intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học môn Địa Lí 12 nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT

Chia sẻ: Bananalachuoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:48

87
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài nghiên cứu sử dụng một số cách khởi động nhằm đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để tạo hứng thú và tạo tình huống có vấn đề cho học sinh từ đó tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục học sinh: hình thành và phát triển một số phẩm chất và năng lực nói chung cho học sinh trong quá trình dạy học như phẩm chất: yêu nước, chăm chỉ, trung thực, nhân ái và khoan dung, trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ học sinh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học môn Địa Lí 12 nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỊA LÝ Đề tài: “TỔ CHỨC CÁC HÌNH THỨC KHỞI ĐỘNG TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH THPT” Người thực hiện : HOÀNG THỊ YẾN Nhóm : Địa Lí- Tổ Xã Hội Đơn vị : Trường THPT Diễn Châu 2 – Nghệ An Điện thoại : 0983 464 663 Diễn Châu, tháng 03 năm 2021
  2. MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1 2. Mục đích nghiên cứu. ......................................................................................... 2 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. ......................................................................... 2 4. Thời gian nghiên cứu:......................................................................................... 2 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. ........................................................................................ 2 6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 3 7. Tính mới của đề tài. ............................................................................................ 3 8. Dự kiến đóng góp của đề tài ............................................................................... 3 PHẦN II: NỘI DUNG .......................................................................................... 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG BÀI HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở MÔN ĐỊA LÍ 12 ........................................................................... 4 1. Cơ sở lý luận ...................................................................................................... 4 2. Cơ sở thực tiễn. .................................................................................................. 5 2.1. Thực trạng nghiên cứu. .................................................................................... 5 2.1.1. Về học sinh. .................................................................................................. 5 2.1.2. Về giáo viên. ................................................................................................ 6 2.1.3. Cơ sở vật chất. .............................................................................................. 6 2.2. Khảo sát thực trạng .......................................................................................... 6 2.2.1. Kết quả khảo sát giáo viên ............................................................................ 6 2.2.2. Kết quả khảo sát học sinh ............................................................................. 8 3. Nguyên nhân của thực trạng ............................................................................... 9 3.1. Nguyên nhân về phía giáo viên ........................................................................ 9 3.2. Nguyên nhân về phía học sinh ....................................................................... 10 4. Những điểm cần lưu ý khi tổ chức hoạt động khởi động. .................................. 10 CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP TIẾN HÀNH TỔ CHỨC CÁC HÌNH THỨC KHỞI ĐỘNG BÀI HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở MÔN ĐỊA LÍ 12 ................................................................................................. 11 1. Giải pháp tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học Địa lí 12 nhằm phát triển năng lực học sinh ......................................................................................... 11
  3. 1.1. Sử dụng tranh- ảnh ........................................................................................ 11 1.2. Sử dụng video ............................................................................................... 12 1.3. Sử dụng kiến thức liên môn với Âm nhạc. ..................................................... 13 1.4. Sử dụng tình huống có vấn đề, câu hỏi nêu vấn đề ........................................ 14 1.5. Sử dụng trò chơi ............................................................................................ 15 2. Các bước tiến hành hoạt động khởi động .......................................................... 17 3. Áp dụng............................................................................................................ 17 3.1. Tổ chức hoạt động khởi động bài học bằng tranh, ảnh ................................... 17 3.2. Tổ chức hoạt động khởi động bài học bằng video .......................................... 22 3.3. Tổ chức hoạt động khởi động bài học bằng kiến thức liên môn với âm nhạc. 23 3.4. Tổ chức hoạt động khởi động bài học bằng bài tập tình huống có vấn đề, câu hỏi nêu vấn đề. ..................................................................................................... 25 3.5. Tổ chức hoạt động khởi động bài học bằng trò chơi ...................................... 27 4. Giáo án minh họa. ............................................................................................ 31 5. Thực nghiệm sư phạm ...................................................................................... 37 5.1. Mục đích thực nghiệm. .................................................................................. 37 5.2. Đối tượng thực nghiệm. ................................................................................. 37 5.3. Thời gian thực nghiệm. .................................................................................. 37 5.4. Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình thực nghiệm. .................................... 38 5.5. Kết quả thực nghiệm. .................................................................................... 38 5.6. Phụ lục ( đĩa CD ) .......................................................................................... 40 5.7. Một số hình ảnh thực nghiệm ........................................................................ 40 PHẦN III: KẾT LUẬN ...................................................................................... 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 44
  4. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TT TỪ VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ 1 HS Học sinh 2 GV Giáo viên 3 GVBM Giáo viên bộ môn 4 KHTN Khoa học tự nhiên 5 KHXH Khoa học xã hội 6 THPT Trung học phổ thông.
