intTypePromotion=3

SKKN: Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận động các cá nhân, tổ chức từ thiện xã hội giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường

Chia sẻ: Trần Văn An | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:17

0
5
lượt xem
0
download

SKKN: Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận động các cá nhân, tổ chức từ thiện xã hội giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài nhằm đưa ra những kinh nghiệm, những biện pháp hiệu quả nhất để vận động học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường, duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, nâng cao chất lượng giáo dục. Tạo sự quan tâm sâu sắc, sự gần gũi thân thiện giữa thầy với trò, giữa nhà trường với gia đình học sinh, giữa những học sinh có điều kiện khá giả với học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận động các cá nhân, tổ chức từ thiện xã hội giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường

  1. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường MỤC LỤC I.  Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………Trang 2. 2. Mục tiêu, nhiệm vị của đề tài…………………………………………Trang 2. 3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………Trang 2. 4. Phạm vi  nghiên cứu…………………………………………………..Trang 2. 5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………...Trang 3. II. Phần nội dung. 1. Cơ sở lí luận …………………………………………………………..Trang  3. 2. Thực trạng……………………………………………………………...Trang 3. 3. Giải pháp, biện pháp....………………………………………………...Trang 5. a. Mục tiêu của biện pháp, giải pháp……………………………………..Trang 5. b. Nội dung, cách thực hiện, hiệu quả từ các biện pháp, giải pháp……....Trang 5. c. Điều kiện để thực hiện các biện pháp, giải pháp………………………Trang 11. d. Mối quan hệ giữa các biện pháp, giải pháp……………………………Trang 11. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu………..Trang  11. III. Phần kết luận, kiến nghị. 1. Kết luận……………………………………………………………….Trang 13. 2. Kiến nghị……………………………………………………...............Trang 14.         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 1 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  2. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Có lẽ  thách thức lớn nhất đối với giáo viên dạy học tại vùng đặc biệt khó  khăn, vùng dân tộc thiểu số  vẫn là việc vận động học sinh có hoàn cảnh khó khăn  đến lớp”. Qua nhiều năm kinh nghiệm, nhiều lần trao đổi, tìm hiểu đều được giáo  viên tâm sự  và trả  lời như  vậy. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất  lượng giáo dục tại những trường thuộc vùng đặc biệt khó khăn thường đạt không  cao. Nguyên nhân dẫn đến học sinh có hoàn cảnh khó khăn hay nghỉ  học đó là các   em thường đi làm để kiếm tiền hoặc ở nhà giúp bố mẹ làm việc gia đình để bố  mẹ  đi làm.  Đa phần gia đình đều đông con, điều kiện kinh tế thiếu thốn, cơm chưa đủ  ăn, áo chưa đủ mặc nên cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học hành của con   cái. Học sinh trường tiểu học Y Ngông nói riêng, các trường có nhiều học sinh dân   tộc nói chung, số lượng học sinh có hoàn cảnh khó khăn chiếm đa số. Các em thường   nghỉ học nhiều nhất vào dịp mùa rẫy, mùa cà phê để phụ giúp gia đình. Chính vì thế  mà tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần thời điểm này thường rất thấp. Đối tượng học   sinh nghỉ học thường là những học sinh con gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Làm thế  nào để vận động những học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến lớp đều   đặn, tăng tỉ lệ chuyên cần nhằm nâng cao chất lượng giáo dục? Đó là vấn đề mà tôi  với những người trực tiếp làm công tác giáo dục trong nhà trường luôn trăn trở, tìm  giải pháp để khắc phục, và đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài  “Kinh nghiệm trong   việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận động các cá nhân, tổ chức từ thiện xã hội   giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường ”. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài  ­ Đề tài nhằm đưa ra những kinh nghiệm, những biện pháp hiệu quả nhất để  vận động học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường, duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên   cần, nâng cao chất lượng giáo dục. ­ Tạo sự  quan tâm sâu sắc, sự  gần gũi thân thiện giữa thầy với trò, giữa nhà   trường với gia đình học sinh, giữa những học sinh có điều kiện khá giả với học sinh  có hoàn cảnh khó khăn.         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 2 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  3. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường ­ Tạo sự quan tâm, đồng thuận, sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội, các cá nhân  cùng chung tay góp sức trong việc giúp đỡ  học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến  trường nhằm đưa chất lựơng giáo dục của nhà trường ngày một đi lên. 3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật trường Tiểu học Y   Ngông, xã Dur Kmăl, huyện Krông Ana, tỉnh Đắc lắc từ  năm học 2011 – 2012 đến   năm học 2013­2014. 4. Phạm vi nghiên cứu Thực trạng việc vận động học sinh có hoàn cảnh khó khăn đi học chuyên cần  của trường Tiểu học Y Ngông từ năm học 2011­2012 đến nay và đưa ra một số giải  pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác vận động học sinh đến lớp, đảm bảo chuyên  cần, tránh tình trạng học sinh bỏ học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. 5. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp đàm thoại. ­ Phương pháp điều tra. ­ Phương pháp quan sát. ­ Phương pháp kiểm tra, đánh giá. ­ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì trước tiên phải coi trọng việc nâng cao  tỉ lệ đi học chuyên cần của học sinh . Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức   một cách đầy đủ, không bị hụt kiến thức và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Đặc   biệt là những học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh con mồ côi   không nơi nương tựa, học sinh khuyết tật là những đối tượng dễ  bỏ  học và hay bị  hụt hẫng kiến thức nhất. Điều đó tác động không nhỏ  đến chất lượng giáo dục  chung của toàn trường. Thực tế thì học sinh có ra lớp đều thì việc tiếp thu bài mới tốt, mới hệ thống   được kiến thức liền mạch và đó cũng là điều kiện thiết yếu giúp các em nắm vững   kiến thức các môn học. Kết quả học tập tốt  sẽ là động lực hữu hiệu nhất giúp học   sinh ham học, yêu thích được đến trường để  học tập. Chính điều đó đã góp phần  quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Muốn đạt được kết quả  đó, người giáo viên chủ  nhiệm phải tâm huyết, nhiệt tình trong việc vận động học  sinh đến lớp. Nhà trường cần phải quan tâm, giúp đỡ; làm tốt công tác xã hội hóa,  vận động  các tổ  chức cá nhân từ  thiện hỗ  trợ  các em về  cả  vật chất lẫn tinh thần   để các em có điều kiện đến trường để học tập.  2. Thực trạng a. Thuận lợi và khó khăn         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 3 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  4. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường * Thuận lợi: Trường vinh dự được mang tên người con của Tây Nguyên Y Ngông Niê Kđăm  nên có nhiều tổ  chức, cá nhân có tấm lòng hướng về  trường, giúp đỡ  và tổ  chức   nhiều chương trình nhằm giúp học sinh đến trường. Đặc biệt là được sự  quan tâm,   chỉ  đạo sát sao của Phòng Giáo dục và Đào tạo, các cấp  ủy đảng, chính quyền địa  phương trong việc xây dựng cơ  sở  vật chất, trang thiết bị dạy học cũng như  nguồn  nhân lực phục vụ cho công tác giáo dục của nhà trường. Các đoàn thể  phối kết hợp tốt với nhà trường trong việc vận động các tổ  chức, cá nhân, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ về mọi mặt để giúp đỡ học sinh.  Đội  ngũ giáo viên nhiệt tình, tự giác, có tinh thần trách nhiệm trong công tác.   