intTypePromotion=3

Luận văn tốt nghiệp: Công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Trần Nam | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:78

0
80
lượt xem
22
download

Luận văn tốt nghiệp: Công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp "Công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" gồm các nội dung chính là: Lý luận chung về BHXH và quản lý tài chính BHXH, thực trạng công tác quản lý tài chính BHXH tại Việt Nam hiện nay, một số giải pháp đối với công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam trong thời kì tới,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đề tài: “Công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam ­   Thực trạng và giải pháp”. 1
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................4 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH......6 I. Những vấn đề cơ bản về BHXH................................................................................6       1. Tính tất yếu khách quan của BHXH.....................................................................6       2. Khái niệm BHXH..................................................................................................7       3. Bản chất và chức năng của BHXH......................................................................9       4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH........................................................................11       5. Các chế độ của BHXH.........................................................................................11       6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH....................................................................13 II. Quản lý tài chính BHXH............................................................................................15       1. Khái niệm chung về quản lý tài chính BHXH......................................................15       2. Nội dung quản lý tài chính BHXH........................................................................17       3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lý tài chính BHXH.........................21 III. Kinh nghiệm của một số nước về quản lý tài chính BHXH...................................22       1. Quản lý tài chính BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức.......................................22       2. Quản lý tài chính BHXH của Trung Quốc............................................................24 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH TẠI VIỆT   NAM................................................................................................................................ 26 I. Giới thiệu chung về BHXH Việt Nam.......................................................................26       1. Khái quát về sự hình thành và quá trình phát triển của BHXH Việt Nam...........26       2. Chính sách BHXH Việt Nam từ năm 1995 đến nay.............................................29       3. Cơ cấu tổ chức, quản lý của BHXH Việt Nam...................................................31 II. Thực trạng của công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam....................................34 2
  3.       1. Công tác quản lý thu..............................................................................................34       2. Quản lý chi BHXH................................................................................................44       3. Quản lý hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ.........................................................49       4. Quản lý hoạt động cân đối quỹ BHXH................................................................51 III. Đánh giá chung về công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam.............................54       1. Những kết quả đạt được......................................................................................54       2. Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân.....................................................56 CHƯƠNG III: MỘT SỐ  GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH   BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ TỚI.................................................................59 I. Những quan điểm chủ  yếu về vấn đề  quản lý tài chính BHXH Việt Nam trong giai   đoạn tới........................................................................................................................... 59       1. Quan điểm trong xây dựng chính sách BHXH......................................................59       2. Những quan điểm cụ thể trong công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam trong            giai đoạn tới..........................................................................................................59 II. Giải pháp cụ  thể  nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý tài chính BHXH  trong gian đoạn tới..........................................................................................................60       1. Bài học kinh nghiệm từ hệ thống BHXH CHLB Đức và Trung Quốc................60       2. Những giải pháp cụ thể........................................................................................61       3. Một số kiến nghị...................................................................................................69 KẾT LUẬN..................................................................................................................... 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................72 3
  4. LỜI MỞ ĐẦU Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước  đối với người lao động, nhằm đảm bảo cuốc sống vật chất,  ổn định đời sống  cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, suy   giảm khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết. Chính sách   BHXH ở nước ta được thực hiện ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước,   60 năm qua, trong quá trình tổ chức thực hiện, chính sách BHXH ngày càng được  hoàn thiện và không ngừng đổi mới, bổ xung cho phù hợp với điều kiện hiện tại  của đất nước. Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế  từ  sau Đại hội đại  biểu toàn quốc lần thứ  VI của Đảng (12/1986), chính sách BHXH và tổ  chức   quản lí hoạt động cũng có nhiều đổi mới tích cực. Từ  việc nghiên cứu quá trình đổi mới của BHXH tôi nhận thấy BHXH   thực sự là một chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của   đất nước. BHXH không những góp phần  ổn định đời sống của người lao động  mà còn khuyến khích họ  tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải cho xã hội,  xây dựng đất nước. Trong quá trình thực hiện BHXH đã không ngừng phát triển  cả về chất lượng lẫn số lượng. Số người tham gia ngày càng tăng lên, mở rộng   cho các đối tượng tham gia, hoàn thiện dần hệ thống chính sách BHXH tiến tới   thực hiện đủ  các chế  độ  của Tổ  chức lao động quốc tế  (ILO). Đặc biệt là sự  đổi mới về cơ chế quản lí từ cơ chế  quản lí kế hoạch hoá, tập chung, bao cấp,   4
  5. hoàn toàn do NSNN đảm bảo đã chuyển sang cơ  chế  thực hiện có thu và quỹ  hoạt động trên nguyên tắc cân bằng thu chi. Cách thực hiện như  vậy không  những giảm được gánh nặng cho NSNN mà còn thể  hiện trách nhiệm của cả  người sử dụng lao động đối với người lao động. Nhà nước nước đóng vai trò tổ  chức thực hiện và quản lí thông qua BHXH Việt Nam,  là hệ  thống ngành dọc  được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Bên cạnh những mặt đạt được, BHXH Việt Nam cũng còn rất nhiều tồn  tại cần sớm được khắc phục cả  về  nội dung chính sách, tổ  chức quản lí hoạt   động. Đây là những đòi hỏi cấp thiết cần được nghiên cứu để  góp phần hoàn  thiện chính sách và tổ  chức quản lí hoạt động của BHXH Việt Nam. Trong đó  quản lí tài chính BHXH Việt Nam là một mảng lớn, cần được chú trọng và quan  tâm vì tài chính BHXH có vững thì các chế  độ trợ cấp mới được đảm bảo thực   hiện tốt mà không dẫn đến tình trạng thâm hụt NSNN. Chính vì vậy với ngành   học được đào tạo, sau khi về  thực tập tại BHXH Việt Nam, tôi đã chọn đề  tài:  “Công tác quản lý tài chính BHXH Việt Nam ­ Thực trạng và giải pháp” để  nghiên cứu công tác quản lí tài chính BHXH Việt Nam, với mục đích là rút ra  những kết quả  đạt được để  phát huy, những tồn tại cần khắc phục. Hơn nữa   thông qua đó có thể  đưa ra những đóng góp, góp phần hoàn thiện hệ  thống   BHXH Việt Nam, phát huy tối đa chức năng của BHXH trong thời đại mới. Kết cấu của đề tài gồm ba chương: Chương I: Lý luận chung về BHXH và quản lý tài chính BHXH. Chương II:  Thực trạng công tác quản lý  tài chính BHXH tại Việt Nam  hiện nay. Chương III: Một số  giải pháp đối với công tác quản lý tài chính BHXH  Việt Nam trong thời kì tới. 5
  6. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BHXH 1. Tính tất yếu khách quan của BHXH. Sự ra đời của BHXH cũng giống như  các chính sách xã hội khác luôn bắt  nguồn từ yêu cầu thực tiễn  của cuộc sống đặt ra.Từ thời xa xưa, con người để  chống lại những rủi ro, thiên tai của cuộc sống đã biết đoàn kết tương trợ  lẫn   nhau, giúp đỡ  lẫn nhau. Nhưng sự  giúp đỡ  này chỉ  mang tính tự  phát và với quy  mô nhỏ, thường là trong một nhóm người chung quan hệ huyết thống. Khi xã hội càng ngày càng tiến bộ, đặc biệt là khi chuyển sang giai đoạn   có sự phân công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội lúc này đã phát triển. Cùng  với nó là quan hệ  xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng cũng phát triển  hơn. Khi đó tôn giáo bắt đầu xuất hiện, nó không chỉ  với ý nghĩa giáo dục con  người hướng thiện mà còn có các trại bảo dưỡng, hội cứu tế với mục đích từ  thiện, trợ  giúp nhau trong cuộc sống. Như  vậy xét về  bản chất thì hình thức   tương trợ trong thời kì này đã mang tính có tổ chức và quy mô rộng rãi hơn. 6
  7. Từ  thế  kỉ  thứ  XVI  ở  Châu Âu đã xuất hiện ngành công nghiệp, những   người nông dân không có đất phải di cư ra thành phố  làm thuê cho các nhà máy   ngày càng nhiều và dần trở  thành công nhân. Đặc biệt đến thời kỳ cách mạng  công nghiệp thì lực lượng ngày càng đông đảo và trở  thành giai cấp công nhân.  Nhìn chung họ  sống không  ổn định, cuộc sống chỉ  dựa vào công việc với đồng   lương ít  ỏi, mất việc làm,  ốm đau, tai nạn lao động ... đều có thể  đe doạ  cuộc   sống của họ. Tình đoàn kết tương thân tương ái giữa họ đã nảy nở, cùng với đó  là sự ra đời của các nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ  các thành viên khi bị ốm   đau bệnh tật trong quá trình sản xuất. Bên cạnh Hội tương tế  còn có Quỹ  tiết  kiệm được Nhà nước khuyến khích thành lập. Tiếp đó những quy định bắt buộc  người sử  dụng lao động phải chu cấp cho người lao động thuộc quyền quản lí   khi họ gặp phải  ốm đau, tai nạn lao động, mất việc... Giai cấp công nhân càng  đông đảo thì sức ép đối với những đòi hỏi đảm bảo cuộc sống cho họ ngày càng   ảnh hưởng đến đời sống chính trị của mỗi nước. Trước tình cảnh đó Chính Phủ  mỗi nước không thể không quan tâm đến tình cảnh của người lao động. Những   yêu cầu giảm giờ  làm, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo cuộc sống của   người lao động dần được quy định thành các chính sách bắt buộc đối với mỗi  nước. Điển hình là vào năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark của Đức đã giúp   các địa phương thành lập quỹ do người công nhân đóng góp để được trợ cấp lúc  rủi ro. Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây, người được bảo hiểm   phải tham gia đóng phí. Sau đó sáng kiến này được áp dụng rộng rãi trên khắp   thế  giới. BHXH ngày càng được hoàn thiện, thực hiện rộng khắp các nước và   được Tổ  chức Lao động Quốc tế  (ILO) thông qua trong Công  ước số  102 vào   tháng 4 năm 1952. BHXH  ở  nước ta đã manh nha hình thành từ  thời thực dân   Pháp thống trị. Sau cách mạng tháng Tám, Chính phủ  nước Việt Nam Dân Chủ  Cộng Hoà đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 về  việc thực hiện bảo  7
  8. hiểm  ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí. Đây là những viên gạch đầu tiên xây  dựng nên hệ thống BHXH Việt Nam như hiện nay. 2. Khái niệm BHXH.    Qua quá trình hình thành chúng ta có thể nhận thấy, lúc khởi đầu, BHXH  chỉ mang tính chất tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, trước nhu cầu của thực   tiễn thì chính sách BHXH đã nhanh chóng ra đời và từng bước phát triển rộng  khắp. BHXH đã được từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau: “BHXH là sự  đảm bảo thay thế  hoặc bù đắp một phần thu nhập cho   người lao động khi họ  bị  mất hoặc giảm thu nhập do bị   ốm đau, thai sản, tai   nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa   trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự   bảo hộ  của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho   người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.” Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau: ­ Đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập của người lao động bị  biến động, giảm hoặc mất đi do bị  giảm hoặc mất khả  năng lao động do các   biến cố như đã nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân người lao   động và gia đình họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH được coi là một chính sách   lớn của mỗi quốc gia và được Nhà nước quan tâm quản lí chặt chẽ. Cũng tùy  vào điều kiện kinh tế của mỗi nước mà các quy định về  đối tượng này là có sự  khác nhau nhưng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của người lao động. ­ Đối tượng tham gia BHXH là gồm người lao động và cả người sử dụng  lao động.  Sở  dĩ người lao động phải đóng phí vì chính họ  là đối tượng được   hưởng BHXH khi gặp rủi ro. Người sử  dụng lao động đóng phí là thể  hiện sự  quan tâm, trách nhiệm của họ đối với người lao động. Và sự đóng góp trên là bắt   buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nước. 8
  9. ­ Để điều hoà mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động,  để  gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nước đã đứng ra yêu cầu cả  hai bên cùng đóng  góp và đây cũng là chính sách xã hội được thực hiện góp phần ổn định cuộc sống  một cách hiệu quả nhất.  Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc tế  (ILO) cũng đã đưa ra một định nghĩa khác như sau: “BHXH là sự  bảo vệ  của xã hội đối với các thành viên của mình thông   qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính   phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm   mất thu nhập gây ra bởi  ốm đau, mất khả  năng lao động, tuổi già, tàn tật và   chết. Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ   cấp cho các gia đình khi cần thiết.”  Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hướng tới sự phát  triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích của xã   hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.   3. Bản chất và chức năng của BHXH. 3.1. Bản chất của BHXH. Có thể hiểu BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất của người lao   động khi gặp phải những biến cố  như   ốm đau, tai nan lao động, bệnh nghề  nghiệp hoặc tuổi già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn định cuộc   sống của bản thân người lao động và gia đình họ. BHXH hiện nay được coi là  một chính sách xã hội lớn của mỗi quốc gia, được nhà nước quan tâm và quản lí   chặt chẽ. BHXH xét về bản chất bao gồm những nội dung sau đây: BHXH là sự  cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự  phát triển của   nền kinh tế. Đặc biệt đối với nền kinh tế  hàng hoá hoạt động theo cơ  chế  thị  trường, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày càng  phát triển. Do vậy trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự đa dạng  9
  10. và tính hoàn thiện của BHXH. Vì vậy, có thể  nói kinh tế  là yếu tố  quan trọng   quyết định tới hệ thống BHXH của mỗi nước. BHXH, bên tham gia BHXH, bên được BHXH là ba chủ  thể  trong mối  quan hệ của BHXH. Bên tham gia BHXH gồm người lao động và người sử dụng  lao động (bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH, thông thường  thì do cơ  quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ, bên được BHXH  chính là người lao động và gia đình họ khi có đủ  điều kiện cần thiết. Từ đó họ  được đảm bảo những nhu cầu thiết yếu, giúp họ  ổn định cuộc sống, góp phần   ổn đình xã hội. Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của người lao động  có thể  là những rủi ro ngẫu nhiên (tai nạn,  ốm đau, bệnh nghề  nghiệp...), cũng   có thể là các rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên (tuổi già, thai sản,...).  Đồng thời  các biến cố này có thể xảy ra trong quá trình lao động hoặc ngoài lao động. Phần  thu nhập của người lao động bị giảm hay mất đi từ các rủi ro trên sẽ  được thay   thế  hoặc bù đắp từ  nguồn quỹ  tập trung  được  tồn tích lại do bên tham gia  BHXH đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của NSNN. 3.2. Chức năng của BHXH. Chức năng cơ bản nhất của BHXH là thay thế, bù đắp phần thu nhập của  người lao động khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả năng lao   động hay mất việc làm. Rủi ro này có thể  làm mất khả  năng lao động tam thời  hay dài hạn thì mức trợ cấp sẽ được quy định cho từng trường hợp. Chức năng  này quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.  Đối tượng tham gia BHXH có cả  người lao động và người sử  dụng lao   động và cùng phải đóng góp vào quỹ  BHXH. Quỹ  này dùng để  trợ  cấp cho  người lao động khi gặp phải rủi ro, số  người này thường chiếm số  ít. BHXH  thực hiện cả phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang, giữa người   lao động khoẻ  mạnh với người lao động  ốm đau, già yếu..., giữa những người   10
  11. có thu nhập cao phải đóng nhiều với người có thu nhập thấp phải đóng ít. Như  vậy, thực hiện chức năng này BHXH còn có ý nghĩa góp phần thực hiện công  bằng xã hội, một mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế ­ xã hội của mỗi  quốc gia. Nhờ có BHXH mà người lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với công  việc, nâng cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động   xã hội, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời sống toàn xã  hội. Nếu trước đây, sự  trợ  giúp là mang tính tự  phát, thì hiện nay khi xã hội đã   phát triển, việc trợ giúp đã được cụ  thể  hoá bằng các chính sách, quy định của  Nhà nước. Sự bảo đảm này giúp gắn bó mối quan hệ giữa người lao động và xã  hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã hội. Trong thực tế  giữa người lao động và người sử  dụng lao động có những  mâu thuẫn nội tại, khách quan về  tiền lương, tiền công, thời gian lao động...   BHXH đã gắn bó lợi ích giữa họ, đã điều hoà được những mâu thuẫn giữa họ,  làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây cũng là mối quan hệ biện chứng hai bên đều có   lợi, người lao động thì được đảm bảo cuộc sống, người sử dụng thì sẽ  có một   đội  ngũ công nhân hăng hái, tích cực  trong sản xuất.  Đối với Nhà nước  thì  BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết những khó khăn về  đời sống của người lao động và góp phần ổn định sản suất, ổn định kinh tế ­ xã   hội. 4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH. Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau: Thứ  nhất là nguyên tắc đóng hưởng chia sẻ  rủi ro; lấy số  đông bù số  ít,   lấy của người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ  BHXH. Đây  là nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ  góp chung của số  đông bù cho số  ít là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong  cuộc sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nước  11
  12. là việc rủi ro trong BHXH không chỉ  là những rủi ro thuần tuý như  trong bảo  hiểm thương mại mà còn có cả  những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên như:  tuổi già, thai sản,...  Thứ hai là mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH,   nhưng phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng khoản trợ cấp   đó. Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định chung cho tất cả  các nước, song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã  hội của mỗi nước trong mỗi thời kỳ khác nhau. Thứ  ba là phải tự  chủ  về  tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong   chính sách BHXH của các nước. Nếu chỉ  hoàn toàn phụ  thuộc vào Ngân sách   Nhà nước (NSNN) giống như giai đoạn trước cải cách năm 1995 của nước ta thì  đây thực sự là một gánh nặng lớn của đất nước. Việc thành lập quỹ  BHXH do  các bên tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nước là hoàn toàn phù   hợp. Quỹ  này có thể  quản lí theo các cách thức khác nhau song độc lập với   NSNN , NSNN chỉ  bù thiếu hoặc tài trợ  một phần tuỳ  thuộc vào quy định của  mỗi nước khác nhau.  5. Các chế độ của BHXH. Đối với mỗi nước có những hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau  nên BHXH được tổ chức thực hiện theo những quy định riêng khác nhau. BHXH  được xây dựng dựa vào các nguyên tắc trên một cách thống nhất trên toàn thế  giới và phải tuân thủ  các quy định sau của tổ  chức Lao động Quốc tế  (ILO) về  hệ  thống chính sách BHXH. Trong Công  ước 102 được  ILO thông qua ngày  4/6/1952 có quy định  những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã đưa ra 9   chế độ sau: ­ Chăm sóc y tế. ­ Trợ cấp ốm đau. ­ Trợ cấp thất nghiệp. 12
  13. ­ Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. ­ Trợ cấp tuổi già. ­ Trợ cấp thai sản. ­ Trợ cấp tàn tật. ­ Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.  Các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9 chế  độ nói trên, trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây: ­ Trợ cấp tuổi già. ­ Trợ cấp thất nghiệp. ­ Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. ­ Trợ cấp tàn tật. ­ Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình. Mỗi chế  độ  trong hệ  thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ  sở  điều kiện kinh tế, thu nhập, tiền lương, ... Đồng thời, tuỳ  từng chế  độ  mà còn  phải tính đến các yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh dưỡng, ... để  quy định các mức đóng, mức hưởng, thời gian hưởng và đối tượng hưởng cho   hợp lí. Các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:       + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.       + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.       + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các  bên tham gia BHXH.       + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.       + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.       + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.       + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư  có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định. 13
  14.       + Các chế  độ  BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ  để  phản ánh hết   sự thay đổi của điều kiện kinh tế ­ xã hội. 6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH. 6.1. Quỹ BHXH. Như chúng ta đã tìm hiểu trong phần 1 ở trên thì sự ra đời của quỹ BHXH  là một bước ngoặt lớn đối với ngành BHXH trên toàn thế  giới. Quỹ  BHXH là  một quỹ  tài chính độc lập, tập chung nằm ngoài NSNN và được hình thành từ  các nguồn sau đây: ­ Người sử dụng lao động đóng góp; ­ Người lao động đóng góp; ­ Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm; ­ Các nguồn khác (như cá nhân và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các hoạt  động đầu tư quỹ nhàn rỗi). Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia  cho cả người lao động và người sử dụng lao động trên cơ sở quan hệ lao động.   Điều này không phải sự  chia sẻ  rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Sự  đóng góp   một phần quỹ  của người sử  dụng lao động cho người lao động sẽ  tránh được   những thiệt hại kinh tế  do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra   đối với người lao động mà mình thuê mướn. Đồng thời, nó còn góp phần giảm   bớt mâu thuẫn, kiến tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ ­ thợ. Về phía người lao  động, sự đóng góp của họ vừa thể hiện sự tự gánh chịu chính những rủi ro của   chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ. Phần lớn các nước trên thế  giới, quỹ  BHXH đều được hình thành từ  các  nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên  tham gia BHXH có khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi nước. Hiện nay mức   đóng góp BHXH của người lao động và người sử  dụng lao động hiện vẫn còn   14
  15. hai quan điểm. Quan điểm thứ  nhất cho rằng, phải căn cứ  vào mức lương cá   nhân và quỹ lương cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, phải  căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong  toàn bộ  nền kinh tế  quốc dân để  xác định mức đóng góp. Về  mức đóng góp   BHXH, mỗi nước lại có những quy định khác nhau. Một số nước quy định người  sử  dụng lao động phải chịu toàn bộ  chi phí cho chế  độ  tai nạn lao động, Chính   phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và   người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Trong đó,  một số  nước khác lại quy định, Chính phủ  bù thiếu cho quỹ  BHXH hoặc chịu  toàn bộ chi quản lí BHXH .... Quỹ  BHXH được sử  dụng để  chi trả  chủ  yếu cho hai mục đích sau: thứ  nhất là chi trả và trợ cấp cho các chế độ  BHXH như đã nêu ở mục 5, còn lại là  chi trả  cho chi phí sự  nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì khoản   chi thứ  nhất là quan trọng và chiếm phần lớn trong quỹ  BHXH. Các khoản trợ  cấp này cũng được quy định về mức trợ cấp và thời gian hưởng một cách cụ thể  và có sự khác biệt đối với từng chế độ. Tại những nước khác nhau thì các khoản   trợ cấp này cũng được quy định khác nhau. 6.2. Phân loại quỹ BHXH Tuỳ  theo mục đích và cách tổ  chức của những hệ  thống BHXH trên thế  giới mà quỹ BHXH được phân loại khác nhau: ­ Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hưu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn lao   động và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản. ­ Phân loại theo tính chất sử dụng bao gồm: Quỹ ngắn hạn để chi trả cho  các chế  độ  ngắn hạn như  ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm mất khả năng   lao động tạm thời; Quỹ dài hạn để chi trả trợ cấp cho các chế độ như hưu trí, tử  tuất. 15
  16. ­  Phân loại theo đối tượng tham gia bao gồm: Quỹ  cho công chức Nhà  nước, quỹ cho lực lượng vũ trang, quỹ cho lao động trong các doanh nghiệp, quỹ  cho các đối tượng còn lại. Việc phân loại quỹ như trên cần được thực hiện và cân nhắc tránh những   tình trạng phân nhỏ quỹ dễ gây ra tình trạng mất tập trung, không có sự bổ xung   và hỗ  trợ  lẫn nhau. Việc phân chia quỹ  không hợp lí sẽ  dẫn tới những  ảnh   hưởng xấu đến việc chi trả  cho các đối tượng, đặc biệt là vấn đề  quản lí quỹ  một cách hợp lí. Dựa trên các cách tổ  chức thực hiện các chế  độ  mà mỗi nước  lại có những quy định khác nhau về  các quỹ  thành phần. Các quỹ  thành phần  phải thực sự phù hợp với hệ thống BHXH đó. II. QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH. 1. Khái niệm chung về quản lý tài chính BHXH. Trước tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về quản lý. Quản lý là những hoạt  động nhằm tác động một cách có tổ  chức, có định hướng của chủ  thể  quản l ý  vào một đối tượng quản lý nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành  vi của con người từ  đó có thể  duy trì được tính  ổn định của đối tượng. Đối  tượng của quản lí  ở  đây là tài chính BHXH, tài chính BHXH là một thuật ngữ  thuộc phạm trù tài chính chỉ  một mắt khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ  thống tài chính quốc gia. Tài chính BHXH tham gia vào quá trình phân phối và sử  dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia  đình họ  khi gặp rủi ro từ  đó đảm bảo sự   ổn định và phát triển kinh tế  xã hội.   Như  vậy, nhìn rộng ra thì quản lý  tài chính BHXH là việc sử  dụng tài chính  BHXH như  một công cụ  quản lý  xã hội của Nhà nước.   Nhà nước thông qua  hoạt động tài chính BHXH để thực hiện mục tiêu quản lý xã hội đó là đảm bảo  ổn định cuộc sống cho nhân dân trước những rủi ro làm giảm hoặc mất khả  năng lao động hay khi về  già, giúp người lao động yên tâm lao động sản xuất,  16
  17. góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. BHXH thể  hiện tính  ưu việt của mỗi   quốc gia, mỗi thể  chế  xã hội. Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lí tài chính   BHXH là quản lí thu chi BHXH. Như vậy, quản lý tài chính BHXH chủ yếu liên  quan tới việc làm thế nào để hoạt động thu chi quỹ BHXH được thực hiện một   cách bình thường trước những biến động của môi trường. Biến động  ở  đây là  những biến động về  đối tượng tham gia, đối tượng hưởng, biến động của môi  trường sống, môi trường kinh tế..., những biến động tác động trực tiếp đến đời  sống của người lao động,  đến việc thu chi quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự đầu tư  tăng trưởng quỹ  BHXH. Nội dung của quản lý tài chính BHXH chủ  yếu là sự  lựa chọn và xác định các chính sách, chế  độ, quy chế  về  tài chính BHXH một  cách hợp lý và lấy đó làm căn cứ để ra quyết định cụ thể của thu chi BHXH thực  hiện mục tiêu của Nhà nước đặt ra. Khi thực hiện quản lý tài chính BHXH cần chú ý hai nguyên tắc chủ yếu  sau: ­ Quá trình quản lí tài chính BHXH phải luôn được tính toán, so sánh   và cân đối trong trạng thái động:  Bởi vì lượng tiền mặt của quỹ  biến động  theo từng chế độ trợ cấp BHXH khác nhau, lượng lao động biến động một cách   thường xuyên nên trong quản lý, đặc biệt là khâu lập kế  hoạch phải chú trọng  tới vấn đề  này. Đây cũng là một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói chung và   BHXH nói riêng vì tính đảo ngược chu kì kinh doanh tức là thu phí trước chi trả  cho các chế  độ  sau. Tuy có sự  hỗ  trợ  của NSNN, song quản lí tài chính BHXH  phải góp phần giảm gánh nặng cho NSNN và vẫn thực hiện chính sách xã hội  này một cách tốt nhất.  ­ Quỹ  BHXH phải được bảo tồn và phát triển: Như  trên đã đề  cập thì  ngành Bảo hiểm có đặc thù thu phí trước, chi trả sau, thời gian đóng và thời gian  hưởng có thể kéo dài, đồng tiền có giá trị về  mặt thời gian. Do vậy cần đầu tư  17
  18. để bảo tồn và tăng trưởng quỹ một cách hợp l ý. Để đảm bảo nguyên tắc này cơ  quan BHXH phải tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thu chi và quản lý  quỹ  thực hiện đầu tư  phần quỹ  nhàn rỗi một cách có hiệu quả  và tuân thủ  các  nguyên tắc sau: + An toàn: Mục đích của quỹ là bảo đảm chi trả lương hưu và các trợ cấp   BHXH cho người lao động. Vì vậy, quỹ dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải   đảm bảo an toàn cho khoản đầu tư  đó. Đảm bảo an toàn là không chỉ  bảo toàn  vốn đầu tư  về  danh nghĩa, mà còn là bảo toàn về  cả  giá trị  thực tế, điều này  càng có ý nghĩa quan trọng trong thời kì lạm phát. Nói cách khác thì đầu tư  quỹ  phải lựa chọn lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro. + Hiệu quả: Đây là mục tiêu của việc đầu tư  tăng trưởng quỹ  do vậy   nguyên tắc này rất quan trọng và phải được đi liền với nguyên tắc thứ nhất. Lãi   đầu tư không chỉ góp phần đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản chi mà   còn góp phần cho phép hạ tỉ lệ đóng góp của người lao động và người sử  dụng   lao động. + Khả  năng thanh toán (tính lưu chuyển của vốn): Đây cũng là yêu cầu   đặc thù của nghành do các khoản chi trả  là phát sinh sau và kéo dài nên các  khoản đầu tư  phải đảm bảo tính thanh khoản để  dễ  dàng chi trả  cho các đối   tượng kịp thời. Đặc biệt tránh những khoản đầu tư dễ vướng vào những vấn đề  tồn khoản. Các hình thức đầu tư dễ thanh khoản và an toàn thường được ưu tiên   thực hiện trước.  + Có lợi ích kinh tế, xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách   xã hội, do đó trong quá trình đầu tư  phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho   người dân, phải ra sức cải thiện chất lượng chung cho đời sống dân cư của đất  nước. Các hình thức, hạng mục đầu tư phải đặt vấn đề  hiệu quả kinh tế xã hội  lên hàng đầu. Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH khác với các hoạt động  18
  19. đầu tư  khác với mục tiêu lợi nhuận làm đầu vì BHXH chính là một chính sách  quan trọng trong hệ thống An sinh xã hội của mỗi nước.   2. Nội dung quản lý tài chính BHXH. Nhìn chung, quản lý tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản sau: 2.1. Quản lí thu BHXH. Quản lý thu giữ  vai trò quan trọng và quyết định đến sự  thành công của  quá trình thu BHXH, từ  đó quyết định đến sức mạnh quỹ  BHXH để  đảm bảo   cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp.  Trước tiên chúng ta phải nắm được nội  dung thu gồm hai khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động. Đây   là khoản thu lớn nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định. Các khoản thu khác  như: thu từ các quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện hay sự hỗ trợ của NSNN là   nhỏ, NSNN chỉ bù đắp cho những trường hợp cần thiết. Hơn nữa đây là khoản  thu mà tổ  chức BHXH cũng không thể  tự  điều chỉnh được vì nó mang tính thụ  động. Do vậy mà công tác quản lý thu chỉ  tập chung vào nguồn thu từ  hai đối  tượng chính người lao động và người sử  dụng lao động. Nội dung của quản lí   thu lại tập chung vào ba đối tượng chính sau đây: Quản lý đối tượng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ chức   BHXH khi thực hiện quan tâm đến, thường các đối tượng này được quy định rõ  trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Hơn thế nữa BHXH cũng   hoạt động trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy luật số đông bù số ít nên  việc tham gia đầy đủ của các đối tượng tham gia BHXH là việc rất quan trọng.  Quản lí đối tượng tham gia cần thực hiện các công việc sau: + Quản lý số lượng đăng kí tham gia BHXH. + Quản lý đối tượng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định. 19
  20. + Quản lý công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình đóng  góp, ngành nghề  lao động, thời gian lao động, tên người lao động và một số  thông tin khác. Quản lý  quỹ  lương của các doanh nghiệp:  Theo những quy định hiện  hành như ngày nay thì phí thu BHXH thường được tính theo phần trăm tổng quỹ  lương của doanh nghiệp và tiền lương tháng của người lao động nên quỹ lương  còn là cơ  sở  để  quản lí thu một cách thuận lợi. Dựa trên quỹ  lương của doanh   nghiệp BHXH có thể đảm bảo thu đúng, thu đủ và hạn chế được tình trạng gian   lận trốn đóng BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh nghiệp trở thành những “đại  lí” thực hiện thu và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là thực sự thuận lợi cho   công tác thu phí nói riêng và công tác thực hiện các chế độ BHXH nói chung. Quản lý tiền thu BHXH: Các đơn vị, doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp phí  thông qua tài khoản của BHXH. Do vậy, BHXH khó nắm bắt được tình hình thu.   Để  đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời cần có những quy định rõ ràng về  thời   gian nộp, hệ  thống tài khoản thu nộp phải thuận lợi và an toàn cho việc nộp.   Việc nắm bắt tình hình thu BHXH giúp quản lí quỹ dễ dàng, kịp thời điều chỉnh   và đảm bảo cho công tác chi trả  được thực hiện một cách tốt nhất. Trong nội  dung quản lí thu BHXH, tất cả các đóng góp BHXH sẽ được quản lý chung một  cách thống nhất, dân chủ, công khai trong toàn hệ thống. 2.2. Quản lý chi BHXH. Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi quản l ý  và chi khác. Trong đó có thể nói hai khoản chi đầu là rất lớn đặc biệt là chi cho   các chế độ, hơn nữa khoản chi này chính là thể hiện sự bảo đảm cuộc sống của   chính sách BHXH. Vì vậy nhắc đến quản lý chi là nhắc đến hai nội dung chính  sau: 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản