intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:114

1
198
lượt xem
68
download

LUẬN VĂN: Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập ngày 26/4/1957, là một trong những ngân hàng lớn nhất ở Việt Nam hiện nay. Trước năm 2000, ngân hàng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn, các Tổng công ty lớn của Nhà nước, nên thường được biết đến như là một ngân hàng của Chính phủ. Đến nay, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, ngân hàng đă có những định hướng mới trong chiến lược hoạt động, trong đó có hoạt động tín dụng. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập ngày 26/4/1957, là một trong những ngân hàng lớn nhất ở Việt Nam hiện nay. Trước năm 2000, ngân hàng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn, các Tổng công ty lớn của Nhà nước, nên thường được biết đến như là một ngân hàng của Chính phủ. Đến nay, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, ngân hàng đă có những định hướng mới trong chiến lược hoạt động, trong đó có hoạt động tín dụng. Giai đoạn 2001-2005, cơ cấu tín dụng được chuyển đổi một cách căn bản từ hoạt động chính sách (cho vay theo kế hoạch Nhà nước) là chủ yếu sang cho vay thương mại. Một trong những mục tiêu BIDV đặt ra là đạt được sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu khách hàng. Từ năm 2005, BIDV đă xác định mục tiêu ưu tiên phát triển tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Đây là một bước chuyển biến phù hợp với điều kiện trong lĩnh vực tín dụng xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng cùng tham gia cạnh tranh và DNNVV đang trở thành đối tượng khách hàng nhiều tiềm năng. Ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, DNNVV đang ngày càng khẳng định vai tṛ đối với nền kinh tế. Theo thống kê, DNNVV chiếm tới 95% trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lao động, chiếm 17,26% tổng nộp ngân sách nhà nước. Điều quan trọng là DNNVV có vai tṛ to lớn trong mối quan hệ gắn kết với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng đất nước. Những năm gần đây, chúng ta đã bắt đầu nhận thức và quan tâm đến tầm quan trọng của DNNVV, thể hiện trong các chủ tr ương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta như: Hiến pháp 1992, Luật doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2000) đă chính thức thức thừa nhận và tạo điều kiện b́ nh đẳng về pháp lý cho hoạt động của DNNVV; Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; Chỉ thị 40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của Thủ tướng
  3. Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quyết định 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV 2005-2010. Chính phủ cũng không ngừng có những bước tiến tích cực trong việc tiếp thu những kinh nghiệm quý bỏu từ cỏc nước có DNNVV hoạt động hiêu quả, thông qua các cuộc hội thảo trong và ngoài nước, và khuyến khích các dự án phát triển DNNVV ở nước ta. Ngày 29/11/2000, tại Hà nội, Ngân hàng thế giới (WB) đă công bố bản báo cáo: “Việt Nam tiến vào thế kỷ 21” với đề xuất đưa ra 6 trụ cột của chiến lược phát triển nền kinh tế Việt nam và trụ cột đầu tiên là: “Tạo dựng môi trường giúp đỡ các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV”. Mặc dù vậy, với đặc thù và nhiều bất lợi, DNNVV chịu nhiều tác động tiêu cực khi nền kinh tế có những biến động lớn. Trong những năm gần đây, khi Việt Nam đă tham gia hội nhập quốc tế, các DNNVV Việt Nam vẫn đang gặp phải rất nhiều thách thức, trong đó khó khăn lớn nhất là thiếu vốn. Kênh huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp là các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, phần lớn tín dụng tập trung vào các doanh nghiệp lớn, v́ vậy các DNNVV phải huy động vốn từ các nguồn không chính thức như: vốn tiết kiệm của chủ doanh nghiệp, vốn vay cá nhân thông qua các mối quan hệ thân tín, vay vốn của nhau với lăi suất cao hơn 3 - 6 lần so với lăi suất ngân hàng. Ngoài ra, tuy lăi suất vay ngân hàng thấp nhưng các thủ tục vay rất phức tạp với những quy định khắt khe về tài sản thế chấp và xem xét tín khả thi của dự án khiến cho DNNVV càng khó tiếp cận nguồn vốn vay và dễ lâm vào tnh trạng thiếu vốn trầm trọng. ́ Sự chuyển dịch cơ cấu khách hàng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trong đó có việc tập trung nhiều hơn vào các DNNVV xuất phát từ sự nhận thức rơ vai tṛ, tiềm năng và điều kiện khó khăn về vốn của các doanh nghiệp này. Đồng thời, trong điều kiện phát triển của DNNVV Việt Nam hiện nay, BIDV cũng nhận thấy nhiều lợi ích thiết thực từ việc phát triển tín dụng đối với DNNVV. Tuy Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mở rộng quan hệ tín dụng với đối tượng khách hàng này chậm hơn nhiều ngân hàng thương mại khác nhưng với tiềm năng và uy tín của ḿnh, BIDV có nhiều cơ hội thành công nếu có những phương hướng, giải pháp đúng đắn.