Đa số  giáo viên có kinh nghiệm trong công tác vận động học sinh dân tộc thiểu số,  học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường. * Khó khăn: Học sinh toàn trường hàng năm có đến trên 98% là học sinh dân tộc thiểu số  trong đó học sinh con hộ  nghèo, hộ  cận nghèo, có hoàn cảnh khó khăn chiếm trên  42%. Nhân dân chiếm 97% làm nghề  nông, quanh năm lam lũ với việc đồng áng,   nương rẫy. Trình độ dân trí còn thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn nên   không có điều kiện quan tâm nhiều đến việc học tập của con cái. Các em thường ở  nhà để phụ giúp bố mẹ công việc làm ăn. Mỗi dịp mùa cà phê hay làm nương rẫy thì  tỉ lệ các em đến lớp chỉ đạt 70­ 80%. b. Thành công, hạn chế * Thành công: Nội dung đề  tài cũng là sự  quan tâm sâu sắc của toàn thể  ban giám hiệu, tập  thể giáo viên nhà trường. Cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, lãnh đạo thôn buôn,  các già làng, Ban đại diện cha mẹ học sinh ủng hộ nhiệt tình và phối hợp tốt với nhà   trường trong  việc giúp đỡ và vận động học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến lớp. Đã tạo được sự quan tâm sâu sắc, gây dựng được tình cảm của các cá nhân, tổ  chức từ thiện trong và ngoài tỉnh đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn của trường. Đội ngũ giáo viên rất tâm đắc với nội dung của đề tài, xem việc vận động học  sinh có hoàn cảnh khó đi học chuyên cần là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của   công tác dạy học tại vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.  Các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn có được sự  giúp đỡ, được đón nhận   được những tình thương, sự  quan tâm chia sẻ  của các thầy cô giáo, các tổ  chức cá  nhân từ  thiện nên đã có điều kiện để  đi học đều đặn hơn. Thực sự  các em đã xem  trường lớp như là ngôi nhà đầm ấm của mình và cảm thấy mỗi ngày đến trường là   có thêm một niềm vui cho cuộc sống. * Hạn chế: ­ Một số chương trình tổ chức chưa thành công theo kế hoạch đề ra.         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 4 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  5. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường ­ Vai trò, trách nhiệm của một số gia đình trong việc  phối hợp với nhà trường   để tạo điều kiện cho con em đến trường còn hạn chế. ­ Việc hỗ trợ của các tổ chức cá nhân chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu cần   hỗ trợ của học sinh. ­ Việc vận động các nhà tài trợ để giúp đỡ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn  cần phải có nhiều thời gian và sự kiên trì. c. Mặt mạnh, mặt yếu * Mặt mạnh: Đề  tài thực hiện đã có tác động tích cực đến sự  quan tâm giúp đỡ  của cộng  đồng xã hội. Đội ngũ giáo viên trong nhà trường, cha mẹ học sinh, cũng như các cấp   chính quyền địa phương trong đã nâng cao trách nhiệm trong việc tuyên truyền nhằm  nâng cao tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần, đảm bảo duy trì sĩ số  góp phần nâng cao   chất lượng giáo dục của nhà trường nói riêng và các trường trên địa bàn xã nói chung. * Mặt yếu: Sự giúp đỡ của các nhà tài trợ, các tổ chức cá nhân mới chỉ đáp ứng phần nào  so với nhu cầu của học sinh nên việc vận động phải thường xuyên, kiên trì. Vẫn còn  một số cha mẹ học sinh còn có tư tưởng phó mặc công tác giáo dục cho nhà trường,   chưa coi trọng việc học của con em mình nên chưa có sự  phối hợp tốt với nhà  trường để tạo điều kiện cho con em đến lớp, đến trường. d. Nguyên nhân * Nguyên nhân của thành công: ­ Bản thân cũng như các giáo viên, các tổ chức nhà trường luôn dành tâm huyết  cho việc vận động các nhà tài trợ  để  tổ  chức các chương trình giúp đỡ  học sinh  nghèo.  ­ Trong giảng dạy, giáo viên luôn tạo được môi trường học tập thân thiện, gần   gũi từ đó thu hút học sinh đến trường.  ­ Đội ngũ giáo viên đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác vận  động học sinh. * Nguyên nhân của hạn chế: ­ Một số  giáo viên trẻ  còn thiếu kinh nghiệm trong công tác chủ  nhiệm cũng   như việc vận động học sinh ra lớp. ­ Dân cư   ở  rải rác, nhiều gia đình sống và sinh hoạt trên nương, rẫy cách   trường đến 6­ 7km, đường sá đi lại cách trở  nên việc vận động học sinh ra lớp còn  gặp nhiều khó khăn. ­ Đôi lúc việc vận động không thành công bởi các nhà tài trợ  ở  xa nên một số  cá nhân, nhóm tài trợ không thể thực hiện được kế hoạch tổ chức tài trợ cho trường. 