
quăng ném, mọi người sửng sốt sợ hãi khi nghe tiếng lịch kịch chuyển động
trong miếu thờ. Rồi thì một việc quá sức tưởng tượng xảy ra: Ai nấy đều thấy
rõ thinh không cốt tượng chuyển mình, đúng vào lúc ông lão lên đồng bứt
hàm râu dưới, thì nơi cốt tượng, hàm râu dưới cũng bật tung ra, nằm trên bàn
40 Theo sự khảo sát của người viết thì ngày cúng là 6 tháng 4 âm lịch chứ không phải ngày 16 tháng 4 âm lịch như tác giả sưu khảo đã ghi. 41 3 anh em là Huỳnh Công Giản (Quan Lớn Trà Vong), Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công Nghệ. Đọc truyện Quan Lớn Trà Vong để biết rõ hơn.
thờ.
Thật kinh dị và vô cùng kinh khủng. Không còn ai dám nghi ngờ điều
chi nữa. Đây là ông lão kia đã bị quan đại thần Huỳnh Công Thắng nhập xác,
khiển trách dữ dội.
Các hương chức đồng mọp lạy xin tội. Một người thay mặt nói:
- Chúng tôi lỡ lầm sơ sót, chớ thật không dám vô lễ bất kính với quan
lớn Trà Vong. Chúng tôi xin tuân lời quở trách của linh thần, đi thỉnh ngay
Tôn thần Trà Vong về phối hưởng cuộc cúng tế hôm nay. Và cúi xin cho
chúng tôi gắn lại hàm râu nơi cốt tượng thờ ngài.
Ông lão lên đồng nạt lớn:
- Không! Hãy cứ để nguyên như thế. Đó là sự cảnh cáo nghiêm trọng của
ta. Để các lần sau, các ngươi cứ trông vào đó mà ghi nhớ đừng tái phạm, mà
ta chẳng tha thứ cho nữa đâu. Ai trái lời ta, ta sẽ vật chết ngay tức khắc.
Mọi người lần lượt cúi lạy xin tuân lời dạy bảo. Thế là từ ấy cốt tượng
được sùng kính oai linh vượt bậc.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
ĐI LẤY VÀNG Ở NÚI BÀ ĐEN
Năm 1930 là lúc khởi công tạo tác Đền Thánh, cùng việc thiết kế phóng
lộ đường, mở mang khu dân cư, khoanh vùng nơi sanh hoạt kinh tế chợ, và
sắp xếp những việc cần thiết trong vùng Thánh Địa sau khi mua của người Pháp 40 km2.
Lúc ấy, Đức Hộ Pháp rất nghiêm ngặt, phân công mỗi người một việc và
việc ai người nấy làm. Không ai hỏi lấy ai, nghiêm túc chấp hành và phải dứt
khoát thành công.
Riêng ông Hai Lợi và bốn người nữa cũng là người Phạm Môn42 (4
người này không ai biết ai) được Đức Ngài giao nhiệm vụ đi lấy vàng ở núi
42 Cửa Phật, đây cũng là một trong những con đường về cõi Thiêng liêng hằng sống (theo quan niệm của Đạo Cao Đài).
Bà. Tất cả đều đến Hộ Pháp Đường để nghe Đức Hộ Pháp dạy việc để thi
hành theo thứ tự từng phần một.
Xong xuôi, Đức Ngài trao cho một tấm bản đồ vẽ tay. Trong đó chỉ
hướng đi cặn kẽ, tỉ mỉ. Đức Ngài đưa cho 5 cái gói vải dặn chỉ phân nửa cái
túi vải này cho dễ cầm, không được đầy hoặc hơn phân nửa cũng không được
(túi vải như cái áo gối nhỏ khoảng chừng 3 lít gạo). Khi đi đồ trang bị gồm
dây, phấn làm dấu, đèn cầy lớn số 1, hột quẹt, ống khò của thợ hàn, rổ và vài
vật dụng cá nhân khác.
Sáng lên đường, điểm xuất phát là cửa Hòa Viện, coi bản đồ nhắm
hướng mà đi. Sau khi vượt qua quãng đường chông gai, rừng già dày đặc, các
ông đến miệng hang thì người đã thấm mệt. Nghỉ mệt, ăn cơm uống nước, rồi
chuẩn bị cho việc kế tiếp.
Người đi đầu khò đèn, người sau bước leo thận trọng tiến sâu vào hang,
đi san sát để hỗ trợ nhau khi cần thiết. Mỗi một nẻo quanh là một lằn phấn bệt
dài đậm nét phòng khi trở về không bị lạc. Hang mỗi lúc một sâu thêm ống
khò không đủ sáng, nên đốt thêm đèn cầy lớn. Sau khi lom khom bò qua các
khe, các ngõ hang, cuối cùng đã đến đúng điểm mà bản đồ ghi.
Nơi đây là một khoảng rộng, phía dưới là một dòng nước trong và lạnh
mát. Nước ngập dưới đầu gối một chút, đáy là cát, đá to nhỏ đủ cỡ, các ông
nhìn thấy nó nhấp nhoáng ánh sáng màu vàng, cùng những màu rực rỡ khác
khi phản chiếu dưới ánh đèn cầy lớn (lúc này các ông đốt đèn nhiều).