  4. V vậy, tác giả luận văn lựa chọn vấn đề “Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và ́ vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn từ việc tổng kết lý luận và phân tích thực trạng chuyển biến hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để t́m ra những giải pháp mang lại lợi ích thiết thực cho cả ngân hàng và DNNVV. 2. Tnh h́ nh nghiên cứu ́ Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu và t́m ra giải pháp phát triển DNNVV ở nước ta, đặc biệt là giải pháp tăng cường hỗ trợ TDNH, đến nay đă có nhiều công tŕnh nghiên cứu dưới những góc độ và quy mô khác nhau như: công tŕnh của GS. TS Nguyễn Đnh Hương - “Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam ”, ́ Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; công tŕnh nghiên cứu “Chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV ở Việt Nam” và “Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV ở Việt Nam đến năm 2005”do PGS, PTS Nguyễn Cúc chủ tŕ; công tŕnh của hai tác giả Vũ Quốc Tuấn và Hoàng Thu Hoà - “Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt Nam”, Nxb thống kê, 2001; Luận án Tiến sĩ kinh tế “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá tŕnh hội nhập quốc tế”, do tiến sĩ Phạm Văn Hồng thực hiện năm 2007. Ngoài ra, đă có nhiều dự án liên quan như: dự án của Uỷ ban tài trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ về “Dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh đối sự phát triển của các DNNVV”, 1997; Dự án USNIE/95/004 về “Hoàn thiện chính sách vĩ mô phát triển DNNVV”; Bản “Nghiên cứu xúc tiến DN công nghiệp vừa và nhỏ” của Viện nghiên cứu Nomura, tháng 10/1999. Đối với hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, đă có luận án Tiến sĩ kinh tế của TS. Trần Văn Hiệu - “Xây dựng nền khách hàng bền vững tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” (2008) và một số luận văn thạc sỹ khác nghiên cứu ở góc độ nghiệp vụ ngân hàng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công tŕnh nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị về hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại BIDV v́ hoạt động này chỉ được triển khai mạnh mẽ tại ngân hàng từ năm 2005 đến nay. V vậy việc ́ tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm nhằm phát triển tín dụng đối với DNNVV cho tương xứng với tiềm năng của BIDV là cần thiết.
  5. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Góp phần làm rơ cơ sở lý luận và thực tiễn về phỏt triển tớn dụng ngõn hàng núi chung và của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nói riêng đối với các DNNVV. Từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đối với nhóm doanh nghiệp này. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Làm rơ sự cần thiết phát triển TDNH đối với DNNVV ở nước ta phù hợp với những đặc thù của doanh nghiệp. Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng t́nh h́ nh tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV nước ta từ khi có Luật doanh nghiệp năm 2000 đến nay, tm hiểu cụ thể hoạt động tín dụng của BIDV đối với DNNVV. Trên cơ sở đó luận văn ́ đưa ra một số giải pháp phát triển tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu khái quát t́nh h́ nh phát triển và tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV có đăng ký kinh doanh ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, từ đó tập trung t́m hiểu hoạt động tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đối với DNNVV giai đoạn 2005 - 2009. 5. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, khoá luận đă sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hoá khoa học; phương pháp phân tích, tổng hợp. 6. Đóng góp của luận văn Về lý luận, luận văn hệ thống hoá những nội dung cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV, gắn liền với những đặc thù của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, đồng thời làm rơ sự cần thiết phát triển tín dụng ngân hàng đối với DNNVV nước ta. Về thực tiễn, luận văn khái quát t́nh h́ nh phát triển và tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV Việt Nam, từ đó đi sâu nghiên cứu sự phát triển tín dụng đối với DNNVV tại Ngân
  6. hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - một trong những trường hợp điển h́ nh của ngân hàng thương mại quốc doanh đang trong quá tŕnh hướng tới nhóm khách hàng DNNVV, t́m ra những bất cập và đề xuất giải pháp khắc phục. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
  7. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1. SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM 1.1.1. Khái niệm, h́nh thức của tín dụng ngân hàng 1.1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu [7]. Theo quan điểm này, phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới h́ nh thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá tŕnh đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau: Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới h́ nh thức cho vay. Ở giai đoạn này, giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị. Thứ hai, sử dụng vốn trong quá tŕnh tái sản xuất. Người đi vay sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa măn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của ḿnh. Tuy nhiên, người đi vay chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu về giá trị đó. Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một ṿng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đă hoàn thành một chu ḱ sản xuất để trở về h́ nh thái tiền tệ th́ vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay. Có nhiều h́ nh thức tín dụng như: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế…Trong đó, tín dụng ngân hàng là h́nh thức phổ biến và có vai tṛ quan trọng trong nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng giữ vị trí
  8. chủ chốt trong hoạt động của mỗi ngân hàng. “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”[15]. Như vậy, tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng một bên là khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển tiền hay tài sản cho khách hàng với những thoả thuận hoàn trả cả gốc và lăi trong một thời gian nhất định. Tín dụng ngân hàng bao gồm các hoạt động chính là: cho vay, bảo lănh, cho thuê tài chính. Tín dụng ngân hàng khác với các loại h́ nh tín dụng khác là ngân hàng cho khách hàng vay từ nguồn vốn nhận gửi từ dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức khác…và hưởng lợi từ chênh lệch lăi suất cho vay và lăi suất tiền gửi. Tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. V vậy tín dụng ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản. ́ 1.1.1.2. Hnh thức tín dụng ngân hàng ́ Căn cứ thời hạn tín dụng có thể phân chia thành các loại tín dụng sau: Một là, cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động Hai là, cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. Ba là, cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, loại cho vay này thường nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án lớn. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có các loại tín dụng sau: Thứ nhất, cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lănh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Thứ hai, cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lănh của một bên thứ ba khác. Dựa vào phương thức vay, tín dụng có thể chia thành hai loại là: cho vay theo món vay và cho vay theo hạn mức tín dụng. Căn cứ vào phương thức hoàn trả vốn vay, có các loại tín dụng sau:
  9. Một là, cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay c ̣n gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. Hai là, cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay c ̣n gọi là cho vay trả góp Ba là, Cho vay trả nợ nhiều lần phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay. Việc lựa chọn h́ nh thức vay phụ thuộc vào điều kiện sản xuất kinh doanh của khách hàng và mức độ đáp ứng yêu cầu quy định của ngân hàng đặt ra. 1.1.2. Vai tṛ và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 1.1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Các quốc gia sử dụng tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện nay có hai nhóm tiêu chí phổ biến là: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của các DNNVV như: tŕnh độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ớt…Tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế, do đó ít được sử dụng. Tiêu chí định lượng gồm các tiêu thức như: số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Ở các nước, những tiêu chí này rất đa dạng, trong 12 nước và khu vực thuộc APEC, tiêu chí số lao động được sử dụng phổ biến nhất (11/12 nước sử dụng, chiếm 91,67%). Các tiêu chí khác tuỳ theo điều kiện từng nước: vốn đầu tư (3/12 nước sử dụng, chiếm 25%), tổng giá trị tài sản (4/12 nước sử dụng, chiếm 33,33%, doanh thu (4/12 nước sử dụng, chiếm 33,33%), tỷ lệ vốn góp (1/12 nước sử dụng, chiếm 8,33%). Số lượng tiêu chí chỉ có từ một đến hai và cao nhất là ba tiêu chí phân loại. Việt Nam phân loại DNNVV theo tiêu chí phổ biến nhất là số lao động thường xuyên và vốn sản xuất. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 quy định: “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đă đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung b́ nh hàng năm không quá 300 người”. Theo tiêu chí này th́ hầu hết doanh nghiệp của nước ta đều là DNNVV, đối tượng DNNVV được đề cập tới bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xă, doanh nghiệp nhà nước, hoặc hộ kinh doanh cá thể thoả măn các tiêu chí của Nghị định 90.