3. Giải pháp, biện pháp a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 5 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  6. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường Đưa ra những biện pháp, giải pháp hữu hiệu nhất, phù hợp thực tế của nhằm   thực hiện vận động học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường, tăng tỉ  lệ  chuyên  cần, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp b.1. Nêu cao vai trò, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trong việc vận động  học sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường. b.1.1. Chỉ đạo việc nắm bắt hoàn cảnh của học sinh  ­ Ngay từ  đầu năm học, sau khi bàn giao chất lượng từ  lớp dưới lên lớp trên  cho giáo viên, nhà trường tổ chức cuộc họp hội đồng chủ nhiệm để xem xét thực tế  hoàn cảnh học sinh của từng lớp. Cụ thể như về  số lượng học sinh nghèo, học sinh  có hoàn cảnh khó khăn, học sinh cần được hỗ trợ trong học tập và đánh giá tình hình  học tập, việc đi học chuyên cần, bỏ  học, nghỉ  học, nguyên nhân nghỉ  học của từng   em.v.v..  ­ Lập sổ theo dõi chi tiết từng hoàn cảnh và đề xuất nhu cầu giúp đỡ của từng   em. ­ Các tổ chuyên môn họp và giao nhiệm vụ cho giáo viên trong việc vận động  những đối tượng học sinh thường xuyên nghỉ học có trong danh sách bàn giao.  ­ Giáo viên chủ nhiệm tổ chức cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm, phối hợp  với Ban đại diện cha mẹ học sinh trao đổi với cha mẹ học sinh về hoàn cảnh và tình  hình học tập của từng em. Từ đó đề xuất với nhà trường cách giúp đỡ, thông báo để  cha mẹ học sinh nắm bắt và phối hợp với giáo viên trong việc tạo điều kiện cho con  em đến lớp. b.1.2. Xây dựng kế hoạch vận động Sau khi nắm bắt số lượng và nhu cầu cần giúp đỡ  của học sinh toàn trường,   của từng lớp, ban Giám hiệu tổ chức cuộc họp hội đồng chủ nhiệm và các đoàn thể  để thống nhất xây dựng kế hoạch vận động học sinh đến trường. Kế hoạch cần cụ  thể  nội dung, phân công công việc cho từng bộ  phận liên quan. Đặc biệt chú trọng  đến vai trò của giáo viên chủ  nhiệm và sự  phối hợp của Ban đại diện cha mẹ  học   sinh. Giáo viên chủ  nhiệm phải lập kế  hoạch vận động ngay đầu năm học( đầu  tháng 8) để có thời gian đến từng gia đình vận động các em đến lớp trước khi thực  hiện dạy học tuần đầu tiên. Kế hoạch phải xây dựng sát thực tế và thực hiện được.  Trong kế hoạch của giáo viên chủ nhiệm cần chú trọng các nội dung: Đối tượng cần   được vận động, giúp đỡ; thời gian đến vận động và thời gian dự kiến hoàn thành kế  hoạch; các biện pháp phối hợp, vận động, hỗ trợ ... Kế hoạch phải được nhà trường   duyệt và theo dõi việc thực hiện của từng giáo viên để có sự điều chỉnh, chỉ đạo kịp   thời. Từ tình hình điều kiện và hoàn cảnh học sinh, nhà trường xây dựng kế hoạch  để vận động các tổ chức, cá nhân từ thiện giúp đỡ những học sinh nghèo. Kế hoạch           Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 6 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  7. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường của nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ của ban đại diện cha mẹ học sinh, các  đoàn thể nhà trường. Trong đó lấy vai trò của đoàn thanh niên làm nòng cốt cho việc   vận động, phối hợp các tổ chức từ thiện thực hiện công việc tài trợ.  b.1.3. Thực hiện kế hoạch vận động Giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm theo dõi sĩ số  học sinh hàng ngày. Đối với   những học sinh nghỉ học mà không có lí do, giáo viên phải tìm hiểu nguyên nhân các   em nghỉ  học trong buổi hôm đó. Việc tìm hiểu nguyên nhân các em nghỉ  học có thể  qua học sinh  ở gần nhà hay bạn bè của các em. Nếu cần thiết, giáo viên có thể đến  ngay nhà học sinh để  nắm bắt tình hình, tìm hiểu nguyên nhân học sinh nghỉ  học.  