Mỗi người một tay, mang hết khả năng ra đãi cát. Lựa các hạt mẫu mà
Đức Hộ Pháp đã căn dặn kỹ cho kịp thời gian quy định cùng số lượng và chất
lượng để về kịp trong ngày, không ai dám chểnh mảng vì mỗi người phải
hoàn thành nửa túi, trong đó người dẫn đầu phải 2 vì tới 5 cái. Nhưng cuối
cùng các ông cũng san sẻ nhau chia đều số đãi (đổ chung một đống) thành 5
túi mà thời gian vẫn còn, tranh thủ lượm thêm một số đá đen đá đỏ lạ mắt mà
các ông chưa từng thấy, bỏ vào túi áo mang về làm kỷ niệm chơi.
Rất là may mắn vì từ lúc đi đến lúc về không có gì đáng tiếc xảy ra.
Các ông rất tin tưởng nơi Đức Hộ Pháp và rất kính sợ, bởi vì việc làm
này các ông thấy sự huyền diệu từ đầu tới cuối. Các ông nghĩ rằng nếu không
phải lịnh Thầy thì đâu được thế. Nguy hiểm thì dễ xảy ra ở chốn rừng sâu núi
thẳm, thú dữ thì nhiều.
Đoàn người về tới nội ô thì trời đã về chiều. Các ông đi thẳng vô Hộ
Pháp Đường trình diện và trao đủ số túi vải, tấm bản đồ cho Đức Hộ Pháp.
Sau đó, Đức Ngài giao cho các ông lớn tuổi khác. Nhận lịnh, các ông này cho
túi vải vào hồ, nhồi lộn cọ xát cho bợn vàng nổi lên trên mặt nước vớt hết
chứa riêng một nơi. Sau cùng làm cho sệt lại để dùng phết vàng vào 7 cái ngai
nơi Cung Đạo. Đánh dấu sự có thật của mỏ vàng còn đang thời kỳ non.
Sau đó vài bữa, 3 ông trong số 5 ông đi núi hôm bữa tính đi chuyến nữa.
Nhưng lối cũ thì nhớ đó, mà cứ quanh quẩn đến mệt mà không tới được nơi.
Trời lại về chiều, ba ông lật đật về, vừa lo vừa sợ. Sợ là vì dối Thầy đi lén, lo
là lo bị phạt. Thôi thì trình sự thật, cầu xin tha thứ thì hay hơn. Đức Hộ Pháp
nghe xong cười rồi nói:
- Hôm các con đi có phép của Thầy, chư Sơn Thần nơi ấy gìn giữ mới
cho vào. Còn hôm nay các con đi không có phép tắc chi hết nên chư Thần
không cho vào. May là các con là người của Thầy nếu không có lẽ nguy hại
đến tính mạng. Nghe xong, các ông toát mồ hôi lạnh. Đức Ngài xá tội cho về.
Sau đó, các ông đem số đá đem về lúc trước cho thợ đá xem. Vì tiền mài
đá mắc quá nên các ông đem cho con cháu, người thân làm kỷ niệm. Các ông
lựa một viên đẹp nhất, hùn tiền lại mài cho Đức Hộ Pháp một chiếc cà rá lớn.
Ông thợ bạc biết làm cho Đức Hộ Pháp nên cũng cố gắng làm thật khéo.
Lúc ở Madagasca, cả đêm lẫn ngày mỗi khi cà rá chớp sáng là Đức Hộ
Pháp biết Linh Sơn Thánh Mẫu đến thăm. Lần đầu tiên thấy cà rá chớp, Ngài
lấy làm lạ hỏi vì sao lại như vậy. Bà Linh Sơn trả lời vì đó là báu vật ở núi Bà,
còn Bà là chủ của nó. Vì thế mà mỗi khi chủ tới là vật tỏ dấu hiệu mừng, cũng
là vị báo tin. Từ đó, Đức Ngài thấy cà rá chớp là biết chủ của nó tới.
(Theo lời kể của nhiều người lớn tuổi là tín đồ Đạo Cao Đài)
ĐỨC HỘ PHÁP XỬ ÁN
Thuở ấy, nơi vùng đất Cẩm Giang có một khu đất không ai dám vào, dù
chỉ đi ngang cũng còn sợ. Nếu có việc cần đi, hoặc bẻ một nhánh củi cũng
phải van vái mới được. Bên cạnh, người ta còn đồn đãi thấy nhiều hiện tượng
kì quái khác làm cho người dân nơi đây rất sợ, đến nỗi bán cũng chẳng hề ai
dám mua.
Thấy vậy, các anh em Phạm Môn hỏi Đức Hộ Pháp. Đức ngài nói: Kệ,
coi người ta để nới thì mình mua để làm nhà họ Phạm.
Đất là đất khó, nên người bán cần bán cho được, nên chẳng đòi cao, nên
việc mua bán rất mau lẹ, dễ dàng. Xong đâu đấy, Đức Ngài mới xuống xem
đất, đồng thời chỉ vẽ mô hình để xây dựng. Đức Ngài và anh em Phạm Môn
thấy trong khu đất có ba cái gò hơi giống gò mối. Đất lâu ngày không ai bén
mảng nên coi hoang vắng lắm, cây cỏ um tùm. Đức Ngài dạy anh em Phạm
Môn phát hoang xung quanh, còn 3 cái gò để đó đừng phá, coi chừng là mộ
chôn người ta chớ không phải là gò mối.