  5. PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Mục tiêu của giáo dục phổ thông nước ta hiện nay là “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.” Như vậy, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học. Trong chương trình THPT, Địa lí là một môn khoa học có kiến thức rộng, bao gồm Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế- xã hội, đặc biệt nhiều phần có nội dung khó, trừu tượng, khô khan, khiến cho học sinh cảm thấy khó hiểu, khó học và ít có hứng thú đối với môn học. Do vậy, yêu cầu đặt ra là để có giờ dạy Địa lí đạt hiệu quả cao, người giáo viên phải không ngừng tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy và học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Trong các hoạt động của một tiết học, hoạt động khởi động bài học được xem là rất quan trọng vì hoạt động này có thể cùng lúc đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau: Thứ nhất là tạo hứng thú học tập cho học sinh, khơi gợi hứng thú đối với bài học, khơi dậy niềm đam mê, gây dựng, bồi đắp tình yêu lâu bền với môn học; thứ hai là huy động vốn tri thức, kĩ năng, nền tảng của học sinh, tạo cơ hội cho các em tự làm sống lại những kiến thức nền đã có, cần thiết cho việc học bài mới; thứ 3 là tạo ra mâu thuẫn về nhận thức, lôi kéo sự chú ý của người học. Để học tập thực sự là một quá trình khám phá thì đòi hỏi giáo viên phải là người có ý tưởng, biết gieo vấn đề để kích thích trí tò mò của người học. Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, nắm bắt được những tồn tại và hạn chế của việc dạy và học Địa lí, đồng thời nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động khởi động có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tiến trình tiết dạy, ảnh hưởng lớn đến việc chủ động sẵn sàng tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ của học sinh THPT nên tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài “Tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học môn Địa Lí 12 nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT” để chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới trong dạy học Địa lí theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. 1
  6. 2. Mục đích nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu sử dụng một số cách khởi động nhằm đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để tạo hứng thú và tạo tình huống có vấn đề cho học sinh từ đó tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục học sinh: hình thành và phát triển một số phẩm chất và năng lực nói chung cho học sinh trong quá trình dạy học như phẩm chất: yêu nước, chăm chỉ, trung thực, nhân ái và khoan dung, trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ học sinh. Cũng như năng lực chung: năng lực tự học và tự chủ, năng lực tính toán, năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin ... Riêng đối với bộ môn Địa lí ở trường trung học phổ thông, trong quá trình dạy học giáo viên cần chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực chung, chú ý phát triển năng lực chuyên biệt cho học sinh đó là năng lực Địa lí: năng lực nhận thức thế giới theo quan điểm không gian, năng lực định hướng không gian, năng lực giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí tự nhiên và kinh tế- xã hội, năng lực sử dụng công cụ địa lí. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 3.1 . Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các hình thức khởi động phù hợp với từng nội dung bài học ở chương trình Địa lí 12. 3.2. Phạm vi nghiên cứu. Các hình thức khởi động bài học phù hợp nội dung ở môn Địa lí lớp 12 4. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2019-2020 và 2020-2021 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. Nghiên cứu về một số hình thức khởi động bài học môn Địa lí 12. - Nghiên cứu về thực trạng công tác giảng dạy để từ đó đưa ra những hình thức khởi động phù hợp giúp học sinh vào bài đầy hứng thú và hiệu quả. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động khởi động trong dạy học Địa lí . - Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức Địa lí 12 để làm cơ sở cho việc tổ chức hoạt động khởi động. - Thiết kế các hoạt động khởi động trong dạy học Địa lí 12. - Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thiết của đề tài và rút ra kết luận. 2
  7. 6. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp đọc tài liệu: Đọc và tìm hiểu các tài liệu liên quan đến các hình thức khởi động bài học. - Phương pháp điều tra: Tiến hành thực nghiệm kiểm tra và so sánh kết quả đánh giá học sinh qua từng giai đoạn, để kiểm chứng các hình thức đã nghiên cứu có phù hợp chưa và có mang lại kết quả tốt không. - Phương pháp đàm thoại: Thường xuyên dự giờ, trao đổi các kinh nghiệm với đồng nghiệp trong nhóm để biết thêm các cách khởi động, rút kinh nghiệm từ các hình thức khởi động bài học đã dùng 7. Tính mới của đề tài. - Chưa ai đề cập đến hoặc đề cập tới chưa đầy đủ - Xây dựng cho giáo viên kĩ năng, phương pháp tổ chức các hình thức khởi động bài học sao cho phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh, điều kiện dạy học góp phần phát huy năng lực tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng cho học sinh, đem đến cho các em niềm yêu thích môn Địa lí - Khai thác có hiệu quả hoạt động khởi động trong tiến trình dạy học, góp phần làm phong phú thêm phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học môn Địa lí. - Nhằm phát triển phẩm chất, năng lực vận dụng tri thức trong giải quyết các tình huống cuộc sống và thực tiễn. 8. Dự kiến đóng góp của đề tài Khai thác có hiệu quả hoạt động khởi động trong tiến trình dạy học góp phần làm phong phú thêm lý luận và phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học Địa lí. Góp phần phát huy và phát triển các năng lực cho học sinh khối 12 nói riêng và học sinh THPT nói chung, đem đến cho các em niềm yêu thích học tập môn Địa lí. Đề tài có tính ứng dụng cao ở tất cả các trường THPT. 3
  8. PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG BÀI HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở MÔN ĐỊA LÍ 12 1. Cơ sở lý luận Theo định hướng đổi mới giáo dục phát triển năng lực học sinh thì giáo dục không chỉ đạt được mục tiêu về kiến thức mà còn phát huy được các năng lực cho học sinh. Một trong những năng lực cần phải hình thành và phát triển cho học sinh đó là năng lực giải quyết vấn đề. Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp lên lớp nói riêng là việc làm quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện hành, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dạy và học để làm được điều đó mỗi người giáo viên cần phải tìm tòi, sáng tạo trong từng hoạt động dạy học. Trong đó, hoạt động khởi động bài học mặc dù chỉ chiếm từ 5 đến 7 phút nhưng là hoạt động rất quan trọng trong sự thành công của một tiết dạy. Các hình thức khởi động bài học cần phù hợp với từng đối tượng, trình độ nhận thức của học sinh giúp các em có hứng thú học tập, có đam mê với môn học. Lý luận dạy học hiện đại xem hứng thú là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện sự hình thành nhân cách của học sinh. Hứng thú là yếu tố dẫn tới tự giác, hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực độc lập sáng tạo trong học tập. Ngược lại phong cách học tập tích cực độc lập, sáng tạo có ảnh hưởng đến sự phát triển hứng thú và tự giác. F. bruno cho rằng “hứng thú được hình thành qua việc tổ chức học tập như những hành động khám phá”. Theo E.P. Brounovt, “Một niềm hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc hoàn thành các công tác độc lập dài hơn”. Nếu học sinh được độc lập quan sát, so sánh, phân tích, khái quát hóa các sự kiện, hiện tượng thì các em sẽ hiểu sâu sắc và hứng thú bộc lộ rõ mối quan hệ giữa tích cực học tập và hứng thú nhận thức (Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở - Bộ Giáo dục và Đào tạo). Khởi động bài học là một hoạt động học tập nhằm tạo ra tình huống vấn đề học tập để huy động kiến thức, kinh nghiệm hiện có của học sinh và nhu cầu tìm hiểu kiến thức mới liên quan đến tình huống vấn đề học tập. Hoạt động này nhằm phát triển năng lực cho học sinh, phát triển năng lực tư duy nêu và giải quyết vấn đề. Khi thiết kế, người dạy cần tạo ra những tình huống, những vấn đề mà ở đó người học cần được huy động tất cả các kiến thức hiện có, những kinh nghiệm, vốn sống của mình để cố gắng ghi nhận và giải quyết theo cách riêng của mình và cảm thấy thiếu hụt kiến thức thông tin để giải quyết. 4
