intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:73

8
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2" nhằm nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp của GV góp phần nâng cao hiệu quả TV cho HS góp phần giáo dục toàn diện HS đồng thời nâng cao năng lực GD của GV, đáp ứng xu thế đổi mới GD.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2

  1. SỞ GD VÀ ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2 ----------  ---------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TƯ VẤN CHO HỌC SINH CỦA I GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2 Tác giả: VĂN THỊ HÀ Tổ: Ngữ văn - Ngoại ngữ Lĩnh vực: Giáo dục kĩ năng sống Số điện thoại: 0981 408 456 Năm học: 2021 - 2022
  2. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ GD Giáo dục GV Giáo viên GVCN Giáo viên chủ nhiệm HS Học sinh KN Kĩ năng KNTV Kĩ năng tư vấn NL Năng lực NLGD Năng lực giáo dục NLTV Năng lực tư vấn SKKN Sáng kiến kinh nghiệm THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TV Tư vấn TVHĐ Tư vấn học đường
  3. MỤC LỤC MỞ ĐẨU................................................................................................................. . 1 1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................. .. 1 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................... .... 2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................... .... 2 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... .... 2 5. Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm..................................................................... 3 6. Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm ....................................................................... ..... 3 NỘI DUNG............................................................................................................... . 4 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI............................................................................................................ . 4 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu........................................................................... 4 1.1.1. Những nghiên cứu về tư vấn học đường........................................................... 4 1.1.2. Nghiên cứu về năng lực tư vấn của giáo viên................................................. .. 5 1.2. Cơ sở lí luận của đề tài..................................................................................... ... 5 1.2.1. Tư vấn và vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên............... . 5 1.2.1.1. Một số khái niệm cơ bản................................................................................ 5 1.2.1.2. Vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên ......................... .. 6 1.2.2. Đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi THPT viên................................................... . 7 1.2.3. Cấu trúc năng lực tư vấn của người giáo viên................................................. . 8 1.2.3.1. Kiến thức...................................................................................................... . 9 1.2.3.2. Kĩ năng........................................................................................................... 9 1.2.3.3. Thái độ ....................................................................................................... ... 10 Tiểu kết chương 1.................................................................................................. ... 10 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHƯ CẦU TƯ VẤN CỦA HỌC SINH VÀ NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN THPT................................ ... 11 2.1. Thực trạng về nhu cầu tư vấn của học sinh................................................. ........ 14 2.1.1. Nhu cầu được tư vấn...................................................................................... ... 14 2.1.2. Cách thức giải quyết khi có nhu cầu tư vấn................................................. .... 15 2.1.3. Kì vọng về sự tư vấn của giáo viên............................................................... ... 17 2.2. Thực trạng năng lực tư vấn của giáo viên............................................................ 17
  4. 2.2.1. Thực trạng nhận thức về năng lực tư vấn của giáo viên................................ ... 17 2.2.2. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn của giáo viên.............. ... 18 2.2.2.1. Nguyên nhân khách quan............................................................................... 18 2.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan............................................................................... ... 19 Tiểu kết chương 2.................................................................................................. ..... 19 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TƯ VẤN CHO HỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2......................................................................................................................... 20 3.1. Nâng cao hiểu biết của bản thân về công tác tư vấn .................................. ......... 20 3.1.1. Nắm được khung năng lực tư vấn cho giáo viên.......................................... .... .20 3.1.2. Thường xuyên bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm........................................... ... 24 3.2. Thu thập thông tin, tìm hiểu về các đối tượng tư vấn................................. ......... 26 3.3. Phối kết hợp giữa giáo vien và phụ huynh học sinh, giữa giáo viên và các ban ngành, đoàn thể................................................................................... ...... 30 3.3.1. Phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh...................................... ... 30 3.3.2. Phối kết hợp giữa giáo viên và các ban ngành, đoàn thể............................... ... 33 3.4. Xây dựng, lựa chọn và thực hiện chuyên đề tư vấn cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trải nghiệm................................................... ........ 34 3.4.1. Căn cứ xây dựng chuyên đề tư vấn cho học sinh.......................................... ... 34 3.4.2. Căn cứ lựa chọn và thực hiện chuyên đề tư vấn cho học sinh THPT............ ... 35 3.4.3. Quy trình xây dựng, lựa chọn và thực hiện các chuyên đề tư vấn cho học sinh THPT......................................................................................................... ... 35 3.5. Lồng ghép hoạt động tư vấn đa dạng trong các tiết học............................. ......... 39 Tiểu kết chương 3.................................................................................................. ..... 39 CHƯƠNG 4 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN...................................................... ... 40 4.1. Kết quả các mặt ............................................................................................. ..... 40 4.2. Nhận thức và thái độ của học sin.................................................................. ....... 41 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. ... 44 1. Kết luận ............................................................................................................. ..... 44 1.1. Ý nghĩa của sáng kiến..................................................................................... ..... 44 1.2. Tính mới mẻ của đề tài................................................................................... ..... 44
  5. 1.3. Tính khoa học của sáng kiến......................................................................... ...... 44 2. Bài học kinh nghiệm.......................................................................................... ..... 45 3. Phạm vi ứng dụng ............................................................................................. ..... 45 4. Nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu........................................................... ....... 45 5. Kiến nghị, đề xuất.............................................................................................. ..... 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... ... 47 PHỤ LỤC
  6. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Trong tiến trình phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới và hội nhập ngày càng sâu rộng con người phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Chính vì vậy, nhu cầu được trợ giúp để giải quyết khó khăn ngày càng trở nên rõ rệt hơn. Đối với HS THPT, bên cạnh những khó khăn, thách thức kể trên, các em còn gặp phải những khó khăn do sự thay đổi tâm - sinh lí của lứa tuổi mang lại, nên việc gặp những khó khăn trong cuộc sống và trong quá trình học tập là điều không thể tránh khỏi. Xã hội càng phát triển thì những khó khăn, thách thức đó càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều HS gặp phải những khó khăn trong cuộc sống và trong quá trình học tập của mình. Những vấn đề các em gặp phải là rất rộng, bao gồm các vấn đề về: tâm lí, sinh lí; học tập; định hướng nghề nghiệp; giải quyết các mối quan hệ xã hội, bạn bè, thầy cô, gia đình; định hướng giá trị sống và kỹ năng sống; pháp luật ... Tất cả những vấn đề này HS vẫn thường xuyên gặp phải và chúng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học tập của các em. 1.2. Vai trò của GV không chỉ dừng lại ở việc dạy học kiến thức mà còn có trách nhiệm hỗ trợ HS giải quyết những vấn đề khó khăn để các em phát triển toàn diện, góp phần hoàn thành tốt vai trò GD của người GV. Thực vậy, GV chính là những người có điều kiện gần gũi, hiểu biết HS về mọi mặt, nhất là những vấn đề các em gặp phải trong quá trình học tập ở trường. Không những thế, GV còn là người có điều kiện tiếp cận thông tin chính thống và có chức năng GD, hỗ trợ HS trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình. Chính vì thế, vai trò TV của người GV đã được khẳng định tại nhiều văn bản. Luật giáo dục (ban hành năm 2019), tại điều 69 đã khẳng định: Nhiệm vụ của nhà giáo “tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng của người học.” Chỉ thị số 1537/CT-BGDĐT, ban hành 05/05/2014,về “Tăng cường và nâng cao hiệu quả một số hoạt động GD cho HS-SV trong các cơ sở giáo dục, đào tạo” đã nêu cụ thể là: “...Các cơ sở giáo dục, đào tạo cần tăng cường vai trò GV chủ nhiệm, GV tổng phụ trách đội, cố vấn học tập và các tổ chức đoàn thể trong công tác GD đạo đức, lối sống, TV tâm lí, hướng nghiệp cho HS...”. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cũng đã quy định một số nội dung chuẩn liên quan đến NLTV của GV trường trung học (Cụ thể: Điều 5 - tiêu chuẩn 2. NL tìm hiểu đối tượng và môi trường GD; Điều 7 - tiêu chuẩn 4. NL GD). Thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về “Hướng dẫn thực hiện công tác TV tâm lí cho HS trong nhà trường phổ thông” đã quy định rất cụ thể về mục đích, nguyên tắc, nội dung, hình thức, điều kiện đảm bảo và tổ chức thực hiện công tác TV tâm lí cho HS trong trường phổ thông. Trong thực tế, các thầy - cô giáo đã chủ động TV, hỗ trợ cho các em khi có các “vấn đề” nảy sinh hoặc các em đã chủ động đề đạt nhu cầu với họ. Tuy nhiên, hầu hết các GV mới chỉ cùng HS giải quyết các vấn đề dựa trên kinh nghiệm cá nhân là chủ yếu, còn những kiến thức và KN cơ bản về vấn đề TV cho HS thì còn hạn chế do ít được trang bị vì thế hiệu quả TV nhiều lúc chưa cao, chưa đạt được sự kì vọng của HS. 1
  7. 1.3. Địa bàn của trường THPT Quỳnh Lưu 2 là khu vực thuần nông, cha mẹ thường ít dành thời gian để quan tâm tới việc học hành, sự thay đổi tâm sinh lí cũng như định hướng nghề nghiệp cho con. Vì vậy vai trò TV của người GV lại càng cần thiết. Là một GV từng làm công tác chủ nhiệm, công tác TV và hoạt động đoàn nhiều năm, tiếp xúc với nhiều tình huống, nhiều cảnh ngộ của HS bản thân tôi nhận thấy việc nâng cao hiệu quả của công tác TV cho người GV THPT là vô cùng quan trọng. Từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2” với mong muốn đưa ra một số giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm phát huy hiệu quả TV của người GV, trên cơ sở đó hỗ trợ, giúp đỡ HS khi gặp khó khăn đồng thời định hướng những giá trị sống đích thực cho HS. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả TV cho HS của GV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 - Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả TV cho HS của GV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp của GV góp phần nâng cao hiệu quả TV cho HS góp phần giáo dục toàn diện HS đồng thời nâng cao năng lực GD của GV, đáp ứng xu thế đổi mới GD. - Nhiệm vụ: + Nghiên cứu cơ sở lý luận về NLTV của người GV THPT. + Đánh giá thực trạng nhu cầu TV của HS và thực trạng năng lực TV của người GV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 + Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả TV cho HS của người GV THPT 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa lí thuyết - Phương pháp điều tra, khảo sát - Phương pháp thống kê - Phương pháp nghiên cứu trường hợp - Phương pháp thực nghiệm 5. Đóng góp của SKKN Sáng kiến đề xuất một số biện pháp của GV nhằm phát huy hiệu quả TV cho HS ở trường THPT Quỳnh Lưu 2 theo hướng linh hoạt, phù hợp với đặc thù nghề 2
  8. nghiệp của người GV THPT và khai thác được tối đa tri thức và vốn kinh nghiệm thực tiễn, phát huy tính tích cực, chủ động của người GV. 6. Cấu trúc SKKN Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung sáng kiến được chia thành 4 chương: Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài Chương 2: Thực trạng năng lực tư vấn của người giáo viên THPT Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tư vấn cho học sinh của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 Chương 4: Hiệu quả của sáng kiến 3
  9. NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1.1. Những nghiên cứu về tư vấn học đường TVHĐ là vấn đề được xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, được xã hội quan tâm và được các nhà GD của nhiều quốc gia nghiên cứu. Ở Việt Nam, khoảng hơn 10 năm trở lại đây, hàng loạt những vấn đề liên quan đến đạo đức, kỷ luật học đường, bạo lực học đường, áp lực thi cử, quan hệ thầy trò ... xảy ra trong các trường học ở Việt Nam đã gióng lên những hồi chuông báo động, khiến những nhà khoa học và các cơ quan phải để ý và nghĩ đến việc phải có hoạt động TV trong trường học. Một trong những người có công đầu trong việc hình thành và phát triển nghề TV (lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình) là cố bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện khi ông sáng lập ra Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và xuất bản tờ "Thông tin khoa học tâm lý" vào năm 1984. Sau đó, trên cơ sở sơ đồ hình thành phát triển nhân cách của ông, tác giả Đặng Quốc Bảo trong Quan niệm của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện về con đường hình thành phát triển nhân cách và đề xuất một số vận dụng vào công tác tư vấn học đường, Kỷ yếu hội thảo khoa học TV tâm lý học đường trong các trường phổ thông thành phố Hải Phòng đã đề xuất một số vận dụng vào công tác TV trong nhà trường. Ông cho rằng khi chú ý đến HS, cần chú ý ở cả hai phương diện: năng lực trí tuệ và thái độ học tập, và ông chia đối tượng HS thành 4 nhóm, và tùy theo mỗi nhóm ông lại đề xuất những phương án dạy học thích hợp và đóng đúng vai trò cần thiết của người thầy. Sau đó, vấn đề TV trong nhà trường đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, nhiều công trình được công bố, nhiều hội thảo khoa học được tổ chức. Một số bài báo được đăng trên các tạp chí Khoa học giáo dục, Tâm lí học. Ví dụ: Đặng Danh Ánh với bài viết Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 121; Vũ Thị Khánh Linh với bài viết Những khó khăn tâm lí và nhu cầu tham vấn của học sinh THPT, Tạp chí Tâm lí học, số 2; Nguyễn Bá Đạt với bài viết Về tư vấn tâm lý - hướng nghiệp ở trường Trung học phổ thông, Tạp chí Tâm lý học, số 63. Lê Thị Quỳnh Nga với bài viết Những yêu cầu về năng lực tư vấn của người giáo viên phổ thông, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 141, tháng 06. Tuy nhiên, do mới được quan tâm gần đây, nên các nghiên cứu về lĩnh vực này chủ yếu mới chỉ tập trung vào việc làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản nhất của TV trong nhà trường, tìm hiểu nhu cầu TV và thực trạng TV. Những nghiên cứu phần lớn đều khẳng định nhu cầu được TV của HS là một nhu cầu có thực và rất cấp bách nhưng thực trạng và hiệu quả TV cho các em thì chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. 4
  10. 1.1.2. Nghiên cứu về năng lực tư vấn của giáo viên Phải thừa nhận rằng ở nhiều trường THPT hiện nay đã có đội ngũ cán bộ TVHĐ nhưng hoạt động TV của người GV vẫn là nhu cầu không thể phủ nhận. Và để thực hiện được hoạt động TV, người GV cần phải có những NL nhất định. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa trong bài viết Thiết kế chương trình đào tạo về tâm lý học học đường theo cách tiếp cận năng lực đã chỉ ra rằng: NL của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: NL dạy học, NLGD, NL chẩn đoán và TV, NL phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. Trong bài Phát triển nghiệp vụ cho GV Việt Nam dựa trên nhu cầu và chuẩn năng lực - Vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích có gợi ý 7 chuẩn cơ bản về NL nghề nghiệp GV cần có và phát triển qua các giai đoạn. Theo 7 tiêu chuẩn đó, NL của GV không chỉ tập trung ở kiến thức chuyên môn mà còn hướng đến các KN khác nhằm dạy học hiệu quả theo định hướng người học là trung tâm, trong đó việc hiểu cuộc sống và phong cách học tập của người học, có KN giao tiếp hiệu quả với người học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học là những vấn đề nổi bật. Trong tài liệu Mô hình, nội dung, phương pháp đào tạo GV tác giả Nguyễn Văn Cường cho rằng người GV cần phải có các NL cốt lõi sau: NL dạy học; NL GD; NL chẩn đoán; NL đánh giá; NL tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học và NLTV. Như vậy, có thể thấy, các nghiên cứu đều khẳng định NLTV của người GV là một trong những NL cốt lõi mà mỗi người GV cần phải có để có thể trở thành một GV hiệu quả, tuy nhiên nội hàm của NLTV lại chưa thật sự đầy đủ. Vì thực tế cho thấy HS có nhu cầu TV ở rất nhiều nội dung, chứ không chỉ ở mong muốn được giúp đỡ về mặt học tập. Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác TV của người GV trong từng môi trường học tập khác nhau của HS là một vấn đề thiết thực đối với các trường THPT. 1.2. Cơ sở lí luận của đề tài 1.2.1. Tư vấn và vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên 1.2.1.1. Một số khái niệm cơ bản a) Tư vấn Bàn về TV, theo Từ điển Tiếng Việt thì “Tư vấn là phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến nhưng không có quyền quyết định”. Tác giả Lê Quang Huy trong cuốn Điều cần biết khi sử dụng tư vấn, NXB Xây dựng, Hà Nội, 1998 với quan điểm coi TV là một dịch vụ (hay một nghề) thì cho rằng “Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho những người cần tư vấn những lời khuyên đúng đắn về chiến lược, biện pháp, hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó”. Tác giả Trần Tuấn Lộ trong bài viết Tư vấn tâm lý và những khái niệm liên quan, Kỷ yếu hội thảo “Tư vấn tâm lý - giáo dục, lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển”, Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam thì lại xem TV như “sự 5
  11. tham khảo và cung cấp ý kiến giữa một bên A - có thể là một cá nhân, một tổ chức cần tìm câu trả lời cho một thắc mắc hoặc tìm giải pháp với bên B - một cá nhân, một tổ chức khác có chuyên môn, kinh nghiệm và giúp họ giải đáp những thắc mắc, những vấn đề của họ”. Nói tóm lại, có thể nói TV là hoạt động của người có kiến thức và kinh nghiệm về vấn đề đối tượng đang gặp phải để giúp đối tượng giải quyết được khó khăn của mình. b) Năng lực tư vấn của giáo viên Hoàng Hòa Bình trong bài viết “Năng lực và ứng dụng kết quả nghiên cứu năng lực vào xây dựng chương trình môn học, đổi mới mô hình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh”, Tạp chí Khoa học giáo dục số 131 (tháng 8/ 2016) đã cho rằng “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” Vì vậy, có thể hiểu NLTV của người GV là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép người GV thực hiện thành công các yêu cầu của hoạt động TV cho HS, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể nhằm trợ giúp HS giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề gặp phải trong quá trình học tập ở nhà trường. 1.2.1.2. Vai trò của việc phát triển năng lực tư vấn cho giáo viên Đối với HS: Việc được TV đúng đắn sẽ giúp HS tháo gỡ được những vướng mắc, khó khăn trong học tập và cuộc sống. HS sẽ không cảm thấy quá căng thẳng, nặng nề, áp lực, mệt mỏi từ đó giúp việc học tập dễ dàng hơn, cuộc sống vui vẻ hơn. HS sẽ có thái độ sống chan hòa với mọi người xung quanh, có định hướng sống tích cực, biết phấn đấu vì tương lai phía trước. Đối với GV: Việc thực hiện TV sẽ giúp GV có thể gần gũi với HS hơn, dễ dàng giao tiếp và hiểu HS của mình. Từ đó, sẽ có những biện pháp can thiệp kịp thời trước sự thay đổi cả về tâm lí và tính cách của HS, định hướng cho HS những xu thế nghề nghiệp phù hợp. Đặc biệt, việc TV hiệu quả còn mang lại niềm vui, sự yêu nghề cho bản thân mỗi GV. Đối với phụ huynh HS: Việc phát huy hiệu quả NLTV của GV sẽ khiến cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh trở nên hiệu quả. Phụ huynh có điều kiện phát hiện những dấu hiệu khác biệt của con như sa sút trong học tập, thường xuyên trong trại thái lo âu, sa đà vào những thói hư tật xấu của xã hội... để cùng với GV tìm ra căn nguyên và tìm cách giải quyết. Đối với nhà trường: Việc phát triển NLTV cho GV sẽ giúp nâng cao chất lượng GD toàn diện cho nhà trường. 6
  12. 1.2.2. Đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi THPT Lứa tuổi HS THPT được xác định là những em có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, đang theo học từ lớp 10 đến lớp 12 ở trường THPT. Lứa tuổi này ở vào giai đoạn sau của tuổi vị thành niên, khi thể chất đã phát triển tương đối ổn định, nhưng sự phát triển tâm lí lại không tỉ lệ thuận với thể chất. Điều này gây cho các em nhiều mâu thuẫn, bức xúc cần được người lớn TV để giải quyết. - Đặc điểm sinh lí: Lứa tuổi HS THPT là giai đoạn mà thể chất tuy chưa hoàn thiện như người trưởng thành nhưng đã phát triển tương đối hoàn chỉnh. Nhịp độ tăng trưởng cơ thể ở lứa tuổi này đã chậm lại, hình thành cơ thể cân đối, khỏe mạnh, tố chất thể lực phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đặc điểm phát triển về thể chất, đặc điểm trưởng thành về giới tính cũng là một nét đặc trưng của lứa tuổi này. Đa số các em ở lứa tuổi này đã vượt qua thời kì phát dục. Điều này giúp các em cân bằng hơn, ổn định hơn, chấm dứt những khủng hoảng của tuổi dậy thì, ít gặp những hưng phấn hay ức chế của hệ thần kinh. Nhìn chung ở tuổi này các em đạt được sự ổn định về thể chất, giới tính cao hơn lứa tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, sự phát triển tương đối ổn định về mặt sinh lí lại không tỉ lệ thuận với sự phát triển tâm lí nên dẫn đến nhiều mâu thuẫn cần được hỗ trợ giải quyết. - Đặc điểm tâm lí + Đặc điểm giao tiếp: Giao tiếp với người lớn: HS THPT có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn được đối xử như người lớn, được tôn trọng, được tin tưởng và được mở rộng tính độc lập của mình. Vì nhu cầu này nên các em thường có những hình thức kháng cự, không phục tùng nhằm khẳng định cái tôi của mình. Việc người lớn không thừa nhận sự trưởng thành của các em sẽ làm nảy sinh xung đột được biểu hiện bằng những hành vi tương ứng: né tránh, không tin tưởng vào người lớn, khó chịu với những lời nói, việc làm của người lớn. Nếu mối quan hệ này không thay đổi sẽ dẫn tới sự giảm sút hiệu quả tác động GD của người lớn đối với các em. Giao tiếp với bạn bè: Mối quan hệ của HS THPT với bạn bè cùng lứa tuổi đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với giai đoạn trước và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các em. Mối quan hệ bạn bè ở lứa tuổi này không chỉ dừng lại ở phạm vi học tập, phạm vi nhà trường, mà còn mở rộng ra bên ngoài phạm vi đó, cùng những hứng thú mới, những mối quan hệ mới,… Đặc điểm giao tiếp với bạn bè của HS THPT chính là khao khát được giao tiếp và hoạt động với bạn bè cùng lứa tuổi một cách thân thiết, tin cậy. Mặt khác các em cũng mong muốn được bạn bè thừa nhận và tôn trọng mình. Những tình bạn chân chính rất có giá trị trong việc nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển nhân cách của các em, thông qua những nỗ lực chung, bạn bè bắt đầu giúp nhau trong việc nắm tri thức, KN và cùng phát triển những phẩm chất tốt đẹp khác. Ngược lại, có những kiểu tình bạn mang tính bề ngoài, hình thức, kéo bè 7
  13. kéo cánh nhằm bắt chước người lớn trong việc tiêu khiển thời gian, chơi bời, giải trí…như: hút thuốc, uống rượu bia, cờ bạc, thì phải được định hướng lại. + Đặc điểm về tình cảm Tình cảm của HS THPT sâu sắc và phức tạp hơn nhiều so với HS THCS. Do ảnh hưởng của sự phát dục và thay đổi nội tiết nên HS THPT thường dễ xúc động, dễ bị kích động, vui nhanh buồn nhanh, tình cảm còn mang tính bồng bột. Bên cạnh đó, do sự phát triển của hệ thần kinh phức tạp lên nhưng vẫn chưa hoàn toàn ổn định, cân bằng nên quá trình hưng phấn thường mạnh hơn quá trình ức chế, điều này khiến các em khó tự kiềm chế mà thường thể hiện tình cảm rất rõ ràng và mạnh mẽ. Do đó, đôi khi các em có những xúc động rất mạnh mẽ như lúc thì vui quá trớn, lúc lại buồn ủ rũ, lúc thì quá hăng say, lúc lại quá chán nản. Do sự thay đổi tình cảm dễ dàng như thế nên trong tình cảm của các em đôi lúc mâu thuẫn và dễ thay đổi. - Đặc điểm nhận thức Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương và các giác quan, do sự tích lũy phong phú kinh nghiệm sống và tri thức, do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động xã hội, nên nhận thức của HS THPT có những thay đổi về chất. Ở tuổi này các em đã đạt được các thao tác trí tuệ bậc cao như người lớn, nổi bật là tính có ý thức, có mục đích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong quá trình học tập cũng như trong mọi hoạt động khác. Trí nhớ có chủ định, có ý nghĩa chiếm ưu thế, các em biết tìm ý chính của bài học, biết lập dàn ý làm điểm tựa cho trí nhớ. Nếu được hướng dẫn, nhiều em đã biết tìm các phương pháp, kĩ thuật để ghi nhớ nội dung bài học. Cùng với óc quan sát, trí nhớ chỉ định, NL chú ý chủ định cũng phát triển, các em đã biết phân phối chú ý. NL này càng lên lớp trên càng phát triển, các em có thể vừa nghe giảng, vừa ghi chép, vừa theo dõi câu trả lời của bạn, vừa có thể phân tích, nhận xét, ... Tóm lại, sự phát triển trí tuệ của HS THPT đã đạt ở mức cao và đang được hoàn thiện dần trong quá trình học tập, càng lên các lớp cuối cấp, NL trí tuệ càng phát triển. Điều này tạo cơ hội cho khả năng tư duy độc lập, tư duy khái quát hóa, tư duy sáng tạo, chuẩn bị cho việc học lên cao, học nghề và vào đời của các em. 1.2.3. Cấu trúc năng lực tư vấn của người giáo viên Căn cứ vào đặc điểm yêu cầu của nghề dạy học, các phẩm chất và NL của của cán bộ TVHĐ, có thể xác định cấu trúc NLTV của người GV THPT với các nội dung cụ thể, các biểu hiện cụ thể nhằm phát triển NLTV như sau: 1.2.3.1. Kiến thức Khoa học đã khẳng định kiến thức là điều kiện để hình thành và phát triển NL. Cụ thể đó là những kiến thức về: + Kiến thức lí thuyết cơ bản về TV: Để TV được cho HS, người GV trước hết cần có kiến thức về TV, các hình thức TV, các KNTV cơ bản trong hoạt động GD và trong đời sống xã hội; kiến thức về Tâm lí học, GD học, Xã hội học. 8
  14. + Kiến thức về đối tượng TV: Bên cạnh những kiến thức về TV nói chung, người GV cần có những hiểu biết đúng đắn về những đặc trưng về lứa tuổi, tâm lí HS, thông tin cơ bản của HS, ... để từ đó có thể có những quyết định đúng và hiệu quả trong việc lựa chọn hình thức TV và ứng xử phù hợp. + Kiến thức về nội dung, môi trường và điều kiện TV: Ngoài ra, người GV cũng cần phải có những tri thức chuyên sâu về nội dung TV phù hợp; về không gian TV; về những nguyên tắc đạo đức khi TV cho HS (giữ bí mật, tôn trọng HS, chấp nhận HS, ...) để có thể tiến hành TV thành công và là cơ sở để người GV quản lí hoạt động TV của mình phù hợp với HS, cũng như với các yếu tố bên ngoài. 1.2.3.2. Kĩ năng Thành tố cốt lõi của NLTV là hệ thống KNTV và KNTV cũng được xem là nội dung cốt lõi trong việc phát triển NLTV của người GV. Một hệ thống KNTV cơ bản giúp người GV TV cho HS hiệu quả: + KN lắng nghe: Khi HS có vấn đề và tìm đến sự TV của GV, điều đầu tiên các em mong muốn là GV lắng nghe để hiểu được vấn đề các em gặp phải, để từ đó có những TV phù hợp. Khi được lắng nghe, HS sẽ cảm thấy được quan tâm, được động viên để tiếp tục chia sẻ. Do đó, các em sẽ nói nhiều hơn, chia sẻ cảm xúc nhiều hơn, qua đó người GV sẽ TV hiệu quả hơn. Vì thế, lắng nghe được xem là KN quan trọng nhất, quyết định sự thành công đối với hoạt động TV của người GV. + KN đặt câu hỏi: Đối với người GV khi làm công tác TV, câu hỏi là công cụ giúp GV khai thác, tập hợp thông tin về vấn đề của HS nhằm thấu hiểu vấn đề của HS và có phương án hỗ trợ tốt nhất. Thông thường, khi HS gặp vấn đề cần trợ giúp, khi tìm đến GV, các em sẽ rất khó mở đầu câu chuyện. Việc lựa chọn những câu hỏi phù hợp của GV sẽ giúp các em bắt đầu câu chuyện dễ dàng hơn, thoải mái hơn và từ đó sẽ chia sẻ nhiều hơn. Hơn nữa, câu hỏi còn giúp duy trì buổi TV, giúp người GV thu được thông tin một cách rõ ràng, mạch lạc, giúp HS giải quyết được vấn đề. + KN thấu cảm: Thấu cảm là khả năng hiểu được HS đang nghĩ gì, cảm nhận được điều mà HS đang cảm nhận bằng cách đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh của HS. Khi được thấu cảm, HS sẽ tự tin hơn vì biết rằng GV hiểu mình, chia sẻ với mình và cùng mình tìm cách giải quyết vấn đề, vì thế các em sẽ mạnh dạn chia sẻ vấn đề hơn. Nhờ thế, GV sẽ hiểu HS và vấn đề của HS hơn để tìm ra cách giúp đỡ các em một cách phù hợp nhất. + KN phản hồi: Phản hồi là cách người GV diễn đạt lại bằng từ ngữ của mình những gì mình đã nghe, những gì mình đã cảm nhận một cách ngắn gọn để HS có thể biết được những gì mình đã chia sẻ là đúng hay chưa, có cần đính chính hay bổ sung thêm gì không. Thông thường, khi gặp vấn đề, HS thường hay bối rối nên việc chia sẻ với GV có thể không rõ ràng, mạch lạc. Vì thế người GV nên sử dụng phản hồi để sắp xếp và tóm lược nội dung của vấn đề được đề cập. Không những thế, phản hồi còn là cách phát tín hiệu chứng tỏ người GV thật sự quan tâm đến vấn đề 9
  15. mà HS chia sẻ, giúp cho HS thật sự cảm thấy được quan tâm và mạnh dạn bộc lộ vấn đề của mình, giúp GV hiểu được vấn đề của HS và TV cho HS một cách hiệu quả nhất. Có 2 loại phản hồi: Phản hồi thông tin và phản hồi tâm trạng - cảm xúc. + KN cung cấp thông tin: Khi HS tìm đến sự TV của GV, bên cạnh mong muốn được lắng nghe, được thấu hiểu, các em còn mong muốn nhận được những thông tin giúp đỡ của GV. Những thông tin này có thể là những thông tin “khách quan” có giá trị mà các em chưa biết đến, hoặc là những gợi ý để giải quyết vấn đề mà các em đang gặp phải. Việc cung cấp thông tin này đòi hỏi người GV phải thật sự hiểu vấn đề của HS, thật sự khách quan và tôn trọng ý kiến của HS, đặc biệt là khi có bất đồng quan điểm. Nói tóm lại, có nhiều KNTV khác nhau tuy nhiên, đó không tách rời nhau mà có sự đan xen, tương hỗ nhau, trong quá trình TV, người GV phải sử dụng linh hoạt nhiều KN, để mục đích TV đạt hiệu quả cao nhất. 1.2.3.3. Thái độ + Tình cảm TV: gồm các biểu hiện sau: Nhiệt tình trong TV: Sẵn sàng, tự nguyện giúp đỡ HS mọi lúc, mọi nơi; Nhanh chóng tìm hiểu vấn đề và giúp HS giải quyết vấn đề; Tự tin trong TV: Làm chủ được tiến trình TV; Luôn tin rằng TV có thể hỗ trợ, giúp HS giải quyết vấn đề. + Động cơ TV: Mục tiêu TV rõ ràng, tích cực: TV cho HS để giúp các em vượt qua được khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập của các em, cũng chính là giúp GV hoàn thành nhiệm vụ GD của mình, góp phần khẳng định giá trị bản thân; Chủ động TV: Nhận ra được các biểu hiện bất thường của HS, chủ động tìm kiếm thông tin, cách thức để TV cho HS, thậm chí chủ động tìm đến người thứ 3 có kinh nghiệm hơn để tham khảo ý kiến. + Ý chí TV: Khắc phục khó khăn trong TV: Sẵn sàng TV cho HS mọi lúc, mọi nơi: trong giờ lên lớp cũng như ngoài giờ lên lớp, trong nhà trường cũng như ngoài nhà trường, sẵn sàng TV cho HS nhiều lần cho đến khi vấn đề được giải quyết thỏa đáng; Tự học, tự rèn luyện trong TV: Luôn có ý thức và hành động trong việc tự học, tự rèn luyện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động TV. Tiểu kết chương 1 Có thể nói trong bất kì giai đoạn giáo dục nào vai trò của người GV cũng được khẳng định. Đặc biệt, khi chương trình 2018 sắp đi vào thực hiện ở cấp THPT, cùng với những biến động mạnh mẽ của xã hội, việc nâng cao NLTV cho người GV từ đó phát huy hiệu quả TV càng trở thành một yêu cầu thiết yếu đối với mọi cơ sở GD. Nó không chỉ giúp HS nâng cao thành tích học tập mà còn định hướng kĩ năng sống cho HS, góp phần xây dựng những con người phát triển cả năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. 10
  16. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU TƯ VẤN CỦA HỌC SINH VÀ NĂNG LỰC TƯ VẤN CỦA GIÁO VIÊN THPT Ở chương 2 này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu thực trạng về nhu cầu TV của HS và NLTV của giáo viên tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 để trên cơ sở đó có những giải pháp phù hợp giúp nâng cao hiệu quả TV cho học sinh của người GV. Với mong muốn có một cái nhìn thấu đáo về vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành trao đổi, trò chuyện với nhiều GV và HS trong nhiều năm học liên tiếp khi lên kế hoạch thực hiện đề tài. Đặc biệt, để có một con số mang tính định lượng, chúng tôi đã tiến hành làm phiếu khảo sát với 30 giáo viên và 244 học sinh ở 6 lớp của cả 3 khối tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 đầu năm học 2020 - 2021. Gồm có các lớp: 12A1, 12D1, 11A7, 11D3, 10A3, 10D1 * Mục đích khảo sát - Tìm hiểu nhận thức, hiểu biết của GV và HS về sự cần thiết của hoạt động TV tại trường THPT Quỳnh Lưu 2 - Xác định rõ những nhu cầu cần TV của HS, những kì vọng của HS đối với GV, những khó khăn khi TV cũng như những nguyên nhân dẫn đến khó khăn đó của GV. Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm phát huy hiệu quả TV cho HS của GV ở trường THPT Quỳnh Lưu 2. * Phương pháp khảo sát Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành: Dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp với GV và HS. (Mẫu phiếu khảo sát ở phần Phụ lục) * Kết quả khảo sát Sau khi xử lí phiếu khảo sát, chúng tôi có kết quả cụ thể như sau: Bảng tỉ lệ GV/ HS hiểu về sự cần thiết của việc TV và tổ chức TV trong trường THPT Bảng 1: Có cần thiết tổ chức TV cho HS ở trường THPT không? Tổng số HS và GV/tỉ lệ Bình Không cần Ít cần Cần Rất cần thường 277 11 23 46 101 96 100% 4% 8,3% 16,6% 36,5% 34,6% 11
  17. Bảng 2 Tổng số Học sinh có nhu cầu TV không? HS và Bình GV/tỉ lệ Không cần Ít cần Cần Rất cần thường 277 18 34 49 98 78 100% 6,5% 12,3% 17,7% 35,4% 28,1% Bảng 3: Học sinh có mong muốn được GV TV không? Tổng số HS và Không Ít mong Mong Rất mong GV/tỉ lệ mong Phân vân muốn muốn muốn muốn 277 22 31 57 93 74 100% 7,9% 11,2% 20,6% 33,6% 26,7% Bảng 4: Học sinh có tìm đến thầy cô nhờ giúp đỡ Tổng số HS /tỉ lệ Không bao Thỉnh Thường Hiếm khi Luôn luôn giờ thoảng xuyên 244 38 79 70 36 21 100% 15,6% 32,4% 28,6% 14,8% 8,6% Bảng nhu cầu TV của HS Nhu cầu TV của Không Ít cần Bình Rất cần Cần thiết HS/tỉ lệ cần thiết thiết thường thiết Học tập 16/6,6% 27/11,1% 30/12,3% 94/38,5% 77/31,5% Quan hệ giao tiếp, 65/16,4% 44/18% 75/30,7% 41/16,8% 38/15,6% ứng xử Giới tính và quan hệ 32/26,6% 53/21,7% 63/25,8% 45/18,4% 51/20,9%% với bạn khác giới Hướng nghiệp 19/7,7% 27/11,1% 39/16% 88/36,1% 71/29,1% Tham gia hoạt động 28/11,5% 42/17,2% 64/26,2% 57/23,4% 53/21,7% xã hội 12
  18. Bảng cách giải quyết khi gặp khó khăn cần TV Rất Cách giải quyết/Tỉ Không Thỉnh Thường Hiếm khi thường lệ bao giờ thoảng xuyên xuyên Nhờ sự giúp đỡ của 223/91,4% 11/4,5% 9/3,7% 1/0,4% 0/0% chuyên gia TV ở các trung tâm TV Hỏi ý kiến cha mẹ 58/23,8% 72/29,5% 53/21,7% 32/13,1% 29/11,9% và những người thân trong gia đinh Nhờ GV TV 64/26,2% 89/36,5% 57/23,4% 20/8,2% 14/5,7% Tâm sự, hỏi ý kiến 8/3,3% 14/5,7% 34/13,9% 97/39,8% 91/37,3% bạn bè thân thiết Tìm thông tin trên 9/3,7% 44/18% 48/19,7% 74/30,3% 69/28,3% internet Tự mình tìm cách 37/15,2% 70/28,7% 79/32,4% 59/24,2% 53/27,1% giải quyết Lúng túng không 13/5,3% 47/19,3% 67/27,5% 61/25% 56/22,9% biết giải quyết Bảng kì vọng của HS đối với GV trong quá trình TV Mức độ/tỉ lệ Kì vọng Không kì Ít kì Bình Rất kì Kì vọng vọng vọng thường vọng Được lắng nghe, chia 13/5,3% 34/14% 49/20,1% 76/31,1% 72/29,5% sẻ vấn đề gặp phải Đảm bảo tính bảo mật 11/4,5% 22/9% 42/17,2% 89/36,5% 80/32,8% của thông tin Không bị định kiến, kì 14/5,7% 29/11,9% 52/21,3% 78/32% 71/29,1% thị Có thể hỏi mọi lúc, 39/16% 46/18,9% 55/22,5% 53/21,7% 51/20,9% mọi nơi Cho lời khuyên/ hướng 8/3,3% 20/8,2% 31/12,7% 102/41,8% 83/34% giải quyết kịp thời với vấn đề gặp phải 13
  19. Bảng thực trạng về NLTV của GV Bảng 1: Tổng số Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của TV GV/tỉ lệ Kém Yếu Trung bình Khá Tốt 30 0 1 10 14 5 100% 0% 3,3% 33,3% 46,7% 16,7% Bảng 2: Tổng số Đánh giá về năng lực TV GV/tỉ lệ Kém Yếu Trung bình Khá Tốt 30 0 0 11 14 5 100% 0% 0% 36,6% 46,7% 16,7% Bảng 3: Tổng số Đánh giá của HS về năng lực TV của GV HS/tỉ lệ Kém Yếu Trung bình Khá Tốt 244 2 10 128 72 32 100% 0,8% 4,1% 52,5% 29,5% 13,1% Bảng 4: Tần suất HS tìm đến GV lần nữa để xin TV Tổng số HS/tỉ lệ Không bao Thỉnh Thường Hiếm khi Luôn luôn giờ thoảng xuyên 244 56 139 39 7 3 100% 22,9% 57%% 16% 2,9% 1,2% Từ những bảng số liệu trên, cùng với việc điều tra, phỏng vấn có thể rút ra một số nhận xét như sau: 2.1. Thực trạng về nhu cầu tư vấn của học sinh 2.1.1. Nhu cầu được tư vấn Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn GV và HS được hỏi cho biết cần thiết và rất cần thiết tổ chức TV cho HS ở trường THPT (chiếm 71,1%); HS và GV cũng đánh giá nhu cầu được TV của HS rất cao (cần và rất cần TV chiếm 63,5%) và mong muốn được GV TV và hỗ trợ khi gặp khó khăn trong quá trình học tập và sinh hoạt là 60,3%. 14
  20. Về nhu cầu TV, trong các nhóm học tập, tâm sinh lí, hướng nghiệp, tham gia các hoạt động xã hội kết quả khảo sát cho thấy học sinh có nhu cầu TV về học tập cao nhất. Gần 70% (69,6%) HS thấy cần thiết và rất cần thiết được TV về mặt học tập. Việc HS chuyển từ THCS sang THPT cũng là một khó khăn lớn đối với các em. Khối lượng kiến thức của các môn học đều tăng và yêu cầu của mỗi môn học ở THPT cũng cao hơn so với THCS. Ngoài ra, các em cũng phải chuẩn bị kiến thức cho việc thi đại học là một mốc rất quan trọng trong cuộc đời các em. Để học tập hiệu quả, các em cần được định hướng, xây dựng động cơ học tập và thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập khoa học, phù hợp. Việc làm sao để chọn được môn học, khối học yêu thích phù hợp với năng lực của mình, phù hợp với yêu cầu kiến thức định hướng nghề nghiệp đa dạng trong xã hội luôn thay đổi, các em rất cần được GV TV, hỗ trợ. Đặc biệt là trong hai năm học 2020 - 2021 và 2021 - 2022 khi đại dịch Covid 19 ảnh hưởng rất lớn tới việc học tập, HS phải học trực tiếp xen lẫn trực tuyến nên nhu cầu được TV về mặt học tập lại càng tăng. Qua phỏng vấn, tôi nhận thấy HS có nhu cầu TV về việc xác định động cơ học tập, cách lập kế hoạch học tập, phương pháp học tập, tìm kiếm tài liệu học tập và đặc biệt là áp lực thi cử. Nhu cầu thứ hai HS muốn GV TV là định hướng nghề nghiệp, đặc biệt chiếm số đông là HS khối 12. Kết quả khảo sát cho thấy 65,2% HS thấy cần thiết và rất cần thiết được TV về nghề nghiệp. Bao gồm nhận thức về nghề nghiệp và định hướng cuộc sống, lựa chọn hướng đi phù hợp với năng lực, sở thích, điều kiện bản thân và nhu cầu xã hội, tìm hiểu sở thích nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp. Thực tế cho thấy, công tác TV hướng nghiệp ở THPT Quỳnh Lưu 2 hiện nay đã được quan tâm nhưng chưa đạt được hiệu quả mong muốn bởi vì ngoại trừ GV làm công tác hướng nghiệp thì phần lớn GV ở trong trường chưa được đào tạo, bồi dưỡng nhiều về hướng nghiệp và thiếu các KNTV cần thiết để giúp HS lựa chọn đúng ngành nghề phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân. Ngoài ra, theo kết quả khảo sát và phỏng vấn trực tiếp, những vấn đề về chăm sóc các bệnh liên quan đến giới tính, quan hệ giới tính cũng là vấn đề được HS quan tâm và mong muốn TV. Các nội dung về quan hệ ứng xử hay tham gia các hoạt động xã hội được phần lớn HS đánh giá ở mức bình thường. HS có nhu cầu được TV thấp nhất với nhóm quan hệ ứng xử với gia đình, thầy cô và bạn bè. 2.1.2. Cách thức giải quyết khi có nhu cầu tư vấn Mặc dù có nhu cầu TV cao như vậy, nhưng rất ít HS rất thường xuyên (5,7%) và thường xuyên (8,2%) tìm đến GV để nhờ TV, giúp đỡ cách giải quyết các khó khăn gặp phải. Hơn một nửa số HS được khảo sát cho biết không bao giờ (26,2%) hoặc hiếm khi (36,5%) đến gặp GV để tìm sự giúp đỡ. Kết quả cho thấy khi đối diện với những khó khăn, HS có xu hướng tự mình tìm cách giải quyết (51,3%) hoặc tìm thông tin trên mạng Internet (58,6%) hoặc tâm sự, hỏi ý kiến bạn bè thân thiết (77,1%). Hỏi ý kiến cha mẹ và người thân trong gia đình hay nhờ GV TV không phải biện pháp mà HS nghĩ đến trước tiên. 15
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2