Đến trưa, Đức Hộ Pháp nằm nghỉ trên võng. Lúc mơ màng, Ngài thấy
mình xách cặp táp, ăn mặc lịch sự, bước vào một tòa nhà cao lớn, như một
dinh cơ của quan lớn vậy. Người gác cửa là một vị tướng vạm vỡ oai nghi, tay
cầm đại đao giống như Châu Xương.
Đức Ngài bước vào bên trong, để cặp táp lên bàn, ngồi vào ghế, xong
đâu đấy, Đức Ngài nói: “Tướng quân cho vào”; liền đó có một người từ ngoài
bước vào. Đến trước mặt Ngài, vị ấy xá chào. Thấy người nầy đẹp đẽ, phong
thái tư cách oai nghi, đúng bực là một viên quan chức sắc. Đức Ngài nói:
“Mời quan lớn ngồi, tôi cho phép quan lớn cung chiêu”. Vừa nói vừa chỉ cái
ghế trước bàn.
Đức Ngài nói xong, vị quan bắt đầu trình bày sự việc: “Nguyên tôi tên
Cẩm đỗ bằng Tú tài, nên người dân quen gọi là Tú Cẩm hay là Cẩm Tú. Tôi
có 3 người vợ; người vợ cả không có con, hai người vợ thứ thì có con. Nhưng
tôi thì thường sống chung với vợ cả, mọi sự chăm sóc cho tôi đều do một tay
của bà đảm nhận hết.
Vì không có con, nên có lần về quê nhà đám giỗ, bà có xin dẫn về một
đứa cháu gái của bà trạc 11 – 12 tuổi để làm con nuôi và làm nguồn an ủi cho
sự cô quạnh của một người đàn bà đứng tuổi, thấy vậy tôi cũng chấp nhận với
bà, và xem đứa cháu gái như là con ruột của hai vợ chồng vậy.
Thế rồi từ đó, cháu nó một ngày một lớn, nét đẹp trổ mã trông rất xinh
lịch, lại là con quan nên rất thông thái, hơn nữa việc dạy dỗ của hai vợ chồng
tôi cũng đầy đủ, nên cháu nó ngoan hạnh như gương của bà nhà tôi vậy. Việc
gì của bà nhà tôi làm thì cháu nó cũng để ý làm theo, tánh nết thuần hậu ấy
làm hai vợ chồng tôi thương mến, và đối với bà thì càng thân thiết, tâm đầu ý
hợp lắm.
Rồi chẳng may vợ tôi mất sớm. Sau khi chôn cất, trong nhà còn lại có 2
người. Cháu gái ấy thay vợ tôi làm những việc mà bà vẫn làm lúc sanh tiền,
bà chăm sóc tôi như thể nào thì cháu cũng làm y như vậy. Chẳng hạn như phụ
mặc áo cho tôi, hoặc khi tháo khăn, tháo nón, dọn dẹp giùm, khi bưng nước
rửa mặt, hay giặt giũ cất xếp ngăn nắp. Tôi coi nó như con, nó coi tôi là cha.
Có một lần nọ, sau khi giở mão ra, tôi thấy mến thương vì từ khi mất
người thân cháu nó trở nên cực nhọc nhiều, nên kéo sát lại hôn lên má nó như
an ủi và chỉ duy nhứt có một lần.
Ngày lại, ngày qua, hai bà vợ lẽ ghen tương, hơn nữa thấy cháu cũng lớn
rồi, nên bàn cùng tôi nên gả cháu để nó yên bề gia thất. Hai bà vợ lẽ đã có ý
tốt là nên gả cho con trai mình, vì tiện là nó ở đây đã lâu và nó thông minh,
ngoan hiền. Xét thấy cháu nó không có quan hệ dòng họ, mà có nghĩa nặng
tình sâu với gia đình này, cùng sống và đã hiểu biết ý nhau, không còn điều gì
ngần ngại nữa. Thật là may mắn vậy.
Riêng về phần cháu gái, lòng dạ nó thật tốt; nó chung thủy, thật thà, chơn
chất. Bao nhiêu chỗ mối mai mà nó đều từ chối. Vì trong suy nghĩ của nó là
làm vợ làm như bà dì nó vậy thôi, chớ có gì đâu. Thôi thì làm vợ ở đâu cũng
vậy, thì làm vợ cho dượng thì tốt hơn hế vậy; chớ biết đâu về làm vợ cho
người khác, chỗ ở lạ lùng mình mắc cỡ. Nó chỉ nghĩ là giặt giũ, nấu cơm, quét
dọn, sắp xếp giữ nhà, tiếp khách, chớ đâu hiểu là làm vợ là phải sanh con, nó
hoàn toàn vô tư trong sạch.
Nói gả cho con trai mình nó cũng không chịu, vì nó sợ không ai chăm
sóc cho tôi. Vì đã làm vợ con mình thì phải chăm sóc cho con mình, thì thời
gian đâu mà lo cho tôi nữa, nó hồn nhiên như vậy. Đứng trước tình cảnh ấy,
áp lực ấy, tôi giải thích điều hơn lẽ thiệt, khuyên nó đi lấy chồng, ở hoài vậy
người đời đàm tiếu. Con nghe lời dượng, rồi con là vợ của con dượng tức là
con dâu của dượng, nào có lấy chồng xa, ở nhà lạ đâu mà ngại.
Nó ngoan ngoãn nghe lời, vì nó thương tôi lắm. Đám hỏi, đám cưới từng
từ tiến hành một lượt.
Hôm ấy, trong tiệc cưới còn đang nhộn nhịp vui vẻ, mọi người tửu lượng
đã nhiều, trong lúc rượu thịt chè chén say sưa, có người cười cười, nói nói:
“Vừa là đầy tớ, vừa là cháu, vừa là con dâu, vừa là bà chủ nhà”. Rồi bọn họ
cười ồ.
Nó mãi suy nghĩ về câu nói ấy. Nó nhạy bén và tự ái, nó thấy tụi này có
ý biếm nhẻ nó, nó hiểu rằng người đời đang để lời trêu chọc nó. Nó buồn, nó
thẹn, nó tức tối, nó xấu hổ. Tan tiệc, trời đã về đêm. Nó tự vận trong đêm tân
hôn đó.
Hay tin nó chết, tôi hết sức kinh hoàng, tôi chỉ nghĩ là tôi ép nó lấy
chồng nên nó tự vận, chớ đâu có biết tại bọn nhậu kia. Vậy là tại vì tôi mà nó
chết, tôi đã gây ra cái chết này, tôi cảm thấy tội lỗi quá, sống làm chi đây. Nếu
mình sống lương tâm sẽ dày vò hành phạt không yên, thôi chết cho rồi, chết
để tạ lỗi. Trong đêm thứ hai, lúc lo tang lễ cho nó thì thêm một cái chết nữa
đó là tôi.
Đứa con trai thấy cảnh vợ nó chết, cha nó chết, nó như điếng hồn. Nó
nghĩ là chắc nó có lỗi gì nặng lắm, trầm trọng lắm do vậy mà vợ chưa nắm
được tay thì đã chết, còn cha thì chưa được trao quà thì đã thác, thôi mình
đáng chết lắm, còn gì luyến tiếc. Thế là nó cũng tự tử.
Đám cưới chưa động phòng thì 3 mạng người chết liên tục”. Nói đến đây
ông Tú động lòng sụt sùi nức nở.
Đức Hộ Pháp: “Gọi cho người con gái vào”
Cô gái bước vào xá chào Đức Ngài kỉnh lễ. Ngài thấy cô đoan trang,
thùy mị, đẹp xinh, người sáng sủa, thanh thoát, khoan thai, có học, ra bề gia
giáo, nhưng mặt cứ cúi xuống, chỉ ngước lên lúc xá Ngài mà thôi, đôi tay lúc
nào cũng mân mê tà áo. Hỏi đến thì cô đáp lại, còn không hỏi thì đứng lặng
tinh, buồn dào dào.
Đức Ngài bảo: “Hãy trình bày tự sự đi!”
Cô gái nhìn Ngài rồi kể: “Tôi chỉ biết thật một điều là làm những công
việc ấy thường ngày như dì tôi đã làm cho dượng để thay thế cho dì, vì người
đã mất đi. Tôi thương dượng một mình, bận bịu việc quan, không người chu
tất việc nhà nên làm giúp để đáp đền công nuôi dưỡng dạy dỗ nên người.
Lúc ấy tôi không biết việc làm chồng vợ của dì và dượng là cái gì khác
nữa ngoài việc lo lắng như trên. Tôi chỉ thấy dì làm vậy là tôi làm vậy. Cho
nên khi dượng khuyên lấy con dượng làm chồng thì tôi nghĩ cũng lo cho
người đàn ông ấy bao nhiêu việc ấy thôi. Thế nên nghe lời dượng, chấp nhận
cho dượng vui lòng.
Bữa tiệc cưới, tôi nghe họ nói, nhìn họ để mắt dòm tôi, cười ồ, tôi biết là
họ nhắm vào tôi, tò mò, cay nghiệt giễu cợt chế nhạo tôi “vừa là đầy tớ, là
con, là cháu, là con dâu lại là bà chủ nhà”. Tôi suy nghĩ và chợt hiểu ra, tôi
xấu hổ vô cùng và vì không muốn ai đàm tiếu, nên tôi quyết định chết đi mà
thôi. Chết để không nghe không thấy nữa”.
Xong, người con gái cúi mặt xuống.
Đức Hộ Pháp: “Gọi cho người con trai vào”.
Người con trai bước vào xá chào Ngài kỉnh lễ. Ngài nói: “Hãy nói đi!”
Người con trai liền thưa: “Thưa, riêng tôi, tôi không hiểu điều gì hết, lại
thắc mắc một điều là vì sao vợ mình chưa thành thân, chưa gần tạng mặt lại tự
vận chết. Tôi nghĩ chắc là có uẩn khúc chi đây, hoặc là do gia đình tôi, hay do
tôi có lỗi với nàng ấy. Tiếp theo cha tôi lại chết, cái chết của cha làm tôi hết
sức bàng hoàng và càng thêm nghi vấn. Cha và vợ mình có giận mình không,
tôi thiết nghĩ là lỗi do mình, nên chung tình vẹn nghĩa thì hay hơn, và tôi
quyết định chết theo luôn”.