  9. Trước kia, người ta thuần túy quan niệm phần khởi động (mở bài) chỉ để vào bài mới. Ngày nay, ngoài chức năng đó, hoạt động này có tác dụng chính là nêu được vấn đề chính của bài học. Khai thác triệt để hoạt động này sẽ tạo điều kiện để giáo viên thực hiện tốt việc cải tiến phương pháp soạn giảng, học sinh có điều kiện chủ động tích cực tham gia vào quá trình học và tự học một cách tốt nhất thông qua cái đã biết - chưa biết, giữa lý thuyết - thực tiễn đời sống hàng ngày. Đây là một hoạt động sáng tạo, người thầy-cô giáo với những kiến thức về khoa học cơ bản và khoa học sư phạm cùng với những kinh nghiệm tích lũy được trong quãng đời dạy học của mình mà vận dụng những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, hoàn cảnh cụ thể, lựa chọn những con đường và biện pháp cụ thể để thu được hiệu quả cao nhất trong dạy học. Có nhiều con đường và biện pháp khác nhưng để nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông, tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học nhằm phát triển năng lực và phẩm chất, phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, quan sát, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo, tư duy của học sinh. Phương pháp tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học Địa lí nhằm phát triển năng lực cho học sinh ở trường trung học phổ thông còn đóng một vai trò tích cực đó là tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn. Điều đó có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới. Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung. Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên. 2. Cơ sở thực tiễn. 2.1. Thực trạng nghiên cứu. 2.1.1. Về học sinh. Trong thực tế lớp học bao gồm đủ các học sinh từ khá, giỏi đến yếu, kém. Số học sinh khá, giỏi rất năng động, sáng tạo, tích cực học tập, tiếp thu bài tốt, tham gia nhiệt tình vào các hình thức khởi động bài học. Ngược lại học sinh yếu, kém lại rất lười học, tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa có khả năng tham gia vào các hoạt động khởi động bài học. Mức độ tiếp thu bài học của các em không đồng đều gây khó khăn cho việc chọn lựa các hoạt động phù hợp với trình độ của mỗi lớp. Có những hình thức khởi động bài học tạo được nhiều hứng thú cho học sinh khá, giỏi, nhưng số học sinh yếu, kém lại không đủ khả năng tham gia tích cực, ngược lại có nhiều hình thức được sự hưởng ứng nhiệt tình của những học sinh yếu, kém, nhưng lại gây nhàm chán cho số học sinh khá, giỏi. 5
  10. 2.1.2. Về giáo viên. Một số giáo viên đã vận dụng được các phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá tích cực trong dạy học, kỹ năng sử dụng và khai thác thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong tổ chức hoạt động dạy học được nâng cao, vận dụng được quy trình kiểm tra, đánh giá mới. Nhưng nhìn chung, hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các môn thuộc trường trung học phổ thông nói chung, môn Địa lí nói riêng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao. Truyền thụ tri thức một chiều, nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Vì vậy trong các tiết dạy – học Địa lí chưa thu hút và gây hứng thú đối với học sinh, nặng về cung cấp kiến thức kĩ thuật. Một số giáo viên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn vì quan niệm môn Địa lí là môn phụ. Từ việc giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp tôi thấy được thực trạng như sau: - Lựa chọn các tình huống chưa sâu sắc dẫn đến các em có thể trả lời được một cách dễ dàng với các câu hỏi đặt vấn đề còn quá đơn giản - Giáo viên chỉ vào bài trực tiếp: giới thiệu tên bài mới - Tổ chức hoạt động trò chơi chưa có mối quan hệ với bài học nếu có thì cũng chưa được hấp dẫn - Thời gian cho hoạt động này quá ít vì chưa xem đó là một hoạt động học tập, chưa cho các em suy nghĩ, bày tỏ ý kiến của mình. - Cố gắng giảng giải chốt kiến thức ngay ở hoạt động này. 2.1.3. Cơ sở vật chất. Trường lớp khang trang sạch đẹp, đa số các lớp có tivi nên việc ứng dụng công nghệ thông tin thuận lợi hơn. Tuy nhiên, giữa các phòng chưa có tường, cửa cách âm, số lượng HS mỗi lớp lại đông nên có thể gây ồn cho các lớp bên cạnh khi tổ chức hoạt động khởi động. 2.2. Khảo sát thực trạng 2.2.1. Kết quả khảo sát giáo viên - Khảo sát GVBM về hoạt động khởi động: Số GV được khảo sát là 3 GVBM Địa Lí của trường THPT, nơi tác giả đề tài công tác ( không bao gồm tác giả đề tài) 6
  11. Bảng 1: Khảo sát hoạt động khởi động của GVBM TT Nội dung khảo sát Số GV Tỉ lệ % khảo sát Thầy (cô) có tổ chức thực hiện hoạt động khởi 3 100 động không? 1 - Có 3 100 - Không 0 0 Cơ sở tiến hành khởi động 3 100 - Xuất phát từ nội dung bài học 0 0 2 - Từ nội dung liên quan đến nội dung bài 1 33,3 - Từ các nội dung liên quan đến tên bài 1 33,3 - Từ nguồn khác 1 33,4 Mục tiêu của khởi động 3 100 - Kiểm kê kiến thức của HS 0 0 3 Tạo hứng thú cho HS 3 100 - Tạo ra tình huống có vấn đề để vào bài 0 0 Hình thức khởi động mà Thầy (cô) thường 3 100 dùng? 4 - Tổ chức thành hoạt động 0 0 - Dẫn dắt 2 66,7 - Khác 1 33,3 Người thực hiện khởi động 3 100 - Giáo viên 3 100 5 - Học sinh 0 0 - Giáo viên và học sinh 0 0 Mức độ thu hút HS của hoạt động khởi động 3 100 6 - Mức độ cao 0 0 Mức độ TB 2 66,7 7
  12. Mức độ thấp 1 33,3 Hiệu quả của hoạt động khởi động 3 100 - Hiệu quả cao 0 0 7 - Hiệu quả trung bình 2 66,7 - Hiệu quả thấp 1 33,3 Nhận xét: Các GVBM Địa lí trong trường có thực hiện việc khởi động trước khi hướng dẫn HS tìm hiểu bài mới; hình thức khởi động thường là GV dẫn dắt trực tiếp vào bài, HS lắng nghe, không tham gia trực tiếp vào hoạt động khởi động. Như vậy, với hình thức dẫn nhập vào bài mà GV là người thực hiện khởi động, HS thụ động, không tham gia thì chưa thể hiện rõ sự đổi mới. Người GV đang là trung tâm, HS chỉ nghe, quan sát, chưa thực sự được khởi động trước khi đi vào hoạt động hình thành kiến thức mới. Hoạt động khởi động chưa đạt được mục tiêu là: tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn, thu hút HS chủ động lĩnh hội kiến thức, dẫn đến khả năng HS học thụ động, không hào hứng trong việc tìm hiểu và khám phá kiến thức mới. 2.2.2. Kết quả khảo sát học sinh - Số lượng HS được khảo sát: 334 HS ở các lớp 12B, 12C, 12E, 12G, 12K, 12M, 12N, 12P, 12Q. của trường THPT nơi tác giả công tác, năm học 2019- 2020 (4 lớp do tác giả đề tài giảng dạy không thực hiện khảo sát ở mục này) - Hình thức khảo sát: Dùng phiếu điều tra. - Kết quả khảo sát: Bảng 2: Khảo sát học sinh TT Nội dung khảo sát Số HS Tỉ lệ khảo sát % Em có học bài và chuẩn bị bài trước khi đến lớp 356 100 không? 1 - Thường xuyên 108 30,3 - Thỉnh thoảng 157 44,1 - Không 90 25,6 Em có quan tâm đến hoạt đông khởi động tiết 356 100 2 học không? - Mức độ cao 89 25,0 - Mức độ trung bình 118 33,0 8
  13. - Mức độ thấp 149 42,0 Khởi động có giúp em định hướng được kiến 356 100 thức mới cần tìm hiểu không? 3 - Định hướng tốt 77 22,0 - Chưa rõ ràng 87 24,0 - Không định hướng được 192 54,0 Em có chủ động tìm hiểu kiến thức để giải quyết 356 100 vấn đề đặt ra trong hoạt động khởi động không? 4 - Có 150 42,0 - Không 206 58,0 Nếu khởi động tạo cho em sự tò mò, em có muốn 356 100 tìm hiểu bài học để giải đáp vấn đề không? 5 - Có 320 9,0 - Không 36 10 Em cảm thấy như thế nào về hình thức khởi 356 100 động mà thầy (cô) đã thực hiện? 6 Hào hứng 0 0,0 Thích 90 25,0 Không thích 266 75,0 - Nhận xét: Qua khảo sát HS, đa số GVBM có thực hiện dẫn dắt trước khi vào bài học mới một cách thường xuyên hoặc không thường xuyên. Tuy nhiên, hoạt động khởi động mà GVBM áp dụng mới chỉ dừng lại ở việc dẫn dắt của GV, HS chưa được tham gia và hoạt động cụ thể nên chưa thu hút được sự quan tâm, chú ý, chưa phát huy được tính tích cực và sáng tạo của HS vào nội dung tiết học. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, đa số HS đều thích tiết học sinh động, hấp dẫn; đều chờ đón hoạt động khởi động mới mẻ và lôi cuốn, để từ đó các em chủ động khám phá, giải quyết vấn đề được nêu ra ở phần khởi động và hình thành hệ thống kiến thức mới một cách hiệu quả. Thực tế khảo sát cho thấy, vào đầu tiết học nếu GVBM không đổi mới trong việc tổ chức các hình thức khởi động, sẽ không phát huy hết tính tích cực cũng như sự sáng tạo của HS trong học tập bộ môn Địa lí. 3. Nguyên nhân của thực trạng 3.1. Nguyên nhân về phía giáo viên 9
  14. * Nguyên nhân khách quan: - Chương trình môn Địa lí THPT nói chung và chương trình môn Địa lí 12 nói riêng hiện nay còn dài, GV còn gặp khó khăn trong việc xây dựng phân phối chương trình, phân phối thời gian cho các hoạt động trong tiết dạy. - Cơ sở vật chất ở các lớp chưa thực sự đồng đều gây khó khăn cho GV trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động khởi động. * Nguyên nhân chủ quan - Một số GVBM chưa chủ động trong việc học hỏi, tiếp thu phương pháp và kĩ năng dạy học tích cực để vận dụng vào quá trình giảng dạy. - Tâm lí GV còn nặng về truyền thụ kiến thức ở hoạt động hình thành kiến thức mới, hoạt động khởi động còn qua loa, chưa được chú trọng do sợ thiếu thời gian, “cháy” giáo án. - Việc ứng dụng công nghệ thông tin của một số GV còn hạn chế nên khó khăn trong đổi mới phương pháp thiết kế và dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong hoạt động khởi động. - Khả năng nhận thức của học sinh trong một lớp học khác nhau nên mức độ tiếp thu bài không đồng đều, gây khó khăn cho việc chọn lựa các hoạt động phù hợp. Hoạt động dễ, sẽ gây nhàm chán cho số học sinh khá giỏi, còn các hoạt động khó, nâng cao làm cho học sinh chưa có năng lực không tiếp thu kịp. - Giáo viên chưa chú trọng hoặc chưa khai thác hiệu quả các hình thức khởi động trong quá trình dạy học. Vì vậy không tạo được hứng thú cho học sinh, không nêu được vấn đề cho học sinh tư duy độc đáo và sáng tạo. Nội dung tiết dạy bị mờ nhạt ngay từ đầu, học sinh kém tập trung, hiệu quả tiết dạy không cao. 3.2. Nguyên nhân về phía học sinh - Nhiều HS có tâm lí học lệch, thiên về các môn KHTN nên các môn KHXH chưa có sự đầu tư, chưa chuẩn bị bài chu đáo, dẫn đến tiết học thụ động. - Áp lực học tập từ nhiều bộ môn khác nhau trong cùng một buổi học nên khả năng tập trung, tư duy bị phân tán. 4. Những điểm cần lưu ý khi tổ chức hoạt động khởi động. * Nhiệm vụ học tập trong hoạt động khởi động cần đảm bảo rằng, học sinh không thể giải quyết trọn vẹn với kiến thức, kĩ năng cũ. * Tình huống, câu hỏi mở đầu chỉ có thể giải quyết một phần, hoặc dự đoán kết quả nhưng chưa lý giải được đầy đủ bằng kiến thức, kỹ năng cũ mà cần học thêm kiến thức, kỹ năng mới trong các hoạt động hình thành kiến thức và luyện tập để hoàn thiện, đặt ra được tình huống có vấn đề trong câu hỏi đưa ra. Vì vậy nên: 10
  15. - Không cần học sinh trả lời hết và đúng các câu hỏi trong hoạt động khởi động. - Học sinh không phải ghi kết quả trả lời các câu hỏi của hoạt động khởi động. - Giáo viên không chốt kiến thức. * Giáo viên cần - Coi hoạt động này là một hoạt động học tập, có mục đích, thời gian hoạt động và sản phẩm hoạt động. - Chuyển giao nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể phù hợp với đối tượng học sinh, lựa chọn các tình huống những câu hỏi ngắn gọn, hay để giúp học sinh suy nghĩ - Bố trí thời gian thích hợp cho các em học tập, bày tỏ quan điểm, cũng như sản phẩm của hoạt động. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã nghiên cứu và trải nghiệm qua 2 năm học, đúc rút ra được kinh nghiệm này. CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP TIẾN HÀNH TỔ CHỨC CÁC HÌNH THỨC KHỞI ĐỘNG BÀI HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở MÔN ĐỊA LÍ 12 1. Giải pháp tổ chức các hình thức khởi động trong dạy học Địa lí 12 nhằm phát triển năng lực học sinh Khởi động bài học là một trong những hoạt động quan trọng góp phần quyết định sự thất bại hay thành công của một tiết học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Có nhiều hình thức khởi động bài học nhưng qua 2 năm thực nghiệm tôi đã tiến hành các hình thức sau: 1.1. Sử dụng tranh- ảnh Tranh- ảnh góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, nó có ý nghĩa trong việc giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những kiến thức về các đối tượng địa lí: vị trí, các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên, đặc điểm phân bố ... Hình ảnh được thu nhận được bằng trực quan được lưu giữ lâu trong trí nhớ. Mặt khác tranh - ảnh, còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh, góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí, gây hứng thú học tập. Sử dụng tranh ảnh trong việc khởi động bài học môn Địa lí 12 không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em học sinh nhìn thấy bản chất của vấn đề, kích thích tính ham hiểu biết của các em. Ngoài bản đồ thì tranh ảnh cũng chính là 11
  16. phương tiện trực quan quan trọng được sử dụng như là nguồn chủ yếu dẫn đến kiến thức mới. Hình ảnh phải rõ, trung thực, dễ quan sát, hình trên tranh hài hòa, nhẹ nhàng, tạo cảm giác tâm lý an toàn, hứng khởi, dễ tưởng tượng. * Cách thức tiến hành: - Bước 1: GV cung cấp cho HS một số hình ảnh liên quan đến nội dung bài học. - Bước 2: GV đặt câu hỏi. - Bước 3: HS trình bày ý kiến. - Bước 4: GV nhận xét, dẫn dắt vào bài học. * Ví dụ: Thứ tự Bài áp dụng Hình ảnh sử dụng 1 Bài 16. Đặc điểm dân số và Hình ảnh dân số nước ta phân bố dân cư nước ta. 2 Bài 36. Vấn đề phát triển Các địa danh thuộc vùng Duyên hải kinh tế- xã hội ở duyên hải Nam Trung Bộ. Nam Trung Bộ 3 Bài 37. Vấn đề khai thác thế Cảnh quan và con người Tây Nguyên mạnh ở Tây Nguyên 1.2. Sử dụng video Sử dụng video trong dạy học Địa lí nói chung và sử dụng video trong hoạt động khởi động nói riêng, giúp học sinh dễ dàng lĩnh hội được tri thức qua những hình ảnh, âm thanh sống động. Từ hoạt động khởi động, học sinh bước vào bài mới với trí tò mò, sự hào hứng và tinh thần phấn chấn. Việc học tập trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn, hình thành động cơ, thái độ học tập tích cực cho học sinh. Đây chính là phương tiện thuận lợi cung cấp kiến thức, thông tin một cách trực quan và sinh động, góp phần bổ sung và cụ thể hoá kiến thức, phát triển toàn diện học sinh. * Cách thức tiến hành. - Bước 1: Giáo viên cung cấp một đoạn video có nội dung liên quan đến bài học. - Bước 2: Yêu cầu học sinh rút ra nội dung, vấn đề từ video - Bước 3: HS trình bày ý kiến. - Bước 4: Giáo viên nhận xét, kết luận và dẫn dắt vào bài học. 12
  17. * Ví dụ: Thứ tự Bài áp dụng Video sử dụng 1 Bài 9. Thiên nhiên nhiệt đới Trích đoạn trong chương trình “dự ẩm gió mùa báo thời tiết”. 2 Bài 15. Bảo vệ môi trường và Trích đoạn video “ kỉ lục thiên tai phòng chống thiên tai Việt Nam năm 2017”. 1.3. Sử dụng kiến thức liên môn với Âm nhạc. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật dùng âm thanh (chất giọng) để diễn đạt tình cảm, xúc cảm của con người. Âm nhạc gồm thanh nhạc và khí nhạc. Sử dụng âm nhạc làm giảm bớt sự khô khan trong việc dạy và học Địa lí, giảm bớt những thông số, tạo cho giờ dạy học Địa lí trở nên nhẹ nhàng có sức thu hút, giúp học sinh tiếp thu bài học Địa lí một cách có hiệu quả. Đặc biệt thông qua ca từ và âm nhạc sẽ có sức lay động đến tâm tư, tình cảm và nhận thức của người học. Giúp học sinh hình dung một cách cụ thể hơn về các đối tượng Địa lí có trong bài học. * Cách thức tiến hành. - Bước 1: Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng lớp và đối tượng của học sinh, Giáo viên tiến hành tổ chức khởi động bài học bằng nhiều cách sau: . Cho học sinh nghe một đoạn nhạc không lời. . hoặc xem bài hát ở video kết hợp với quan sát kênh hình. . hoặc cho học sinh hát. . hoặc giáo viên hát một câu hoặc một đoạn của bài hát, có liên quan đến nội dung bài học . - Bước 2. Giáo viên yêu cầu học sinh rút ra nội dung vấn đề tìm hiểu. - Bước 3. Giáo viên nhận xét và dẫn dắt vào tìm hiểu nội dung bài học. * Ví dụ: Thứ tự Bài áp dụng Bài hát khởi động 1 Bài 6. Đất nước nhiều đồi núi “ Thơ tình của núi” 2 Bài 11. Thiên nhiên phân hóa “ Gửi nắng cho em” đa dạng. 3 Bài 18. Đô thị hóa “ Chân quê” 13
  18. 1.4. Sử dụng tình huống có vấn đề, câu hỏi nêu vấn đề Dạy học nêu vấn đề là một lý thuyết dạy học bao gồm việc tạo ra một hệ thống các tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh tích cực giải quyết các tình huống đó với sự chỉ đạo, định hướng của giáo viên. Một trong những khâu quan trọng quyết định sự thành công của dạy học nêu vấn đề là tạo ra tình huống có vấn đề. “Tình huống có vấn đề” là thời điểm thể hiện mâu thuẫn trong nhận thức của học sinh để nhận ra điều mình chưa biết, mà chưa giải quyết được. Tình huống này buộc học sinh phải quyết tâm tìm hiểu song không phải điều không biết nào được đặt ra cũng tạo được tình huống có vấn đề, mà chỉ khi nào những điều học sinh nhận thấy không thể không biết, không thể không tìm hiểu để nhận thức đúng, sâu sắc vấn đề đặt ra, nhằm vào việc học tập. Việc giải quyết vấn đề là tiến hành tìm hiểu, làm sáng tỏ những điều chưa biết để biết. Câu hỏi đưa ra phải là vấn đề mới mà học sinh chưa biết. Câu trả lời của học sinh phải là sản phẩm của hoạt động tư duy. Tình huống phải gần gũi với thực tiễn và phát huy được năng lực sáng tạo, trí tưởng tượng của học sinh; dạy học sinh vận dụng kiến thức vào hoàn cảnh mới một cách sáng tạo.Tình huống càng chứa nhiều mâu thuẫn càng hấp dẫn, vì càng kích thích tính tư duy, sáng tạo của người học. Trong dạy học Địa lí 12 phương pháp này có nhiều thuận lợi vì các nội dung chương trình đều liên quan đến Việt Nam, các kiến thức tự nhiên, dân cư và kinh tế rất phong phú và gần gũi với đời sống hằng ngày của học sinh. Câu hỏi đưa ra trong hoạt động khởi động cần ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, liên quan giữa thực tiễn cuộc sống với bài học, tạo tình huống có vấn đề, tạo mâu thuẫn trong nhận thức. Điều này có tác dụng kích thích tính tò mò, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn HS tham gia vào khám phá nội dung bài học ngay từ đầu. * Cách thức tiến hành: - Bước 1: Giáo viên đặt câu hỏi hoặc đưa học sinh vào tình huống có vấn đề cần giải quyết. - Bước 2: HS suy nghĩ trả lời - Bước 3: Giáo viên nhận xét và dẫn dắt vào bài học 14
  19. * Ví dụ: Thứ tự Bài áp dụng Câu hỏi/ tình huống 1 - Bài 17. Lao động và GV đặt câu hỏi tạo vấn đề sau khi đưa ra số việc làm. liệu về tỉ lệ lao động và tỉ lệ lao động đã qua đào tạo của nước ta. 2 - Bài 18. Đô thị hóa. GV đưa ra tình huống có vấn đề, yêu cầu HS đưa ra ý kiến đồng ý hoặc bác bỏ và dùng lập luận để giải thích cho lựa chọn của mình. 3 - Bài 32. Vấn đề khai GV đưa ra tình huống có vấn đề, yêu cầu HS thác thế mạnh ở Trung đưa ra ý kiến đồng ý hoặc bác bỏ và dùng du và miền núi Bắc bộ. lập luận để giải thích cho lựa chọn của mình. 1.5. Sử dụng trò chơi Trò chơi học tập đem lại hiệu quả cao trong dạy học, gây sự hứng thú trong giờ học. Thông qua trò chơi nội dung của bài học được truyền tải đến học sinh một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, sâu sắc và dễ hiểu. Mặt khác, còn có ý nghĩa làm thay đổi hình thức học tập, làm cho hình thức học tập trở nên đa dạng, phong phú hơn và biến quá trình học tập của học sinh trở thành hình thức học tập vui chơi hấp dẫn. Ngoài tác dụng truyền thụ kiến thức cho học sinh nó còn giúp các em hình thành nhân cách khiến cho các em vui vẻ, nhanh nhẹn, cởi mở hơn, tiếp thu bài học một cách tự nhiên, tự giác, tích cực. Giúp các em yêu thích môn học hơn. Thông qua trò chơi học tập, giúp học sinh có thể rèn luyện được thể lực, rèn luyện về giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm … đây là một hoạt động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí, thư giãn. Trong quá trình giảng dạy môn Địa lí 12, cá nhân đã tổ chức nhiều trò chơi để giới thiệu bài học, khai thác kiến thức mới, vận dụng kiến thức, ôn tập củng cố kiến thức. Ở đây, tôi mô tả cách thức tổ chức 2 trò chơi đại diện cho khởi động bài học, đó là: trò chơi “ô chữ” và trò chơi “ đuổi hình bắt chữ”. - Trò chơi “ô chữ" trong dạy học có nhiều dạng khác nhau, có thể là giải những ô chữ hàng ngang rồi tìm từ khóa trong ô chữ hàng dọc, có thể là ô chữ dưới dạng sơ đồ… Mỗi ô chữ bao gồm những gợi ý có nội dung liên quan trực tiếp đến bài học. + Mục đích: Ôn lại nội dung bài học cũ; giới thiệu nội dung bài mới, hướng sự chú ý tập trung của HS vào bài mới; giúp HS rèn luyện trí nhớ, trí thông minh và phản ứng nhanh, tạo hứng thú học tập cho HS. 15
  20. + Chuẩn bị: GV thiết kế ô chữ to bằng giấy treo lên bảng hoặc thiết kế trên máy tính để trình chiếu với các câu gợi ý có thể đọc trực tiếp hoặc trình chiếu trước HS. Trong các câu hỏi gợi ý có thể thêm các hình ảnh, âm thanh trực quan giúp trò chơi thêm sinh động, hấp dẫn hơn. + Cách chơi: Trò chơi này có thể cả lớp cùng chơi hoặc chia nhóm để chơi và thi với nhau. Trường hợp cả lớp cùng chơi: GV cho HS xung phong hoặc quay số, bốc thăm ngẫu nhiên để chọn từng HS tham gia. HS chọn ô chữ ngẫu nhiên, GV đọc hoặc trình chiếu câu gợi ý, HS suy nghĩ trong vòng 10 giây để trả lời. Nếu trả lời đúng đáp án thì sẽ được điểm cộng hoặc phần quà, nếu trả lời sai thì nhường cơ hội cho bạn khác. Ai tìm ra được ô từ khóa chính xác và nhanh nhất sẽ là người chiến thắng. Trường hợp chia lớp thành các nhóm: GV bốc thăm hoặc chọn ngẫu nhiên nhóm, đại diện nhóm chọn ô chữ, GV đọc hoặc trình chiếu câu gợi ý, cả nhóm suy nghĩ trong vòng 10 giây để trả lời. Nếu trả lời đúng đáp án thì sẽ được điểm theo quy định (5, 10, 20 điểm hoặc 1 món quà mà GV đã chuẩn bị trước), nếu trả lời sai thì nhường cơ hội cho bạn khác. Nhóm nào tìm ra được ô từ khóa chính xác và nhanh nhất sẽ là nhóm chiến thắng. - Trò chơi: “ đuổi hình bắt chữ”, đây là trò chơi rất phù hợp cho hoạt động khởi động của môn Địa lí nói chung và Địa lí lớp 12 nói riêng. Các hình ảnh được sử dụng thường liên quan đến các địa danh hoặc các ngành kinh tế trong bài học. + Chuẩn bị: GV chuẩn bị các slide có các hình ảnh liên quan đến ngành nghề, địa danh của bài học. + Cách chơi: Trò chơi này có thể cả lớp cùng chơi hoặc chia nhóm để chơi và thi với nhau. GV trình chiếu các slide, HS quan sát hình ảnh và suy nghĩ trong vòng 10 giây để trả lời. Nếu đội hoặc cá nhận nào nhanh tay và trả lời chính xác nhiều nhất sẽ là đội chiến thắng hoặc cá nhân xuất sắc. Phần thưởng cho đội chiến thắng hoặc cá nhân xuất sắc sẽ là điểm cộng hoặc phần quà mà GV đã chuẩn bị trước. * Cách thức tiến hành. - Bước 1. Giáo viên đặt tên trò chơi cho phù hợp, liên quan đến bài học. - Bước 2. Giáo viên thông qua luật chơi. - Bước 3. Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi - Bước 4. Giáo viên nhận xét và chuyển tiếp vào bài học. 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2