Nếu là do ốm đau mà các em nghỉ thì giáo viên thăm hỏi kịp thời để thể hiện sự quan   tâm đối với học sinh. Trường hợp học sinh nghỉ để   ở  nhà giúp việc cho bố  mẹ  thì  cần trao đổi, động viên gia đình để cho học sinh đến trường học tập. Như vậy tránh  tình trạng các em  nghỉ dài ngày dẫn đến chán học và bỏ học. Như  chúng ta đã biết, thói quen của người dân tộc thiểu số  trong việc đi làm  nương rẫy thường đi làm ở lại cả ngày tại tại nương rẫy tối mới về nhà. Buổi sáng  họ đi làm rất sớm nên không có thời gian để quan tâm đến con cái. Chính vì vậy các   em thường tự lo việc ăn uống, đến trường đi học. Đó là nguyên nhân các em thường  hay la cà, rủ nhau đi chơi đôi lúc quên cả đến lớp. Thậm chí bố mẹ cũng không quan  tâm, không biết các em có đến trường hay không. Chỉ khi nhà trường đến vận động   học sinh đi học gia đình mới biết là con mình không đến lớp. Chính vì thế, trước giờ  học 10­ 15 phút mà học sinh chưa đến lớp thì giáo viên chủ  nhiệm phải vào nhà để  nắm bắt nguyên nhân và cần thiết thì chở các em đi học. b.2. Công tác xã hội hóa b.2.1.   Phối   hợp   tốt   giữa   nhà   trường­   Gia   đình   học   sinh­   Chính   quyền   địa   phương  Muốn đạt được kết quả cao phải phối hợp tốt giữa Nhà trường­ Gia đình­ Xã   hội.   Nhà trường phải tranh thủ  sự  hỗ  trợ  của chính quyền địa phương, các thôn  buôn, cha mẹ học sinh trong việc vận động học sinh đến lớp đến trường. Tham mưu  với đảng  ủy, UBND xã để  có sự  chỉ  đạo cho các thôn buôn vào cuộc, cùng nhà   trường và có trách nhiệm trong công tác giáo dục. Đề  nghị  trong các cuộc họp của   buôn được lồng ghép nội dung quan trọng đó là tuyên truyền và vận động các bậc  cha mẹ học sinh tạo điều kiện cho con em đến lớp, đến trường. b.2.2. Tìm kiếm các tổ chức cá nhân tài trợ, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó   khăn Một việc quqn trọng dẫn đến thành công trong việc vận động học sinh đi học   chuyên cần, duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục đó là tìm kiếm các tổ chức cá   nhân từ thiện, các nhà hảo tâm để giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh có hoàn khó khăn          Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 7 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  8. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường đến trường. Việc này nhằm tạo sự đồng thuận và chia sẻ của các tổ chức cá nhân có   lòng hảo tâm.  Muốn đạt được kết quả trong việc tổ chức các chương trình giúp đỡ  học sinh   trước hết phải nói đến cái tâm và tình thương yêu học sinh của người thầy. Làm  việc trong một ngôi trường có nhiều học sinh nghèo thì khó khăn vất vả  là không   tránh khỏi. Song điều đó bị  xóa mờ  đi khi thấy những học sinh quần áo rách tả  tơi,   đầu trần, chân đất ôm sách đến trường đi học. Và bản thân tôi lại nghĩ  phải làm một  việc gì đó để giúp đỡ các em. Bản thân lại tìm cách thực hiện mục đích của mình. Đó là tìm kiếm các tổ  chức cá nhân thường làm công tác từ thiện được đăng tải trên Internet thông qua các  trang mạng xã hội( cụ thể như Facebook). Bởi trên Facebook là nơi tụ hội và trao đổi   công việc cũng như gặp gỡ bạn bè của các nhà từ thiện. Qua trang mạng này có thể  kết bạn và tìm kiếm nhà tài trợ, đặc biệt là các trưởng nhóm của các tổ  chức từ  thiện. Tìm được sự chia sẻ của các trưởng nhóm về việc mình quan tâm có nghĩa là  đã tìm được người giúp mình lo công việc vận động các cá nhân của nhóm họ. Điều  quan trọng nhấtmà nhà trường cần làm đó là phải xây dựng kế  hoạch, ghi hình ảnh  và có bài viết về các học sinh nghèo cần được hỗ trợ để tạo lòng tin cho các tổ chức,   cá nhân từ thiện. Trong kế hoạch cần thể hiện rõ số lượng, hoàn cảnh của học sinh,  nhu cầu về vật chất cần được giúp đỡ...Cụ  thể  như  số lượng học sinh nghèo, điều   kiện khó khăn chung của các em; số lượng quần áo, cặp sách, bút, vở, giày dép... cần  được hỗ trợ. Nhà trường cũng cần dự kiến thời gian tổ chức chương trình trao tặng  để các nhóm hỗ trợ có kế hoạch vận động, quyên góp.  