intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non: Một số giải pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng bếp bán trú tại trường mầm non

Chia sẻ: Caphesua | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

11
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non được hoàn thành với một số biện pháp như: Xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng tổ chức bếp ăn bán trú; Giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; Kiểm soát khâu chế biến, nấu nướng; Giám sát cẩn thận khâu bảo quản thực phẩm; Chú trọng lưu mẫu thực phẩm;...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non: Một số giải pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng bếp bán trú tại trường mầm non

  1. I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Bậc học Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có  nhiệm vụ hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của con người mới XHCN. Cần  giáo dục cho trẻ trở thành những người có cả đức lẫn tài, cường tráng về thể chất,  sảng khoái về tinh thần, xứng đáng là người kế tục, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,   là những chủ nhân tương lai của đất nước. “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” Trẻ em là niềm vui, là nguồn hạnh phúc lớn của mỗi gia đình, xứng đáng có  được những thứ tốt nhất để phát triển. Bác Hồ đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan” Ở độ tuổi này trẻ rất non nớt và nhạy cảm, phát triển mạnh mẽ về thể chất  và tâm lý. Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ phát triển ở giai đoạn này là rất khó. Như chúng ta đã biết, đứa trẻ sinh ra cần được chăm sóc nuôi dưỡng để trẻ  có điều kiện phát triển một cách toàn diện về  “Đức, Trí, Thể, Mĩ”, trong đó giáo  viên là lực lượng nồng cốt quyết định sự phát triển đó. Vì vậy, muốn trẻ có được   những điều kiện tốt nhất để  phát triển toàn diện đòi hỏi cô nuôi phải là một giáo  viên có trình độ  văn hoá, trình độ  chuyên môn nghiệp vụ  vững vàng. Đặc biệt cô  nuôi phải có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực thật thà, và có lòng nhân ái, có tâm   hồn cao thượng trong sáng, có khả  năng tuyên truyền phối hợp với phụ huynh và   các lực lượng khác trong xã hội. Biết yêu thương tôn trọng trẻ, luôn coi trẻ  như  con đẻ của mình. Trong thời gian gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin   nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong các nhà hàng, quán ăn và các cơ sở giáo  dục mầm non. Giáo viên trong các nhà, nhóm trẻ tư thục đánh đập, hành hung các   cháu... làm cho phụ  huynh hoang mang, lo lắng đồng thời làm mất uy tín của cán  bộ giáo viên của bậc học Mầm non. Vì vậy, việc tổ chức quản lý công tác bán trú cho trẻ trong các trường Mầm   non cần được chú trọng đúng mức; công tác an toàn vệ sinh dinh dưỡng phải được  đặt   lên  hàng  đầu;   không  để   dịch  bệnh,  ngộ   độc  thực  phẩm  xảy  ra  trong  nhà  trường, không để hành vi thô bạo xảy ra đối với trẻ. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi mỗi một cán bộ  giáo viên phải thực hiện   nghiêm túc công tác an toàn thực phẩm. Mua thực phẩm phải đảm bảo tươi ngon,   xanh, sạch, hợp vệ  sinh, rẻ  tiền, giàu chất dinh dưỡng, sẵn có tại địa phương,   Thực hiện hợp đồng với các cơ  sở  uy tín để  mua thực phẩm sạch, tươi ngon, an  toàn. sơ  chế  biến thực phẩm theo quy trình bếp ăn một chiều; đồ  dùng, dụng cụ 
  2. phục vụ chế biến thực phẩm cho trẻ thường xuyên vệ sinh sạch sẽ, luộc nước sôi   hàng ngày. Nhà bếp, công trình vệ sinh phải thoáng mát, lau chùi, quét dọn thường  xuyên; hệ  thống cấp thoát nước, khai thông cống rãnh, không có ruồi, muỗi, lăng  quăng, bọ gậy,... Biết lên thực đơn phù hợp theo mùa, tính khẩu phần ăn của trẻ  trên phần   mềm dinh dưỡng. Không chỉ dừng lại ở đó mà giáo viên dinh dưỡng cần phải biết   linh hoạt trong việc thay đổi và chế biến món ăn, làm sao cho bữa ăn của trẻ đảm   bảo về  chất cả  về  lượng, đảm bảo vệ  sinh an toàn thực phẩm giúp trẻ  ăn ngon  miệng và ăn hết suất. Đảm bảo chất lượng bữa ăn góp phần giúp nhà trường giảm bớt tỷ  lệ  trẻ  suy dinh dưỡng trong địa bàn. Giáo viên dạy các lớp phải trung thực trong báo ăn, thực hiện nghiêm túc  quy chế nuôi dạy trẻ, tổ chức vệ sinh cá nhân như  lau mặt, rửa tay cho trẻ trước   khi ăn, sau khi đi vệ sinh bằng xà phòng dưới vòi nước sạch, tuyệt đối không lấy  đồ của trẻ này dùng cho trẻ khác. Chú trọng vệ sinh lớp học, đồ dùng học tập của  trẻ cần phải vệ sinh sạch sẽ.  Tổ chức cho trẻ ăn ngon miệng hết khẩu phần, hình thành và rèn luyện một  số hành vi văn minh trong ăn uống, trong sinh hoạt hàng ngày, dịu dàng thương yêu  trẻ, không quát mắng, đánh đập, doạ  nạt trẻ, phải  “ân cần khi cháu khóc, nhẹ   nhàng khi cháu biếng ăn”. Nhà trường phải trang bị đầy đủ thiết bị đồ dung phục vụ bán trú cho trẻ, đồ  dùng phải trang bị  theo hướng hiện đại, an toàn, có khả  năng sử  dụng lâu bền,  không gây tai nạn, ngộ độc đối trẻ.  Là một cán bộ  quản lý được nhà trường phân phụ  trách công tác bán trú tại   trường. Đây là một nhiệm vụ  hết sức cao cả đầy trách nhiệm vì 100% trẻ  ăn tại   trường, sức khỏe trẻ  thế  nào là phụ  thuộc vào chế  độ  chăm sóc nuôi dưỡng tại   trường. Xã hội ngày càng phức tạp, ngày càng có nhiều thực phẩm trên thị trường  nhiễm các chất hóa học độc hại nếu không cẩn thận sẽ  dẫn đến hậu quả  khó  lường. Phải thực sự  tỉnh táo, sáng suốt trong khâu chọn lựa thực phẩm, đề  cao  cảnh giác khi tổ chức cho trẻ ăn tại trường.  Để góp phần làm tốt nhiệm vụ đó, tôi  đã thực hiện nhiều biện pháp để nâng  cao vai trò trách nhiệm  của mình, trong đó theo tôi thấy vấn đề  phải làm sao để  chỉ  đạo nâng cao chất lượng bếp bán trú tại trường mầm non là nhiệm vụ  cấp   thiết nên tôi đã mạnh dạn chọn đề  tài: “Một số  giải pháp chỉ  đạo nhằm nâng   cao chất lượng bếp bán trú tại trường mầm non”   làm sáng kiến cải tiến kỹ  thuật năm học 2014 ­ 2015. 2. Phạm vi áp dụng đề tài
  3. Do thời gian có hạn nên tôi chỉ  nghiên cứu đề  tài trong phạm vi một trường  mầm non. Đế  tài chỉ  tập trung nghiên cứu “Một số  giải pháp chỉ  đạo nhằm nâng cao   chất lượng bếp bán trú tại trường mầm non” II. PHẦN NỘI DUNG 1. Thực trạng nội dung cần nghiên cứu Trường mầm non tôi đang công tác được thành lập vào ngày 30 tháng 9 năm  1989. Trường có 2 khu vực nằm ở 2 thôn. Về cơ sở vật chất nhà trường có 100%  phòng học kiên cố  và bán kiên cố  đảm bảo sạch sẽ  cho trẻ  học tập và vui chơi.   Trường xây dựng khuôn viên xanh, sạch, đẹp và môi trường học tập thân thiện với  trẻ. Tính đến thời điểm năm học 2014­2015 về tình hình đội ngũ cán bộ giáo viên,  nhân viên trong nhà trường gồm có:   37 đồng chí. Trong đó:   Cán bộ  quản lý : 2  đồng chí (1 hiệu trưởng, 1 phó hiệu trưởng). Giáo viên: 24 đồng chí (có 05 giáo  viên mới hợp đồng).  Nhân viên: 11 đồng chí (8 đồng chí nhân viên dinh dưỡng).   Trường tổ  chức hai bếp ăn bán trú và có 10/10 nhóm lớp với tổng số  trẻ được ăn   bán trú  335 cháu.  Tổ  chức thực hiện cho trẻ  ăn bán trú tại trường tôi có những  thuận lợi và không tránh khỏi những khó khăn sau: a. Thuận lợi: Trường được sự  quan tâm giúp đỡ, chỉ  đạo của các cấp lãnh đạo, chính   quyền địa phương trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Trường đã tổ  chức cho trẻ ăn bán trú tại trường đã nhiều năm nên có nhiều   thuận lợi  về các điều kiện về  cơ  sở  vật chất, các trang thiết bị  phục vụ  cho nhà   bếp được trang cấp đầy đủ và bổ sung hàng năm. Cụ thể là: 100% bếp có đầy đủ  đồ  dùng, dụng cụ  theo quy định bếp ăn bán trú, có tủ  lạnh, có máy tính cài đạt phần mềm dinh dưỡng, các lớp có đủ  đồ  dùng, dụng cụ  phục vụ việc ăn cho trẻ tại trường. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường rất quan tâm đến vấn đề  chăm sóc sức khỏe cho trẻ, nhất là giáo viên trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ  tâm  huyết với nghề nghiệp, luôn năng cao vai trò, trách nhiêm của mình, đa số giáo đều  có trình độ chuẩn và trên chuẩn, cơ kiến thức cơ bản về chăm sóc nuôi dạy trẻ. Có phẩm chất đạo đức tốt, thật thà, tận tụy với công việc, nhiệt tình chăm  sóc  trẻ,  không  ngại   khó, ngại  khổ,  giàu lòng  yêu thương các  cháu.  Thực  hiện   nghiêm túc quy chế chuyên môn, tích cực rèn luyện cho trẻ có nề nếp học tập, sinh  hoạt tốt. Hội cha mẹ  học sinh ngày càng nhận thức cao về  giáo dục mầm non, nhu   cầu dinh dưỡng của trẻ mầm non, quan tâm đến việc ăn bán trú tại trường của con   trẻ tại trường, số trẻ có nhu cầu ăn bán trú tại trường ngày càng cao.
  4. Ở địa phương, phụ huynh có các thực phẩm dồi dào đảm bảo để nhà trường  tin tưởng hợp đồng. Trường đã có nhân viên y tế, trạm y tế quan tâm chăm sóc, kết hợp khám sức   khỏe cho các cháu.          Nhà trường có nhân viên kế toán nên theo dõi thu chi tiền ăn của trẻ theo đúng  nguyên tắc tài chính hiện hành. Hội phụ huynh hưởng  ứng tích cực trong việc tổ chức bán trú cho trẻ, nâng   mức ăn của trẻ theo yêu cầu. b. Khó khăn: Một số  phụ  huynh nhận thức về  vấn đề  vệ  sinh an toàn thực phẩm chưa  cao,  chưa biết kết hợp chặt chẽ với cô giáo để  chăm sóc bữa ăn cho trẻ.  Trường  đống trên địa bàn rộng, dân cư  đông, điều kiện kinh tế, mức thu nhập của bà con   không đồng đều, chủ  yếu là làm ruộng nên nhà trường gặp nhiều khó khăn trong   việc huy động cơ sở vật chất phục vụ bán trú.  Tuy cơ  sở  vật chất và đồ  dùng phục vụ  tổ  chức cho trẻ  ăn tại trường đã  được củng cố và mua bổ sung hàng năm song vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục   mới đảm bảo phục vụ công tác bán trú cho trẻ ăn tại trường được tốt. Chẳng hạn   như  một số  bếp đã xuống cấp, diện tích chật hẹp, một số  đồ  dùng, dụng cụ  còn  hạn chế. Các phòng ăn, phòng ngủ chưa phù hợp theo yêu cầu quy định của điều lệ  trường mầm non... Bên cạnh đó, về  phía nhân viên dinh dưỡng, bằng cấp chủ  yếu là chế  biến   món ăn chứ chưa có kinh nghiệm chế biến món ăn cho trẻ trong trường mầm non   nên khó khăn trong việc tính toán, cân đối khẩu phần và chế  biến các món ăn cho   trẻ.  Từ tình hình thực tế đó của nhà trường, bản thân tôi rất lo lắng luôn cố gắng   tìm tòi những biện pháp áp dụng vào trong quá trình chỉ  đạo bếp bán trú và bước   đầu đem lại những kết quả khá tốt. 2. Các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức bếp ăn bán trú: 2.1. Xây dựng kế hoạch Với nhiệm vụ được phân công chỉ đạo công tác bán trú, tôi đã tham mưu với   lãnh đạo nhà trường thành lập ban chỉ  đạo bếp ăn bán trú của trường. Trong ban  chỉ đạo có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, công đoàn, chi đoàn, ban đại diện   cha mẹ  học sinh, tổ  trưởng, tổ  phó các khối, cụm trưởng 2 điểm trường. Sau khi   thành lập được ban chỉ đạo tôi đã tiến hành xây dựng kế hoạch cụ thể công tác chỉ  đạo bếp ăn bán trú, áp dụng phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị  trường,  xây  dựng quy trình quản lý của nhà trường. Phân công trong ban giám hiệu mỗi đồng 
  5. chí phụ  trách mỗi điểm trường để  chỉ  đạo, kiểm tra, giám sát chặt chẽ  các bếp,  thực hiện việc quản lý thực phẩm từ khâu giao nhận đến khâu tổ chức bữa ăn cho  trẻ... Phân công rõ ràng  phần hành trong ban chỉ đạo một cách cụ thể, đúng người,  đúng việc. Ví dụ:       ­ Đồng chí Hiệu trưởng: Chịu trách nhiệm chung về  chất lượng dinh dưỡng,   Thường xuyên kiểm tra đốc thúc giáo viên thực hiện nghiêm túc, kiểm tra nhà bếp.   Giải quyết những thắc mắc của giáo viên, nhà bếp theo hoàn cảnh.       ­ Đồng chí Phó hiệu trưởng: Phụ trách về chất lượng dinh dưỡng, kiểm tra nhà  bếp. Báo cáo lên BGH những vướng mắc của nhà bếp và giáo viên dinh dưỡng  trong quá   trình thực hiện. Cùng với BGH, giáo viên dinh dưỡng, nhân viên y tế  lựa chọn   thực đơn phù hợp. Giải quyết những thắc mắc của giáo viên, nhà bếp. Trực tiếp   hướng dẫn giáo viên tính khẩu phần trên phần mềm dinh dưỡng, hướng dẫn giáo  viên thực hiện và hoàn chỉnh hồ sơ dinh dưỡng, nhà bếp.        ­ Đồng chí nhân viên y tế :    Có trách nhiệm phối hợp với giáo viên dinh dưỡng lên thực đơn hàng tuần  cho phù hợp. Tiếp nhận và kiểm tra thực phẩm, nắm số  lượng trẻ  các lớp, số  lượng báo ăn. Kiểm tra quy trình thực hiện bếp một chiều, kiểm tra việc lưu mẫu   thức ăn, kiểm thực ba bước, vệ sinh nhà bếp hàng ngày cụm 1.  ­ Đồng chí nhân viên kế toán:  Bán phiếu ăn ;  Làm các loại hồ sơ sổ sách như:   Sổ theo dõi báo ăn của trẻ toàn trường, sổ theo dõi thu chi, sổ chấm cơm của  trẻ, các loại hóa đơn chứng từ, các loại hợp đồng.    Chịu trách nhiệm thu, chi tiền ăn của trẻ  từng ngày cho nhà bếp. Có trách   nhiệm tiếp nhận và kiểm tra thực phẩm, nắm số lượng trẻ các lớp, số  lượng báo   ăn. Kiểm tra quy trình thực hiện bếp một chiều, kiểm tra việc lưu mẫu thức ăn, vệ  sinh nhà bếp hàng ngày của cụm 2.   ­ Đồng chí tổ trưởng chuyên môn ­ Cụm trưởng cụm 1:      Có trách nhiệm kiểm tra tiếp nhận thực phẩm hàng ngày, nắm số lượng báo  ăn các lớp trong cụm 1.   ­ Đồng chí tổ trưởng chuyên môn ­ Cụm trưởng cụm 2:    Có trách nhiệm kiểm tra tiếp nhận thực phẩm hàng ngày, nắm số lượng báo  ăn các lớp, kế toán củacụm 2. Với giải pháp này công tác bán trú đã có nhiều tiến bộ rõ rệt: Điều trước hết   là hội cha mẹ  học sinh rất tin tưởng và nhiệt tình cùng nhà trường để  nâng cao  chất lượng bếp ăn bán trú. Hội đã giới thiệu cho nhà trường những địa chỉ bán hàng 
  6. tin cậy, đảm bảo, cung cấp các thực phẩm sẵn có, tươi, ngon trong địa phương cho  các bếp. Từng bước nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ. Đội ngũ nhân viên dinh dưỡng làm việc có lề  lối, tinh thần trách nhiệm cao   với công việc. Thực hiện đúng quy trình chế  biến của bếp một chiều, đảm bảo  nhiệm vụ được phân công trong từng bếp. 2.2 Giải pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Vệ sinh an toàn thực phẩm  hiện nay đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn   xã hội. Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là kết quả  của cả một quá  trình từ  khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Để  đảm bảo vệ  sinh an toàn thực phẩm trong   trường mầm non là một nhiệm vụ  đòi hỏi phải có sự  đồng loạt, kĩ lưỡng trong   từng khâu   đặc biệt trong khâu chế  biến, nhằm đảm bảo vệ  sinh an toàn thực   phẩm, đạt yêu cầu chất lượng bữa ăn cho trẻ, không để xảy ra trường hợp bị ngộ  độc thực phẩm... Để  có nguồn thực phẩm  đảm bảo chất lượng và an toàn, ngay từ  tháng   8/2014, BGH nhà trường, cùng đội ngũ giáo viên bàn bạc, thống nhất chế  độ  ăn  uống và tổ  chức họp phụ huynh tuyên truyền về  vệ sinh an toàn thực phẩm, cách  nuôi dạy con có khoa học. Thông báo và mời các cá nhân, cơ  sở  có độ  tin cậy  ở  trong địa bàn đến, ký hợp đồng thực phẩm nhằm được cung cấp thực phẩm đảm  bảo chất  lượng về  vệ  sinh  an toàn thực phẩm một cách thường xuyên và được  đảm bảo cam đoan có tính pháp lý trước pháp luật của bên cung cấp thực phẩm,  đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định. Khi giao nhận thực phẩm phải có sổ  ghi chép về  tình trạng thực phẩm (chất lượng, số lượng), có nhân viên nhà bếp, đại diện giáo   viên kiểm tra, đại diện của BGH nhà trường hoặc cụm trưởng các điểm trường  cùng kiểm tra chất lương thực phẩm. Một số thực phẩm không có nguồn cung cấp   thực phẩm cố  định thì vận động  phụ  huynh cung cấp hoặc đóng góp thực phẩm  tươi sạch, an toàn cho bữa ăn của trẻ tại trường. ­ Chất lượng thực phẩm: + Đối với hợp đồng mua thịt: Các gia súc, gia cầm giết mổ  để  bán cho nhà  trường phải có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ  mạnh, không mắc bệnh và phải được  kiểm dịch của cơ quan thú y. Sau khi giết mổ xong phải bảo quản thịt sạch sẽ, an   toàn vệ sinh, không cho ruồi nhặng và các vi sinh vật khác bám vào. + Đối với hợp đồng mua Trứng: Vịt, Gà nuôi đẻ  trứng bán cho nhà trường  phải khoẻ mạnh, không ăn các chất kích thích, thực hiện tiêm phòng dịch theo quy  định của cơ  quan thú y. Trứng đem bán cho nhà trường phải là trứng tươi, không  bán trứng đẻ  lâu ngày, trứng vựa, trứng thối, nếu có dịch phải báo ngay với nhà   trường để ngừng cung cấp. + Đối với hợp đồng mua Gạo: Gạo đem bán cho nhà trường phải tươi ngon,   không ẩm mốc, không để chuột, gián và các loại côn trùng khác bám vào.
  7. + Đối với hợp đồng mua rau, củ: Cơ sở trồng rau phải thực hiện bón phân,   phun thuốc trừ  sâu theo quy định của cơ  quan bảo vệ  thực vật; không được tưới   phân tươi, phun thuốc kích thích. Rau củ đem bán cho nhà trường phải nguyên vẹn,   tươi màu, không được đem rau củ dập nát, úa màu bán cho nhà trường. ­ Số lượng: Đáp ứng theo nhu cầu của nhà trường. ­ Giá cả: Phù hợp với giá cả thị trường. ­ Thời gian giao nhận thực phẩm: Vào 6h30 các buổi sáng hàng ngày, khi   nhận thực phẩm ngoài nhân viên nhà bếp có đại diện của trường cùng kiểm tra  chất lượng thực phẩm. Mặc dù  có  hợp  đồng cung cấp thực phẩm nhưng người tiếp  nhận thực   phẩm tại trường phải có trách nhiệm và phải có kiến thức để  có thể  nhận biết   được các thực phẩm tươi sạch hoặc không đảm bảo vệ sinh an toàn. ­ Địa điểm: Tại bếp ăn của trường. Hai bên thực hiện theo quy định nếu bên nào thay đổi hợp đồng phải báo cho   bên kia biết trước 15 ngày, nếu bên nào tự ý huỷ bỏ hợp đồng mà không thông báo   cho bên kia biết trước theo quy định thì bên đó phải chịu hoàn toàn trách nhiệm  trước pháp luật. Tuyên truyền giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong toàn thể đội ngũ cán  bộ, gióa viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh thông qua nhiều hình thức: Các buổi   hội họp của trường, họp phụ  huynh, các tổ  chức đoàn thể  ban ngành trong  địa  phương giáo viên lồng ghép nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào trong quá trình   chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Chú trọng công tác vệ  sinh: Vệ  sinh môi trường, xử  lí các chất thải.  Dùng  nước sạch, an toàn để chế biến thức ăn đồ uống và rửa dụng cụ. Với giải pháp này trường đã đảm bảo an toàn vệ  sinh trong năm học, các đợt   kiểm tra các đoàn đều có kết quả tốt. 2.3 Kiểm soát khâu chế biến, nấu nướng Các đồng chí trong ban giám hiệu nhà trường thường xuyên đến trực tiếp các  bếp mình phụ trách để hướng dẫn và kịp thời uốn nắn những tồn tại cho nhân viên   nhà bếp, có biện pháp để  xử  lí những nhân viên dinh dưỡng không thực hiện các   yêu cầu sau trong khâu chế biến, nấu nướng: Yêu cầu các bếp đảm bảo quy trình  chế biến, nấu nướng theo nguyên tắc  bếp một chiều và chia ra 3 khu vực: nguyên   liệu nhập về, sau khi sơ chế (nhặt, rửa, thái...) chuyển vào bếp (nguyên liệu sạch),  chế biến nấu nướng xong chuyển thức ăn chính sang khu vực chia, phân phối thức  ăn và cuối cùng là vận chuyển tới các lớp. Các khu vực phải có biển hiệu rõ ràng.  Bảo đảm đường đi của thực phẩm theo một chiều từ  khâu tiếp nhận thực phẩm   sống đến khâu chia thức ăn. 
  8. Trong khâu chế biến, nấu nướng thì phải chú ý: nguyên liệu sạch không để  với nguyên liệu bẩn, các nguyên liệu khác nhau (thịt, cá, rau...) cũng không được để  lẫn với nhau vì chế  độ  nấu nướng khác nhau. Sơ  chế  cẩn thận thực phẩm sống:   Khi đã có thực phẩm tươi phải sơ chế và cho vào chế biến ngay không nên để quá  60 phút (đặc biệt là thịt, cá tươi).  Thường xuyên giám sát nhân viên để  tạo thói  quen sơ chế thực phẩm trên bàn hoặc bệ, tránh để thực phẩm xuống đất hoặc sát   đất. Thức ăn chín không được để  lẫn với thức ăn sống.  Các dụng cụ  như  dao,  thớt... để  chế  biến thực phẩm sống các thực phẩm chín phải sử  dụng riêng biệt.  Nên đựng thực phẩm trong các dụng cụ  có nắp đậy để  tránh có sự  tiếp xúc giữa   thực phẩm sống và chín.      Dùng màu có nguồn gốc tự  nhiên (gấc, lá gừng, nghệ, lá cơm nếp...) hoặc  phẩm màu trong danh mục cho phép. Không sử dụng hóa chất, phụ gia thực phẩm   nằm ngoài danh mục không cho phép của bộ y tế.   Những biện pháp này đã giúp nhân viên dinh dưỡng làm việc có nguyên tắc,  đảm bảo vệ  sinh một cách tuyệt đối, đảm bảo dinh dưỡng thực phẩm trong quá  trình sơ chế, chế biến, nắm chắc được công việc trong công tác phục vụ bếp trong  trường mầm non.  2.4  Giám sát cẩn thận khâu bảo quản thực phẩm Kiểm soát bảo quản thục phẩm bao gồm: Kho bảo quản thực phẩm, b ảo   quản thực phẩm trước khi nấu, bảo quản thực phẩm sau khi nấu chín, lưu mẫu  thực phẩm. Tổ  chức vệ  sinh bếp thường xuyên, có biện pháp phòng chống chuột,   côn  trùng, gián, sâu bọ... Nhà trường thường xuyên kiểm tra các đồ  dùng đựng thức phẩm trước khi  nấu: Phải đựng các thực phẩm bẩn, sạch ở các dụng cụ riêng biệt, các thực phẩm  khác nhau không được bỏ  chung trong một dụng cụ và tuyệt đối không di chuyển   ngược chiều chế biến.  Thực phẩm sau khi nấu chín được chuyển sang khu vực chia, chia thực phẩm   đảm bảo đúng “Quy phạm sản xuất tốt”, các đồ  dùng đựng thực phẩm chia cho   các lớp phải được dùng riêng biết, có kí hiệu, có nắp đậy.  Bảo quản thực phẩm ở  nhiệt độ  an toàn: Không để  thực phẩm đã nấu chín  ở  nhiệt độ  trong phòng quá 2   giờ đồng hồ. Bảo quản thực phẩm trong tủ  lạnh: Không đưa quá nhiều thức ăn còn  ấm  hoặc thức ăn đang nóng vào tủ  lạnh. Thực phẩm để  trong tủ  lạnh phải để  trong   hộp có nắp đậy kín. Không để  thực phẩm sống để  lẫn với thực phẩm chín. Phải  thường xuyên giữ  gìn vệ  sinh tủ  lạnh (làm vệ  sinh tủ  ít nhất 1 tuần 2 lần). Đảm   bảo thời hạn giữ thực phẩm trong tủ lạnh với một số thực phẩm.
  9. Không để  hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật hoặc các chất gây độc khác trong  khu vực chế biến, bảo quản thực phẩm. Thực phẩm cần che đậy tránh bụi, ruồi nhặng hay sự xâm nhập của côn trùng  gặm nhấm và các động vật khác. Dầu ăn, mỡ  phải được để  trong dụng cụ  có   nắp đậy kín, tránh tiếp xúc với không khí. Tránh để  dầu ăn, mỡ ở nơi có nhiệt   độ cao, nhiều ánh sáng. Dùng trong thời hạn nhất định. Khi có mùi hôi hoặc khét  phải bỏ ngay. Tuyệt đối không dùng lại dầu ăn hoặc mỡ đã qua sử dụng. Với việc giám sát và hướng dẫn kỹ  cách cách bảo quản nên trong năm học   không có thực phẩm nào bị  hư  hỏng, không có trường hợp ngộ  độc thực phẩm,   không có trường hợp nào sử dụng hàng quá thời hạn. 2.5. Chú trọng lưu mẫu thực phẩm:  * Lưu mẫu thức ăn:  Mỗi bữa ăn (kể  cả  bữa phụ) yêu cầu các bếp phải để  lại một suất thức ăn  trong tủ  lạnh  để  khi có nghi ngờ  ngộ  độc thực phẩm thì  mang suất  ăn  đi xét  nghiệm để tìm nguyên nhân ngộ độc thực phẩm. Yêu cầu lưu mẫu thực phẩm cần   đảm bảo 3 đủ:  + Có đủ  dụng cụ  để  lưu mẫu thực phẩm, dụng cụ  phải được rửa sạch, khử  trùng, có nắp đậy. Mỗi loại thức ăn phải để trong một hộp riêng. + Có đủ  lượng mẫu tối thiểu: Thức ăn đặc khoảng 150 gam, thức ăn lỏng  khoảng 250 ml. + Đủ  thời gian lưu mẫu thực phẩm là 24 giờ. Mẫu lưu bảo quản ở ngăn mát   tủ lạnh (00C đến 5 0C) Người lưu mẫu thực phẩm cần ghi rõ ngày, giờ, tên người lấy mẫu thực ăn và   niêm phong. Khi có ngộ  độc thực phẩm xảy ra vẫn phải giữ niêm phong, chỉ  mở  khi có sự chứng kiến của các cơ quan chức năng. Để thực hiện bảo quản thực phẩm tôi đã tham mưu với nhà trường bổ sung   cho các bếp đầy đủ  đồ  dùng, dụng cụ  đựng các thực phẩm, thường xuyên kiểm   tra, nhắc nhỡ  và có biện pháp để  các nhân viên dinh dưỡng thực hiện một các  nghiêm túc và tự giác, hướng dẫn ghi rõ ràng sổ lưu mẫu thực phẩm. Ý nghĩa của việc lưu mẫu thức ăn: Khi tìm được nguyên nhân gây ngộ  độc  thực phẩm ta sẽ  biết được trách nhiệm thuộc về  người cung cấp thực phẩm hay  trường Mầm non liên quan đến bữa ăn tại nhà của trẻ. Từ  đó có biện pháp chữa  ngộ  độc kịp thời và rút kinh nghiệm để  đề  ra các biện pháp hữu hiệu để  phòng  tránh ngộ độc thực phẩm cho trẻ tại trường mầm non. Cô nuôi phải được khám sức khoẻ  định kỳ  1lần/năm, không mang bệnh truyền   nhiễm. 2.6. Giải pháp hướng dẫn xây dựng thực đơn
  10. Khẩu phần là suất ăn của một người trong một ngày nhằm đáp ứng về  nhu  cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ  thể. Vì vậy, xây dựng  khẩu phần là công việc chính và là công việc hàng ngày của giáo viên dinh dưỡng  đối với công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Bởi vì qua thực đơn hàng ngày cô nuôi biết  điều chỉnh việc mua thực phẩm sao cho phù hợp, để  đảm bảo việc cung cấp thực   phẩm đầy đủ, cân đối các chất dinh dưỡng nhằm đảm bảo định lượng calo trong  mỗi ngày  ở  trường của trẻ. Cần giúp giáo viên xây dựng khẩu phần ăn cân đối,  hợp lý, đầy đủ năng lượng, sau đó phải đủ các chất dinh dưỡng cần thiết với một   tỷ lệ cân đối mới hấp thu, tiêu hoá tốt và đáp ứng nhu cầu một cách tối ưu. Ví dụ: Khi xây dựng thực đơn cho một ngày hoặc một tuần thì cần đảm bảo  các chất dinh dưỡng; phải gồm đủ  4 nhóm thực phẩm (Nhóm chất béo, nhóm bột  đường, nhóm chất đạm và nhóm cung cấp vitamin và muối khoáng). Bữa ăn chính  phải có các thức ăn giàu protein như: cá, thịt, trứng hoặc đậu đỗ, lạc, vừng. Khi xây dựng khẩu phần và thực đơn cần xây dựng phù hợp theo mùa, theo   tuần. Lựa chọn thực phẩm sẵn có ở địa phương giá cả rẽ, phù hợp với mức ăn của  trẻ. Không phải mọi thực phẩm luôn sẵn có để  lựa chọn, chúng phụ  thuộc vào  nhiều yếu tố  như: Điều kiện cung cấp, thời vụ. Mặt khác để  trẻ  ăn ngon miệng   món ăn cần thay đổi hàng ngày. Do đó cần thay thế  thực phẩm này bằng thực  phẩm khác đồng thời phối hợp các loại thực phẩm để chúng bổ sung cho nhau. Ví dụ: Có thể  thay thế  thịt bằng cá hoặc đậu phụ, lạc. Hay thay thế  gạo   bằng bột mỳ, bột gạo... Ngoài ra trong quá trình chỉ  đạo tôi rất chú trọng công việc xây dựng   thực đơn, đặc biệt là khuyến khích xây dựng các thực đơn mới, hấp dẫn đảm  bảo nguyên tắc sau:    ­ Thực đơn cần bảo đảm các chất dinh dưỡng: đủ  4 nhóm thực phẩm P, L,   G, Vitamin và muối khoáng.    ­ Cùng một loại thực phẩm phải sử dụng cho tất cả các chế  độ  ăn để  tiện   cho công tác tiếp phẩm và việc tổ chức nấu ăn cho trẻ của nhà bếp.     ­ Thực đơn là những thực phẩm sẵn có của địa phương, phù hợp theo mùa:  vừa đảm bảo dinh dưỡng vừa rẻ tiền trẻ lại ăn ngon miệng, kinh tế.     ­ Lên thực đơn tuần: phù hợp với việc sử dụng đủ  loại thực phẩm và việc   bảo quản thực phẩm, việc chuẩn bị thực phẩm nấu cũng chủ động hơn.   ­ Thực đơn cần thay đổi món ăn để  trẻ  khỏi chán. Ví dụ: sáng ăn thịt, chiều   ăn cá          Sau khi xây dựng được các thực đơn mới, chúng tôi cùng thảo luận, tính toán  và thực hành, theo dõi trẻ  ăn. Nếu thực đơn phù hợp, đảm bảo dinh dưỡng,  hấp   dẫn trẻ ăn ngon thì nhà trường tiến hành nhân rộng thực đơn cho các điểm trường  cùng tham khảo và thực hiện. Giao cho mỗi bếp xây dựng ít nhất là 10 thực đơn để 
  11. cùng trao đổi, học hỏi, bổ sung cho nhau. Những thực đơn mới có hiệu quả ban chỉ  đạo nêu gương để  khuyến khích đội ngũ nhân viên tích cực tìm hiểu và xây dựng   được nhiều thực đơn mới đảm bảo nguyên tắc xây dựng thực đơn. Trong năm học  này đã có nhiều thực đơn mới được nhân làm mẫu cho cả 3 điểm trường. 2.7 Cân đối khẩu phần ăn Muốn đảm bảo chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường nhân viên dinh dưỡng   phải biết cân đối khẩu phần ăn cho trẻ một cách khoa học và hợp lí, đặc biệt là   tính khẩu phần ăn cho trẻ qua phần mềm dinh dưỡng. Một khẩu phần cân đối và   hợp lí trước hết cần đủ: Năng lượng, chất dinh dưỡng (4 nhóm thực phẩm: P­L­ G­Vitamin và muối khoáng).  Khi mới nhận nhiệm vụ giao phụ trách dinh dưỡng tôi đã trực tiếp yêu cầu   các đồng chí phụ trách bếp tính và cân đối khẩu phần ăn cho trẻ hàng ngày, thực tế  cho thấy các đồng chí đã thực hiện các thao tác trên phần mềm nhanh, biết lựa  chọn thực phẩm, cân đối tỷ lệ giữa các chất nhưng chưa phù hợp số lượng với số  lượng tại sổ giao nhận thực phẩm, tỷ lệ các chất P, L động vật thực vật đang tính  theo mẫu giáo, số  lượng thực phẩm động vật, rau củ  quả  vượt quá quy định của  một trẻ  / ngày vì theo quy định lượng thịt, tôm, cá...không vượt quá 70g/trẻ/ngày.  Rau, củ, quả: 30­50g/trẻ/ngày. Tôi đã có ý kiến và đề xuất với lãnh đạo nhà trường và hướng dẫn giáo viên tính   khẩu phần ăn, dưỡng chất cho trẻ thực theo số lượng mua và cân đối tỷ lệ, hướng  dẫn giáo viên căn cứ theo bảng sau khi cân đối khẩu phần ăn cho trẻ. BẢNG NĂNG LƯỢNG THỨC ĂN CỦA TRẺ HẰNG NGÀY I. Nhu cầu năng lượng KCLO II. Tỷ lệ cân đối các chất Tên lớp Bữa chính Bữa phụ Cả ngày P L G Nhà trẻ 655,3 ­ 708 54,5 ­ 118 708 ­ 826 12 ­ 15 35 ­ 40 45 ­53 Mẫu giáo 588 ­ 641,5 147 ­ 204,5 735 ­ 882 12 ­ 15 20 ­ 30 55 ­ 68 Tên lớp Năng  Năng  Tỷ lệ Tỷ lệ bửa  Tỷ lệ  Quy định  lượng cần  lượng cần  chính tại  bửa phụ  ĐV ­ TV đạt cả  đạt ở  trường tại  ngày trường trường Nhà trẻ 1180 708 ­ 826 60 ­70% 55 ­ 65% 5 ­ 10% 60 ­ 40% Mẫu giáo 1470 735 ­ 882 50 ­ 60% 35 ­ 40% 10 ­ 15% 50 ­ 50% Ngoài ra, cần cân đối giữa P, L động vật, thực vât, điều chỉnh, cân đối lượng   dầu, mỡ cho đảm bảo yêu cầu, không vượt quá theo quy định trong khẩu phần ăn. Ví dụ:  Thịt, cá, trứng bữa chính: 25­50g/suất ; Bữa phụ: 15­ 20 g/suất.             Ruốc, nước mắm, Magi: 1 trẻ không quá 10 g/ ngày             Dầu, mỡ nước bữa chính: 10 ­15 g/suất.
  12. Đội ngũ giáo viên phục vụ bếp đã tích cực bổ sung, điều chỉnh theo sự hướng dẫn   và cân đối khẩu phần cho trẻ  từng bước kịp thời dễ dàng hơn khi đi chợ, khi lên   thực đơn đảm bảo định lượng khẩu phần ăn cho trẻ, nắm được dưỡng chất của 1   trẻ và từ đó có nhiều kinh nghiệm hơn khi xây dựng thực đơn mới đảm bảo suất ăn  của 1 trẻ. Sau được một thời gian, do nhà trường không đủ số lượng giáo viên đứng lớp theo  quy định nên đã hợp đồng nhân viên dinh dưỡng mới và có 8 đồng chí được vào   nấu ăn tại 2 bếp, qua tìm hiểu và kết hợp kiểm tra thì kết quả cho thấy: 8/8 đồng  chí mới học kỹ  thuật nấu ăn, còn kiến thức về phần dinh dưỡng của trẻ em hiểu   chưa thấu đáo, việc cân đối khẩu phần trên phần mềm dinh dưỡng chưa nắm   được. Trước thực trạng đó tôi đã mạnh dạn đề  xuất nhà trường tạo điều kiện để  tổ  chức bồi dưỡng tập trung cho các đồng chí nhân viên dinh dưỡng mới vào các   buổi chiều để hướng dẫn những điều cơ  bản, những quy định của bếp ăn bán trú   mầm non và đặc biệt là hướng dẫn tính khẩu phần ăn, kết quả dưỡng chất của trẻ  trên phần mềm dinh dưỡng, đồng thời đề xuất nhà trường tạo điều kiện cho những  đồng chí giáo viên phụ trách các bếp lâu năm cùng giúp đỡ, hướng dẫn kèm cặp tại   các bếp, chú ý hướng dẫn trực tiếp trong buổi chiều khi tính và cân đối khẩu phần  ăn cho trẻ. Với biện pháp đó một thời gian không xa, qua kiểm tra các đồng chí nhân   viên dinh dưỡng bước đầu đã biết cân đối, tính khẩu phần ăn và đến nay 8/8 đồng   chí biết cân đối khẩu phần ăn cho trẻ  một cách thành thạo, đảm bảo dưỡng chất  cho trẻ theo quy định, chất lượng các bữa ăn được tăng lên rõ rệt. 2. 8 Chỉ đạo phối hợp với giáo viên trên lớp để nâng cao chất lượng bữa   ăn Chất lượng bữa ăn của trẻ tại trường mầm non đạt hiệu quả đến mức độ nào   hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên trực tiếp cho trẻ ăn. Để làm được điều  đó tôi luôn trao đổi, hướng dẫn nhân viên phục vụ bếp phối hợp chặt chẽ với các  giáo viên trên lớp để động viên trẻ ăn hết suất ăn, qua đó còn lồng nghép giáo dục   về dinh dưỡng cho trẻ thông qua các món ăn. Trong bữa ăn hàng ngày phải tạo tâm  thế  thoải mái, kích thích, khuyến khích trẻ  ăn, tránh bức xúc, gắt gỏng trẻ  trong   bữa ăn. Giáo viên cần giới thiệu các món ăn cho trẻ  một cách hấp dẫn bằng các   hình thức nhằm kích thích sự muốn ăn của trẻ như đố trẻ ngửi mùi vị đoán tên món  ăn, đố trẻ về màu sắc của thức ăn... Chỉ đạo đội ngũ giáo viên tổ chức vệ sinh sạch sẽ, có những thông tin trao đổi  về chất lượng các bữa ăn, món ăn để góp ý cho nhân viên dinh dưỡng những khắc  phục, tồn tại để đảm bảo chất lượng bữa ăn cho các cháu, đồng thời khuyến khích  đội ngũ giáo viên cùng tìm hiểu về dinh dưỡng trẻ em qua nhiều hình thức như tài  
  13. liệu, sách báo, các thông tin qua mạng và tổ chức thi tìm hiểu dinh dưỡng trẻ mầm   non được đội ngũ hưởng ứng tích cực. Ngoài ra, chỉ đạo các giáo viên thiết lập hồ sơ quản lý chế độ ăn của trẻ: * Đối với giáo viên các lớp: Ngoài các loại hồ sơ theo quy định mỗi lớp có 1 sổ theo dõi trẻ ăn hàng ngày,   khi đón trẻ giáo viên theo dõi chấm ăn đầy đủ, chính xác. Sau khi báo ăn, giáo viên  kí ngay vào sổ  báo ăn tại nhà bếp và chịu trách nhiệm về  số  lượng báo ăn trong   ngày của trẻ tại lớp đó. * Đối với giáo viên dinh dưỡng cần có đầy đủ các loại hồ sơ sau:   ­ Sổ báo ăn   ­ Sổ giao nhận thực phẩm   ­ Sổ tính khẩu phần ăn ­ Sổ chợ   ­ Sổ tổng hợp khẩu phần dinh dưỡng ­ Sổ dự kiến khẩu phần ăn của trẻ ­ Sổ lưu mẫu thức ăn ­ Sổ kiểm thực ba bước ­ Thực đơn tuần * Đối với nhà trường: ­ Sổ quy tiền mặt (dành cho việc theo dõi thu ­ chi tiền ăn của trẻ) ­ Phiếu ăn của trẻ hàng ngày ­ Hồ sơ quản lý chế độ ăn của trẻ được thiết lập tư giáo viên các nhóm lớp  đến giáo viên dinh dưỡng và nhà trường sẽ  giúp cho hiệu trưởng, các đồng chí   trong ban giám hiệu, phụ  huynh và các cấp giáo dục có cơ  sở  kiểm tra chế  độ  ăn  hàng ngày của trẻ một cách chính xác, chặt chẽ, khách quan. Ngoài ra nếu phát hiện vi phạm cũng dễ  dàng quy trách nhiệm cụ  thể  cho  từng cá nhân. Mặt khác, hàng ngày giáo viên dinh dưỡng viết các loại thực phẩm   đã mua vào phiếu kê mua hàng; đồng chí kế toán có chứng từ chi tiền ăn đồng thời   giúp cho nhà trường kiểm soát được việc mua ăn cho trẻ hàng ngày, kịp thời ngăn   chặn các biểu hiện tiêu cực có thể xảy ra. Với sự  chỉ  đạo phối hợp này, chất lượng các món ăn của trẻ  ngày càng có  chất lượng cao, đội ngũ giáo viên đã chân tình góp ý và tổ dinh dưỡng đã xây dựng   và thực hiện chế biến các món ăn ngon, hấp dẫn, trẻ  ăn ngon miệng và hết suất.  Trước nhũng kết quả  đạt được đó, hội cha mẹ  học sinh và phụ  huynh rất vui   mừng, ngày càng tin tưởng khi cho con đến trường ăn cơm và ở lại tại trường cùng   cô. 2.9. Thực hiện công tác kiểm tra chế độ ăn của trẻ * Kiểm tra việc báo ăn của giáo viên các lớp:
  14. Bất kì thời điểm nào trong ngày, ban giám hiệu nhà trường cũng có thể kiểm  tra được số  lượng báo ăn của các lớp: kiểm tra sau khi đón trẻ; trong khi tổ  chức   cho trẻ  ăn, trong khi trẻ đang nằm ngủ, khi trẻ  đang hoạt động chung, hoạt động  góc... * Có thể kiểm tra chế độ ăn của trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau như: ­ Về tại các lớp kiểm tra số lượng trẻ có mặt rồi đối chiếu với số lượng báo  ăn tại nhà bếp; hoặc về nhà bếp ghi số lượng trẻ đã báo ăn rồi đến các lớp kiểm   tra số lượng trẻ có mặt. ­ Đối chiếu số  lượng báo ăn của giáo viên và số  lượng trẻ  tại các lớp nếu  trùng nhau thì giáo viên báo ăn đầy đủ, chính xác; nếu số  lượng không trùng thì  giáo viên phải trình bày lý do; có một số trường hợp trẻ đi học nhưng  không báo  ăn do gia đình có tiệc cưới, cúng giỗ, hoặc có người thân đi công tác xa lâu ngày  mới về... ban giám hiệu nhà trường xem xét kết luận chính xác. * Kiểm tra đối với nhân viên nhà bếp: ­ Kiểm tra việc mua thực phẩm của nhân viên + Nội dung kiểm tra: số lượng, giá cả, chất lượng thực phẩm. ­ Số  lượng: Nhà trường căn cứ  vào sổ  giao nhận thực phẩm hàng ngày của   giáo viên và người hợp đồng bán thực phẩm để kiểm tra. Thực hiện cân đong theo quy định, đảm bảo chính xác, trung thực. ­ Chất lượng thực phẩm: Những thực phẩm đã được hợp đồng cũng như  chưa hợp đồng cần kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trước khi đưa  vào sử  dụng. Đối với thực phẩm đã được hợp đồng kiểm tra thực tế, thực phẩm   đã nhận, đối chứng với hồ sơ sổ sách; đối với thực phẩm chưa được kí hợp đồng   thì chú ý thêm nhãn mác, bao bì, hạn sử dụng. ­ Phân công giáo viên dinh dưỡng thường xuyên theo dõi, kiểm tra phát hiện   thực phẩm nếu không đảm bảo an toàn thì trả ngay cho người bán; tuyệt đối không   nhận và chế biến cho trẻ... ­ Giá cả: Nắm tình hình giá cả thị trường cho từng thời điểm cụ thể cân đối   với giá cả trong sổ giao nhận thực phẩm. Nhà trường không ép giá của người bán  nhưng cũng không để người bán lợi dụng nâng giá thực phẩm. ­ Kiểm tra hồ  sơ: Giáo viên dinh dưỡng phải xuất trình đầy đủ  các loại hồ  sơ cho nhà trường kiểm tra; hồ sơ phải ghi chép đầy đủ các thông tin theo yêu cầu,   trong đó chú ý về số lượng, thời gian, đơn giá, thành tiền và chữ kí của người giao,   người nhận thực phẩm. Người kiểm tra phải tinh thông nghiệp vụ, nhanh nhạy, linh hoạt. Kiểm tra   việc tính toán, ghi chép của giáo viên đối chiếu với tình hình thị  trường để  có kết  luận chính xác. Kiểm tra quá trình sơ  chế  biến thực phẩm của giáo viên theo quy  
  15. trình bếp ăn một chiều, phù hợp với đặc điểm trẻ  mầm non, đảm bảo vệ  sinh an  toàn thực phẩm. ­ Kiểm tra quy trình chế  biến, chia ăn: Việc chế  biến thực phẩm cho trẻ  phải thực hiện theo 10 nguyên tắc vàng về chế biến dinh dưỡng cho trẻ. Qua kiểm   tra giúp cho giáo viên thận trọng hơn, chú ý vệ sinh sạch sẽ hơn; chia ăn đảm bảo  chính xác, gọn gàng hơn. * 10 nguyên tắc vàng chế biến thực phẩm an toàn: 1. Lựa chọn thực phẩm tươi, sạch, an toàn. 2. Thực hiện “ ăn chín, uống sôi”, rửa sạch, ngâm kĩ, gọt vỏ  rau quả  tươi   trước khi sử dụng. 3. Ăn ngay khi thức ăn vừa được nấu chín 4. Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn đã được nấu chín 5. Đun kĩ lại thức ăn trước khi sử dụng 6. Rửa tay trước khi chế  biến thực phẩm, đặc biệt sau khi đi vệ  sinh hoặc  tiếp xúc với nguồn dễ gây ô nhiễm khác 7. Không để  lẫn thực phẩm sống với thực phẩm chín, không dùng chung  dụng cụ chế biến thực phẩm sống với thực phẩm chín 8. Bảo đảm dụng cụ, nơi chế biến thực phẩm phải khô ráo, gọn gàng sạch   sẽ, hợp vệ sinh. 9. Tuyệt đối không sử dụng thực phẩm ôi thiu, hỏng mốc, quá hạn sử dụng. 10. Sử dụng nguồn nước sạch, an toàn trong chế biến thực phẩm. Để  thuận lợi cho việc chế  biến thực phẩm bếp ăn trong nhà trường phải   đảm bảo nguyên tắc một chiều và chia 3 khu vực:  ­Khu tập kết, sơ chế thực phẩm sống. ­Khu chế biến thực phẩm. ­Khu pha chế thực phẩm chín ­ hoa quả, chia thức ăn. Các khu vực này phải có biển rõ ràng. Đảm bảo đường đi của thực phẩm   theo một chiều từ  khâu tiếp nhận thực phẩm sống đến khâu chia thức ăn: Tiếp  nhận thực phẩm =>Chế biến thực phẩm=>Chia thức ăn. 2.10. Chú trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ nhân viên dinh dưỡng.           Để nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú thì điều không thể bỏ qua đó là công   tác bồi dưỡng đội ngũ. Muốn vậy phải nắm bắt, hiểu rõ chuyên môn, nghiệp vụ  thì công tác bồi dưỡng mới có hiệu quả. Hiểu rõ điều đó bản thân tôi không ngừng  học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến bếp ăn của trẻ tại   trường mầm non, chắt lọc và vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế  của nhà  trường. Bên cạnh đó, tôi đã nghiên cứu các sách bồi dưỡng dành cho cán bộ quản lí   và giáo viên qua hàng năm, ghi chép và khắc sâu những điểm mới, sự thay đổi các 
  16. nội dung, sách bồi dưỡng thường xuyên năm 2014­2015 và các tài liệu khác có liên  quan đến dinh dưỡng của trẻ. Sau đó tôi đề xuất và xây dựng kế hoach bồi dưỡng  chuyên môn cho đội ngũ, tham gia các buổi tập huấn chuyên môn, hội thảo do   ngành tổ chức, tích cực xây dựng ý kiến, và điều chỉnh kế hoạch. Sau khi có công  văn chấn chính về  công tác bán trú của PGD Lệ  Thủy, tổ  chức bồi dưỡng ngay   những điều cần bổ  sung, điều chỉnh, hướng dẫn cụ  thể  các loại hồ  sơ  của từng   đồng chí trong công tác bán trú và đi vào thực hiện, kiểm tra chấn chỉnh những tồn  tại còn gặp phải. Việc tổ  chức bồi dưỡng cho giáo viên có thể  tiến hành bằng  nhiều hình thức: Kiểm tra, giám sát, trao đổi, lắng nghe ý kiến trong toàn thể  đội  ngũ. Thường xuyên học hỏi các đơn vị  bạn có tổ chức bếp ăn bán trú để  nắm bắt  được các thông tin, học hỏi thêm kinh nghiệm trong chuyên môn cũng như  kiến  thức cần bồi dưỡng cho đội ngũ. Bản thân tôi luôn tìm hiểu các vấn đề  có liên  quan đến bếp ăn bán trú, các vấn đề  nhảy cảm về vệ sinh an toàn thực phẩm qua  mạng một cách thường xuyên để kịp thời chấn chỉnh, có kế hoạch thực hiện nhằm   đảm bảo an toàn tuyệt đối về  chất lượng bữa  ăn, tránh ngộ  độc thực phẩm...   Trong năm qua bản thân tôi đã học hỏi thêm được nhiều kiến thức về dinh dưỡng   trong trường mầm non, chỉ đạo, bồi dưỡng đội ngũ, nhất là nhân viên dinh dưỡng  phụ  trách trực tiếp các bếp nắm chắc nhiều kiến thức như: Những kiến thức cơ  bản về ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm, các biện pháp đảm bảo  an toàn thực phẩm và phòng chống ngộ độc thực phẩm trong trường mầm non, các   khâu trong chế  biến, nấu nướng, các khâu trong bảo quản thực phẩm, cân đối và  tính khẩu phần, xây dựng các thực đơn mới... 2.11. Quản lý tốt quỹ tiền ăn của trẻ. Thực hiện tốt việc báo ăn, điểm danh hàng ngày, kế toán đối chiếu số suất ăn  trên các lớp với số tiền ăn thu được trong ngày. Quản lý chặt chẽ  các khoản thu­ chi liên quan đến vấn đề  ăn uống của trẻ.  Thực hiện tài chính công khai hàng ngày, có sự  thống nhất giữa sổ báo ăn của kế  toán, sổ chợ của tiếp phẩm và sổ tính khẩu phần ăn hàng ngày.   Không dùng quỹ  tiền ăn của trẻ  vào các hoạt động khác hoặc mua sắm  những đồ dùng không phải là lương thực, thực phẩm sử dụng trong các bữa ăn của   trẻ III. PHẦN KẾT LUẬN 3.1. Ý nghĩa của đề tài Trong quá trình nghiên cứu và chỉ đạo nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú tại   trường mầm non, bản thân tôi đã cố  gắng, với nhiệt huyết và khả  năng hiểu biết  của mình, cùng với sự  chỉ  đạo, quan tâm giúp đỡ  của lãnh đạo nhà trường đã tạo  
  17. điều kiện cho tôi áp dụng các biện pháp trong quá trình chỉ  đạo bếp ăn bán trú có  hiệu quả cao trong năm học được mọi người ghi nhận. Đó là: ­ 100% phụ  huynh tin tưởng vào công tác tổ  chức cho các cháu ăn, nghỉ  tại  trường, đóng góp tiền ăn đầy đủ, đúng thời gian quy định (Mua phiếu ăn trong   tuần) ­ 100%  nhân viên dinh dưỡng nắm được kiến thức cơ  bản về  công tác tại  bếp ăn mầm non, 100% biết tính khẩu phần ăn trên phần mềm dinh dưỡng theo  quy định. ­ 100% bếp ăn trong trường có đủ  điều kiện cần thiết để  phục vụ  tổ  chức   bếp ăn theo quy định, cải tạo bếp ăn tại điểm trường chưa được công nhận bếp ăn   an toàn. ­ Qua các đợt kiểm tra của y tế dự phòng, VSATTP... đều đạt theo yêu cầu  quy định. ­ Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng về thể cân nặng, thể thấp còi về chiều cao giảm  rõ rệt so với đầu năm học. Cụ thể là: Về cân nặng: + Khối MG: Tỷ lệ trẻ SDD giảm xuống còn 4,4% so với đầu năm học giảm   7,9%. Riêng trẻ  5 tuổi  tỷ lệ trẻ SDD giảm xuống còn 3,8 % so với đầu năm học   giảm 5,2% + Khối NT: Tỷ lệ trẻ SDD 5,8% so với đầu năm học giảm 6,0%  Về chiều cao: + Khối MG: Tỷ  lệ  trẻ  thấp còi giảm xuống còn 7,2% so với đầu năm học  giảm 5,5%.  + Khối NT: Tỷ  lệ  trẻ  thấp còi giảm xuống còn 5,8% so với đầu năm học  giảm 9,9%. Những kết quả đạt được như  trên là nhờ  trong quá trình chỉ  đạo tôi đã phối   hợp áp dụng các biện pháp một cách có hiệu quả. Đến thời điểm này có thể khẳng   định rằng: Muốn thực hiện tốt công tác nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú trong  trường mầm non, trước hết nhà trường phải thành lập được ban chỉ  đạo bếp ăn   bán trú của nhà trường ngay từ đầu năm học, trong ban chỉ đạo phải có đầy đủ các   thành phần: BGH nhà trường, đại diện công đoàn, chi đoàn, giáo viên nồng cốt, các  tổ  trưởng, tổ  phó về  chuyên môn, trường có nhiều điểm trường thì phải có các  cụm trưởng phụ  trách các điểm trường, đại diện cha mẹ  học sinh, giáo viên có   kinh nghiệp trong việc nấu ăn cho trẻ. Phân công phần hành, công việc rõ ràng phù  hợp với điều kiện và khă năng của từng đồng chí trong ban chỉ đạo. Phải xây dựng   kế hoạch cụ thể về công tác chỉ đạo bếp ăn bán trú, bám sát các công văn chỉ đạo  của các cấp, xây dựng kế hoạch năm, tháng cụ  thể, hàng tháng có đánh giá để  rút   kinh nghiệm và bổ sung kế hoạch cho phù hợp với thực tế.
  18. Áp dụng đồng bộ  các biện pháp đảm bảo vệ  sinh an toàn thực phẩm: Làm   tốt công tác tuyên truyền về  vệ sinh an toàn thực phẩm, trường phải tìm cá nhân,  cơ sở tin cậy để hợp đồng mua thực phẩm đẩm bảo về số lượng, chất lượng theo  quy định, vận động phụ huynh cung cấp những thực phẩm sắn có trong địa phương  bán cho nhà trường nhằm đảm bảo an toàn. Đội nngũ nhân viên phục vụ tại các bếp phải đảm bảo các điều kiện về con  người: Phải có giấy phép đảm bảo sức khỏe của y tế xác nhận, có kiến thức về  vệ  sinh an toàn thực phẩm, nắm được quy trình chế  biến, nấu nướng, biết cách  bảo quản, lưu mẫu thực phẩm, có đầy đủ các loại hồ sơ sổ sách theo quy định. Đội ngũ CB, GV, NV trong trường cần thường xuyên học hỏi để  có những  kiến thức cơ bản về dinh dưỡng trẻ, các điều kiện kiến thức, yêu cầu về  bếp ăn   bán trú tại trường mầm non để cùng nhau trao đổi, góp ý giúp bếp ăn bán trú đảm   bảo an toàn tuyệt đối về vệ sinh, chất lượng các món ăn, bữa ăn, là lực lượng nòng  cốt trong công tác tuyên truyền về các vấn đề có liên quan đến bếp ăn bán trú, vệ  sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh công tác tham mưu với nhà trường để mua sắm đầy đủ cơ sở vật   chất phục vụ cho việc chế biến và tổ chức bữa ăn cho trẻ, điều kiện bếp bán trú. Đội ngũ nhân viên dinh dưỡng phải thường xuyên kết hợp với giáo viên trên  lớp để  hướng dẫn cho trẻ  làm quen với các nhóm chất dinh dưỡng có  ở  trên địa   phương và qua đó giáo dục cho trẻ  biết được tầm quan trọng của các chất dinh  dưỡng đó.  Biết lựa chọn thực phẩm tươi ngon, biết cách xây dựng kế hoạch, thực đơn  ngày, tuần phù hợp theo mùa, theo tình hình thực phẩm tại địa phương, đảm bảo   các chất dinh dưỡng trong quá trình chế biến. Cần phải biết  ứng dụng công nghệ  thông tin trong quá trình công tác, sáng   tạo, linh hoạt khi thực hành trên máy, phần mềm dinh dưỡng. Biết cân đối tỉ lệ các  chất, giữa thực phẩm động vật, thực vật, phải nắm chắc được quy trình chế biến  thực phẩm. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh.  Việc đảm bảo nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú trong trường mầm non   cho trẻ là mối quan tâm lớn của toàn xã hội hiện nay. Do đó vai trò của nhà trường  trong công tác chỉ đạo bếp ăn bán trú là rất quan trọng, phải làm thế nào để chỉ đạo  nhân viên dinh dưỡng ở trường bán trú thì đây là một trách nhiệm nặng nề mà đòi  hỏi người phụ trách trực tiếp chỉ đạo bếp ăn bán trú tại trường phải luôn luôn năng  động, sáng tạo và đầu tư có hiệu quả trong công tác xây dựng và tiếp cận công tác  chăm sóc giáo dục trẻ.          Mục đích của nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú trong trường mầm non là  nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ, giúp trẻ  khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phát 
  19. triển thể chất và trí tuệ, tạo cơ  sở  để  phát triển toàn diện về  mọi mặt…Chính vì  vậy mà mỗi chúng ta cần phải quan tâm và đầu tư  có hiệu quả  vào trong công tác   chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ để giúp trẻ có một sức khỏe tốt. Đó là những   kinh nghiệm quý báu theo chúng ta đi suốt những năm tháng trong công tác làm công  tác chăm sóc giáo dục trẻ  và nhất là đối với đội ngũ cán bộ  , giáo viên, nhân viên   trong trường mầm non. Qua nhiều năm công tác, bản thân tôi nhận thấy đây là bài   học giúp cho bản thân có những kiến thức cơ bản trong công tác chỉ đạo chăm sóc,  nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở trường mầm non, đặc biệt là tìm các biện pháp nâng  cao chất lượng chỉ  đạo bếp ăn bán trú cho trẻ  tại trường. Nhờ  không ngừng phát  huy những thành tích đã đạt được, trên cơ sở đó tiếp tục nâng cao trách nhiệm của  mình đối với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ mà chất lượng của trường ngày càng  được cải thiện và nâng cao về mọi mặt, góp phần đáp ứng với xu thế và yêu cầu   của xã hội.  Thường xuyên đổi mới công tác chăm sóc giáo dục có hiệu quả  về  công tác   chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả  các bậc cha mẹ  học sinh và cộng đồng  thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú cho trẻ  mầm non trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, góp phần trong công cuộc xây dựng  đất nước và thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu. 3.2. Kiến nghị, đề xuất: Trước yêu cầu phát triển của giáo dục Mầm non trong thời kỳ công nghiệp  hoá, hiện đại hoá đất nước, để  ngày càng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục   toàn diện cho trẻ tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị sau: ­ UBND huyện cần tuyển nhân viên dinh dưỡng cho các trường. Việc tuyển  nhân viên dinh dưỡng có bằng cấp phù hợp và làm việc đúng với chuyên môn sẽ  giúp cải thiện và nâng cao đáng kể chất lượng bếp ăn của các trường.  ­ Hàng năm, cần chú trọng bồi dưỡng chuyên môn về  dinh dưỡng, công tác   bán trú cho các trường trong các đợt tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn của phòng.            Trên đây, là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân. Là một cán bộ quản lý tôi  sẽ cố gắng nhiều hơn nữa và chuyển tải những kinh nghiệm vốn có của bản thân   để trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp ở các trường bạn. Tuyên truyền sâu rộng đến   tất cả các bậc cha mẹ học sinh và cộng đồng thấy được tầm quan trọng của việc   tổ  chức bữa ăn cho trẻ  trong trường mầm non.   Rất mong nhận được sự  góp ý,  nhận xét của Hội đồng khoa học các cấp và các đồng chí đồng nghiệp để bản thân  có được những kinh nghiệm quý báu giúp việc nâng cao chất lượng bếp ăn bán trú  cho trẻ  ở trường mầm non ngày một tốt hơn, góp phần đáng kể trong công tác giáo   dục và chăm sóc trẻ mầm non ­ những mầm xanh tương lai của đất nước.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2