Ngồi nghe qua sự tình của 3 người, Đức Ngài chưa biết phải xử sao đây
liền giựt mình thức giấc. Đức Ngài nói với anh em Phạm Môn: ‘Qua mới vừa
đi nghị án về đây”. Nói xong, nằm tiếp tục. Vừa nằm vừa suy nghĩ. Mãi suy
nghĩ nên ngủ không hay. Đức Ngài thấy mình đến nhà đó nữa.
Lúc bấy giờ Ngài đã rõ chuyện. Ngài xin được thấy hình ảnh thật. Rồi thì
Ngài được Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Thiêng liêng cho Ngài thấy hình
ảnh thật diễn biến, sinh hoạt, âm thanh, tiếng nói, tiếng cười, người và cảnh y
như lời kể.
Đến đoạn tiệc cưới, Ngài nghe mà lại không thấy. (Đoạn nầy Đức Chí
Tôn cho nghe mà không cho thấy, Ngài nghe tiếng nói trong đám ăn nhậu
phát biểu câu nói giễu mà đã gây ra cái chết của người con gái, rồi 2 mạng
tiếp theo. Ngài phán lỗi là do đám người này. Bọn họ là ai? Ngài không thấy,
làm sao xử được. Đức Chí Tôn biết trước nên không cho thấy, nếu Đức Chí
Tôn cho Ngài thấy thì dứt khoát Ngài đã xử bọn họ rồi còn gì). Không xử
mấy người kia, Ngài liền tính việc xử 3 oan hồn này cho nhanh chóng. Ngài
phán:
- Ông Tú Cẩm: Ông là một vị quan liêm chánh, đáng khen, nếu ông có ý
ham sắc, có ý tà dâm là đã ở với cô gái ấy sau khi vợ mất; ông đứng đắn, đàng
hoàng. Do đó được cô gái ấy coi trong và kính như cha vậy. Ông vô tội, cho
đi đầu kiếp.
- Người con gái: Cô kia! Cô thật thà, chơn chất, ngây thơ, vô tư, trong
sạch, lại biết hổ ngươi khi bị thị nhục, tự vận để bảo toàn danh tiết cũng đáng
khen. Cho đi đầu kiếp.
- Người con trai: Cậu kia! Cậu chẳng biết gì, lại chẳng liên can gì. Lại vì
một tình với vợ, một nghĩa với cha mà quyên sinh tỏ tường khí tiết, cũng đáng
khen. Cho đi đầu kiếp.
Thế là 3 oan hồn được Đức Ngài hành pháp giải oan nghiệt và cho đi tái
kiếp trở lại. Bản án kết thúc.
Kể từ đó, khu đất ấy được anh em Phạm Môn dọn dẹp, dọn luôn 3 cái
gò, tạo dựng nhà thờ Phạm phủ đầu tiên.
Sự quấy phá không còn, Cẩm giang ngày sau là giang san cẩm tú như tên
gọi Cẩm Giang ngày nay.
(Theo lời kể của nhiều người lớn tuổi là tín đồ Đạo Cao Đài)
ÔNG THẦN HAI Ở ĐÌNH LONG THÀNH
Tương truyền ông thần này lúc sanh tiền được dân chúng gọi là Ông Hai
Giáo Văn. Ông là tín đồ và là một chức sắc của Đạo Cao Đài, ông đã lập được
công lớn cho Đạo, sau khi ông đăng tiên được thờ phụng trong chùa Tòa Thánh43. Được biết, thời gian trước, ông Hai đạp đồng về qua bà út Hạnh ở
gần Đình, chỉ dẫn việc tu bổ lại Lăng mộ Đức Đại Thần Trần Văn Thiện, sau
đó là Đình Long Thành. Tất cả mọi người đều nghe theo, xây dựng công quả,
người góp công, người góp của nhờ sự kêu gọi của ông Hai Giáo Văn. Đức
tin mãnh liệt đã mang lại sự khang trang cho Lăng mộ của Đức Đại Thần như
bây giờ, cũng như Đình Long Thành. Dân chúng nhớ ơn, đồng lập bàn thờ
ông Hai Giáo Văn trong Đình, và gọi ông là Ông Thần Hai.
(Theo lời kể của ông Ba – ông Từ giữ Lăng mộ Đức Đại Thần Trần Văn
Thiện) 43 Chùa Tòa Thánh: Trung tâm tín ngưỡng của tín đồ Đạo Cao Đài, tọa lạc tại tỉnh Tây Ninh.
ÔNG TRUNG44 - CHƯỞNG QUẢN PHƯỚC THIỆN - ĐI CHƠI Ở
NÚI BÀ ĐEN
Ông Trung về Tòa Thánh ở một thời gian, một hôm nọ tình cờ gặp lại
người bạn cùng học chung lớp hồi nhỏ. Khi lớn lên người bạn ấy dạy học,
không hiểu chán ngán thế tình thế nào mà từ bỏ làng quê, đem mình vào cửa
Phật, quy y Tam Bảo với các nhà sư trên núi Điện Bà để mong cầu giải thoát.