  10. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có tiêu chí xác định DNNVV để đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành như sau: Đối với doanh nghiệp đủ điều kiện xếp hạng trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV ở mức quy mô vừa (điểm quy mô từ 12 đến 21 điểm) và quy mô nhỏ (điểm quy mô dưới 12 điểm). Đối với doanh nghiệp không đủ điều kiện xếp hạng trên Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV: DNNVV được xác định theo các tiêu chí pháp luật quy định (hiện nay theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ). 1.1.2.2. Vai tṛ của doanh nghiệp nhỏ và vừa Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn - vốn khởi đầu từ những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ. Trong quá tŕnh phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá tŕnh cạnh tranh gay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đă tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay. Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, các DNNVV vẫn giữ một vị trí quan trọng. Sau mỗi thời kỳ suy thoái kinh tế, khu vực DNNVV luôn trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, ổn định kinh tế, pḥng ngừa nguy cơ khủng hoảng. Đặc biệt, khi cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đă tạo điều kiện cho các DNNVV nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản phẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn. Mặc khác, xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay, các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ. Trong điều kiện này, lợi thế của các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút. Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đă làm phát triển mô h́ nh sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNNVV là vệ tinh của doanh nghiệp lớn. Ở Việt Nam, vai tṛ của các DNNVV đối với sự phát triển kinh tế - xă hội thể hiện như sau: Thứ nhất, DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng và tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
  11. Hiện nước ta có trên 350.000 doanh nghiệp, trong đó DNNVV chiếm 95% với tổng số vốn khoảng 85 tỷ USD, hàng năm đóng góp hơn 40% GDP, sử dụng trên 90% lao động có việc làm thường xuyên, tạo thêm 50% việc làm mới - số liệu thực tế này đă cho thấy sự đóng góp của DNNVV đối với nền kinh tế. Với yêu cầu về vốn đăng ký thành lập khụng lớn nờn DNNVV thành lập dễ dàng, chiếm tỷ lệ ỏp đảo trong tổng số doanh nghiệp, tuy mỗi DNNVV không sử dụng số lượng lớn lao động nhưng với một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nên bộ phận doanh nghiệp này mỗi năm đă giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động xă hội. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, vai tṛ của DNNVV xét trên góc độ giải quyết việc làm càng thể hiện rơ nét do các doanh nghiệp lớn phải cắt giảm lao động nhằm giảm chi phí sản xuất ứng phó với điều kiện thị trường bị thu hẹp. Ngược lại, các DNNVV với đặc tính linh hoạt, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên vẫn có thể duy tŕ hoạt động, v́ vậy, Hội đồng doanh nghiệp thế giới khẳng định: “DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái”. Hiện nay, mặc dù kinh tế thế giới đang trên đà suy thoái, các DNNVV Việt Nam vẫn khá lạc quan về tăng trưởng kinh tế, kế hoạch đầu tư vốn, kế hoạch tuyển dụng và phát triển thương mại quốc tế. Khảo sát gần đây cho thấy phần lớn các DNNVV sẽ duy tŕ nhân sự hiện tại, trong đó 55% sẽ giữ nguyên nhân sự và 45% sẽ tăng thêm nhân sự. Thứ hai, DNNVV là trụ cột kinh tế của địa bàn tại chỗ. Nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế lớn th́ DNNVV có mặt ở khắp các địa phương, tận dụng được cơ hội khai thác tiềm năng và thế mạnh vốn có của từng địa bàn nơi đóng trụ sở sản xuất kinh doanh. Sự tồn tại và hoạt động của DNNVV đă góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi, cân đối ở các vùng, miền, giải quyết được vấn đề an sinh xă hội của địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Đặc biệt là đối với các làng nghề truyền thống, các DNNVV hoạt động sẽ mở rộng quy mô sản xuất, duy tŕ và nâng cao chất lượng sản phẩm truyền thống, tập hợp và đào tạo lực lượng lao động tay nghề giỏi, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá tŕnh khôi phục và phát triển làng nghề theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Thứ ba, DNNVV có khả năng thu hút, tận dụng các nguồn lực xă hội một cách có hiệu quả.
  12. Đối với nguồn lực vốn: Vốn là yếu tố có vai tṛ tiên quyết trong hoạt động của các DNNVV. Để khởi sự và duy tŕ, phát triển sản xuất kinh doanh, các DNNVV không chỉ vay vốn từ ngân hàng mà c ̣n huy động vốn trong dân cư thông qua các mối quan hệ cá nhân của doanh nghiệp. Vốn cho một DNNVV tuy không nhiều nhưng thường xuyên và số lượng DNNVV rất lớn, v́ vậy, thông qua hoạt động của DNNVV, một lượng lớn tiền nhàn rỗi đă được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo nên ṿng chu chuyển vốn sinh lời có ích cho bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế. Đối với nguồn lực lao động: Phần lớn các DNNVV hoạt động trong các ngành nghề thu hút được nhiều lao động như: thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biế n nông sản, thủ công mỹ nghệ, xây dựng…Yêu cầu về tŕnh độ lao động không cao, do đó tận dụng được nguồn lao động thủ công với chi phí thấp. Mặt khác, trong quá tŕnh sử dụng, DNNVV đồng thời đào tạo, nâng cao tŕnh độ tay nghề cho người lao động. Về kỹ thuật và nguồn nguyên vật liệu: Phần lớn DNNVV có kỹ thuật sản xuất bán thủ công, thiết bị chủ yếu được sản xuất trong nước phù hợp với điều kiện tŕnh độ lao động phổ thông đang chiếm số lượng lớn ở nước ta. DNNVV phân bố ở hầu hết các địa phương nên có khả năng khai thác được nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm bớt chi phí và thời gian vận chuyển. Thứ tư, DNNVV tạo sự linh hoạt, năng động và có khả năng ổn định nền kinh tế. Về lý thuyết, DNNVV dễ điều chỉnh hoạt động của ḿnh để đáp ứng đa dạng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ. Mặt khác, ở phần lớn các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ, gia công, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ, gia công tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định cần thiết, v́ vậy, DNNVV được ví là thanh giảm sóc cho nền kinh tế. Sự cạnh tranh không ngừng của các DNNVV là tất yếu, từ đó thanh lọc được các doanh nghiệp yếu kém, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm cung ứng cho thị trường, hạn chế khả năng lũng đoạn thị trường của các doạnh nghiệp lớn.
  13. Thứ năm, DNNVV có vai tṛ quan trọng trong lĩnh vực phân phối lưu thông, góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn hàng xuất khẩu. Trong quá tŕnh tái sản xuất xă hội, hàng hoá từ khâu sản xuất đến tiêu dùng phải qua khâu trung gian đó là khâu lưu thông. Các doanh nghiệp lớn không thể tổ chức riêng một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá của ḿnh mà phải thông qua các DNNVV do lợi thế của nhóm doanh nghiệp này rất thích hợp với lĩnh vực kinh doanh thương mại và thực hiện các dịch vụ bán lẻ. Ở Việt Nam, hiện DNNVV chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá. Trong điều kiện mở cửa hội nhập, hợp tác phát triển kinh tế giữa các quốc gia là một tất yếu th́ việc khai thác lợi thế so sánh, xuất khẩu các sản phẩm truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc trở nên quan trọng và mang tính mục tiêu. Với đặc điểm phân bố rộng khắp các địa phương, DNNVV có thế mạnh trong việc sản xuất những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, khai thác và chế biến thuỷ hải sản, nông sản, may mặc…nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Công cuộc đổi mới từ năm 1990 trở lại đây làm cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, ổn định, đẩy lùi lạm phát, tăng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Quá tŕnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng mở rộng và phát triển. Với những lợi ích to lớn đó, việc khuyến khích, hỗ trợ, phát triển các DNNVV là một giải pháp quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xă hội đến năm 2010, đặc biệt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. 1.1.2.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam Những đặc điểm thuộc về thế mạnh của DNNVV Một là, DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu quả. Số vốn đăng ký ban đầu của DNNVV không quá 10 tỷ đồng và chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ quay ṿng vốn để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.
  14. Hai là, DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nước. Các DNNVV hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông - lâm - ngư nghiệp…và hoạt động dưới nhiều h́ nh thức: DNNN, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể. Ba là, DNNVV có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị trường; có khả năng chuyển hướng sản xuất, kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh v́ vốn đầu tư ít; quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh. Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên khi không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại h́ nh sản xuất - kinh doanh này th́ doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển hướng sang loại h́ nh khác cho phù hợp với thị trường. Bốn là, DNNVV có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm: xuất phát từ quy mô nhỏ, vốn đầu tư không lớn nên doanh nghiệp có thể mạnh dạn tham gia vào những ngành mới, lợi nhuận ban đầu thấp hoặc những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá biệt. Năm là, DNNVV cú bộ mỏy tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ: với quy mô nhỏ, số lượng lao động ít, công tác quản lý điều hành mang tính trực tiếp, quan hệ giữa người quản lý với người lao động khá chặt chẽ. Các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và trách nhiệm phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp. Những đặc điểm hạn chế của DNNVV Một là, quy mô vốn và năng lực tài chính c ̣n hạn chế nên DNNVV khó tiếp cận các kênh huy động vốn. Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và nhỏ, vốn điều lệ ban đầu thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên các DNNVV thường không đáp ứng được nhu cầu vốn cho đầu tư. Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ dẫn đến tỷ lệ vốn từ lợi nhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra chậm, giá trị tài sản thuần thấp (tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi nợ phải trả), uy tín trên thương trường không
  15. cao…nên các nhà đầu tư coi đây là khu vực nhiều rủi ro. Chính v́ vậy DNNVV gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế. Hai là, năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh c ̣n yếu: Nguồn tài chính hạn chế đă khiến cho các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại, càng không thể tập trung nhiều vào công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Ba là, thị trường nhỏ hẹp và năng lực cạnh tranh hạn chế. Do hạn chế về vốn, công nghệ, lao động, nên các DNNVV chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ, đáp ứng yêu cầu cho một đoạn thị trường nhất định. Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém. DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc t́m kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing c ̣n kém hiệu quả. Bốn là, năng lực quản lý cn thấp. ̣ Phần lớn DNNVV mới chỉ hoạt động trong thời gian ngắn nên tŕnh độ, kỹ năng của chủ doanh nghiệp cũng như của người lao động c ̣n hạn chế. Số lượng DNNVV có chủ DN, giám đốc giỏi, tŕnh độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, cũn thiếu kiến thức kinh tế - xó hội và kỹ năng quản trị kinh doanh. Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có tŕnh độ, tay nghề cao do không thể trả lương cao kèm theo các chính sách đăi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý và những người lao động giỏi. Năm là, sự liên kết giữa các DNNVV c ̣n hạn chế Tuy bước đầu đă có một số hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp ra đời tập hợp các DNNVV nhưng mới chỉ ở mức độ trao đổi kinh nghiệm, thông tin, cùng đưa ra kiến nghị về chính sách, pháp luật…Phần lớn các DNNVV chưa có sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng tổ chức phân công lao động sản xuất sâu, rộng; hỗ trợ nhau về vốn, công nghệ, kỹ thuật; cùng nhau giải quyết những vấn đề phát sinh trong các khâu của quá tŕnh sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh.
  16. Mặt khác, sự liên hợp tác, liên kết giữa các DNNVV và các doanh nghiệp lớn c ̣n hạn chế, v́ vậy chưa khai thác được lợi thế nhờ quy mô của hai khu vực này. 1.1.3. Tác dụng của sự phát triển tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 1.1.3.1. Tác dụng của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Tín dụng ngân hàng góp phần h́ nh thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp. Hiện nay để thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có thể sử dụng hai nhóm nguồn vốn là: vốn tự có và vốn đi vay. Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp không được đáp ứng và quy mô của khoản vay c ̣n tùy thuộc vào các điều kiện của doanh nghiệp, các quy định vay vốn của ngân hàng, pháp luật của Nhà n ước… Mặt khác, nếu quy mô vốn vay quá lớn sẽ làm tăng chi phí trả lăi dẫn đến tăng giá sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Do vậy buộc doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu vốn tối ưu. Đây là sự kết hợp tốt nhất các nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp tại mức giá vốn b́ nh quân rẻ nhất. Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của các DNNVV. Ngân hàng hỗ trợ cho DNNVV từ lúc bắt đầu khởi sự và trong suốt quá tŕnh hoạt động, phát triển của doanh nghiệp. Nếu không có sự hỗ trợ này, các DNNVV sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí không thành lập được. Nhiều doanh nghiệp ra đời, song do hạn chế về vốn nên không có khả năng sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao, thiếu sức cạnh tranh và khó đứng vững trên thương trường. Để có thể hoạt động thường xuyên, liên tục, các DNNVV phải có đủ vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn vốn tự có và vốn vay không chính thức của doanh nghiệp rất hạn chế. V vậy vốn tín dụng ngân hàng là một giải pháp hữu ́ hiệu. Tín dụng ngân hàng c ̣n giúp các DNNVV tái sản xuất mở rộng, phát triển các ngành nghề mũi nhọn. Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNVV trên thị trường.
  17. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ vốn mà c ̣n phải đảm bảo hoàn trả gốc và lăi đúng hạn. Do vậy, khi sử dụng vốn vay, các doanh nghiệp không phải chỉ thu hồi đủ vốn mà c ̣n phải t́m mọi biện pháp sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay khi đă thẩm định đầy đủ, kỹ càng mọi yếu tố liên quan đến doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là tính hiệu quả và khả thi của phương án, dự án kinh doanh cần tài trợ vốn. V vậy, ngay từ khi thiết lập phương án sản xuất kinh doanh, các ́ doanh nghiệp đă phải nghiên cứu và phân tích kỹ nhằm tăng tính khả thi của phương án, tăng cường sự tin tưởng của ngân hàng khi quyết định tài trợ. Ngoài ra trong quá tŕnh cấp tín dụng, ngân hàng c ̣n tư vấn giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư tốt nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Đồng thời công tác kiểm tra định kỳ của các ngân hàng đă buộc các doanh nghiệp phải làm ăn đứng đắn, minh bạch, tuân thủ pháp luật. Trên cơ sở đó năng lực cạnh tranh lành mạnh của DNNVV sẽ ngày càng được nâng cao trên thị trường. Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá tŕnh cổ phần hoá các DNNVV thuộc loại h́ nh doanh nghiệp nhà nước. Trong thời gian qua Nhà nước ta đă và đang tập trung tiến hành cổ phần hóa các DNNN. Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi có quyết định cổ phần hóa sẽ tự phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay các h́ nh thức huy động vốn khác để có vốn hoạt động. Trước t́nh h́ nh đó, các ngân hàng cũng tập trung phát triển các dịch vụ trên thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp huy động vốn như dịch vụ lưu ký chứng khoỏn, mua bỏn cổ phiếu, trỏi phiếu, bảo lănh phát hành, tư vấn tài chính… Hơn nữa các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các cổ phiếu, trái phiếu làm tài sản đảm bảo vay vốn tại ngân hàng. Với h́ nh thức cấp tín dụng này các doanh nghiệp có thể yên tâm hơn khi tham gia vào quá tŕnh cổ phần hóa và đó chính là động lực thúc đẩy quá tŕnh cổ phần hóa hiện nay. Tín dụng ngân hàng, đặc biệt là NHTM quốc doanh, là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, từ đó tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV. Thông qua tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh, có thể góp phần vào việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng trong lưu
  18. thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ. Với việc cung ứng tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng đă góp phần làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông, thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền; tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả; thực thi vai tṛ điều tiết gián tiếp vĩ mô, góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Như vậy, để DNNVV có thể ra đời, tồn tại và phát triển cần sự hỗ trợ từ phía ngân hàng thông qua nhiều loại h́ nh dịch vụ, trong đó dịch vụ tín dụng là chủ yếu. V vậy, việc ́ mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV là thực sự quan trọng, cần thiết và đúng đắn, phù hợp với chủ trương, định hướng chính sách tăng cường hỗ trợ phát triển DNNVV của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới. 1.1.3.2. Phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, thu lợi nhuận chủ yếu từ việc cho vay. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại h́ nh doanh nghiệp chiếm số lượng đông đảo nhất trong tổng số các doanh nghiệp ở nước ta, v́ vậy nếu ngân hàng khai thác hiệu quả nguồn thu từ việc tạo vốn cho các DNNVV sẽ có điều kiện tăng lợi nhuận. DNNVV góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt đặc biệt là với các đối thủ ngân hàng nước ngoài. Yêu cầu cấp bách đặt ra cho các NHTM Việt Nam là phải tiến hành ngay công cuộc đổi mới một cách toàn diện, một trong những nội dung quan trọng là hoạt động tín dụng - một hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn (70% - 80%) trên tổng tài sản có sinh lời và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng Việt Nam. Hiện nay, chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam c ̣n kém, tỷ trọng nợ quá hạn, nợ xấu khá cao. Đặc biệt là các NHTM nhà nước trong cơ cấu các khoản mục cho vay, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp nhà nước là chủ yếu - một thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu tiếp tục gia tăng từ khu vực này là điều khó tránh khỏi. T́nh trạng này đ ̣i hỏi các NHTM cần
  19. phải chuyển đổi cơ cấu danh mục đầu tư cho vay, mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (mà chủ yếu là các DNNVV và kinh tế tư nhân) nhằm phân tán rủi ro giúp các ngân hàng vừa mở rộng vừa nâng cao chất lượng tín dụng. DNNVV làm phong phú thêm thị trường của các ngân hàng. Tuy hoạt động với quy mô vừa và nhỏ, giao dịch vay vốn ngân hàng của mỗi DNNVV không quá lớn nhưng với số lượng đông đảo, các DNNVV sẽ trở thành những khách hàng mang lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng. Mặt khác, thị trường tài chính Việt Nam đang phát triển tương đối thuận lợi, riêng thị trường chứng khoán tuy đang trong quá tŕnh xây dựng phát triển với nhiều biến động nhưng vẫn được đánh giá là có tiềm năng phát triển tốt, điều đó dự báo trong tương lai gần các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực tốt khi cần huy động vốn sẽ không lựa chọn kênh tín dụng ngân hàng mà sẽ thông qua thị trường chứng khoán với chi phí thấp hơn, nguồn vốn ổn định hơn, thủ tục đơn giản hơn…Thực tế cũng cho thấy, các doanh nghiệp lớn đang có xu hướng thành lập công ty tài chính, ngân hàng riêng để phục vụ cho nhu cầu vốn của ḿnh. Do đó ngân hàng không chỉ phải đối mặt với việc nguồn vốn huy động bị “chảy” sang thị trường chứng khoán mà nguy cơ hoạt động tín dụng bị thu hẹp cũng đang đến gần. Điều đó thúc đẩy các NHTM phải t́m kiếm thị trường ngách, trong đó thị trường đầy tiềm năng là DNNVV và khu vực kinh tế tư nhân. Phát triển tín dụng đối với DNNVV là cần thiết đối với sự ổn định trong hoạt động của ngân hàng. Trong điều kiện nền kinh tế có nhiều biến động, khả năng thay đổi linh hoạt trong tổ chức và lĩnh vực kinh doanh cho phép DNNVV giữ được ổn định cả về số lượng và hiệu quả kinh tế, từ đó bảo đảm an toàn cho các giao dịch với ngân hàng. Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn khi gặp khủng hoảng thường phải thu hẹp sản xuất, sáp nhập, thậm ch í phá sản gây ảnh hưởng bất lợi cho ngân hàng. Hơn nữa, theo xu hướng phát triển, các DNNVV đang ngày càng có vai tṛ quan trọng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế. Đặc biệt là Việt Nam bước vào hội nhập từ một nền kinh tế chưa phát triển, DNNVV đóng vai tṛ quan trọng trong việc huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, giải quyết công ăn việc
  20. làm tạo thu nhập cho dân cư, tăng GDP. Ước tính đến năm 2010, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người. Như vậy, việc ngân hàng mở rộng cho vay đối với các DNNVV là giải pháp phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế và chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước giúp cho các ngân hàng xây dựng được cơ cấu khách hàng hợp lý, tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa các danh mục đầu tư cho vay, phân tán rủi ro, tăng thu nhập nâng cao vị thế cạnh tranh cho các ngân hàng. 1.1.3.3. Phát triển tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa mang lại lợi ích thiết thực cho nền kinh tế Một mặt, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV thúc đẩy sự phát triển của chính các doanh nghiệp, mặt khác là cách thức để tăng thu cho Ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế và các nghĩa vụ khác của DNNVV đối với Nhà nước. Ngoài ra, việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV buộc các ngân hàng phải phát huy tối đa năng lực của ḿnh và t́m các biện pháp để có thể huy động vốn, tăng cường tập trung, tích tụ những nguồn vốn nhàn rỗi trong xă hội, từ đó mọi nguồn lực về vốn đă được khai thác một cách tối ưu để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xă hội. Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng để nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thông qua việc áp dụng những ưu đăi tín dụng, nhà nước khuyến khích DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt là các DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ , góp phần tham gia chuyển dịch c ơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong thu nhập quốc dân. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần làm tăng nhanh ṿng quay của vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông v́ các ngân hàng thương mại thường xuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đưa vào sản xuất kinh doanh thông qua việc cho các doanh nghiệp vay, trong đó DNNVV chiếm số lượng lớn. Các DNNVV cũng phân bố trên địa bàn rộng, sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực, v́ vậy phát triển tín dụng đối với DNNVV góp phần thực hiện điều hoà vốn trong nền kinh tế.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2