intTypePromotion=3

SKKN: Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học tốt môn tiếng Việt

Chia sẻ: Phan Thanh Thảo | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

0
39
lượt xem
3
download

SKKN: Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học tốt môn tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thực hiện đề tài này với mục đích nâng cao khả năng đọc đúng và tìm ra biện pháp hữu hiệu khắc phục, giải quyết triệt để lỗi phát âm sai tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Từ đó góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân, nâng cao chất lượng đọc của học sinh nhất là đọc hiểu tiếng Việt, dần dần nâng cao chất lượng môn học tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, góp phần đưa chất lượng giáo dục ngày một tốt hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học tốt môn tiếng Việt

  1. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt MỤC LỤC   TT Nội dung Trang  I PHẦN MỞ ĐẦU 2 1 Lý do chọn đề tài 2 2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2 3 Đối tượng nghiên cứu 2 4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2 5 Phương pháp nghiên cứu 3  II PHẦN NỘI DUNG 3 1 Cơ sở lý luận 3  2 Thực trạng 4 2.1 Thuận lợi, khó khăn 4  2.2 Thành công, hạn chế 5 2.3 Mặt mạnh, mặt yếu 5 2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động 5  2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt  6  3 Giải pháp, biện pháp 7 3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp 7 3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 8­ 16 3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp 16 3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp 16 3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên  16 cứu 4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn  17 đề nghiên cứu III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 18 1 Kết luận 18  2 Kiến nghị 18 Tài liệu tham khảo 20                                                                                  1 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  2. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt  I. PHẦN MỞ ĐẦU             1.  Lý do chọn đề đề tài Xuất phát từ mục tiêu giáo dục Tiểu học: Hình thành cho học sinh những  cơ sở ban đầu và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ  năng   cơ bản để các em tiếp tục học lên Trung học cơ sở, các cấp học khác và áp dụng  những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống lao động. Trong đó môn tiếng   Việt là môn học đóng vai trò quan trọng trong góp phần hình thành và phát triển  ở  học sinh các kỹ năng sử  dụng tiếng Việt để  học tập và giao tiếp trong các  môi trường hoạt động của trẻ. Nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt là công cụ để học  tập các môn học. Nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt tạo ra hứng thú và động cơ học   tập, nó là khả  năng không thể thiếu. Vả lại tiếng Việt là ngôn ngữ  thứ  hai của   các em học sinh dân tộc thiểu số. Căn cứ  vào thực tế  của việc học môn tiếng   Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn. Chính vì vậy   làm thế  nào để  giúp các em học sinh lớp 1 học tốt môn tiếng Việt nhất là học   sinh dân tộc thiểu số quả là một việc hết sức cần thiết. Đây là vấn đề mà được   nhiều người quan tâm và trăn trở. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy trên địa   bàn với 98% học sinh là người dân tộc thiểu số, với mong muốn tìm ra các biện  pháp khắc phục để đạt được mục đích giáo dục ở bậc Tiểu học nói chung và ở  môn  tiếng  Việt   nói   riêng,   đó  chính  là   lí  do  tôi  chọn   đề  tài  “   Một  vài  kinh  nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số  học tốt môn tiếng Việt”.  2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Thực hiện đề  tài này với mục đích nâng cao khả  năng đọc đúng và tìm ra   biện pháp hữu hiệu khắc phục, giải quyết triệt để lỗi phát âm sai tiếng Việt của  học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Từ đó góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ  cho bản thân, nâng cao chất lượng đọc của học sinh nhất là đọc hiểu tiếng Việt,  dần dần nâng cao chất lượng môn học tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc   thiểu số, góp phần đưa chất lượng giáo dục ngày một tốt hơn.            Tìm ra được biện pháp sửa sai trong quá trình phát âm tiếng Việt cho học   sinh lớp 1 dân tộc thiểu số để  giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt. Khắc  phục được những lỗi mà học sinh thường mắc phải để  mỗi giáo viên có  hướng rèn luyện, bồi dưỡng hiệu quả việc phát âm tiếng Việt của học sinh  dân tộc thiểu số khi bắt đầu bước vào lớp đầu cấp. 3. Đối tượng nghiên cúu                                                                                  2 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  3. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt Một số  kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số  học tốt môn  tiếng Việt. 4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 1A, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu năm học 2013 – 2014,  2014 – 2015. 5. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp nghiên cứu tài liệu ­ Phương pháp trải nghiệm thực tế ­ Phương pháp quan sát ­ Phương pháp thống kê, tổng hợp            II. PHẦN NỘI DUNG  1. Cơ sở lý luận            Với đặc điểm tâm, sinh lí học sinh Tiểu học, các em đang phát triển cả về  thể lực lẫn thể chất. Trong đó, cơ quan phát âm, ngôn ngữ phát triển mạnh,   phù hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới theo chức  năng của chúng: chức năng phát âm ­ tập đọc. Khả  năng nhận thức, tư  duy,   tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân cách học sinh đang được hình thành.  Học sinh Tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động, tò mò, thích  hoạt động, thích khám phá, thường độc lập, tự  lực làm việc theo hứng thú  của mình. Thầy cô là hình tượng mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng nhất, mọi   điều trẻ đều nhất nhất nghe theo, sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu  học phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy, cô giáo   trong nhà trường. Nghe, nói, đọc, viết là bốn kĩ năng cơ bản của môn Tiếng   Việt, để đạt các yêu cầu so với chuẩn kiến thức kĩ năng theo quyết định số  16/2006/ QĐ­ BGD& ĐT ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2006. Rèn phát âm  cho học sinh Tiểu học bước đầu đem đến sự vận động khoa học cho não bộ  và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ đem đến những tinh hoa văn hoá, văn học   nghệ  thuật trong tâm hồn trẻ, rèn kĩ năng đọc, hiểu, cảm thụ  văn học, rèn   luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành động đúng cho trẻ, phát triển  khả năng học tập các môn học khác là điều kiện phát triển toàn diện cho học  sinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay. Nhân cách học sinh Tiểu học phát  triển đúng đắn hay lệch lạc phụ thuộc vào quá trình giáo dục của người thầy   mà trong đó phương tiện chủ  yếu là nghe, nói, đọc, viết có được trong quá  trình học tập. Dạy đọc đặc biệt là chú trọng việc rèn phát âm tiếng Việt cho                                                                                    3 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  4. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, đòi hỏi người thầy phải phát âm chuẩn và có  phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu  học. Ngày nay với sự phát triển tiến bộ của khoa học, xã hội, giáo dục cần  đáp  ứng nhu cầu ham hiểu biết của học sinh Tiểu học và tăng cường giáo   dục đạo đức, nhân cách, rèn kỹ năng sống cho trẻ.  Trường tiểu học Võ Thị Sáu có 97,5% học sinh dân tộc thiểu số. Các em  gặp không ít khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập đó là: thiếu điều kiện   học tập,quá trình học không liên tục, kiến thức nắm không vững chắc, thiếu   động cơ  học tập. Biết đọc, biết viết là mục tiêu số  một  ở  học sinh Tiểu học.   Vốn tiếng Việt là rất cần thiết trước khi học chữ. Không biết hoặc biết ít tiếng   Việt là trở ngại lớn nhất cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Tập nói tiếng Việt  là nhiệm vụ đầu tiên với các em. Học sinh dân tộc cần có vốn tiếng Việt trước   để  học chữ. Bộ  giáo dục  đã có  nhiều văn bản chỉ  đạo như  công văn 9832/   BGD&ĐT ­ GDTH ngày 1 tháng 9 năm 2006, công văn 9890/ BGD&ĐT – GDTH  ngày 17 tháng 9 năm 2007 về  việc hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục  cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Ngày 9 tháng 8 năm 2008, Bộ Giáo dục và   Đào tạo đã tổ  chức hội nghị  "Triển khai các phương án tăng cường tiếng Việt  (lớp 1) cho học sinh dân tộc thiểu số  ". Tại hội nghị, xuất phát từ  những quan   điểm, lý luận giáo dục và cách tiếp cận gắn với đặc điểm học sinh dân tộc các   vùng miền, năm phương án về chủ đề  này đã được trình bày, và trao đổi ý kiến   rộng rãi. Đó là:   Chuẩn bị  tiếng Việt cho trẻ  mẫu giáo trước tuổi đến trường   (Vụ  GD Mầm non). Dạy tiếng Việt trên cơ  sở  tiếng mẹ  đẻ  trong chương trình  song ngữ Ê­đê ­ Việt (Vụ GD Dân tộc).  Nghiên cứu thử  nghiệm giáo dục song  ngữ  dựa trên tiếng mẹ  đẻ  (Trung tâm Nghiên cứu GD dân tộc). Dạy học tăng   cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số  ở lớp 1(Nhóm tăng cường năng  lực dạy và học­ Dự  án PEDC).  Dạy học lớp 1 cho học sinh dân tộc chưa biết   nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD). Công văn số 8114/ BGD&ĐT­ GDTH  V/v nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số ban hành ngày 15   tháng 9 năm 2009.  2. Thực trạng  2.1 Thuận lơi, khó khăn * Thuận lợi Được sự  quan tâm, chỉ  đạo sát sao của Lãnh đạo nhà trường nên ngay từ  đầu năm học các em học sinh lớp 1 đã được làm quen với môi trường học tập  mới. Bản thân nhiều năm liền dạy lớp 1.                                                                                  4 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  5. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt Học sinh dân tộc thiểu số được Đảng và nhà nước quan tâm cấp phát đầy  đủ sách vở và đồ dùng học tập. 100% học sinh được học 8 buổi / tuần.  * Khó khăn ­ Về nhà trường: Cơ sở vật chất chưa đáp ứng với nhu cầu giảng dạy.           ­ Về giáo viên: Năng lực không đồng đều, số  giáo viên là người dân tộc   thiểu số trong khối chiếm 60% năng lực còn hạn chế.           ­ Về học sinh: Lớp chiếm 100% là người đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều   em chưa biết cách cầm bút, chưa nhớ  các chữ  cái, không có khả  năng ghi  nhớ, thiếu sự quan tâm của cha mẹ. Do các em không muốn đi học chỉ muốn   ở nhà vui chơi. Các em chưa có ý thức trong học tập. 2.2 Thành công, hạn chế * Thành công            Đội ngũ giáo viên được trau dồi nâng cao năng lực chuyên môn, đa số giáo  viên có ý thức tự học tự rèn, nắm vững phương pháp dạy học, vốn kiến thức  được nâng cao. Tìm ra được cách giảng dạy mới để giúp các em dễ ghi nhớ,   nhớ lâu và phát âm đúng, đọc được bài ngay tại lớp. Học sinh hứng thú, thích  đọc bài, hiểu được một số từ ngữ đơn giản.  * Hạn chế Tuy nhiên, vẫn có giáo viên còn hạn chế  về  kiến thức, về  kỹ  năng sư  phạm trong việc sử  dụng các hình thức tổ  chức, phương pháp dạy học, …Một  số  học sinh do hay nghỉ học nên chưa tiếp thu bài học một cách liền mạch dẫn   đến khả năng đọc chưa tốt. 2.3 Mặt mạnh, mặt yếu * Mặt mạnh Học sinh thích đọc bài. Giáo viên biết khắc phục những khó khăn trong  việc dạy tiếng Việt cho HSDTTS, nghiên cữu kĩ chương trình môn học. * Mặt yếu Một số em còn thụ động khi tiếp thu kiến thức, đọc còn chưa rõ ràng rụt   rè khi được gọi đọc bài, khả năng ghi nhớ chưa cao. 2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động                                                                                  5 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  6. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt Trong những năm gần đây nhờ  sự  quan tâm chỉ  đạo sát sao của Phòng  GD&ĐT, sự  quan tâm phối hợp của địa phương, sự  chỉ  đạo linh hoạt của Ban  lãnh đạo nhà trường, sự  nỗ  lực của các anh chị  em giáo viên và sự  hợp tác của   cha mẹ học sinh đã tạo nên nguồn động lực lớn thúc đẩy việc dạy và học ngày  càng đi vào khuôn khổ, nề nếp đối với thầy và trò.  Bên cạnh đó việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ   ở  một số  giáo viên  còn hạn chế, bởi: Một vài đồng chí giáo viên tuổi cao, một số  giáo viên là người dân tộc  thiểu số khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế. Một số giáo viên chưa biết vận dụng các nguyên tắc dạy học môn Tiếng   Việt trong thực hành giảng dạy.  Việc chuẩn bị bài và lập kế hoạch bài dạy chưa cụ thể, vận dụng phương   pháp dạy học chưa linh hoạt, chưa đảm bảo quy trình và đặc trưng bộ môn. Việc hướng dẫn học sinh sửa sai chưa kịp thời, chưa tỉ m ỉ, ch ưa quan tâm  đến việc học tập và sử dụng tiếng phổ thông cho các em ở tại gia đình và trong   cộng đồng.  Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trong quá trình dạy của thầy và học của trò  chưa hiệu quả. Một số giáo viên chưa đầu tư về chuyên môn. Một số  giáo viên chưa coi trọng việc đọc mẫu nên phát âm (đọc mẫu)   chưa đúng với chuẩn. Một số  giáo viên còn phát âm theo ngôn ngữ  địa phương  các vùng miền của mình nên rất khó khăn khi rèn đọc tiếng Việt cho học sinh. Một số giáo viên chưa chú ý đến việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ  chức dạy học làm thế  nào để  các đối tượng học sinh nắm được kiến thức biết  đọc biết viết.             Nguyên nhân là do giáo viên phải dạy nhiều môn, một số  giáo viên còn   gặp khó khăn trong cuộc sống nên thời gian dành để  nghiên cứu, tìm tòi   những phương pháp dạy học đối với học sinh còn hạn chế. Vì thế  chưa tạo   hứng thú lôi cuốn được sự  tập trung chú ý nghe giảng của học sinh. Bên   cạnh đó tiếng Việt lại là ngôn ngữ thứ hai của các em học sinh dân tộc thiểu  số, đây là kiến thức mới mẻ đối với các em. 2.5  Phân tích đánh giá các yếu tô tác động Năm học 2013 – 2014 đến nay, tôi được phân công dạy lớp 1 và trực tiếp  giảng dạy môn Tiếng Việt. Khả năng học tập của các em chưa đồng đều, cuối  năm học có em đọc viết rất tốt nhưng vẫn có em chỉ biết đánh vần, có em chưa                                                                                   6 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  7. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt biết đọc. Tuy nhiên với các em học sinh lớp Một dân tộc thiểu số thì tiếng Việt  là môn học mà các em gặp rất nhiều khó khăn. Cho nên, khi dạy môn Tiếng Việt   nhất là trong thời gian đầu năm, các em rất lúng túng khi sử  dụng đồ  dùng học   tập và tham gia đọc, viết bài. Thực tế  cho ta thấy việc giúp học sinh lớp 1 dân   tộc thiểu số học tốt tiếng Việt là việc làm cần thiết. Rèn phát âm tiếng Việt là   nhiệm vụ rất quan trọng đối với giáo viên Tiểu học. Do đó, vấn đề dạy rèn phát   âm tiếng Việt hiện nay đang được quan tâm, chú trọng. Có nhiều chuyên đề,  phương pháp đặt ra nhằm nâng cao chất lượng phát âm tiếng Việt, chất lượng   đọc cho sinh lớp 1. Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt không phải là  ngôn ngữ  duy nhất để  các em tiếp thu kiến thức và nhận biết thế  giới xung  quanh, các em đến trường với một ngôn ngữ hoàn toàn khác ngôn ngữ thường sử  dụng tiếng mẹ  đẻ, bởi vậy tiếng mẹ  đẻ   ảnh hưởng nhiều đến quá trình học  tiếng Việt của trẻ. Một số  giáo viên chưa chú ý đến việc rèn phát âm cho học  sinh, chưa thấy được tầm quan trọng của việc đọc đúng, đọc tốt có tác dụng cao   trong quá trình dạy học và chưa hiểu hết tầm quan trọng của môn học Tiếng  Việt trong hệ  thống giáo dục quốc dân. Một số  giáo viên thì đã thực hiện tuy  nhiên việc thực hiện chưa đúng cách, chưa phù hợp với thực tế  dẫn đến hiệu   quả  đạt được chưa cao. Đa số  học sinh mặc dù đã được học qua trường mầm   non nhưng chưa nắm được 29 chữ  cái, chưa biết cách cầm bút, chưa nhận biết  được dòng kẻ trên bảng con và vở viết. Một số em gia đình khó khăn cha mẹ đi   làm xa không quan tâm nhắc nhở  các em học tập. Một số  em bố  mẹ  mất sớm  phải  ở với ông bà nên thiếu sự  giúp đỡ, an  ủi khi học tập. Một số  em hay nghỉ  học theo cha mẹ đi làm nên tiếp thu kiến thức không liền mạnh dẫn đến không  đọc, viết được. Một số  em do tuổi lớn, khó khăn về  học khả  năng tiếp thu bài   hạn chế. Nhận thức được sự  cần thiết của việc nghe, nói, đọc viết tiếng Việt  đối với các em học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, tôi đã tìm tòi đổi mới hình thức  tổ chức, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả học môn tiếng   Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số. Việc học tiếng Việt với học sinh dân tộc thiểu số đặc biệt là học sinh lớp   1 chủ  yếu học qua các hoạt động  ở  trường.  Ở  nhà, các em ít được giao tiếp   bằng tiếng Việt bởi lẽ vốn tiếng Việt của bố mẹ, anh, chị và những người sống   xung quanh các em còn hạn chế. Chính vì vậy các em không được tiếp cận vốn  tiếng Việt do người thân mang lại cho nên việc dạy học tiếng Việt đối với học  sinh lớp 1 càng khó khăn đối với các thầy, cô giáo, những người tâm huyết với  nghề dạy trẻ nhất là những người đang trực tiếp tham gia giảng dạy trong vùng   dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó một số  gia đình   còn cho con em nghỉ  học đi   nương đi rẫy trong dịp mùa màng. Một số em ít được cha mẹ quan tâm nhắc nhở  các em đi học, còn đổ  lỗi và đẩy trách nhiệm cho giáo viên. Việc đi học không  đều cũng ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Lớp học có nhiều đối tượng                                                                                   7 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  8. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt khác nhau, việc phân chia kiến thức trong một tiết học còn nhiều khó khăn và  hạn chế. Đặc biệt  ở lớp tôi dạy với 100% là học sinh dân tộc thiểu số, hoàn cảnh  gia đình nhiều em gặp không ít khó khăn do đó các em đi học còn thiếu thốn  nhiều thứ cụ thể có em chưa có bộ quần áo đồng phục, có em đến lớp quên bút,  quên chì, quên bảng con. Thậm chí có em còn không có cặp đựng sách mà chỉ  đựng sách vở  bằng chiếc túi ni lông nên việc mất  đồ  dùng học tập xảy ra   thường xuyên,… Do ảnh hưởng của tiếng mẹ nên đa số các em tiếp thu bài chưa   tốt, khả năng ghi nhớ chậm. Do đó việc dạy học tiếng Việt cho các em lại càng  khó hơn.       3. Giải pháp, biện pháp 3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Việc dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số  là việc làm cấp bách  nhằm giúp các em phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Giúp học sinh củng   cố, hệ thống hoá kiến thức được học, mở rộng vốn từ, khắc  sâu kiến thức, nắm  chắc âm vần vừa học, biết vận dụng vào từng trường hợp cụ  thể. Từ đó nâng  cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số,   biết sử  dụng tiếng phổ  thông vào trong cuộc sống hằng ngày, giúp các em hòa  nhập với cộng đồng. Đó cũng là giúp các em có kĩ năng giao tiếp tốt trong cuộc  sống hằng ngày. 3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp Biện pháp thứ  nhất. Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy phù hợp  với từng đối tượng học sinh          * Phương pháp dạy học theo nhóm đối tượng           Thực hiện công văn 9832/ BGD&ĐT ­ GDTH ngày 1 tháng 9 năm 2006, CV  9890/ BGD&ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2007 về  việc hướng dẫn nội  dung,   phương   pháp   giáo   dục   cho   học   sinh   có   hoàn   cảnh   khó   khăn,   CV  5842/BGD&ĐT –VP ngày 01 tháng 09 năm 2011 hướng dẫn điều chính nội dung  dạy học, thông tư 30/ TT – BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 hướng dẫn đánh   giá xếp loại học sinh. Được lãnh đạo nhà trường giao quyền chủ động cho giáo  viên nên ngay từ  đầu năm học, sau khi nhận lớp được một tuần, tôi tiến hành  kiểm tra khảo sát, lập kế hoạch dạy học, xin ý kiến chỉ đạo của tổ chuyện môn                                                                                   8 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  9. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt và nhà trường và phân loại học sinh trong lớp thành những nhóm đối tượng như  sau:           Nhóm 1: Gồm những học sinh khó khăn ( khó khăn về đọc viết, khó khăn  về hoàn cảnh gia đính) Nhóm 2: Gồm những học sinh đạt chuẩn Nhóm 3: Gồm những học sinh năng khiếu Căn cứ  vào các đối tượng học sinh, trong các giờ  học, tôi luôn luôn gần  gũi, thân thiện, quan tâm tất cả  HS nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý từng em.  Kiểm tra sĩ số hàng ngày và giành thời gian giúp đỡ HS khó khăn. Các giờ ôn của  buổi chiều tôi yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ  với 4 mức khác nhau trong  cùng một giờ học. Đối với nhóm 1, trong mỗi tiết học tôi hướng dẫn thật kĩ rồi phát âm mẫu   sau đó gọi các em đọc nhiều lần hơn các em ở nhóm 3. Khi viết tôi chỉ yêu cầu   các em viết 1 dòng.  Các dạng bài đọc và viết về vần, các bài luyện tập tổng đều  có thể vận dụng phương pháp này.  Ví dụ;  Khi dạy bài 7 âm / ê /, / v / trang 16 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1  Tập 1: Tôi phát âm mẫu, hướng dẫn cách mở miệng để phát âm, tôi cho các em   ở nhóm 3 phát âm lại rồi gọi các em ở nhóm 1 phát âm, lúc này tôi quan sát xem  phát hiện những  khó khăn mà các em thường gặp khi phát âm để  uốn nắn kịp  thời. tôi cho các em đó phát âm lại 2 đến 3 lần rồi mới chuyển sang em khác.  Trước khi chuyển sang phần viết, tôi lại cho các em ở nhóm 1 phát âm lại sau đó  yêu cầu viết chữ  ghi âm ê, v mỗi chữ chỉ  một nửa dòng, trong khi đó các em ở  nhóm 2 viết  thêm chữ   ứng dụng mỗi chữ  một nửa dòng còn các em  ở  nhóm 3  viết cả  chữ ghi âm lẫn chữa  ứng dụng nhiều hơn mỗi loại như trên từ  1 dòng.  Sau khi học xong phần âm, tôi hướng dẫn các em ôn tập phát hiện xem âm nào   còn nhiều em chưa phát âm được đưa ra biện pháp giúp đỡ trong các tiết học sau.   Hoặc dạy bài 29 vần /ia/ trang 60 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 Tập 1, lúc này  chuyển sang phần vần, tôi hướng thật kĩ cách ghép âm thành vần rồi yêu cầu các   em nhóm 1 đọc đi đọc lại nhiều lần và viết vần mỗi loại một nửa dòng. Các em   nhóm 2 viết thêm từ khóa, còn các em nhóm 3 viết vần, từ khóa mỗi loại 2 dòng.   Trong lúc các nhóm thực hiện nhiệm vụ  theo yêu cầu thì tôi theo dõi quan sát,   nhắc nhở  và giúp đỡ  khi các em gặp khó khăn mà nhát là đối với các em chưa   biết cầm bút, tôi hướng dẫn tỉ mỉ cách cầm bút, điểm đặt bút và bắt tay các em  đưa bút viết. Khi dạy Tập đọc bài Hoa ngọc lan, trang 64 sách giáo khoa Tiếng   Việt 1, tập 2. Tôi đọc mẫu rồi hướng dẫn các em đọc từ khó. Nếu em nào chưa   đọc được thì gợi ý phân tích tiếng sau đó đánh vần, đọc trơn từ  rồi giúp các em                                                                                   9 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  10. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt dùng bút chì chia câu. Các em khó khăn chỉ  cần đọc một câu. Còn các em khác  đọc đoạn, đọc cả bài. Nắm chắc nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy môn học, vận  dụng phương pháp dạy học linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với học sinh lớp mình  dạy. Giờ  học sinh động hấp dẫn, diễn ra thoải mái hơn khi giáo viên biết tổ  chức các hoạt động dạy ­ học phong phú. Vi dụ trong một giờ học vần, tôi đã tổ  chức cho các em hoạt động cá nhân khi ghép, đọc, viết; hoạt động nhóm khi đọc,   … , tổ chức xen lẫn các trò chơi học tập nhằm khắc sâu kiến thức. Như vậy em   nào cũng được hoạt động, không có em nào ngồi chơi. Thực hiện theo tài liệu hướng dẫn tăng thời lượng dạy môn Tiếng Việt  lớp 1 cho học sinh dân thiểu số. Mỗi bài Học vần dạy tăng từ 2 tiết thành 3 tiết,  mỗi bài Tập đọc dạy tăng từ  2 tiết thành 3 tiết. Với thời lượng như  vậy nên  trong mỗi tiết dạy, tôi có thời gian giúp các em luyện tập nhiều hơn. Vì thế,  trong mỗi tiết dạy, tôi theo dõi phát hiện ngay những chỗ  các em yếu kém để  luyện tập ngay. Tôi đưa ra các câu hỏi ngắn gọn phù hợp đảm bảo tất cả  học  sinh hiểu và làm theo được. Nếu học sinh chưa biết đọc âm vần thì tôi chưa  chuyển sang dạy đọc từ ngữ ứng dụng, đọc câu ứng dụng hoặc luyện nói. Trong  quá trình dạy, tôi luôn luôn theo dõi khen ngợi và có biện pháp hỗ  trợ  các em   ngay. Có như  vậy các em mới nhận thấy mình đã làm được việc gì và việc gì  chua làm được từ đó các em cố gắng hơn.  Ví dụ:  dạy bài 58 vần /inh/, /ênh/ trang 118 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1  Tập 1, sau khi đã cho các em nhận biết vần /inh/, tôi yêu cầu tất cả các em trong  lớp đều đọc vần /inh/,  theo dõi phát hiện những em chưa đọc được, lúc này tôi   tiếp tục cho các em phân tích lại vần, tiếng rồi cho các em đọc đi đọc lại nhiều  lần đến khi các em đã đọc đúng thì mới chuyển sang dạy vần /ênh/, từ ngữ ứng   dụng,… Trước khi vào học tiết học sau phải kiểm tra các em học sinh khó khăn  hoặc kiểm tra xen lẫn trong tiết học.  Khi dạy phần luyện tập tổng hợp, đây là kết quả  của việc dạy phần âm   và vần. Nếu các em phát âm và đọc đúng các phụ âm, nguyên âm và vần thì phần  luyện tập tổng hợp sẽ dễ dàng hơn. Nhưng không phải em nào cũng đọc và phát   âm tốt. Vì vậy, tôi lựa chọn phương pháp hình thức dạy học sao cho tất cả các   em đều đọc được.  Ví dụ dạy bài Trường em:  Việc đầu tiên tôi đọc mẫu thật chuẩn, sau đó  hướng dẫn đọc tiếng, từ  khó. Trường hợp em nào chưa đọc được, tôi lại dùng   phương pháp phân tích tổng hợp để  các em nhớ  lại phụ âm, nguyên âm, vần từ  đó ghép thành tiếng và đọc. Khi đã đọc đứng các tiếng từ khó, tôi tiếp tục hướng                                                                                    10 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  11. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt dẫn xác định câu rồi tổ chức luyện đọc cá nhân, đọc nhóm, đọc đồng thanh. Em   khó khăn đọc theo em năng khiếu, dần dần đọc đúng và tốt hơn. * Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan Như chúng ta biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp Một nói riêng  và nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số khả năng tư duy trừu tượng còn hạn  chế, các em hay bắt chước và làm theo. Đa số  các em tiếp thu kiến thức phải   dựa trên những mô hình vật thật, tranh ảnh, do vậy việc chuẩn bị và sử dụng đồ  dùng dạy học giúp tôi chuyển tải thông tin và truyền thụ  kiến thức giáo dục tư  cách, rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh. Nó có tác dụng điều khiển hoạt   động của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, kích thích hứng  thú cho học sinh học tập. Trong tiết học mà không sử dụng đồ dùng dạy học thì   tiết học đó diễn ra rất đơn điệu, các em không hứng thú, không tập trung, kết   quả học tập không cao. Vì thế đồ  dùng dạy học đóng vai trò rất lớn quyết định  hiệu quả trong mỗi giờ học, môn học nhất là đối với các em học sinh khó khăn. Ví dụ: Khi dạy bài 55 vần /eng/, / iêng/ trang 112 Sách giáo khoa Tiếng  Việt 1, Tập 1: Để giúp học sinh nhận diện được vần và từ khóa một cách chắc  chắn, tôi yêu cầu các em tìm trong bộ chữ ghép vần eng. Qua việc thực hành trên   đồ  dùng các em nhận ra được ngay vần eng gồm hai âm /e/và /ng/, âm /e/ đứng  trước, âm /ng/ đứng sau rồi đánh vần e – ngờ ­ eng. Sau đó nêu câu hỏi gợi mở  giúp các em tìm thêm phụ âm đầu và dấu thanh tiếp tục ghép tiếng xẻng rồi phân  tích tiếng. Trên cơ sở  thực tế được thao tác, các em nắm chắc cấu tạo tiếng từ  đó đánh vần đúng hơn. Sau khi đã hình thành được tiếng khóa, lúc này tôi giới  thiệu chiếc lưỡi xẻng thật, các em được quan sát nhận xét nêu ra từ khóa. Sẽ có   nhiều lời nhận xét đưa ra, lúc này tôi giải thích để  các em hiểu rõ lưỡi xẻng là  vật dụng trong gia đình làm bằng sắt dùng để  xúc, đào. Để  khắc sâu kiến thức,   tôi tổ  chức cho các em tìm tiếng, từ có vần /eng/ bằng cách phát cho mỗi nhóm  một cái hộp trong đó có các từ ngữ chứa vần vừa học và các từ ngữ đã học ở bài  trước rồi gắn tranh lên bảng, yêu cầu các em nhìn tranh gắn được từ ngữ tương   ứng dưới mỗi tranh. Được thực hành, được quan sát từ những hình ảnh như thế  các em sẽ dễ nhớ và nhớ chính xác hơn các vần và các từ được học bởi các em  có sự liên tưởng từ vật thật đến vần của bài học. Như vậy dùng tranh, ảnh, vật thật trong các giờ Tiếng Việt giúp học sinh   nhớ vần và từ tốt hơn. Tranh, ảnh, vật thật không chỉ đóng vai trò trong quá trình   hình thành kiến thức mới mà nó còn có vai trò rất lớn trong phần luyện nói ở các  tiết Tập đọc môn Tiếng Việt  lớp 1, tập 2.   Ví dụ: Bài Quà của bố  – Trang 86 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 tập 2. Sau   phần luyện đọc, tôi tiến hành cho các em nói câu chứa tiếng có vần /oan/, /oat/.                                                                                   11 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  12. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt Nếu cứ dạy chay không có tranh thì đối với các em sẽ rất khó nói được một câu  đầy đủ. Tôi lần lượt treo tranh chụp cảnh các bạn đang quay quần bên mâm hoa  quả bánh kẹo cùng một ngọn đuốc. Sau khi quan sát, với sự gợi ý của tôi, các em   khó khăn   cũng nói được câu hoàn chỉnh Chúng em vui liên hoan và phát hiện  tiếng hoan chứa vần oan. Còn các em năng khiếu không những nói được câu theo  tranh mà còn nói câu khác cũng có tiếng chứa vần /oan/ mà không cần dựa vào  tranh.  Như vậy rõ ràng trong cùng một giờ  học, tôi đã vận dụng khéo léo tranh,   ảnh nên vừa phát huy được tính sáng tạo chủ  động cho học sinh năng khiếu lại   vừa tạo sự hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm, khó khăn. Thường xuyên kiểm tra việc học tập của học sinh. Hệ thống kiến thức cơ  bản cho học sinh theo từng chương, từng chủ đề. Học sinh quên chỗ nào, không   rõ chỗ nào tôi bổ sung kịp thời chỗ đó. Cho học sinh thực hành nhiều lần, nhiều   bài để  khắc sâu kiến thức. Đối với những bài ôn tập, hệ  thống kiến thức cơ  bản, tôi đã sử  dụng bảng phụ  ghi những nội dung cần ghi nhớ. Ví dụ  : Tôi ghi   tất cả  các âm, vần đã học vào bảng phụ  treo cạnh bảng. Yêu cầu học sinh tự  nhẩm đọc và đọc đồng thanh cả lớp trước khi vào bài mới. Những lúc quên, các   em có thể nhìn vào bảng phụ để nhớ lại. * Phương pháp trò chơi Như  chúng ta đã biết học sinh lớp Một rất hiếu động hay bắt chước và  học theo.  Trò chơi học tập là  một loại hoạt động không thể  thiếu được trong  mọi lứa tuổi. Trò chơi giúp các em phát triển cả  về năng khiếu lẫn tư  duy.  Trò  chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi. ''Học mà chơi, chơi mà học  '' tạo ra sự hứng thú và niềm tin trong học tập,  duy trì được khả năng chú ý của  các em trong tiết học. Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần  củng cố  tri thức, kĩ năng học tập cho học sinh. Việc sử  dụng trò chơi học tập   trong quá trình dạy học nhằm làm cho việc tiếp thu tri thức, rèn kĩ năng bớt đi  khó khăn, có thêm sự sinh động, hấp dẫn, phát huy tính tự giác, tích cực, rèn cho  học sinh tính mạnh dạn, tính thi đua, tính kỉ  luật... do đó hiệu quả  học tập của   các em cao hơn. Vì vậy khi tổ chức trò chơi học tập, tôi đã soạn thảo nội dung   trò chơi gắn liền với mục tiêu của bài học, luật chơi đưa ra rõ ràng, đơn giản, dễ  nhớ, dễ  thực hiện, điều kiện và phương tiện tổ  chức trò chơi phong phú, hấp  dẫn, sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ. Có như vậy mới kích thích sự thi đua  giành phần thắng cho các em bên tham gia.           Ví dụ : Dạy  bài 64  /im/, /um/ trang 130 sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1,   tập 1. Tôi tổ chức cho các em trò chơi Tìm chữ bí ẩn. Đầu tiên, tôi giới thiệu tên  trò chơi, hướng dẫn cách chơi, phổ  biến luật chơi, chia nhóm rồi phát cho mỗi                                                                                    12 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  13. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt nhóm một hộp có đựng các tiếng, từ chứa vần /im/, /um/, quy định thời gian chơi   và tiến hành cho các em chơi. Ngoài những tiếng từ có sẵn trong hộp, tôi khuyến   khích các em học sinh năng khiếu tự tìm ghép tiếng, từ khác. Trong thời gian học   sinh chơi, tôi theo dõi nhắc nhở các em. Sau khi hết thời gian chơi, tôi tiến hành  đánh giá kết quả  chơi. Tôi động viên, khen ngợi tinh thần khi tham gia trò chơi   của các em, rồi cho các em đọc lại tiếng, từ  vừa tìm được như  vậy các em sẽ  nắm chắc kiến thức vừa học.                Hay khi dạy  bài 69 /ăt/, /ât/ trang 140 sách giáo Tiếng Việt lớp 1 tập 1, tôi   tổ  chức cho các em chơi trò chơi nhìn tranh, vật thật đoán chữ. Tôi lần lượt chỉ  vào đôi mắt mình, bắt tay một em học sinh và đưa ra chai mật ong sau mỗi lần   như  vậy gọi các em lên bảng gắn từ  tương  ứng.  Qua trò chơi này giúp các em  nhớ vần mới, phát triển tư duy sáng tạo tìm nhanh các tiếng có vần mới, đọc và  viết các tiếng, từ đó .          Hoặc khi dạy  bài 103: Ôn tập, tôi đã tổ  chức cho các em trò chơi hái hoa   dân chủ. Tôi chuẩn bị một số bông hoa bằng giấy trên mỗi bông hoa ghi một từ  có âm hoặc vần mới học ở mặt giấy phía trong.  Các em lần lượt lên hái rồi đọc   từ ghi ở bông hoa. Đối với các em năng khiếu sau khi đọc xong học sinh phải nói  một cụm từ hoặc một câu trong đó có các từ đã học. Thông qua trò chơi giúp các  em luyện nhẩm đánh vần nhanh để đọc trơn cả tiếng, cả từ, dùng từ đã học để  tạo từ ngữ hoặc câu ngắn.           Với những trò chơi mà tôi đã tổ chức trong các giờ học đã tạo cho các em  sự  chú ý, tinh thi đua, khắc sâu kiến thức. Thông qua việc tổ  chức các trò chơi  này, tôi nhận thấy để trò chơi có hiệu quả, ngoài việc chuẩn bị trò chơi thì việc   lựa chọn sao cho phù hợp với nội dung bài cũng là điều quan trọng. * Phương pháp làm mẫu Làm mẫu cũng là việc làm quan trong khi dạy tiếng Việt đối với học sinh   dân tộc thiểu số. Nếu thầy phát âm chuẩn thì trò cũng phát âm chuẩn. Bởi vậy   trong mỗi giờ dạy tiếng Việt, tôi đều chú ý đến khâu phát âm mẫu, khâu rèn kỹ  năng đọc (kỹ năng phát âm) cho học sinh. Chú ý lắng nghe, quan sát và kịp thời   hướng dẫn sửa sai cho các em, vì đọc mẫu và rèn kỹ  năng đọc không tốt dẫn  đến học sinh bắt chước đọc sai, đọc ngọng lâu dần thành quen rất khó sửa. Học  sinh các dân tộc khác nhau thì cách phát âm cũng khác nhau. Ví dụ  học sinh dân   tộc Ê­ đê khi phát âm các âm lưỡi đều uốn cong và bật mạnh dẫn đến các âm  phát ra gần như  đều có thêm dấu nặng. Vì vậy khi dạy phát âm, tôi chú ý làm  mẫu để học sinh quan sát được các cơ quan phát âm như môi, răng, lưỡi... Ví dụ  khi dạy bài 13:  /n/, /m/ trang 28 sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1, sau khi viết   âm /n/ lên bảng tôi phát âm mẫu và hướng dẫn cách phát âm rồi gọi từng em phát                                                                                    13 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  14. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt âm và sửa sai ngay.  Tôi chú ý rèn học sinh bắt đầu từ phần âm tiếng Việt nhất   là các phụ âm tiếng Việt, rèn kỹ việc phát âm khi học ở phần âm như sau:              Đối với các âm học sinh phát âm sai nhiều như  âm: b/v, p/ph, t/th ch/  tr...Thì tôi đã phân loại đưa về  nhóm âm có đặc điểm phát âm giống nhau,   sau đó mô tả và dùng các bộ phận cấu âm để phát âm mẫu một cách tỉ mỉ. Ví  dụ phụ âm b là phụ âm tắc hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi  như phụ âm v lại là phụ âm hữu thanh dây thanh rung hay (phụ âm p là phụ  âm sát hơi đi qua kẽ  hở  miệng, nhưng phụ  âm ph lại là phụ  âm tắc hơi bị  cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi, dây thanh rung) hoặc (phụ âm t thì  luồng hơi ra đằng mũi còn phụ  âm th thì luồng hơi sẽ  ra theo miệng), học   sinh quan sát tôi phát âm và thực hành theo. Trong khi học sinh phát âm, tôi   quan sát phát hiện kết hợp sửa sai kịp thời. Phải luyện phát âm thật kỹ nhiều   lần, đúng mới thôi. Chú ý hướng dẫn các em cách lấy hơi, nhấn giọng.  Đối với các vần học sinh hay phát âm sai như  vần: ui/iu, eo/oe,  ưu/ươu,  eng/anh/em, ua/ươ, êch/êt, it/uyt, ăm/ ăp,…thì tôi cho học sinh phân tích kỹ  cấu  tạo, đánh vần, đọc trơn thành thạo từng vần rồi mới so sánh sự  giống và khác   nhau giữa các vần đã học, so sánh rồi rút ra cách đọc. Điểm mấu chốt ta có thể  cho học sinh dùng thẻ  để  tạo từ, dùng đồ  dùng trực quan để  giải nghĩa từ  kết   hợp với sự  hỗ  trợ  có hiệu quả  của tiếng mẹ  đẻ. Học sinh nắm vững cấu tạo   vần, tiếng, hiểu nghĩa từ kết hợp quan sát khẩu hình, luyện dần sẽ đọc đúng.  Đa số  các em đọc còn nhầm lẫn các dấu thanh, tiếng có thanh thì đọc   không thanh, tiếng không có dấu thanh thì đọc có dấu thanh. Ví dụ: bình tĩnh/   bình tính; nương rẫy / nương rấy, nhà trường/ nhà trương, ý muốn/ ý muộn  … Thì tôi cho các em nắm vững cấu tạo, cách phát âm từng dấu, dùng thẻ  tạo từ,  nắm nghĩa của từ  qua đồ  dùng trực quan hoặc bằng hành động trực tiếp để  từ  đó phát âm đúng và tự sửa sai các dấu thanh.  Trong khi học sinh đọc, nói (phát âm) tiếng Việt tôi theo dõi quan sát từng  em, phát hiện chỗ các em đọc sai để kịp thời sửa ngay và hướng dẫn các em đọc  theo tốc độ quy định, không quá chậm hoặc quá nhanh, đọc, nói đủ to cho tất cả  các bạn trong lớp nghe được, rèn tư thế đứng tự tin, thỏa mái khi đọc, nói tiếng   Việt. Đối với những em đọc sai chính âm tiếng Việt, tôi đã rèn luyện để các em  đọc đúng, đọc đủ, không đọc thừa, đọc sót âm, tiếng, từ,…Đọc với tốc độ  vừa  phải, giọng đọc phải phù hợp với yêu cầu và nội dung từng bài.   Bên cạnh đó vẫn có những em phát âm bị  khuyết âm trong tiếng tiếng   Việt, còn lẫn lộn giữa vần  ưng/  ưn, uông/ uôn, iêng/iên. Ví dụ  khi dạy đọc từ  ngữ   ứng dụng bài 75: ang, anh   có em đọc "bánh chưng" thành "bánh chưn".   Nguyên nhân chính là các em chưa biết vị  trí các cơ  quan phát âm và phối hợp                                                                                   14 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  15. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt giữa các cơ  quan đó. Vì thế  tôi yêu cầu các em quan sát kĩ tôi phát âm mẫu rồi  gọi các em phát âm lại. Nếu phát âm đúng "bánh chưng" hơi sẽ  bị  chặn lại  ở  một vị trí trong khoang miệng, Khi các em làm sai hay chưa làm được, tôi không  la mắng hoặc phê bình các em, mà nhẹ nhàng chỉ bảo cho các em. Trong giờ học,  tôi đi xuống bên học sinh xem em nào đã làm được còn em nào làm chưa làm  được để kịp thời giúp đỡ các em, chỉ cụ thể cho các em. Nhất là với các em khó  khăn về  đọc và viết, tôi đọc lại cho các em nghe rồi gợi ý để  các em phân tích   nhớ lại cấu tạo của tiếng hay bắt tay các em viết cho đúng. Hướng dẫn chi tiết  cho các em tư thế ngồi học đúng, cách cầm sách khi đọc, cách cầm bút viết, cách   trình bày bài vở, cách học tập ở lớp, ở nhà. Tất cả cần làm mẫu và yêu cầu học   sinh làm theo. Dần dần các em có thói quen, có kĩ năng kĩ xảo trong việc học tập.   Từ đó tạo ra không khí thoải mái, tự tin, mạnh dạn hơn khi tham gia hoạt động   học. Qua đó, tôi nắm được một phần nào những sở thích, những niềm vui hoặc   những khó khăn của các em trong học tập hay trong sinh hoạt hàng ngày. Biện pháp thứ  hai: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ  chức dạy  học           Việc vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học sẽ có tác dụng rất   lớn đến hiệu quả  giảng dạy.  Học sinh được luyện tập kĩ năng đọc, viết theo  nhiều hình thức, chống học vẹt. Giúp các em ghi nhớ bằng nhiều giác quan cách   đọc, cách viết mà không nhàm chán và ghi nhớ bài học tốt hơn. Là cơ hội để các   em đều được luyện đọc, luyện viết, luyện nói, được làm việc tập thể  theo   nhóm, học cách hợp tác với bạn bè trong học tập. Nó tạo môi trường thuận lợi   cho việc giao tiếp, cho việc rèn luyện bốn kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,   đọc, viết).           Khi dạy một tiết học vần, tôi đã cho các em đọc thành tiếng trên bảng lớp,   trong sách giáo khoa bằng nhiều hình thức đọc nhẩm, đọc thành tiếng . Thực  hiện song song với việc luyện đọc thì luyện viết cũng không kém phần quan  trọng. Các em được luyện viết vào bảng con, viết trên bảng lớp, viết trong vở  tập viết. Sau khi đọc, viết  thành thạo, tôi tổ  chức cho các em tập nói câu, nói  theo chủ đề. Khi tổ chức các hình thức học tập, tôi đã kết hợp sử dụng đúng lúc,  đúng chỗ, tận dụng thế mạnh của mỗi hình thức học tập trong quá trình dạy học   như học cá nhân ­ theo nhóm ­ cả lớp thích hợp với các nội dung học tập. Trong  quá trình thực hiện, tôi luôn luôn gần gũi, kịp thời khen ngợi, ghi nhận những   tiến bộ của học sinh, động viên các em tiếp tục phát huy, tạo sự tự tin trong học   tập cho các em. Đối với  các em năng khiếu tôi khuyến khích, gợi mở  bằng   những câu hỏi khái quát hơn. Với những em học sinh khó khăn tôi đưa ra câu hỏi   nhỏ sát với nội dung cần trả lời.                                                                                   15 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  16. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt Ví dụ  khi dạy  Tập đọc bài Tặng cháu  trang  49 sách giáo khoa Tiếng  Việt 1, tập 2. Tôi hỏi  + Bác Hồ tặng vở cho ai?  + Bác mong các cháu làm điều gì?  + Em đã làm gì để tỏ lòng kính yêu Bác?  Thông qua các câu hỏi, các em hiểu nội dung bài đọc, biết liên hệ thực tế  và rèn kĩ năng sống.                   Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà          Đến trường các em được vui chơi và khám phá chiếm lĩnh kiến thức. Thế  còn  ở  nhà các em làm gì để  kiến thức luôn được khắc sâu.  Việc ôn bài cũ,  chuẩn bị bài mới tại nhà cũng vô cùng quan trọng. Đa số các em đi học về là vứt  cặp sách vào một chỗ rồi đi chơi. Góc học tập chưa có, chưa biết sắp xếp thời   gian học tập  ở  nhà. Bên cạnh đó một số  cha mẹ  lại chưa biết chữ, nhận thức   còn hạn chế, họ cho rằng việc dạy học con em họ là của nhà trường nên không  quan tâm nhắc nhở các em học bài ở nhà. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến  kết quả  học tập của các em. Làm thế  nào giúp các em có thói quen tự  học  ở  nhà?  Tôi đã dành thời gian đến gặp gỡ cha mẹ các em trao đổi nhờ sự hợp tác   của họ để hướng dẫn cách học cho các em. Gia đình tạo điều kiện cho con em   mình có góc học tập phù hợp sao cho sáng sủa và thoáng mát về ban ngày, đầy   đủ ánh sáng về ban đêm. Sách vở, đồ dùng học tập sắp xếp ngăn nắp, tiện lợi,   phía trên góc học tập dán thời khóa biểu. Mặt khác đa số  các em chưa ý thức  được việc nào nên làm và làm vào thời gian nào. Vậy làm thế nào để hướng các  em có thói quen sinh hoạt phù hợp, kĩ năng sống từng bước được phát triển đảm   bảo kết quả học tập được nâng cao. Tôi hướng dẫn các em lập thời gian biểu   và yêu cầu cha mẹ kí xác nhận. Thời gian biểu sẽ là cẩm nang nhắc nhở các em   thực hiện tốt các công việc trong ngày, dần dần các em có thói quen trong sinh  hoạt, không mải chơi nữa mà chú tâm đến việc học tập hơn. Nhờ đó mà cha mẹ  các em cũng yên tâm hơn khi mình vắng nhà. THỜI GIAN BIỂU Thời gian Công việc Thời gian Công việc Buổi sáng Buổi chiều 5 giờ 30 phút  Ngủ dậy, đánh răng,  ­ 6 giờ 10  rửa mặt, tập thể  1 giờ chiều Thức dậy.                                                                                  16 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  17. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt phút dục, vệ sinh cá nhân 6 giờ 10 phút  1 giờ 15 phút  ­ 6 giờ 30  Ăn sáng ­ 4 giờ 30  Học ở trường phút  phút  6 giờ 40 phút  4 giờ 30 phút­ Đến trường học tập Đi chơi thể thao ­  9 giờ   5 giờ  Đi học về, nghỉ  ngơi 10 giờ 10 phút  5 giờ ­ 7 giờ Tắm rửa, ăn tối. giúp đỡ cha mẹ quét  đến 11 giờ  nhà, nhặt rau. Ôn lại bài cũ, chuẩn  11giờ đến 11  Ăn cơm trưa  7 giờ ­ 8 giờ bị đồ dùng, sách vở  giờ 30 phút  bài mới cho hôm sau 11 giờ 30 phút  đến 1 giờ  Nghỉ trưa 8 giờ ­ 9 giờ Xem ti vi rồi đi ngủ. chiều          Thời gian biểu được dán trên góc học tập ở nhà bên cạnh thời khóa biểu   để  các em tiện theo dõi. Căn cứ  vào thời gian biểu, cha mẹ  các em theo dõi   những việc các em làm  ở  nhà, còn tôi theo dõi những việc làm  ở  trường. Đây   chính là cơ  sở  để  tôi hoàn thành phiếu đánh giá của cha mẹ  học sinh. Ngoài ra  còn tiện lợi cho tôi trong việc lên kế hoạch đi thăm hỏi liên lạc với cha mẹ học   sinh. Thông qua những lần thăm hỏi đó tôi trao đổi với cha mẹ các em được chi  tiết cụ  thể  về  quá trình rèn luyện học tập của từng em và tiện lợi cho việc  kiểm tra, hướng dẫn các em tự học  ở nhà. Việc kiểm tra các em học bài ở  nhà  được tôi thực hiện 1 lần/ tháng và duy trì thường xuyên. Tôi trực tiếp kiểm tra  và hướng dẫn tỉ mỉ phương pháp học tập cho từng học sinh của lớp. Dần dần  việc học bài  ở  nhà của học sinh đi vào nề  nếp. Lúc đó việc giảng dạy của tôi  nhẹ  nhàng hơn vì các em đã chuẩn bị  bài tốt khi đến lớp được cô hướng dẫn   giảng giải thêm các em hiểu bài ngay. Nếu phát hiện thấy em nào lơ là, tôi tăng  cường kiểm tra ngay. Được quan tâm chỉ  bảo tận tình việc học  ở  nhà của con  em mình nên cha mẹ các em cũng nhiệt tình phối hợp cùng tôi nhắc nhở, kiểm   tra và tạo điều kiện cho các em học tập  ở  nhà. Sự  tiến bộ  của học sinh “ khó  khăn” được tôi thường xuyên thông báo cho gia đình biết qua điện thoại. Vì  vậy, cha mẹ các em rất vui và càng quan tâm đến việc học của các em. 3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp              Để  thực hiện các giải pháp, biện pháp trên đòi hỏi giáo viên phải chủ  động, sáng tạo, lập kế  hoạch phù hợp cho từng công việc, đặc biệt là đối với   từng đối tượng học sinh trong lớp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phải                                                                                    17 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  18. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt đầy đủ. Giáo viên phải xây dựng kế  hoạch dạy học cụ  thể  phù hợp với lớp   mình chủ nhiệm. Phải được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, sự phối hợp   giữa các giáo viên dạy luân phiên, dạy bộ  môn và sự  giúp đỡ  của bạn bè đồng   nghiệp.          3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp          Các giải pháp, biện pháp trên có quan hệ chặt chẽ với nhau,  giải pháp này  thúc đẩy sự phát triển của giải pháp kia và ngược lại.  Chúng là cầu nối tạo nên  thành công trong công tác giảng dạy nhằm giúp các em học tốt môn Tiếng Việt.   Nếu như  giáo viên sử  dụng linh hoạt các phương pháp hình thức dạy học mà  không sử dụng đồ dùng dạy học, không hướng dẫn học sinh học ở nhà thì hiệu   quả  giảng dạy, học tập sẽ không cao. Có sử  dụng đồ  dùng dạy học mà không  biết tổ  chức tốt các hoạt động học tập, không kiểm tra đánh giá, khen thưởng  kịp thời cũng không tạo hứng thú học tập cho các em. Chính vì thế  các biện   pháp luôn hỗ trợ cho nhau.  3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu Nhờ  các biện pháp trên mà chất lượng đọc, viết của các em nâng lên. Cụ  thể qua các lần đánh giá, kết quả cụ thể như sau:   Thời gian TSHS Giỏi Khá T. Bình Yếu SL Tỉ  SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ  l l ệ ệ Năm  Cuối  2 10,0 3 15,0 12 60,0 4 20,0 học  học kì I 20 2013  Cả năm 3 15,0 4 20,0 12 60,0 1 5,0 ­  2014 Hoàn thành Chưa hoàn thành Năm  Cuối  SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ  học  học  27 % 2014  kì I 24 88,9 3 11,1 ­  Cả năm 27 100% 0 0 2015          ­ Giá trị khoa học: Với mục tiêu phát hiện những yếu kém trong việc học   tập, kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, khắc phục những khó                                                                                   18 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  19. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt khăn trong giảng dạy, từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt  cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Sau khi nghiên cứu và thực hiện các giải   pháp trên cho thấy chất lượng đọc, viết của các em từng bước nâng lên. Khả  năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và kĩ năng sống trong giao tiếp tốt hơn.          4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề  nghiên cứu          Mặc dù với 100% học sinh là người dân tộc thiểu số, khả năng nhận thức   của các em còn gặp nhiều khó khăn nhưng tôi đã mạnh dạn đổi mới và vận   dụng những kinh nghiệm giảng dạy nên lớp tôi chủ  nhiệm vẫn đạt được một   số kết quả khả quan.  ­ Kết quả tham gia các hội thi Thi “Đố vui để học” cấp trường đạt giải nhất. Thi chữ viết đẹp cấp trường đạt 8/8 em dự thi trong đó 1 giải nhất, 1 giải   ba Thi chữ viết đẹp cấp huyện đạt 3/3 em dự thi.                    Kết quả  cuối năm của từng năm học nâng cao lên, số  em hoàn thành  chương trình lớp học của năm sau cao hơn năm trước. Tỉ lệ học sinh được Hiệu  trưởng tặng giấy khen cũng tăng dần. Năm học nào lớp cũng xếp loại xuất sắc   được Hiệu trưởng nhà trường tặng giấy khen. ­ Giá trị khoa học mang lại khi thực hiện đề  tài: Đề  tài được áp dụng có  hiệu quả trong trường cũng như đối với những trường có học sinh dân tộc thiểu  số. Giờ học sôi nổi, khả năng  đọc, viết được nâng lên, học sinh đọc đúng, tích  cực chủ động, hứng thú học tập, chất lượng dạy học nâng cao. Phát huy được  tính năng động sáng tạo của giáo viên. Rõ ràng qua cách làm này, tôi thấy kết   quả giáo dục của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt. Tạo điều kiện để  học sinh   phát huy tối đa những khả năng vốn có của mình trong học tập cũng như trong  giao tiếp. III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận            Nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo trong trường Tiểu học là tạo ra những con   người toàn diện làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng   tạo biết áp dụng vào thực tiễn để  học tập, lao động.   Để  nâng cao chất lượng  dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số không phải là việc   làm một sớm, một chiều mà là cả một quá trình rèn luyện gian nan, bền bỉ, một   mình ngành Giáo dục và Đào tạo không thể  làm được mà cần phải có sự  tham                                                                                    19 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu
  20. Đề tài: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 DTTS học tốt môn Tiếng Việt gia tích cực của cộng đồng phối hợp với các thầy, cô giáo trong việc vận động   học sinh ra lớp và giáo dục học sinh; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng  và Nhà nước, sự  chỉ  đạo của các cấp chính quyền địa phương trong việc chỉ  đạo, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ sách, vở, đồ dùng học tập,... cho   học sinh dân tộc.  Dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số  là một vấn đề  lớn và  khó, là việc làm thường xuyên và lâu dài. Yêu cầu người giáo viên phải có lòng  yêu nghề  mến trẻ, tâm huyết với nghề, luôn sự  tìm tòi đổi mới phương pháp  hình thức giảng dạy, rút kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy, lập kế hoạch phù   hợp. Biết lắng nghe và thu nhận thông tin phản hồi từ  PHHS của lớp   trong   giảng dạy. Giữ mối liên hệ tốt giữa nhà trường – gia đình – xã hội. Phối kết hợp với Tổng phụ trách đội tổ chức các trò chơi dân gian để nâng  cao vốn Tiếng Việt cho các em.  2. Kiến nghị          Với nhà trường: Cần lựa chọn giáo viên dạy lớp 1. Cần khen thưởng kịp  thời những giáo viên dạy lớp 1 có chất lượng cao. Trang bị, tu bổ đồ  dùng dạy   học, hỗ  trợ  nguồn kinh phí cho giáo viên làm thêm đồ  dùng dạy học trong các   tiết dạy.           Với địa phương: Quan tâm, làm tốt công tác khuyến học khuyến tài ở địa  phương, phối hợp chặt chẽ với nhà trường để  vận động các em có nguy cơ  bỏ  học đi học chuyên cần hơn.  Với cha mẹ học sinh: Cần dành thời gian giúp đỡ các em học ở nhà, cần  chuẩn bị  đầy đủ  đồ  dùng học tập cho các em,  cần nhắc nhở  các em đi học  chuyên cần. Cần quan tâm phối kết hợp, thực hiện tốt thông tin hai chiều với   giáo viên kịp thời giúp đỡ khi các em gặp khó khăn trong học tập. Với giáo viên: Cần nhiệt tình, quan tâm học sinh, tăng cường công tác tự  học tự rèn.  Trên đây là một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học  tốt môn Tiếng Việt mà tôi đã thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất  định nhưng tôi hy vọng với kết quả  đạt được  ở  trên sẽ  góp phần nhỏ  bé nâng  dần chất lượng dạy và học của nhà trường ngày một tốt hơn. Rất mong được sự  góp ý của lãnh đạo và các đồng nghiệp.                                                           Xin chân thành cảm ơn!                  Ea Bông, ngày 15 tháng 2 năm 2016                                                                              Người thực hiện                                                                                  20 Người thực hiện: Trần Thị Minh – Tiểu học Võ Thị Sáu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản