intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Chia sẻ: Ngaynangmoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:45

32
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài là tạo hứng thú cho các em tìm hiểu và nhận thức về di sản văn hóa dân tộc bởi ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa… nên nó có khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, cách nhìn và việc hình thành nhân cách của học sinh. Khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản và chuyển giao cho học sinh để các em cũng nhận thức được những giá trị đó thì giáo viên sẽ giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, đồng thời giúp các em có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT PHẠM HỒNG THÁI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: DẠY HỌC TỰ CHỌN MÔN NGỮ VĂN 12 GẮN LIỀN BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO Lĩnh vực : Dạy học Bộ môn : Ngữ văn Tác giả : Lê Thị Bích Thủy Tổ : Ngữ văn và Ngoại ngữ Năm học : 2020 – 2021 Điện thoại : 0912 447 469 1
  2. MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1 I. Đặt vấn đề 1 II. Mục đích nghiên cứu 2 III. Đối tượng nghiên cứu và thể nghiệm 3 1. Đối tượng nghiên cứu 3 2. Đối tượng trải nghiệm 3 IV. Phương pháp nghiên cứu 3 1. Phương pháp nghiên cứu 3 2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 3 3. Phương pháp thực nghiệm 3 4. Phương pháp khảo sát, điều tra 3 5. Phương pháp phân tích số liệu 3 V. Đóng góp mới của đề tài 4 VI. Lĩnh vực áp dụng của đề tài 4 PHẦN NỘI DUNG 5 I. Cơ sở lí luận 5 1. Phương pháp cũ 5 2. Phương pháp mới 5 II. Cơ sở thực tiễn 8 III. Tổ chức thực hiện 9 1. Khái niệm 9 2. Đặc trưng cơ bản của dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm 9 nhằm phát triển năng lực học sinh. 3. Quy trình tổ chức dạy học trải nghiệm sáng tạo 10 2
  3. 3.1. Các bước thực hiện 10 IV. Quy trình tổ chức dạy học tự chọn môn Ngữ văn 12 gắn liền bảo 12 tồn di sản văn hóa thông qua hoạt động trải nghiệm thông qua bài dạy “Bàn về giá trị văn hóa dân tộc” trong chương trình Ngữ Văn 12. V. Trình bày số liệu điều tra, khảo sát tình hình thực tế liên quan đến 24 đề tài. 1. Bảng tổng hợp số liệu điều tra học sinh về tổ chức dạy học Ngữ 24 văn ở trường THPT gắn liền bảo tồn di sản văn hóa thông qua hoạt đông trải nghiệm sáng tạo 2. Bảng tổng hợp số liệu điều tra giáo viên về tổ chức dạy học Ngữ 27 văn ở trường THPT gắn liền bảo tồn di sản văn hóa thông qua hoạt đông trải nghiệm sáng tạo 3. Nhận xét số liệu điều tra học sinh và giáo viên về việc tổ chức 30 hoạt động hình thành kiến thức cho học sinh trong dạy học tự chọn môn Ngữ văn ở trường THPT thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo KẾT LUẬN 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 3
  4. PHẦN MỞ ĐẦU I. Đặt vấn đề Trong Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học là mục tiêu hàng đầu của sự nghiệp giáo dục hiện nay. Giáo dục phổ thông nước ta hiện nay đã và đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất của người học. Một trong những cách học phát huy được vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo là học qua trải nghiệm. Học thông qua trải nghiệm là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho mọi môn học, đặc biệt là môn Ngữ Văn nhằm phát triển cho học sinh những năng lực đặc thù của môn học. Phương pháp giáo dục trải nghiệm là một phương pháp tiếp cận chính cho việc học tập lấy học sinh làm trung tâm. Nghiên cứu đề tài “Dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo” giúp tôi tiếp cận và nắm sâu sắc hơn về đề án đổi mới phương pháp giảng dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như có thêm cơ hội tìm hiểu các di sản văn hóa dân tộc và đồng thời cũng giúp tôi giảng dạy có hiệu quả hơn. Phương pháp dạy học qua trải nghiệm lôi cuốn học sinh vào các hoạt động tư duy phản biện, giải quyết vấn đề và ra quyết định trong những hoàn cảnh cụ thể với từng cá nhân. Phương pháp này cũng tạo ra những cơ hội để các em tổng kết và củng cố lại những ý tưởng và kỹ năng của mình thông qua việc phản hồi, phân tích, chiêm nghiệm cũng như những ý tưởng và kỹ năng đã tiếp thu trong những tình huống mới. Thông qua hoạt động trải nghiệm, nguồn kiến thức học sinh thu được sẽ hết sức phong phú, không chỉ trong sách vở, từ thầy cô mà còn từ thực tế khiến việc học trở nên gắn bó với đời sống và gần gũi với các em hơn. Mục đích nền giáo dục của chúng ta là hướng tới việc phát huy năng lực toàn diện cho học sinh. Chúng ta không chỉ giáo dục học sinh về kiến thức khoa học mà còn hình thành và rèn luyện cho các em những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống; bồi đắp cho các em tình yêu, niềm tự hào về quê hương đất nước. Vì vậy những hiểu biết về di sản văn hóa dân tộc sẽ làm dày thêm vốn kiến thức để từ đó giúp các em phát 4
  5. triển về trí tuệ; đặc biệt là bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, có ý thức bảo tồn và phát huy những di sản văn hóc quý báu mà ông cha ta để lại. II. Mục đích nghiên cứu “Dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo” nhằm để: - Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong thời đại mới là đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức kỹ năng của người học… để từ đó phát triển năng lực của người học. Nói cách khác là thực hiện tốt mục tiêu đổi mới phương pháp giảng dạy, đa dạng hóa hình thức dạy học mà vấn đề trọng tâm là chuyển giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện bản lĩnh cá nhân, tự nhận thức năng lực và phát huy được các kỹ năng phong phú trong cuộc sống để học sinh có thể ứng phó với những tình huống phức tạp trong cuộc sống. - Hình thành những năng lực đặc thù của môn học: năng lực thẩm mỹ và năng lực giao tiếp tiếng Việt. Ngoài ra còn rèn luyện và phát triển một số năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực quản lí bản thân, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin. Hình thành những phẩm chất trí tuệ có ích trong học tập, công việc và cuộc sống: tính linh hoạt, tư duy phản biện, tính tích cực, chủ động, sáng tạo, giải quyết vấn đề và ra quyết định trong những hoàn cảnh cụ thể. - Tạo hứng thú cho các em tìm hiểu và nhận thức về di sản văn hóa dân tộc bởi ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa… nên nó có khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, cách nhìn và việc hình thành nhân cách của học sinh. Khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản và chuyển giao cho học sinh để các em cũng nhận thức được những giá trị đó thì giáo viên sẽ giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, đồng thời giúp các em có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản. Từ đó, học sinh sẽ có được cách nhìn, cách đánh giá riêng của mình cũng như có ý thức bảo tồn về giá trị của những di sản văn hóa dân tộc. - Làm đa dạng hóa nội dung, hình thức dạy học các tiết tự chọn trong chương trình. - Nghiên cứu đề tài “Dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo” mục đích còn là trải nghiệm hoạt động dạy học ứng dụng các kỹ thuật dạy học mới như: dạy học theo dự án, hoạt động nhóm, hỏi – đáp, thuyết trình… III. Đối tượng nghiên cứu và thể nghiệm: 1. Đối tượng nghiên cứu 1.1. Cơ sở lí luận của đề tài 5
  6. 1.2. Các kiến thức bộ môn, liên môn, các tài liệu liên quan sử dụng để thực hiện đề tài 1.3. Kiến thức về di sản văn hóa dân tộc: di sản cố đô Huế, phố cổ Hội An 2. Đối tượng trải nghiệm - Học sinh lớp 12A3, 12C1 – Trường THPT Phạm Hồng Thái IV. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu, thu thập tất cả những tài liệu liên quan, các kiến thức liên môn để thực hiện đề tài. 2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm Kinh nghiệm trong quá trình học tập, công tác và sinh sống của bản thân; tìm hiểu nhu cầu của giáo viên, học sinh… Từ đó đề xuất nội dung thực hiện, xây dựng giải pháp thử nghiệm phù hợp. 3. Phương pháp thực nghiệm Ứng dụng “dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo” vào tiết dạy tự chọn “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” (chương trình Ngữ Văn 12). 4. Phương pháp khảo sát, điều tra Phiếu điều tra, khảo sát được thực hiện trên đối tượng khảo sát 5. Phương pháp phân tích số liệu Kết quả khảo sát được thống kê và phân tích để xác định được hiệu quả ứng dụng của sáng kiến, có những chuẩn bị phù hợp để xử lý các tình huống sư phạm có thể xảy ra đồng thời xác định hướng phát triển tiếp theo cho đề tài. V. Đóng góp mới của đề tài 1. Chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các hoạt động trải nghiệm và tích hợp di sản văn hóa dân tộc trong dạy học để thiết kế, xây dựng những giáo án trong chương trình Ngữ văn THPT nhằm tạo hững thú, say mê môn học cũng như phát triển toàn diện năng lực cho học sinh. 2. Về ứng dụng: Đề tài đã xây dựng được các bước đi cụ thể trong quá trình dạy học tự chọn môn Ngữ Văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua tiết dạy tự chọn “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” VI. Lĩnh vực áp dụng của đề tài 1. Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu trên áp dụng vào giảng dạy môn Ngữ Văn, môn Lịch Sử, môn Công dân ở cấp THCS và THPT; đặc biệt là cấp THPT. 2. Về mặt phương pháp: Có thể vận dụng phương pháp trải nghiệm sáng tạo ở 6
  7. các bộ môn khác nhau trong quá trình dạy học. 7
  8. PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận 1. Phương pháp cũ Từ năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có định hướng mới trong nhiệm vụ giáo dục: Lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên, giải pháp này mới tập trung vào việc nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một lĩnh vực hay môn học nào đó. Cho nên nội dung dạy học thường mang tính hàn lâm, nặng về lý thuyết và tính hệ thống nên chưa chú ý nhiều đến hứng thú và điều kiện của người học. Vì thế chưa thực sự phát huy được năng lực của học sinh. Dạy học theo phương pháp truyền thống, giáo viên tổ chức các hoạt động (gọi chung là hoạt động ngoài giờ lên lớp) đang tiến hành trong trường phổ thông chủ yếu dựa trên các chủ đề đã quy định trong chương trình với các hình thức tương đối đơn điệu (chủ yếu tập trung vào hình thức hỏi – đáp) và học sinh thường được chỉ định, phân công tham gia một các bị động, giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh nhưng không rõ hoạt động đó sẽ hướng tới hình thành năng lực nào cho các em. Điều đó không phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. 2. Phương pháp mới Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh là gắn việc học với thực tiễn cuộc sống. Tức là giúp người học không chỉ biết ghi nhớ mà còn phải phát huy năng lực bản thân thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do thực tiễn đặt ra. Nếu như tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu người học trả lời câu hỏi: biết cái gì, thì tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu hỏi: biết làm gì và làm như thế nào từ những điều đã biết. Nói cách khác, nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không phải chỉ biết và hiểu. Dạy học theo cách thức mới thì các hoạt động tập thể, hoạt động dạy học ngoài giờ dạy học trên lớp sẽ phong phú hơn cả về nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động; đặc biệt mỗi hoạt động phải phù hợp với mục tiêu phát triển những phẩm chất, năng lực nhất định của học sinh; nghĩa là học sinh được học từ trải nghiệm. Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) gần giống với học thông qua thực hành nhưng học thông qua thực hành là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật; còn học qua trải nghiệm là giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác; học qua thực hành chú ý đến những quy trình, động tác, kết quả chung cho mọi người học nhưng học qua trải nghiệm chú trọng gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Có thể so sánh đặc trưng của dạy học theo cách cũ và dạy học theo cách thức mới như sau: Dạy học theo cách thức cũ Dạy học theo cách thức mới Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và Học là quá trình kiến tạo; học 8
  9. lĩnh hội, qua đó hình thành sinh trải nghiệm, tìm tòi, khám kiến thức, kỹ năng, thái độ, tư phá, phát hiện, xử lý thông tin, tưởng, tình cảm hợp tác, thực hành… từ đó tự hình thành hiểu biết, năng lực, phẩm chất Mục tiêu - Truyền thụ tri thức - Tổ chức hoạt động nhận thức - Truyền thụ và chứng minh cho học sinh. chân lý của giáo viên - Hướng dẫn học sinh cách tìm - Chú trọng nội dung ra chân lý. - Chú trọng cách thức tiến hành. Bản chất - Chú trọng cung cấp tri thức, - Chú trọng hình thành phát kỹ năng, kỹ xảo, học để đối triển các năng lực (năng lực phó trả bài, thi cử. giao tiếp, sáng tạo, hợp tác, giải Sau khi thi xong những điều quyết vấn đề…); dạy cách học, đã học thường bị bỏ quên cách tiếp cận và giải quyết các hoặc ít dùng đến. Nói cách tình huống của cuộc sống. Học khác “chữ thầy lại trả cho để đáp ứng những yêu cầu của thầy” cuộc sống hiện tại và tương lai. - Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển của xã hội Nội dung Từ sách giáo khoa và giáo Từ nhiều nguồn khác nhau: viên Sách giáo khoa, giáo viên, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, thực tế đời sống… gắn với: - Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh - Tình huống thực tế, bối cảnh… - Những vấn đề học sinh quan tâm Phương pháp Chủ yếu các phương pháp - Các phương pháp tìm tòi, điều truyền thụ kiến thức một tra, giải quyết vấn đề. chiều - Dạy học tương tác. Hình thức tổ chức Cố định: Giới hạn trong bốn Linh hoạt, sáng tạo: học ở lớp, 9
  10. bức tường của lớp học, giáo ở phòng thí nghiệm, học qua viên đối diện với cả lớp. trải nghiệm…; học cá nhân, học đôi bạn, học nhóm; cả lớp đối diện với giáo viên. Nhìn vào bảng so sánh đặc trưng của dạy học theo giải pháp cũ và dạy học theo giải pháp mới ta nhận thấy có sự khác nhau rõ rệt: - Dạy học theo cách thức cũ chưa có nhiều hình thức dạy học, hình thức tổ chức dạy học trên lớp hầu như vẫn ở vị trí “độc tôn”; phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều”; chưa chú ý tới các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm… Nói cách khác, dạy học theo cách thức cũ thường dạy theo kiểu nhồi nhét (vì giáo viên sợ dạy không kỹ, ảnh hưởng đến kết quả làm bài thi của học sinh cho nên dạy từ A đến Z không lựa chọn trọng tâm, không có thời gian nêu vấn đề cho học sinh trao đổi vì sợ “cháy giáo án”). Kết quả của lối dạy này đã làm cho học sinh tiếp thu một cách thụ động, một chiều, thiếu sáng tạo, không biết tự học, học tập, thiếu sự hợp tác… từ đó dẫn đến học tập thiếu sự hứng thú, đam mê, thiếu cảm hứng, thiếu lửa… mà thiếu những động cơ nội tại ấy việc học tập thường có ít kết quả. Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ bức thiết nhằm phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Hoạt động trải nghiệm là một yêu cầu quan trọng trong việc giáo dục theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế, giúp các em thư giãn sau những giờ học căng thẳng, mệt mỏi. Đặc biệt, đây còn là cơ hội để các em tiếp xúc với môi trường sống xung quanh, nâng cao thể lực, hình thành và rèn luyện kỹ năng sống, gắn kết bạn bè cũng như mở rộng các mối quan hệ xã hội… II. Cơ sở thực tiễn - Tiếp thu đề án đổi mới phương pháp giảng dạy của Bộ giáo dục và đào tạo, tôi đã áp dụng giải pháp dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực học sinh vào một chuyên đề cụ thể: dạy học tự chọn môn Ngữ văn 12 gắn liền bảo tồn di sản văn hóa thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo. - Dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể áp dụng một cách hiệu quả trong quá trình dạy các môn học: văn, sử, địa, công dân, ngoại ngữ… ở tất cả các cấp học. - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội… Vì vậy, đây là cách dạy rất thiết thực và mang lại hiệu quả toàn diện trong quá trình dạy học và giáo dục học sinh trong nhà trường. - Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm sáng tạo gần gũi với thực tế đời 10
  11. sống, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng được hiểu biết của mình vào thực tế cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi cũng như tăng khả năng hình thành, phát triển các năng lực, phẩm chất cho học sinh hơn. Bên cạnh đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, Ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh… - Áp dụng dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong các tiết dạy tự chọn giáo viên dễ dàng làm chủ thời gian. Dạy học các tiết tự chọn môn Ngữ văn gắn liền bảo tồn di sản văn hóa thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ tạo nên sự đa dạng trong nội dung dạy học và sự sinh động trong cách dạy. III. Tổ chức thực hiện Để thực hiện đề tài này, trước tiên tôi đã tìm hiểu thật kĩ về cách dạy học theo hướng trải nghiệm sáng tạo (khái niệm, đặc trưng, quy trình tổ chức, cách thức đánh giá học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo...). Sau khi đã nắm vững về phương pháp, tôi bắt tay vào tìm kiếm để phát hiện nội dung bài học phù hợp cho áp dụng thử nghiệm. Tôi chọn bài dạy tự chọn là chọn “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” trong chương trình Ngữ văn 12 (dành cho các lớp có dạy học chương trình tự chọn) để xây dựng bài dạy theo hướng phát triển năng lực học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo và tích hợp di sản văn hóa dân tộc để từ đó áp dụng giảng dạy môn Ngữ văn cho toàn bộ các lớp 12 có dạy chương trình tự chọn. Kết thúc bài dạy, tôi phát phiếu thăm dò cho học sinh để đánh giá hiệu quả của hướng dạy học theo hoạt động trải nghiệm sáng tạo. 1. Khái niệm Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau trong nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động qua đó phát triển tình cảm, phẩm chất nhân cách, các năng lực năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Như vậy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hình thức dạy học tích cực trong việc phát triển các phẩm chất, năng lực.. của học sinh. 2. Đặc trưng cơ bản của dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực học sinh. Người học là trung tâm của quá trình dạy học. Dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực học sinh tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn. Dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực học sinh đòi hỏi cách thức đánh giá đa dạng, linh hoạt và thường xuyên. 11
  12. Dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực học sinh có tính liên hệ với thực tế. Người học thể hiện sự hiểu biết, sáng tạo của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện. Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học. Kĩ năng quan sát, tư duy là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực học sinh 3. Quy trình tổ chức dạy học trải nghiệm sáng tạo Theo TS Ngô Thị Thu Dung – Giám đốc Điều hành Trung tâm Nghiên cứu phát triển giáo dục cộng đồng (CCE) thì việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cụ thể được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh. Bước 2: Đặt tên cho hoạt động Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lý đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn. - Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động. - Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh: Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu. Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị. Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác 12
  13. dụng là: - Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động. - Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động. - Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò: Tùy theo chủ đề của hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở mỗi tháng, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng. Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau: - Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?) - Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động? - Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động? Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động. Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đẩy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong dó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ. Bước 5: Lập kế hoạch Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu, tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu. Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiên mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kỳ người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được. Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng 13
  14. đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu. Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc. Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh. Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động. Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh. IV. Quy trình tổ chức dạy học bài tự chọn “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” (Ngữ văn 12) gắn liền bảo tồn di sản văn hóa thông qua hoạt động trải nghiệm Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Đối tượng thực hiện quá trình trải nghiệm: học sinh lớp 12A3, 12C1 - Nhu cầu của học sinh: + Khám phá, tìm hiểu một vùng đất mới, lạ chưa được đặt chân đến: cố đô Huế và phố cổ Hội An (Quảng Nam) + Trải nghệm, quan sát, cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa của hai miền di sản: Xứ Huế và phố cổ Hội An. + Tìm hiểu những giá trị lịch sử; những di sản văn hóa dân tộc ở Huế và Hội An đã được tổ chức USNESCO vinh danh như: kiến trúc quần thể cố đô Huế, thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, nhã nhạc cung đình Huế; lịch sử, kiến trúc phố cổ Hội An… - Địa điểm trải nghiệm: Thừa Thiên Huế, Hội An (Quảng Nam) Bước 2: Đặt tên cho hoạt động Hoạt động trải nghiệm mang tên: Về miền di sản Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động - Về kiến thức: Từ hoạt động trải nghiệm về miền di sản xứ Huế và phố cổ Hội An, giáo viên giúp học sinh có những quan sát, cảm nhận tinh tế hơn về vẻ đẹp văn hóa, lịch sử của một vùng đất cũng như hiểu biết sâu sắc hơn về di sản văn hóa dân tộc. Từ đó có cách nhìn nhận, đánh giá toàn diện và sâu sắc về văn hóa dân tộc mình. 14
  15. - Về kĩ năng: Hình thành, rèn luyện và phát huy những kĩ năng cần thiết cho học sinh + Kĩ năng quan sát, giao tiếp, thuyết trình, báo cáo sản phẩm + Kĩ năng lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ học tập + Kĩ năng phát triển ngôn ngữ +Kĩ năng làm việc nhóm: đề xuất, thảo luận, lắng nghe, trình bày + Kĩ năng xử lí tình huống + Kĩ năng đánh giá, tự chủ, kiềm chế cảm xúc bản thân + Kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn vào đời sống thực tiễn - Về thái độ: hình thành và bồi đắp: + Thái độ hứng thú, nhiệt tình, nghiêm túc trong công việc + Thái độ hợp tác, chia sẻ + Thái độ yêu thích môn học; hứng thú trong việc tìm hiểu và nhận thức về di sản văn hóa dân tộc. Từ đó bồi đắp tình yêu, niềm tự hào về quê hương, đất nước bởi ẩn chứa trong những di sản là giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được tích lũy bao đời nay của dân tộc ta. + Thái độ, ý thức trân trọng, giữ gìn và phát triển những giá trị, tinh hoa văn hóa dân tộc. Có thể nói khai thác được các giá trị ẩn chứa trong các di sản văn hóa dân tộc và chuyển giao cho học sinh để các em nhận thức được những giá trị lịch sử, văn hóa thì giáo viên cũng sẽ giúp học sinh nhận thức được thế giới xung quanh; đồng thời giúp các em có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản. Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động - Nội dung: + Học sinh tự thu thập thông tin về di sản văn hóa, về vẻ đẹp (lịch sử, văn hóa…) của Huế, Hội An - miền đất di sản để chuẩn bị tốt cho hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan) và sau đó sẽ áp dụng cho bài học chọn “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” trong chương trình Ngữ Văn 12. + Hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan, dã ngoại): áp dụng tại các di sản văn hóa ở Tỉnh Thừa Thiên Huế và Phố cổ Hội An. Giáo viên định hướng giúp học sinh tự thu thập kiến thức trong quãng thời gian trải nghiệm thực tế. + Hoạt động dạy và học tại lớp (học sinh trình bày những hiểu biết của mình đã thu thập được qua hoạt động trải nghiệm bên ngoài): các nhóm học sinh trình bày các sản phẩm học tập của mình trên lớp học. Cụ thể: 15
  16. * Nhóm 1 với sản phẩm “Hội An - bảo tàng sống về lịch sử, kiến trúc, dân cư đô thị” * Nhóm 2 với sản phẩm “Quần thể di tích cố đô Huế” – Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam * Nhóm 3 với sản phẩm “Nhã nhạc cung đình Huế” – Di sản phi vật thể thế giới * Nhóm 4 với sản phẩm “Talk show”: Bàn về vẻ đẹp và cách thức bảo tồn văn hóa dân tộc. Có thể nói, thông qua việc tham gia vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua hình thức tham quan, dã ngoại, học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em được chủ động tham, gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân. Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè. - Phương pháp: Bài dạy thể nghiệm đã áp dụng triệt để các các phương pháp dạy học theo đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện” của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sự cải tiến được thể hiện cụ thể: + Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh: Người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và hướng dẫn, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, được trực tiếp quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng. + Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. 16
  17. + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm từ 6 đến 10 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. + Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh.Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. - Các phương tiện hỗ trợ thực hiện quá trình dạy học trải nghiệm: + Máy quay, chụp ảnh 17
  18. + Các tư liệu lịch sử, văn hóa liên qua đến các di sản văn hóa dân tộc. + Các tranh ảnh về các di sản văn hóa. + Máy chiếu, ti vi, micro… - Hình thức của hoạt động: + Hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan): áp dụng tại các di sản văn hóa ở Tỉnh Thừa Thiên Huế và Phố cổ Hội An. Giáo viên định hướng giúp học sinh tự thu thập kiến thức trong một giờ học trải nghiệm thực tế. + Hoạt động dạy và học tại lớp: các nhóm học sinh trình bày các sản phẩm học tập của mình (học sinh trình bày những hiểu biết của mình thông qua các hoạt động trải nghiệm bên ngoài). Bước 5: Lập kế hoạch thực hiện TT Danh mục Nội dung và yêu cầu + Học sinh tự thu thập thông tin về di sản văn hóa, về vẻ đẹp (lịch sử, văn hóa…) của Huế, Hội An - miền đất di sản để chuẩn bị tốt cho hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan) và sau đó sẽ áp dụng cho bài học “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” trong chương trình Ngữ Văn 12. + Hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan, dã ngoại): áp dụng tại các di sản văn hóa ở Tỉnh Thừa Thiên 1 Nội dung chính Huế và Phố cổ Hội An. Giáo viên định hướng giúp học sinh tự thu thập kiến thức trong quãng thời gian trải nghiệm thực tế. + Hoạt động dạy và học tại lớp (học sinh trình bày những hiểu biết của mình đã thu thập được qua hoạt động trải nghiệm bên ngoài): các nhóm học sinh trình bày các sản phẩm học tập của mình trên lớp học. * Nhóm 1 với sản phẩm “Hội An- bảo tàng sống về lịch sử, kiến trúc, dân cư đô thị” * Nhóm 2 với sản phẩm “Quần thể di tích cố đô Huế” – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam 2 Sản phẩm học tập * Nhóm 3 với sản phẩm “Nhã nhạc cung đình Huế” – Di sản phi vật thể thế giới * Nhóm 4 với sản phẩm “Talk show”: Bàn về vẻ đẹp và cách thức bảo tồn văn hóa dân tộc. 3 Hình thức triển - Làm video (nhóm 1) 18
  19. khai các sản - Làm báo tường kết hợp video (nhóm 2) phẩm học tập của - Viết bài và làm video đăng trên trang panpage (nhóm 3) học sinh - Làm “Talk show” (nhóm 4) Thời gian hoàn - Nhóm 1: 2 tuần thành sản phẩm - Nhóm 2: 4 tuần học tập (Tính thời 4 - Nhóm 3: 2 tuần gian sau khi đã trải nghiệm bên - Nhóm 4: 2 tuần ngoài) - Nhóm 1: 15 phút Thời lượng báo - Nhóm 2: 25 phút 5 cáo sản phẩm - Nhóm 3: 15 phút - Nhóm 4: 20 phút Thời điểm báo Tuần học 31( dự kiến ngày 16.4.2021) 6 cáo - Các nhóm học sinh tự nhận xét, đánh giá lẫn nhau. - Giáo viên tổng hợp ý kiến học sinh và đưa ra đánh giá Nhận xét và đánh 7 chung. giá - Lưu ý: Giáo viên đóng vai trò trọng tài trong quá trình HS các nhóm đánh giá lẫn nhau. Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc. * Nội dung trải nghiệm: Trải nghiệm tham quan tại Phố cổ Hội An và cố đô Huế nhằm giúp học sinh tăng thêm khả năng quan sát, khám phá, tìm hiểu các di sản văn hóa của dân tộc đã đuợc UNESCO vinh danh. Cụ thể là các di sản sau: “Phố cổ Hội An”- bảo tàng sống về lịch sử kiến trúc và dân cư đô thị “Quần thể di tích cố đô Huế” – Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam “Nhã nhạc cung đình Huế” – Di sản phi vật thể thế giới * Nội dung học sinh cần thực hiện: - Học sinh tự thu thập thông tin về các di sản văn hóa ở Huế và Hội An - miền 19
  20. đất di sản để chuẩn bị tốt cho hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan). Sau đó sẽ áp dụng cho bài học “Nhìn về vốn văn hóa dân tộc” trong chương trình Ngữ Văn 12. - Hoạt động trải nghiệm bên ngoài (tham quan): Các di sản văn hóa tại cố đô Huế và Phố cổ Hội An. Giáo viên định hướng giúp học sinh tự thu thập kiến thức trong quãng thời gian học qua trải nghiệm thực tế. - Hoạt động dạy và học tại lớp : thông qua hoạt động trải nghiệm bên ngoài, các nhóm học sinh trình bày các sản phẩm học tập. * Công việc cụ thể của từng nhóm học sinh: Nhóm 1: sản phẩm video “ Phố cổ Hội An- bảo tàng sống về lịch sử kiến trúc, dân cư đô thị” - Quá trình chuẩn bị: + Nhóm trưởng phân công các thành viên tìm hiểu trước các thông tin về di sản; chuẩn bị các thiết bị, nội dung để có thể quay video, chụp ảnh trong quá trình trải nghiệm thực tế tại Phố cổ Hội An. - Quá trình chuẩn bị: Sau khi đã được trải nghiệm về các di sản Phố cổ Hội An, các thành viên trong nhóm thực hiện hoàn thành sản phẩm: + Viết bài thể hiện những hiểu biết của mình về di sản Phố cổ Hội An. Sau đó, nhóm trưởng tập hợp các bài viết và cùng một số thành viên khác biên tập làm lời thuyết minh cho video “ Phố cổ Hội An - bảo tàng sống về lịch sử kiến trúc, dân cư đô thị”. + Cắt, ghép và lồng tiếng cho video đã quay nhằm thể hiện những khám phá, hiểu biết sâu sắc của nhóm về di sản Phố cổ Hội An. Video sau khi đã được nhóm hoàn thiện, nhóm trưởng gửi tới giáo viên bộ môn góp ý trước khi trình bày sản phẩm trước lớp. + Thời gian hoàn thành sản phẩm: 2 tuần - Trình bày sản phẩm: Sản phẩm video : chiếu trực tiếp trong bài dạy học tự chọn “Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc”. Sản phẩm video “ Phố cổ Hội An - bảo tàng sống về lịch sử kiến trúc, dân cư đô thị” cần thống nhất giữa hình ảnh và lời thuyết minh; hình ảnh sắc nét, đa dạng góc quay…nhằm làm cho video sinh động, hấp dẫn. Qua video làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo và những giá trị riêng biệt của Phố cổ Hội An. Từ đó kích thích nhu cầu khám phá, tìm hiểu của mọi người về vẻ đẹp di sản văn hóa dân tộc. Thời lượng trình bày: 15 phút Nhóm 2: sản phẩm báo tường và video clip “Quần thể di tích cố đô Huế” – di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam - Quá trình chuẩn bị: 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2