Mỗi một tuần lễ, xuống núi một lần để đi chợ Tây Ninh mua lương thực.
Nhân buổi đi chợ mà hai người bạn cố tri gặp nhau, cả hai cùng tâm sự cùng
cảm hoài một nỗi lòng của một khách tha phương vì Đạo pháp. Ông bạn có ý
mời ông Trung lên chỗ ông chơi. Ông Trung nhận lời nhưng hẹn kỳ sau, vì
ông còn đang bận việc.
Ngày hẹn đã đến, ông Trung vào gặp Đức Hộ Pháp xin nghỉ vài hôm để
đi cùng bạn lên núi. Đức Ngài chấp thuận ông theo bạn cùng đi lên núi.
Trải qua một chặng đường vất vả, qua đồng qua rẫy, vượt suối băng
rừng, rồi phải leo núi một đoạn mới đến nơi mà bạn ông đang ngụ.
Trước khi bước vào hang, ông Trung gặp một con cọp bạch. Ông ngừng
lại hoảng kinh, còn người bạn thì không tỏ ra sợ hãi mà còn ra lịnh: ‘Hôm nay
có khách. Thôi! Đi chơi đi!”
Lạ thay, nó biết nghe tiếng người nên ngoan ngoãn vâng lời đứng lên đi
mất. Hang đá nhỏ hẹp, dài, sâu. Từ ngoài vào trong chỉ vừa đủ cho hai người.
Bấy giờ ông Trung nhìn quanh, không có một điều gì làm ông cảm phục bằng
sự trống trơn của cái hang, ngoài vài dụng cụ cần thiết đơn giản cho cuộc
sống. Tấm lòng quả cảm của bạn giữa núi rừng hoang vắng, một mình một
bóng, gần gũi với thiên nhiên lánh xa cái ồn ào của thị tứ, người bạn cũng có
lẽ muốn quên đời, quên cái xã hội phiền toái, trói buộc, nhưng vì còn ăn còn
mặc nên mỗi tuần phải xuống núi đi chợ. 44 Ông Lê Văn Trung quê ở Phú Mỹ (Tiền Giang), sau là Chưởng quản Phước Thiện kể chuyện có một lần đi chơi núi Bà vô cùng lý thú, có một không hai (chuyện xảy ra 1930 – 1940).
Sau khi cơm nước xong, hoàng hôn cũng vừa phủ xuống. Hai người nối
tiếp bình trà tâm sự, mọi sự chân thành, tình cảm, chí hướng, khỷ niêm quá
khứ, dự định tương lai, ước mơ,… hai ông tâm đắc đổi trao.
Đêm về khuya, ánh trăng vằng vặc sáng trong, lúc này bạn ông dẫn ông
đi dạo để biết xung quanh. Vừa đi vừa nói chuyện nước nhà, đạo sự. Trên lối
đi, khi quanh khi quẹo, khi xuống khi lên, cuối cùng đến một khoảng rộng đầy
ánh sáng trăng, có một cái ao lớn đầy sen, lá sen to đến nỗi có thể che đầu cho
một người lúc trời mưa mà không bị ướt. Còn hoa sen thì nhiều, lớn hơn
những hoa sen mà ông thường gặp. Mùi thơm phảng phát, cảnh trí rất thơ
mộng. Đứng trên phiến đá cao nhìn xuống ao sen, người bạn chỉ tay nói: “Đây
là một sao sen độc nhất của núi Bà, ai có duyên phần mới đến được. Cũng có
khi khách qua đường đến tắm hoặc uống hoặc hái bông, song rồi lại bỏ đi và
không bao giờ nhớ đường mà trở lại lần hai”.
Ngắm lâu cũng mãn nguyện hai người trở lại hang. Về đến hang, ông
bạn của ông Trung bảo ông ngủ trước đi, còn ông ra ngoài có chút việc. Nói
xong ông bạn vội bước đi.
Còn lại một mình, vừa muốn ngủ vừa sợ con cọp hồi sáng. Vả lại, hang
núi trống trơn, ông Trung hồi hộp, suy nghĩ lung tung, nhưng sau đó ngủ thiếp
đi lúc nào không biết vì quá mệt mỏi. Đến khi giựt mình tỉnh giấc, ông thấy
mình nằm với tư thế quay đầu vô trong, hai chân để ngoài. Sợ con cọp quặp
đôi chân nên ông co rúm lại như con tôm rồi ngủ tiếp.
Đêm sau, người bạn có dịp đi qua chùa lớn, không dẫn ông theo. Còn lại
một mình, ông cũng buồn, rồi ra ngoài hang, bước len lỏi theo đường mòn cố
tìm ao sen để thưởng ngoạn. Nhưng quanh quẩn mãi cũng vô ích vì ao sen
đâu chẳng thấy, còn cái điểm đứng hôm qua cũng không gặp, ông đành quay
về. Sáng lại, ông thuật chuyện hồi hôm, người bạn chỉ cười không nói.
Rồi cũng phải chia tay, ngày mai là sẽ rời khỏi nơi nay, tình bạn quyến
luyến vô cùng. Sáng hôm đó, người bạn và ông Trung dùng cơm xong rồi mới
đi xuống núi.
Ông Trung thì có vẻ mệt, còn người bạn thì coi khỏe lắm, đi nhanh
thoáng lạ có lẽ vì đã quen.
Về Tòa Thánh, Ông Trung đem tất cả sanh hoạt của mình trên núi kể cho
Đức Hộ Pháp nghe, nhất là con cọp và cái ao sen không sao quên được.
(Theo lời kể của nhiều người lớn tuổi là tín đồ Đạo Cao Đài)
THẦN ĐÌNH LONG CHỮ
Hồi xưa, Pháp có đợt cử chức Cai Tổng, có một ông cũng lớn tuổi rồi vái
ông Huỳnh Công Thắng ở Đền thờ Cẩm Giang cho ông đậu được chức, ông
sẽ đền ơn. Sau đó, quả nhiên ông đậu, ông hiến đất xây Đình Long Chữ thờ
ông Huỳnh Công Thắng. Vào ngày 15 tháng 2 âm lịch không rõ năm nào,
đoàn người mặc áo dài khăn đóng, trống, kèn, nhạc lễ đi trước, kiệu khiêng đi
sau, dân chúng đi xếp hàng dài theo con đường đất đến trước mặt sông. Các
cụ áo dài khăn đóng chỉnh tề mới xếp đặt nhang đèn, khấn vái, xin keo thỉnh ý
Ông, được sự cho phép của Ông, cả đoàn người cúi lạy, ngồi ghe qua sông,
dồn dập trống kèn đi Cẩm Giang, chỗ đền thờ Ông, rước linh vị ông về thờ ở
Đình cho đến ngày nay.
Từ đó, mọi người, đặc biệt là các bậc kỳ lão trong xóm mới chọn ngày
15 tháng 2 âm lịch là ngày lễ cúng kỳ yên ở Đình. Trước cúng mặn, nay có
Đạo Cao Đài tham dự nên có cúng chay kèm theo cúng mặn.
(Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Út, nhà ở hẻm 251, Tỉnh l65 786, ấp
Long Giao, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh).
SỰ TÍCH ÔNG ĐÁ NỨT HAI TRÊN NÚI ĐIỆN BÀ
Ngày xưa, khách hành hương lên núi Điện Bà, muốn viếng chùa Hang,
phải đi vòng xuống suối rất cực nhọc khó khăn. Sở dĩ phải đi vòng như vậy là
vì giữa đường đi, bị một ông Đá to chặn lấp.
Lúc bấy giờ, Vị Tổ thứ ba của Linh Sơn Tự là Tánh Thiền lấy làm xốn
xang trước cảnh bá tánh phải vất vả đi vòng quanh như vậy. Tổ muốn rút
ngắn đường đi cho khách thập phương đến viếng chùa Hang, nhưng chẳng
biết làm cách nào.
Tổ chỉ còn cách mong chờ nơi quyền linh của chư Phật Thánh Tiên, Tổ
thành tâm cầu nguyện; mỗi đêm Tổ đến nơi Ông Đá tụng kinh Kim cang, và
khấn vái cầu xin ơn Trên hoặc dời Ông Đá đi nơi khác, hoặc xin Ông Đá nứt
ra để có lối đi cho bá tánh.
Tổ tụng kinh cầu nguyện đúng 100 ngày và vào ngày chót, một hiện
tượng lạ xảy ra là Ông Đá nứt đôi ra và hai bên đá dang ra chừa một lối đi bề
ngang lối 1m50.
Từ đó, nhân dân lên núi có lối đi qua chùa Hang một cách dễ dàng.
(Theo Huỳnh Minh – Tây Ninh xưa và nay)
SỰ TÍCH VIỆC THÀNH LẬP ĐIỆN BÀ
“Phật Bà đã hiển thánh, nhưng việc thành lập Điện Bà làm nơi hương
khói thờ phụng bà không phải dân dựng lên ngay, mãi về sau điện mới được
dựng lên do tu sĩ Đạo Trung.
Vào cuối thời kỳ Tây Ninh còn thuộc đất Miên, có một vị tu sĩ tên là Đạo
Trung đến ẩn trú trên núi Bà và sinh sống bằng cách khai khẩn một khoảng
đất tại nơi đây. Tu sĩ cô đơn sống 31 năm một mình nơi núi rừng, sớm chiều
lo tụng kinh niệm Phật. Cho đến một ngày kia, bỗng nhiên tu sĩ trông thấy
Phật Bà hiển diện trên núi. Và ít lâu sau, tại một dòng suối, tu sĩ tìm được
chân dung bằng đá của Phật Bà, tu sĩ liền thỉnh về núi lập động để thờ phụng.
Điện Bà có từ đó.
Điện Bà lập nên, khách thập phương tấp nập về chiêm bái nhất là trong
tháng đầu xuân.
(Theo Toan Ánh - Nếp cũ hội hè đình đám)
2. Truyện dân gian Khmer
Truyện cổ tích
SỰ TÍCH MIẾNG VẢI TRẮNG
Ngày xưa, có hai chị em sống chung với nhau. Người chị dặn người em
vải trắng để dành tẩm liệm chị khi chết đừng xài. Mấy năm sau, người chị
cũng chết. Trước khi chết dặn em đừng chôn, hãy khiêng chị bỏ trong rừng
cho cọp ăn (làm phước).
Một vị Phật biến ra trong rừng, lấy vải trắng mà người em đã quấn cho
chị. Phật kéo vải trắng ra khỏi người chị, người chị lăn lăn ra đến lúc miếng
vải trắng không còn quấn nữa. Phật lấy vải trắng đến một bàu nước giặt sạch,
rồi đem đi phơi khô. Phật đến ngồi ở một gốc cây, trong lúc đợi miếng vải
khô, Phật ngồi nhắm mắt niệm. Trong lúc đó, Ơn trên ngó xuống thấy miếng
vải vị Phật giặt không sạch, nên Ơn trên xuống đổi miếng vải trắng khác. Ơn
trên xếp miếng vải trắng đó để lên một cái đĩa có chân/ mâm ngũ quả (dùng
để chưng cúng). Vị Phật sau một lúc bước ra, lấy miếng vải bỏ vào túi đeo bên mình, đi về chùa. Cũng từ đó, gần Tết Chol Chnam Thmay45, người dân
Khơ me đem miếng vải trắng ra mồ mã, để lại đó, các vị sư ở chùa sẽ ra lấy
về, để cầu siêu cho người đã chết. Ngày nay, tập tục kéo vải trắng lần lần vẫn
còn tồn tại. Ngày Tết, Sư vừa đọc kinh, vừa kéo miếng vải trắng để cầu siêu
cho người đã chết.
(Theo lời kể của ông Cao Văn Chiên, nhà số 10, tổ II, ấp Thạnh Đông,
xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh).
SỰ TÍCH NÚI CÁT
Ngày xưa, ở một phum sóc nọ, có một ông già nghèo khổ, không có
nghề nào để làm ăn, ngày nào cũng xách cái ná đi bắn chim trong rừng, kiếm
tiền mua lúa ăn.
Một ngày nọ, có một vị sư trong chùa đi theo ông già vào rừng. Ông già
bèn hỏi ông sư: Ông theo tui chi? Tui nghèo khổ chỉ đi bắn chim để sống ông
45 Tết cổ truyền của người Khmer vào đầu tháng Chét của lịch Phật giáo Khmer (ngày 14. 15, 16 tháng 4 dương lịch hàng năm).
theo tui chi?
Ông già đi hoài mà vẫn không thấy con chim nào để bắn. Ông sư thì cứ
làm thinh đi theo đến ba, bốn cánh rừng. Ông già bèn nghĩ: Chắc là ông sư
theo chỉ vì gói cơm. Ông già nói với ông sư: Vợ tui chỉ làm cho tui một nắm
cơm, tui không cho đâu, ông đừng có đi theo. Nhưng ông Sư cứ đi theo hoài,
ông mới tức quăng nắm cơm (cục cơm) vào mặt ông sư. May sao mà ông sư
lấy cái bát hứng được cục cơm. Ông sư không đi theo ông già nữa. Cục cơm
đó ông sư đem về cứu sống 500 sư sãi trên núi.
Đến một ngày, ông già lớn tuổi cỡ 80 tuổi chết đi. Ông xuống địa ngục,
Diêm vương phạt tội ông vì lúc còn sông săn bắn quá nhiều chim. Diêm
vương cho người quăng ông già vô thùng nước sôi nhưng quăng mấy lần đều
không vô. Lần thì chưa tới thùng nước sôi, lần thì trượt qua thùng nước sôi.
Diêm vương mới hỏi ông già: Tại sao ta quăng ông vô thùng nước sôi
mà ông tránh được? lúc ông còn sống có làm điều phước gì không?
- Tui từ nhỏ tới lớn không làm điều gì phước hết, tui chỉ đi săn bắn
không à!
Diêm vương hỏi tiếp: Ông nhớ lại xem ông có làm điều phước gì không?
Ông già vẫn khăng khăng là không có. Đến lần thứ 3, Ông mới nhớ ra:
- Có một lần tui đi săn bắn, ông sư đi theo, tui không săn bắn được, nghĩ
là do ông sư phá, nên tui quăng cục cơm cho ông sư.
Diêm vương nghe xong rồi nói: cục cơm đó đã giúp Ông làm một điều
phước rất quý!
- Cục cơm vậy mà phước lớn lắm hả?
Ông lão ngạc nhiên hỏi.
Diêm vương: Ông làm phước được vậy, ta sẽ cho ông lên dương gian 7
ngày với vợ, sau đó phải quay xuống địa ngục, để ta rửa tội cho ông đầu thai
kiếp khác.
Đúng 7 ngày, Diêm vương lên bắt ông già. Bà vợ kêu ông già lại gần,
sau đó bà đem 1 ly cát đưa cho Diêm vương.
- Ông đếm hết những hột cát trong ly này không? Nếu ông đếm hết tui sẽ
cho chồng tui về chịu tội, còn nếu ông không đếm hết hãy cho chồng tui ở lại.
Diêm vương nhận lời nhưng cuối cùng Diêm vương không đếm được hết
số cát trong ly, đành phải quay về, cho ông già tiếp tục được sống ở dương
gian.
Từ đó, người Khơ me có tục đắp núi cát để xóa tội cho người sống và cả
người đã chết.
(Theo lời kể của ông Cao Văn Chiên, nhà số 10, tổ II, ấp Thạnh Đông,
xã Thạnh Tân, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh).