Sau khi xây dựng xong kế  hoạch, nhà trường gửi kế  hoạch cho trưởng các   nhóm tài trợ  chính để  tạo lòng tin và để  họ  có cơ  sở  vận động các thành viên trong   nhóm. Trong các năm qua, nhà trường đã vận động được rất nhiều các tổ  chức cá  nhân giúp đỡ tiền, quần áo, cặp sách, vở, giày dép và đồ dùng học tập cho học sinh.   Đã tặng nhiều suất học bổng cho học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, học sinh có  hoàn cảnh khó khăn. Đây là nguồn động viên vô cùng quan trọng và quý giá để  tạo  nên sự  thành công cho nhà trường trong việc vận động học sinh nghèo, học sinh có  hoàn cảnh khó khăn đến lớp. Cụ thể:  ­ Năm học 2011­ 2012, đoàn từ  thiện FCSUNDAY( Buôn Ma Thuột) tổ  chức  chương trình vui tết Trung thu tặng quà cho học sinh trị giá trên 10 triệu đồng.  ­ Năm học 2012­ 2013, đoàn từ  thiện Vòng tay yêu thương( BMT) tổ  chức   chương trình Vòng tay yêu thương tặng 113 phần quà cho học sinh trị  giá 20 triệu   đồng và tổ chức ngày 1/6 tặng quà cho học sinh trị giá 10 triệu đồng.  Năm học 2013­ 2014, nhà trường đã vận động các các nhân của một tổ chức từ  thiện  ở  thành phố  Hồ  Chí Minh tặng cho học sinh 300 suất quà trị  giá trên 30 triệu           Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 8 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  9. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường đồng, 300 đôi dép nhân dịp tết Trung thu và tặng 03 máy lọc nước uống cho học sinh   3 điểm trường trị  giá 15 triệu đồng. Gia đình nhạc sĩ Linh Nga Niê Kđăm tặng  07   suất học bổng cho học sinh nghèo trị giá 4.500 000đ.v.v.. Dưới đây là một vài hình ảnh các tổ chức về tài trợ giúp đỡ học sinh: Tặng 70 bộ quần áo đồng phục cho học sinh         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 9 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  10. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường Gia đình nhạc sĩ Linh Nga Niê Kđăm tặng học bổng Tặng học bổng và 400 đôi dép cho học sinh nhà trường         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 10 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  11. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường Đoàn từ thiện TPHCM tặng 300 suất quà nhân dịp Tết Trung thu       Máy lọc nước uống cho HS do đoàn từ thiện TPHCM tặng         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 11 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  12. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường b.2.3.  Sử dụng có hiệu quả, đúng mục đích các nguồn tài trợ của các tổ chức  từ thiện xã hội. Các nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân phải được giúp đỡ  đúng đối tượng   học sinh, đó là những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh nghèo, học   sinh khó vận động ra lớp và đảm bảo sự  công bằng khách quan. Vì vậy nhà trường   chỉ đạo các giáo viên chủ nhiệm lập danh sách những học sinh cần được hỗ trợ theo   kế hoạch để  trao quà. Một việc không thể thiếu để  tạo niềm tin cho các nhà tài trợ  và để có sự giúp đỡ lâu dài đó là mỗi lần tổ chức chương trình trao quà cho học sinh   cần mời đại diện các nhóm tài trợ, Ban đại diện cha mẹ  học sinh, đại diện các tổ  chức, các ban ngành liên quan tham dự. Sự có mặt của họ là nguồn động viên to lớn   đối với tập thể cán bộ viên chức và học sinh nhà trường và để họ thấy được sự giúp  đỡ  của họ  đã đúng ý nghĩa, nguyện vọng của  mình và tạo được sự  giúp đỡ  cho  những lần sau. c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp ­ Thực hiện Hướng dẫn số  1408/PGDĐT­GDTH ngày 21 tháng 9 năm 2011  của Phòng GD& ĐT huyện Krông Ana về thực hiện nhiệm năm học 2011 – 2012 và  Hướng dẫn số  901/PGDĐT­GDTH ngày 24 tháng 9 năm 2012 của Phòng GD& ĐT   huyện Krông Ana về  thực hiện nhiệm năm học 2012 – 2013 cấp tiểu học; Hướng   dẫn số  1012/PGDĐT­GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2014 của Phòng GD& ĐT huyện  Krông Ana về thực hiện nhiệm năm học 2014 – 2015 cấp tiểu học; ­ Căn cứ kế hoạch các năm học 2011­ 2012, năm học 2012­ 2013 và 2014­ 2015  