intTypePromotion=1
ADSENSE

LUẬN VĂN " Từ cổ mẫu đến hệ hình tượng nhân vật gây ám ảnh trong truyện ngắn Việt Nam đương đại "

Chia sẻ: Bút Màu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:44

118
lượt xem
16
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đi ra từ vô thức cộng đồng, cổ mẫu được đúc kết thành những biểu tượng mang tính phổ quát và quy tụ vào huyền thoại dưới dạng một câu chuyện kể. Với truyện ngắn Việt Nam đương đại, một lần nữa cổ mẫu lại trở thành một thành tố trong tư duy nghệ thuật, và không chỉ dừng lại ở đó, đôi khi nó còn đóng vai trò như một nhân vật góp phần thúc đẩy diễn tiến của tác phẩm. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN " Từ cổ mẫu đến hệ hình tượng nhân vật gây ám ảnh trong truyện ngắn Việt Nam đương đại "

  1. LUẬN VĂN Từ cổ mẫu đến hệ hình tượng nhân vật gây ám ảnh trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
  2. MỤC LỤC DẪN LUẬN.. 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 4. Phương pháp nghiên cứu. 5. Đóng góp của luận văn nhìn từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6. Kết cấu luận văn. CHƯƠNG 1. HUYỀN THOẠI VÀ HUYỀN THOẠI TRONG VĂN HỌC.. 1.1. Khái niệm “huyền thoại” và một số lý thuyết về huyền thoại 1.2. Huyền thoại hóa như một thủ pháp đặc sắc của văn học hiện đại 1.3. Huyền thoại trong văn học Việt Nam đương đại
  3. CHƯƠNG 2. YẾU TỐ HUYỀN THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM, CẢM HỨNG.. 2.1. Con đường tái tạo huyền thoại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại 2.1.1. Hình tượng nhân vật đi ra từ truyền thuyết, huyền thoại cổ. 2.1.2. Những môtip chuyển hóa từ truyền thuyết, huyền thoại cổ. 2.1.3. Cổ mẫu và con đường thoát thai từ huyền thoại cổ. 2.2 Từ cổ mẫu đến hệ hình tượng nhân vật gây ám ảnh trong truyện ngắn Việt Nam đương đại 2.2.1 Những vũ điệu của nước. 2.2.2 Cổ mẫu lửa. 2.2.3 Giấc mơ như một cổ mẫu. 2.3. Giải huyền thoại - phản đề trong truyện. 2.3.1. Quan niệm về “giải huyền thoại”. 2.3.2. Giải huyền thoại và cảm hứng giải thiêng trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
  4. CHƯƠNG 3. YẾU TỐ HUYỀN THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – KHẢO SÁT TRÊN MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU.. 3.1. Người kể chuyện huyền thoại 3.1.1. Từ người kể chuyện dân gian…... 3.1.2… Đến người kể chuyện trong truyện ngắn đương đại 3.1.3. Song chiếu giữa người kể chuyện và điểm nhìn huyền thoại 3.2. Thời gian huyền thoại 3.2.1. Xóa mờ đường viền lịch sử. 3.2.2. Thời gian tâm linh hư ảo. 3.3. Không gian huyền thoại 3.3.1. Không gian của bóng tối và cõi âm.. 3.3.2. Không gian mặt nước và những dấu chỉ linh thiêng. 3.4. Cấu trúc huyền thoại 3.4.1. Xung đột kích thước huyền thoại và đời thường qua tuyến nhân vật
  5. 3.4.2. Kịch tính phát triển xoáy theo độ thắt nút cốt truyện. 3.4.3. Cấu tạo "dư ba", ám ảnh huyền thoại KẾT LUẬN.. THƯ MỤC THAM KHẢO..
  6. Đi ra từ vô thức cộng đồng, cổ mẫu được đúc kết thành những biểu tượng mang tính phổ quát và quy tụ vào huyền thoại dưới dạng một câu chuyện kể. Với truyện ngắn Việt Nam đương đại, một lần nữa cổ mẫu lại trở thành một thành tố trong tư duy nghệ thuật, và không chỉ dừng lại ở đó, đôi khi nó còn đóng vai trò như một nhân vật góp phần thúc đẩy diễn tiến của tác phẩm. Khi tìm hiểu về cổ mẫu nước trong văn chương Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thanh Xuân cho rằng: “…khác với nhân vật - Người vốn phổ biến, thường mở ra cánh cửa bước vào xã hội, nhân vật - Nước, vốn đặc biệt, thường mở ra cánh cửa bước vào thiên nhiên” [170; 196]. Đây cũng là một gợi mở quan trọng cho chúng tôi khi đi vào tìm hiểu vấn đề này. Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy, cùng với nước, lửa và giấc mơ cũng xuất hiện với tư cách là những cổ mẫu và ở một góc độ nào đó, chúng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy diễn tiến câu chuyện, đồng thời trở thành những nhân vật sống động, biến hóa trên trang viết của nhiều nhà văn. 2.2.1 Những vũ điệu của nước 2.2.1.1 Nước và ý nghĩa biểu tượng Không phải ngẫu nhiên mà mọi nền văn minh cổ đại đều được khai sinh bên những dòng sông. Hơn một ngàn năm trước công nguyên, Kinh Veda (cội gốc của giới Bà La Môn và là suối nguồn của nền văn minh Ấn Độ) từng vang lên lời ngợi ca dòng nước mang lại sự sống, sức mạnh và sự thanh tẩy:
  7. Hỡi những dòng nước hồi sức cho đời, Hãy mang lại cho chúng tôi sức mạnh, Sự cao cả, niềm vui, cảnh mộng! (…)Hỡi những dòng nước, xin hãy cuốn đi cái tội lỗi này, dù lớn hay nhỏ mà tôi đã phạm, cái điều không hay mà tôi đã gây cho ai đó, câu thề nguyện dối trá mà tôi đã thốt ra. [47; 706] Cựu ước và tiếp đó là Tân ước của người Do Thái giáo và Kitô giáo cũng không ngừng ngợi ca vẻ đẹp của nước. Những cuộc gặp gỡ quan trọng trong Kinh thánh thường diễn ra bên giếng nước. Nước lưu giữ những điều linh thiêng, những hoan lạc kỳ thú. Hành trình của người Do Thái tìm về miền đất hứa cũng là hành trình tìm đến dòng nước thiêng - nước Thanh tẩy. Ý nghĩa tượng trưng của nước thường xoay quanh ba chủ đề chính: “nước - nguồn sống, nước - phương tiện thanh tẩy, và nước - trung tâm tái sinh” [47;709]. Đây là ba chủ đề thường xuyên được đề cập đến trong các truyền thuyết, huyền thoại cổ, từ đó hình thành những lớp kết cấu ý nghĩa bền vững. Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hòa tan, nhưng nước cũng có khả năng kết tụ. Với người Hindu giáo, nước được coi là sattva (sự thanh khiết), và vì nước chảy xuống chỗ thấp nên khuynh hướng của nó là tamas (trời); nước lan tỏa theo mặt phẳng nằm ngang nên nó tương ứng với rajas (lan rộng). Đó là ba đặc tính tương ứng với sự hiền minh, đần độn, và đam mê [47;709].
  8. Người Châu Á xem nước là biểu tượng của sự sống, sự sinh sôi nảy nở. Và vì nước mang trong nó “sự hiền minh, không chứa đựng sự tranh chấp, nước tự do và không hề bị ràng buộc, tự để mình chảy trôi theo chiều dốc của mặt đất” [47;710] nên nó được xem là “công cụ thanh tẩy” trong nghi lễ của nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới (Đạo giáo, Đạo Hồi, Kitô giáo, Ấn Độ giáo). Cùng với tính năng thanh tẩy, nước còn mang trong nó sức mạnh tái sinh, sức mạnh của sự bất tử. Sức mạnh ấy ẩn chứa dưới lớp vô thức và là sức mạnh không định hình của tâm hồn. C.G.Jung cho rằng: “nước là biểu tượng phổ biến nhất dành cho vô thức”, và về phương diện tâm lý học “nước là tinh thần đã trở thành vô thức (…). Nước là trần thế và hữu hình, nó cũng là chất lỏng của cơ thể bản năng tính, máu và là dòng lưu chuyển của máu, là mùi của thú tính, tính nhục dục mạnh với đam mê” [48; 93]. Cũng như Jung, G.Bachelard đã có những phút giây chiêm nghiệm sâu lắng với nước. Trong công trình L’Eau et les Rêves (Nước và những giấc mơ, 1942), ông đã dệt nên những “biến tấu” kỳ diệu về chủ đề nước. Ở đó có những dòng nước trong, những dòng nước mùa xuân, những dòng nước chảy, những dòng nước đa tình, những dòng nước sâu, nước tù đọng, chết chóc, nước pha tạp, nước dịu hiền, nước dữ dội… Ngần ấy dòng nước là ngần ấy biểu tượng lấp lánh tựa những tia sáng phản chiếu từ tấm gương dưới nắng mặt trời. Với G.Bachelard, nước là “một kiểu định mệnh đặc thù”. Ông cho rằng “Trong bề sâu của mình, con người đã có định mệnh của nước đang chảy” [168; 273]. Khi thịnh nộ, nước chuyển từ âm (êm đềm/ nữ tính) sang dương (dữ dội/ nam tính). Nước mang trong nó số phận, dáng vóc, tâm hồn
  9. và giọng nói. Và như vậy, nước được khám phá và nhận diện chẳng khác nào một nhân vật, một con người. Trong tâm thức người Đông Nam Á nói chung, cũng như người Việt Nam nói riêng, nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn liền với văn minh lúa nước. Rất nhiều nghi thức và nếp sinh hoạt văn hóa diễn ra bên sông. Ký ức về nước, với họ, thường đi liền với những câu chuyện cổ, những truyền thuyết, huyền thoại linh thiêng về các vị thần. Nước mang lại sự sống tốt tươi, nhưng nước cũng chứa đựng trong nó cái uy lực khiến người ta khiếp đảm, nước có khả năng nhấn chìm tất cả (lũ lụt, sóng thần…). Cũng từ đó mà xuất hiện văn hóa sùng bái nước và những lễ hội nước v.v. Về mặt từ nguyên, ở nước ta, ngoài việc chỉ một dạng vật chất, nước còn kết hợp với đất làm nên khái niệm “đất nước” - chỉ phạm vi lãnh thổ. Nằm trong trường nghĩa này còn có giang sơn, sơn hà, nước non... Với người Việt, nước không chỉ gắn với ý niệm khởi nguyên mà nó còn là những gì thân thiết, ruột thịt… Và như một lẽ tự nhiên, nước trở thành một phần kí ức, ăn sâu vào tiềm thức mỗi người. Nước thấp thoáng, ẩn hiện trong lời ăn tiếng nói của chúng ta mà nếu không để ý ta sẽ không nhận ra. Có bao giờ ta thắc mắc tại sao lại là lặn lội, quá giang, xe đò, hay tại sao lại là bể dâu, bể khổ…? Rất nhiều cách diễn đạt tương tự như vậy mà nếu làm một cuộc truy tìm ta sẽ lần ra được “sợi chỉ” dẫn đến “hệ cổ mẫu nước”. 2.2.1.2 Hệ cổ mẫu Nước trong truyện ngắn Việt Nam đương đại Huyền thoại Việt Nam ngay từ buổi đầu đã lưu giữ không ít câu chuyện về nước, có thể kể đến như sự tích Quả bầu mẹ, Đẻ đất đẻ nước, Con rồng
  10. cháu tiên, Sơn Tinh Thủy Tinh, Trương Chi, Mỵ Châu Trọng Thủy... Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, văn học Việt Nam nói chung cũng như truyện ngắn đương đại Việt Nam nói riêng, cổ mẫu Nước vô cùng sống động. Ở đó, “nước” vừa thoát thai từ tâm thức dân gian, vừa mang trong mình hơi thở cuộc sống hiện đại. Điều đặc biệt là, không chỉ dừng lại ở vai trò như một thành phần phụ mang tính điểm xuyết, nước còn được các nhà văn tái hiện như một sinh thể sống động trong tác phẩm, dưới nhiều hình thái khác nhau. Nếu ở văn chương trung đại, mưa, sương xuất hiện một cách “tiết chế” và “chưa phải là nhân vật” [170], thì đến văn học hiện đại, cùng với một số hình tượng khác, mưa, sương đã làm nên những vũ điệu đầy ám ảnh. Đó là những cơn mưa thu ầm ào chốn rừng núi như dấu hiệu của điềm bất thường: “Mùa thu này mưa nhiều. Mưa ào một cái nghe ran ran trên rừng vầu, rừng nứa, ngoảnh lại đã thấy cả Kin Chu Phìn biến mất trong màn mưa trắng xóa. Ngôi nhà tranh của Thuận oằn mình dưới sức nước xối, tưởng chừng chỉ một trận mưa nữa nó sẽ mủn nát, mục ra, nhường chỗ cho những lùm cỏ ngải hung hăng thả sức trổ xanh rì” (Cơn mưa hoa mận trắng) [11; 227]. Mưa gợi về những khát khao yêu thương ở người con gái mù lòa: “Hằng chống gậy lần ra sân. Nàng ngửa mặt lên trời, để cho những giọt mưa lây phây nhẹ bỗng đậu xuống má. (…)Hằng cứ ngước khuôn mặt nhỏ thoáng chút e lệ lên trời, mong những giọt nước mưa lại đậu xuống môi, để một lần nữa tìm lại cảm giác cái hôn của người trời” (Làn môi đồng trinh) [25; 77]. Cũng như mẹ, như bà nội, và những người đàn bà một đời lầm lũi khác, Hằng mang trong mình niềm tin rằng nếu ngửa bàn tay ra mà hứng ngay được đúng mười
  11. giọt, trong một trận mưa, thì sẽ lấy được chồng sang, sẽ suốt đời được yêu chiều, sung sướng. Với họ, mưa như một thứ ân huệ ban phát từ trời. Đến với Nguyễn Huy Thiệp, mưa, sương thực sự trở thành những nhân vật sống động trên trang viết. Đó là màu khói sương huyền hồ - đặc trưng của vùng núi Tây Bắc: “… Sương mù ở vùng núi cao khác với sương mù ở vùng đồng bằng: nó dày đặc, nó như màn sương loãng, mênh mông bí ẩn, không hoang tưởng, không làm hại ai, nó là khí núi tan ra tồi tụ lại; nó không phải hơi nước, hơi bụi và mưa nhỏ làm ta vẫn gọi là sương ở dưới đồng bằng”(Chuyện tình kể trong đêm mưa) [28; 336]. Có khi, đó lại là thứ sương mù chết chóc, sộc lên mùi tử khí của chốn rừng thiêng: “Từ dưới miệng vực, sương mù dâng lên cuồn cuộn (…). Ở hõm sâu này, gần như đều đặn năm nào cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng” (Muối của rừng) [27; 102]. Cũng có khi đó là thứ sương mù khiến người ta bấn loạn: “Tôi đứng dậy đi ra ngoài trời. Tôi nhớ lại màn sương mù xám bạc vẫn thấy ở vùng cao, thứ màu xám bạc ủ dột, nó làm thần kinh bải hoải, vô vọng tột cùng” (Tội ác và trừng phạt) [27; 420]. Thế giới của mưa, sương trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường là thế giới của bất trắc, của âu lo và sự xô lệch. Mưa mở ra câu chuyện huyền bí, huyễn hoặc về người con gái thủy thần để một đời Chương rong ruổi tìm kiếm: “Trận bão ấy, ở Bãi Nổi trên sông Cái, sét đánh cụt ngọn cây muỗm đại thụ. (…) Tạnh mưa, dưới gốc cây muỗm có một đứa bé mới sinh đang nằm. Đứa bé ấy là con gái thủy thần để lại” (Con gái thủy thần) [27;109]. Mưa là dấu hiệu bất thường cho một tai họa chết chóc: “Từ phía đằng Đông, mây đen kéo đến ùn ùn không có tí ti gió nào. Một vài hạt mưa rất to lộp độp rơi xuống mái ngói. (…)Thằng
  12. Phúc reo lớn: “Mưa đá”. Reo xong nó chạy ra sân. Bỗng lòe một cái, rồi một tiếng sét long trời lở đất vang lên. Khói ở ngoài sân bốc lên một đụn đen ngòm khét lẹt. Cô Chiêm và Phong ngã lăn ra, mái ngói xô ầm ầm. Lát sau Phong tỉnh lại, tê dại cả người, thấy cô Chiêm đang gào thét bên xác thằng Phúc giữa sân. Mưa như trút nhưng mùi khét vẫn nồng nặc”(Giọt máu) [27; 179-180]. Mưa là chứng nhân cho câu chuyện tình cảm động giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ: “Hôm Nguyễn ngỏ lời cầu hôn, trời mưa như trút. Đồn rằng hôm ấy có rồng bay trên sông Cái” (Nguyễn Thị Lộ) [27; 328]. Mưa như xoa dịu đất trời và lòng người: “Ra khỏi thung lũng, ông Diểu đi xuống cánh đồng. Mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt. Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi. Chỉ một lát sau, bóng ông nhòa vào màn mưa” (Muối của rừng) [27; 108]. Mưa xối xả như cuốn đi mọi đắng cay mặn chát ở đời: “Mưa tháng Tư là thứ mưa đầu mùa ở vùng nhiệt đới. Nhoằng một ánh chớp, một làn gió thoảng qua là mưa liền không sao lường được. Bắt đầu tưởng là cơn mưa bóng mây không phải ngại gì, bỗng thoắt là mưa đá, sấm rền, sét nổ. Mưa như roi quất, tàn bạo, hung hãn. Mây đen cuồn cuộn, gió giật liên hồi rồi mưa như những thác nước trên cao đổ xuống ào ào. (…) Rồi mưa cùng với thời gian sẽ xóa đi thôi, xóa hết/ Xóa tất cả, rửa đi tất cả” (Mưa Nhã Nam) [27;415]. Với Nguyễn Huy Thiệp, mưa như một vũ khúc đủ mọi cung bậc, khi sâu lắng, u huyền, khi ào ạt, dữ dội. Dưới những màn mưa ấy cuộc đời con
  13. người cứ lần lượt được phơi bày một cách thản nhiên, lạnh lùng, đôi khi vô tình, tàn nhẫn. Là nước trong dạng thức chuyển động không ngừng, biển tượng trưng cho sự bấp bênh đầy hoài nghi. Biển luôn phát huy thuộc tính thần thánh của nó là cho đi và lấy lại sự sống. Biển hủy diệt và tái sinh. Đứa trẻ bị ném xuống biển là một trong những huyền thoại không thể không nhắc đến khi nói ý nghĩa biểu trưng của nước. Truyện kể rằng, Morann - con trai của ông vua tiếm quyền Cairpre lúc sinh ra là một quái vật câm, người ta ném cậu bé xuống biển. Nhưng dòng nước đã phá vỡ cái mặt nạ che phủ mặt cậu. Morann được một người đầy tớ đem về và sau này trở thành người kế vị hợp pháp của cha cậu, đồng thời cũng là một quan tòa vĩ đại. Ở nước ta cổ mẫu biển xuất hiện sau Đẻ đất đẻ nước, huyền thoại Con Rồng cháu Tiên, truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, Mỵ Châu Trọng Thủy… Sự kết hợp kỳ diệu trong “thế lưỡng hợp” Âu - Lạc để cho ra đời những người con đất Việt đầu tiên là sự kết hợp giữa núi và biển (Con Rồng cháu Tiên). W.Taylor (nhà nghiên cứu Mĩ) cho rằng “Cái ý tưởng về một vị thần linh từ Nước (Biển) lên xây dựng cội nguồn… tham dự vào việc hình thành cư dân Việt Nam thời tiền sử là một ám thị sớm nhất…” [Dẫn lại: 169;504]. Biển cho con người sức mạnh, và cũng là nơi trở về sau cõi trần gian. Lạc Long Quân từ biển mà lên, để lại dòng máu Lạc Hồng rồi lại trở về với biển. An Dương Vương cũng nhờ biển mà xây dựng cơ đồ (hai lần được thần Kim Quy giúp đỡ), để rồi khi rơi vào bước đường cùng một lần nữa biển lại rẽ nước đón ông trở về. Nhưng đến truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh thì biển lại trở thành biểu tượng của kẻ thất bại và phá hoại: “Hằng năm vào
  14. khoảng tháng bảy, tháng tám vẫn thường như vậy. Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, lúa má thiệt hại cả. Người đời tương truyền rằng đó là do Sơn Tinh, Thủy Tinh tranh nhau lấy Ngọc Hoa nên Thủy Tinh dâng nước lên tàn phá cho hả” [Dẫn lại: 58;119]. Biển cũng là chứng nhân của tấn thảm kịch lịch sử (Mỵ Châu Trọng Thủy). Ký ức của dân gian về biển dường như luôn là ký ức buồn. Sóng gió. Và bất trắc. Với văn chương hiện đại, cổ mẫu biển một lần nữa được đánh thức trên các trang viết. Trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, biển gắn liền với khao khát thoát khỏi môi trường sống u uất, tù đọng của làng quê. Biển thôi thúc, bồi hồi, giục giã bước chân Chương - chàng trai một đời rong ruổi kiếm tìm con gái thủy thần: “Trước mắt tôi dòng sông đang thao thiết chảy. Sông ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết biển, mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đấy. (…)Tôi đứng lên đi về nhà. Ngày mai tôi đi ra biển. Ngoài biển không có thủy thần” [27; 125]. Với nhà văn nữ Quế Hương, biển được đặt trong một trò tung hứng diễn ra trong tích tắc nhưng nắm giữ định mệnh của cả đời người (Biển và người). Chuyến ra khơi đầu tiên của Nục, bất ngờ gặp phải bão dữ, biển phăng phăng cuốn đi tất cả. Sau 72 giờ lênh đênh - đói khát trên nước, bỏng rát dưới nắng, Nục được cứu sống. Người dân làng chài đón Nục trở về “như đón đứa con của Biển chứ không phải của Người” và lạ một điều là dù hồi phục nhanh chóng nhưng một mảng tóc của Nục trở nên “trắng như muối, kết dính thành bờm, gội xả bằng nhiều thứ dầu gội vẫn thế”. Người ta đến “lặng lẽ chạm tay vào bờm tóc muối của đứa con Biển như chạm vào nỗi đau và cả niềm hy vọng. Họ tin rằng làm thế, Biển sẽ cho họ trở về với cá mực đầy ghe”. Là nguồn tài nguyên vô tận nhưng biển cũng chất chứa trong
  15. nó đầy sóng gió, bão tố. Đó là lý do vì sao con người tự ngàn đời vẫn giữ một niềm tôn kính và khiếp sợ trước biển. Một trong những nhà văn say sưa với biển nhất, theo chúng tôi, đó là Ngô Tự Lập. Dường như khắp các trang sách của ông đều thấp thoáng bóng hình của biển cả và những con người đi ra từ biển. Biển là nguồn sống, là nơi chứa đựng cái thẳm sâu của lẽ sống. Biển chứng nhân cho sự chân thành, đồng thời cũng là nhân chứng lật tẩy cái ác… Trước biển, con người ta buộc phải đối diện với chính mình. Lật giở tập Mộng du và những truyện khác, ta có thể bắt gặp một loạt truyện “viết trên sóng nước” của Ngô Tự Lập (Vĩnh biệt đảo hoang, Bão mùa lạc, Lửa trong lòng biển, Xác chết báo thù…). Biển có lúc trở thành ranh giới tách biệt cha con người đàn ông bất hạnh với loài người (Vĩnh biệt đảo hoang). Thế giới loài người với họ chỉ là hai người. Ngôn ngữ của họ chỉ là những “tiếng ú ớ”, những “âm thanh ngọng nghịu”. Và rồi, như một quy luật tự nhiên, biển gọi về những khát khao trong tâm hồn cô gái đang độ xuân thì. Biển khơi dậy khát khao hạnh phúc, nhưng biển cũng lạnh lùng giành lại tất cả. Sự xuất hiện của người thủy thủ sau trận bão vừa mở ra trước mặt nàng một thế giới khác đã vội hất ngược nàng về trong nỗi cô đơn tuyệt vọng. Ngày người đàn ông ấy ra đi, “nàng chẳng còn nghe thấy giai điệu vui tươi, chẳng còn cảm thấy hương thơm ngây ngất. Mùa xuân đã tắt trong lòng nàng. (…)Nàng vùng chạy, lao ra biển. Mặt trăng vừa nhô lên. Biển lóng lánh căng ngực ra chào đón. Nàng lao mình xuống nước, bơi đi, bơi mãi đến không cùng” [10; 26]. Cũng có khi, biển hóa thân thành một vị quan tòa linh thiêng, đầy uy lực (Xác chết trả thù). Câu chuyện xảy ra trên con tàu TC 9071 khi tránh bão
  16. ở vùng Vụng Giải. Vì một sai lầm nghiêm trọng, con tàu bị sợi dây nilông phi ba mươi quấn chặt vào giò bên phải. Việc lặn gỡ dây neo quấn chân vịt luôn là điều ngán ngẩm đối với dân sông nước. Hải Bần - chàng trai lính cơ điện, mười chín tuổi xung phong nhận nhiệm vụ đó, đổi lại là một khoản tiền thưởng và 15 ngày phép. Hai phút, ba phút, rồi năm phút trôi qua… vẫn chưa thấy bóng dáng Hải Bần ngoi lên. Đoàn người trên tàu bắt đầu nháo nhào… Nhưng mọi cử động của họ đều “chậm chạp”, “Tiếng nước bắn tung tóe lên xung quanh tàu oang oang dường như không thật. Cả thế gian này, trong đó có chiếc tàu mấy chục con người và hành động ngụp lặn của họ cũng vậy, dường như chỉ là hư ảo” [10; 79]. Sự giả dối của họ có thể qua mắt nhau nhưng chẳng thể nào qua “mắt biển”. Vụng Giải - “chốn nước dữ từ lâu nổi tiếng linh thiêng” đã lật tẩy sự hèn nhát, giả dối. Chỉ vài phút sau khi cái xác của Hải Bần nổi lên cũng là lúc mấy chục con người “ngã vật ra boong tàu”. Biển nổi giận. Một trận gió bất ngờ đã ném chiếc tàu TC 9071 vào vách đá và nó “vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển” [10; 83]. Không sóng gió, huyền bí như những trang viết của Ngô Tự Lập, trong cái nhìn của Phan Cung Việt, biển hiện lên với vẻ trinh nguyên, mềm mại đến ngỡ ngàng: “Biển lúc này rất lạ, im lặng như nín thở. Từng mảng từng mảng lụa hồng như lặn vào phù sa. Chim bay từng đôi. Sóng đổi hướng chéo, từ Đông sang Bắc, không thẳng hướng bờ như ngày thường. Biển có màu vàng trắng, pha màu son dầu dãi là phù sa, vừa có nét cung cấm, vừa có nét chân quê” (Biển trinh nguyên) [14; 309]. Với Võ Thị Hảo, biển nhân hậu và bao dung; biển xoa dịu nỗi đau và có khả năng cứu chuộc (Biển cứu rỗi). Truyện một người lính trở về, nhưng số phận không dành cho anh một “nàng Tô Thị
  17. chờ chồng”. Đón anh, là những đứa trẻ khác bố, không cha; là cái nhìn ngơ ngác của người vợ lạc loài. Đón anh, còn là nụ cười “hơi sữa”, “đổi chác” của đứa con gái mười lăm tuổi. Nụ cười “chào khách” của nó đã hất anh ra khỏi thế giới loài người. Anh tìm đến đảo hoang, sống trong cảm giác “gớm ghiếc đàn bà” và cả đồng loại. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn người đàn ông ấy luôn là nỗi cô đơn khủng khiếp. Anh khát khao tiếng người. Anh soi mình trong gương để độc thoại với bóng. Khi sự may mắn của biển cả mang đến cho anh một người đàn bà làm bạn thì vì định kiến và ích kỉ, anh lại đẩy người ấy “chạy nhanh lên phía trước để hoàn tất số phận thê thảm của mình”. Với người đàn bà khốn khổ ấy, khi mà cả thế giới loài người xa lánh, xua đuổi thì chỉ có biển là nhân ái ôm cô vào lòng, xoa dịu những vết thương đau: “Ba ngày sau, xác người đàn bà trôi dạt vào chân đảo đèn.(…) Và anh kinh ngạc trước sự cứu rỗi của biển. Khuôn mặt tàn tạ trước đây của người đàn bà ấy bây giờ đã giãn ra, thơ thới, và không thể tin được, mang vẻ kiêu hãnh với đường viền mi khép hờ” [21; 680]. Có thể nói, với truyện ngắn đương đại cổ mẫu biển đã thực sự tái sinh. Ở đó có lúc biển rỡ ràng trong một một sớm bình minh, lại có lúc cuộn sóng như độ chiều về, để rồi tất cả lại trở nên thẳm sâu, huyền hoặc khi màn đêm buông xuống… Nhưng dù là gì đi nữa thì tình yêu đối với biển dường như không lúc nào thôi nồng nàn, da diết: “Chứng kiến biển hiền, biển ác mà vẫn không oán, cứ yêu, cứ thấy chói lòa thứ ánh sáng tráng lệ rực rỡ của biển sớm, biển chiều” (Biển và người). Cùng với Biển, cổ mẫu sông cũng được các nhà văn đặc biệt quan tâm, và ở một mức độ nào đó sông đã trở thành một hình tượng nhân vật ám
  18. ảnh trong truyện ngắn Việt Nam đương đại. “Chảy xuống từ trên núi cao, quanh co qua những thung lũng, biến mất trong những hồ và biển, dòng sông tượng trưng cho đời người với chuỗi liên tiếp những mong ước, những tình cảm, những ý định và thiên hình vạn trạng những bước ngoặt của chúng” [47; 829]. Từ khởi nguyên, sông đã bước vào huyền thoại để rồi làm nên những câu chuyện huyền bí và thơ mộng. Đó là dòng sông của những ân huệ trong truyền thuyết Do Thái; là dòng sông tẩy uế chảy ra từ mái tóc thần Shiva trong tín ngưỡng Hindu; là dòng sông Ngân Hà mỗi độ thu phân chàng Ngưu, nàng Chức gặp nhau; là dòng sông phân tách giữa mê - ngộ của bậc Thiền giả… Có thể nói, mỗi dân tộc, mỗi vùng văn hóa khác nhau lại có những huyền tích riêng về dòng chảy vắt ngang mảnh đất quê hương xứ sở. Người Hy Lạp cổ đại coi sông là đối tượng thờ cúng. Trước sông, họ luôn giữ thái độ tôn kính và sợ hãi. Với người Việt, sông thường gắn với cảm thức về quê hương, về những gì gần gũi, thân thuộc. Không gian mênh mông, thời gian ngàn đời của sông thường được lấy để diễn tả tình yêu, tình người: “Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn/ Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên”; “Sông dài cá lội biệt tăm/ Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ”; “Sông sâu sào vắn khó dò/ Kia kìa con tạo đưa đò âm cung” (Ca dao). Sông trở thành chứng nhân của bao chuyện tình huyền thoại. Đó là nơi chàng trai nghèo khó Chử Đồng Tử mưu sinh; cũng là nơi nàng công chúa xinh đẹp Tiên Dung hồn nhiên du lãng (Chử Đồng Tử). Cuộc gặp gỡ oái oăm giữa họ là một định mệnh. Sông trở thành cây cầu nối kết tình yêu của đôi trai gái “lệch chuẩn”. Họ đã dũng cảm bước qua lằn ranh của lễ giáo để làm nên một cuộc tình tự do và hiện đại
  19. nhất trong lịch sử. Cũng có khi, sông trở thành dấu tích của những tấn bi kịch tình yêu. Ở đó là bi kịch của một chàng Trương quay quắt với mối tình đơn phương, là bi kịch của một nàng Mỵ Nương luôn mang trong mình ảo ảnh và khát khao về cái tuyệt đối (Trương Chi). Đó cũng là nơi Vũ Nương trầm mình, là nơi nàng và Trương Sinh tao ngộ để rồi nhận ra sự chia cách thăm thẳm của hai cõi âm - dương… Giữa những con người ấy có một điểm gặp gỡ thú vị: họ xuất hiện bên sông và trở về với dòng sông. Nói như nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào thì “Tên nàng là Vũ Thị. Là hạt mưa sa, nàng trở về với dòng sông. Cũng như Trương Chi, người lái đò gieo mình xuống dòng sông trước khi nhập vào cây gỗ bạch đàn. Và họ mượn mặt nước để thể hiện như một ảo ảnh, lần cuối cùng, trước người tình xưa” [55; 31]. Với truyện ngắn Việt Nam đương đại, sông không chỉ dừng lại ở ý nghĩa biểu tượng mà nó còn được các nhà văn khám phá như một hình tượng nhân vật, nếu bỏ đi, cấu trúc tác phẩm sẽ trở nên rời rạc lỏng lẻo. Một trong những nhà văn dành cho sông sự ưu ái hơn cả phải kể đến Nguyễn Huy Thiệp. Dưới ngòi bút của ông, sông có khi khoác lên mình vẻ trầm mặc tự ngàn đời: “Con sông bến nước mơ màng và buồn cô liêu, nửa như chờ đợi nửa như hờn dỗi (…) Con sông tựa như giật mình phút chốc sau đó lại lặng im trôi, giống như một người hiểu biết tất cả nhưng đang mải mê suy nghĩ, chẳng cần mà cũng chẳng thèm biết đến xung quanh chộn rộn những gì” (Chảy đi sông ơi) [27; 7]. Cũng có khi sông gắn với cảm thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người: “Trước mặt tôi, dòng sông đang thao thiết chảy. Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng” (Con gái thủy thần) [27; 125]. Sông trở thành biểu tượng của thử thách: “… nước chảy bao giờ cũng xiết, có
  20. điều phải cố mà bơi cho đến được bờ” (Chảy đi sông ơi) [27; 11]. Sông cất giấu những câu chuyện huyễn hoặc về con trâu đen, những bí ẩn về người con gái thủy thần. Sông cũng là cái “hốc đen bí mật” khiến cuộc đời Trương Chi cuộn xoáy trong đó. Với Nguyễn Huy Thiệp, sông luôn phập phồng hơi thở, sau mỗi trang viết đều âm vang một dòng sông: Này nhé: này là dòng sông Định mệnh cứ cuộn cuộn chảy (Thiên văn) [27; 370] Người ta có thể hỏi vậy sông biểu tượng cho điều gì? Thật khó đưa ra lời giải đáp xác quyết cho câu hỏi ấy, bởi “mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [47; XXIII]. Mặc định cho biểu tượng một ý nghĩa nhất định là con đường nhanh nhất đẩy biểu tượng đến sự khuôn sáo, nghèo nàn. Với Mùa hoa cải bên sông Nguyễn Quang Thiều đưa ta đến một dòng sông lấp lánh ý nghĩa. Gia đình ông Lư sinh sống trên dòng sông, sông gắn với những buồn vui, đau khổ, với sự ghẻ lạnh gớm ghiếc của người đời. Khi người trên bờ xua đuổi gia đình ông như “xua đuổi một thứ ma quỷ gieo rắc cái chết” [19; 518] thì chỉ có dòng sông đón họ vào lòng. Trên con sông ấy, ông từng vật vờ ôm xác vợ khóc suốt ba ngày đêm; từng lặn xuống tận đáy kiếm tìm cho người vợ bất hạnh một chốn yên nghỉ. Sông là chốn bình yên và cũng là dòng nước thanh tẩy: “Hãy để nước sông đêm cuốn đi mọi bẩn thỉu
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2