của nhà trường ; ­ Căn cứ điều kiện thực tế nhà trường và đối tượng học sinh cũng như thực tế  của địa phương và nhân dân trên địa bàn các thôn buôn. d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Để thực hiện tốt công tác vận động học sinh nghèo đến lớp, tăng tỉ lệ chuyên  cần nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh thì các giải pháp trên  cần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tổ  chức thực hiện một cách đồng bộ, kịp  thời. Trong đó người giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò chủ chốt. Bên cạnh đó, để  thực hiện hiệu quả  các giải pháp, biện pháp trên cần có sự  chỉ  đạo chặt chẽ  của nhà trường, sự  đồng thuận của tập thể  cán bộ  viên chức, sự  quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, các cá nhân, các tổ  chức từ  thiện xã hội cũng như  các bậc cha mẹ  học sinh thì mới đạt được kết quả  như mong muốn. e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Qua quá trình thực hiện đề tài, những kết quả  đã thu được rất đáng khích lệ.  Từ  năm học 2011 – 2012 đến nay,  nhà trường đã làm tốt công tác vận động các tổ          Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 12 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  13. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường chức cá nhân hỗ  trợ  học sinh nghèo, tăng tỉ  lệ  chuyên cần góp phần nâng cao chất  lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Cụ thể : Kết quả vận động Tên cá  Đối  Năm  Máy nhân, tổ  Quần  Dép Tổng trị  tượng  học Học  Cặp  lọ c chức tài trợ áo ( đôi Quà giá hưởng bổng sách nước ( bộ) ) uống 100  10   triệu  100   học  Nhóm thiện  suất đồng sinh  2011­  nguyện  nghèo   và  2012 FCSUNDA cận  Y( BMT) nghèo 113   học  Nhóm Vòng  113  113  22. 600  sinh  tay yêu  nghèo   và  bộ chiếc 000 2012­ thương cận  2013 nghèo,  Các tổ chức  11. 000  HS  khác 000đ khuyết  tật Nhóm từ  70 bộ 300 300 47 triệu 70   HS  thiện  đôi Suấ nghèo,   và  TPHCM t HS   cận  nghèo,HS 2013­  DTTS   2014 5 suất 5   học  Nhạc sĩ  1500  sinh   đặc  Linh Nga  000đ biệt   khó  Niê Kđăm khăn Nhóm từ  HS   toàn  2014­ 3  15 000  thiện  trường 2015 máy 000đ TPHCM Kết quả trong công tác giáo dục hàng năm đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 13 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  14. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường Chất lượng giáo dục Số HS có  Tỉ lệ  hoàn cảnh  Duy trì Hạnh kiểm Học lực  Năm học chuyên  khó khăn,  sĩ số đạt (thực hiện đầy  (tỉ lệ học sinh lên  cần Ktật được  đủ) lớp) hỗ trợ 2011­2012 100 100 % 95% 99,1% 93,3% 2012­ 2013 113 100% 96% 99,4% 95,8% 2013­ 2014 75 100% 98% 100% 96.8% Kết quả  hàng năm của trường được cấp trên ghi nhận và khen thưởng. Cụ  thể :   ­ Năm học 2012­ 2013, không có học sinh bỏ  học, xếp loại phong trào Xây  dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực loại Tốt, trường đạt Tập thể  Lao   động tiên tiến, UBND huyện khen thưởng;  ­ Năm học 2013­ 2014, không có học sinh bỏ  học  ; xếp loại phong trào Xây  dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực loại Xuất sắc, trường đạt Tập thể Lao   động tiên tiến và được UBND huyện khen thưởng ; Những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn đã tích cực tham gia các hoạt động  ngoài giờ  lên lớp cũng như hưởng  ứng các hội thi do nhà trường phòng giáo dục tổ  chức và thu được các kết quả như sau:  + Thi hát dân ca đạt 01 giải Ba, 02 giải khuyến khích; đạt giải Khyến khích  toàn đoàn (1 em học sinh nghèo đạt giải) + Giao lưu Học sinh giỏi Toán+ Tiếng Việt lớp 4+5cấp huyện: 01 giải ba, 01   em đạt giải khuyến khích( 2 em học sinh nghèo đạt giải) + Tham gia hội khoẻ Phù Đổng cấp huyện: 01 giải Nhất, 04 giải Ba  (2 em học  sinh nghèo đạt giải). + Thi giải Toán trên mạng: 02 em được công nhận ( 1 em học sinh nghèo đạt  giải) Cảnh quan khuôn viên trường xanh, sạch, đẹp thu hút học sinh đến trường. Đa  số học sinh tích cực, tự giác hơn trong học tập, rèn luyện; tự tin, thân thiện hơn trong  giao tiếp và  mỗi ngày đến trường đã thực sự  là một niềm vui đối với các em. Đặc  biệt là những cố  gắng của trường trong việc giúp đỡ  học sinh nghèo, học sinh có  hoàn cảnh khó khăn thời gian qua đã tạo được những ấn tượng tốt đẹp, sự  quan tâm   chia sẻ của cộng đồng xã hội. Những kinh nghiệm trên sẽ được tiếp tục vận dụng và thực hiện có hiệu quả  trong các năm học tiếp theo. III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 14 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  15. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường 1. Kết luận Vận động học sinh đi học chuyên cần  ở  những trường vùng sâu vùng xa gặp  rất nhiều khó khăn, điều đó lại càng khó khăn hơn khi vận động những học sinh có  hoàn cảnh khó khăn đến trường. Để đạt kết quả cao trong công tác này, cần : ­ Trước tiên phải nói đến cái tâm của người thầy. Bởi người giáo viên có  thương yêu học sinh, hiểu và đồng cảm với những khó khăn của các em thì mới  không quản ngại khó khăn trong việc vận động các tổ chức cá nhân giúp đỡ  các em,   đến từng nhà vận động các em đến trường. ­ Phải có sự  chỉ đạo chặt chẽ, quyết liệt từ Ban giám hiệu; phối kết hợp tốt   với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và cha mẹ học sinh trong việc quan tâm  chăm lo cho sự  nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương nói chung và của nhà   trường nói riêng.  ­ Nêu cao vai trò của người giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ  nhiệm. Giáo  viên phải luôn luôn cống hiến hết sức mình tất cả vì học sinh thân yêu. ­ Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực của các tổ  chức cá nhân từ  thiện xã hội để  hỗ  trợ  cho học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh  khó khăn đến trường. ­ Xây dựng tập thể sư  phạm thực sự đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm cao,   phát  huy sức mạnh tập thể  trong công các hoạt động phong trào nhà trường.  ­ Xây dựng môi trường học tập thân thiện thu hút học sinh đến trường để  các  em cảm thấy đến trường không chỉ  để  học mà còn đón nhận được sự  quan tâm,  chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè. 2. Kiến nghị Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong việc chỉ đạo công tác chủ  nhiệm lớp và vận động các cá nhân, tổ chức từ thiện xã hội giúp đỡ học sinh có hoàn  cảnh khó khăn đến trường góp phần tăng tỷ  lệ  chuyên cần, duy trì sĩ số  học sinh,   nâng cao chất lượng giáo dục mà tôi đã thực hiện trong thời gian qua. Đối với bản  thân nhận thấy đây là một kinh nghiệm nhỏ trong công tác giáo dục song bên cạnh đó  nó còn mang ý nghĩa hết sức sâu sắc và là sự  tâm huyết của bản thân khi thực hiện  công việc này với học sinh một trường vùng đặc biệt khó khăn. Rất mong sự  góp ý   của đồng chí, đồng nghiệp để những kinh nghiệm trên được đầy đủ và vận dụng có  hiệu quả cao hơn nữa trong công tác giáo dục.            Xin chân thành cảm ơn!                                                             Krông Ana, tháng 12 năm 2014                                                                                Người viết         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 15 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  16. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường                                                                                 Võ Văn Tính         NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG …………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN …………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………… CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 16 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông
  17. Kinh nghiệm trong việc chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp, vận  động các tổ chức, các nhà từ thiện xã hội giúp đỡ học   sinh có hoàn cảnh khó khăn đến trường         Người  thực hiện:     Võ Văn Tính        ­ 17 ­                           Đơn vị: Trường Tiểu học Y Ngông

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản