SKKN: Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6

Chia sẻ: Lê Thị Trà Giang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
67
lượt xem
14
download

SKKN: Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của dạy học môn Vật lý THCS nói chung cũng như môn Vật lý 6 nói riêng không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức lí thuyết cho học sinh mà phải còn bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự giác độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Không dập khuôn, máy móc, mà phải biết áp dụng lí thuyết vào làm các bài tập. Qua đó học sinh sẽ tạo ra những kiến thức mới nhạy bén, hiệu quả, thiết thực và phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Tạo cho học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức thông qua việc tự giác làm bài tập.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6

  1. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 MỤC LỤC  I/PHẦN MỞ ĐẦU                                                                                        ....................................................................................      2  I.1. Lý do chọn đề tài                                                                                                      ..................................................................................................      2  I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài                                                                               ...........................................................................      2   I.3. Đối tượng nghiên cứu.                                                                                            ........................................................................................      2  I.4. Phạm vi nghiên cứu.                                                                                                 .............................................................................................      2  I.5. Phương pháp nghiên cứu                                                                                         .....................................................................................      3  II/ PHẦN NỘI DUNG                                                                                   ...............................................................................      3  II.1. Cơ sở lí luận                                                                                                            ........................................................................................................     3  II.2. Thực trạng                                                                                                               ...........................................................................................................     3  II.3. Giải pháp thực hiện                                                                                               ...........................................................................................     7  II.4. Kết quả quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề          16 ..      III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ                                                         .....................................................       17  III.1. Kết luận                                                                                                               ..........................................................................................................      17  III.2. Kiến nghị                                                                                                              ..........................................................................................................       17  TÀI LIỆU THAM KHẢO                                                                           .......................................................................       20 Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 1
  2. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 I/PHẦN MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài   Việc nâng cao chất lượng giáo dục đã đặt ra trong ngành giáo dục nước ta từ  lâu. Muốn vậy trong học tập học sinh phải biết kết hợp “Học đi đôi với hành”. Việc  học sinh biết “Học đi đôi với hành” không những giúp học sinh nắm vững kiến thức.   Mà còn tạo cho học sinh có những sáng tạo, những cách giải và kĩ năng khi làm bài tập,  đặc biệt là đối với bộ môn Vậy lý lới 6, một bộ môn mới mà các em mới tiếp cận  khi  lên cấp THCS. Thế nhưng việc học sinh tích cực, tự giác làm bài tập Vật lý còn rất ít,  chưa được như  mong muốn so với yêu cầu môn học. Tuy rằng sau các tiết dạy giáo   viên luôn dặn dò và nhắc nhở học sinh về nhà làm bài tập trong sách bài tập. Nếu cứ  tiếp tục như vậy sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của giáo dục. Vậy để  làm sao giúp cho học sinh tích cực, tự  giác và có các phương pháp làm   các bài tập môn Vậy lý 6 để đạt hiệu quả theo yêu cầu của ngành đã thôi thúc tôi làm  đề  tài này. Với mong muốn được học hỏi, trao đổi. Bên cạnh đó đã qua những năm  trực tiếp dạy môn Vật lý 6 ở trường THCS Lê Quý Đôn bản thân đã rút ra một số kinh  nghiệm muốn được mọi người cùng tham khảo.  I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục đích của dạy học môn Vật lý THCS nói chung cũng như  môn Vật lý 6 nói  riêng không chỉ  dừng lại  ở  việc truyền thụ kiến thức lí thuyết cho học sinh mà phải   còn bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự  giác độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Không dập   khuôn, máy móc, mà phải biết áp dụng lí thuyết vào làm các bài tập. Qua đó học sinh  sẽ  tạo ra những kiến thức mới nhạy bén, hiệu quả, thiết thực và phù hợp với hoàn   cảnh thực tế. Tạo cho học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức thông qua việc tự giác làm  bài tập.  I.3. Đối tượng nghiên cứu. Đề tài mang phạm khá vi rộng, nhưng đối tượng nghiên cứu trong đề tài của tôi  chỉ thuộc các lớp Vật lý 6 ở trường THCS Lê Quý Đôn mà tôi trực tiếp giảng dạy. I.4. Phạm vi nghiên cứu. Môn Vật lý lớp 6 ở trường THCS Lê Quý Đôn. Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 2
  3. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 I.5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chủ yếu giúp tôi thực hiện đề tài này là dựa trên những kiến thức,   kinh nghiệm, thực tiễn của bản thân qua những năm trực tiếp giảng dạy Vật lý 6 và  qua việc thu thập thông tin phản hồi của học sinh sau những tiết học, qua kết quả của   bài kiểm tra thống kê, khảo sát chất lượng, kiểm tra một tiết và kiểm tra học kì, qua  sự  góp ý của đồng nghiệp, tổ  chuyên môn sau những tiết dự  giờ, thao giảng, chuyên  đề, qua nghiên cứu tài liệu tham khảo. II/ PHẦN NỘI DUNG II.1. Cơ sở lí luận Cơ  sở  chính là xuất phát từ  đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, chủ  thể  quan   trọng của quá trình giáo dục vì lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi có sự thay đổi lớn,   chuyển giao giữa cấp Tiểu học và THPT, lứa tuổi không còn là trẻ  con cũng không  phải là người lớn. Nên việc tự giác học và làm bài tập của các em cũng có sự thay đổi. Từ những năm có thay đổi chương trình sách giáo khoa mới đến nay tôi luôn đổi  mới phương pháp giảng dạy và sau mỗi tiết học luôn nhắc học sinh về  làm bài tập   nhưng kết quả  thu được cũng chưa được như  mong muốn qua mỗi năm học và từng  lớp học khác nhau. Qua đó tôi đã có những phương pháp và ý tưởng để  giúp học sinh  làm bài Vật lý 6 ở học sinh của trường mình theo yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm   tra, đánh giá. II.2. Thực trạng a. Thuận lợi, khó khăn Thuận lợi :  Môn Vật lý 6 chủ yếu là quan sát các hiện tượng từ thí nghiệm, lập công thức  và một số kiến thức liên quan đến các hiện tượng xảy ra trong thực tế, nên học sinh  nắm được kiến thức sẽ vận dụng vào để làm các bài tập liên quan đến bài học cũng  như giải thích các hiện tượng trong thực tế cuộc sống. Qua đó làm tăng tính tò mò,  sáng tạo, kích thích học sinh hứng thú làm bài tập.  Khó khăn :  Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 3
  4. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Mới chuyển lên lớp 6 cấp THCS và tiếp cận môn học mới là môn Vật lý, cũng   như  thầy cô mới, cách học mới, bạn mới. Nên học sinh còn rụt rè, chưa tích cực, tự  giác trong các hoạt động học tập: Phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi, thảo luận   nhóm, học nhóm nên dẫn đến việc tự  giác làm bài tập Vật lí chưa cao, mà chỉ  mang  tính đối phó khi vào các ngày có kiểm tra 15 phút đầu giờ của ban cán sự lớp. Trong lúc  kiểm tra bài cũ giáo viên kiểm tra vở làm bài tập của học sinh thì thấy chủ yếu các em   chỉ làm các bài tập trắc nghiệm chứ còn các bài tập tự luận thì rất ít làm, hay chỉ  làm   qua loa: Chỉ  ghi phép tính và kết quả, không có lời giải, lập luận, công thức hay đơn  vị... Thậm chí có em còn không có vở làm bài tập.  b. Thành công, hạn chế Sau khi vận dụng đề tài này thì thấy đa số các em đã tực giác làm bài tập, trên  lớp hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời của bạn, thích phát biểu  ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra. Bên cạnh những thàng công đạt được khi áp dụng đề tài này vẫn có một số bài  tập mà một số học sinh vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn như: Học sinh  chưa biết phân biệt, phương pháp giải các dạng bài tập do không chú ý nghe giảng,  hỗng kiến thức, chưa tích cực thảo luận, hoạt động. Thậm chí có một số học sinh  không biết thực hiện các phép tính toán cơ bản, đổi đơn vị hay biến đổi công thức. c. Mặt mạnh, mặt yếu Khi vận dụng đề tài này thì giáo viên trở thành người hướng dẫn, định hướng  hoạt động độc lập suy nghĩ, sáng tạo để học sinh tự giác làm bài tập. Học sinh hoạt  động là chính, không chỉ tự làm bài tập, mà tự trả lời ngay trong tiết học Vật lý có sự  hướng dẫn của giáo viên qua các câu hỏi C1,C2,C3,.. hay phần vận dụng, phần có thể  em chưa biết...   Tuy vậy vẫn còn một số học sinh chưa tự giác, chưa chịu suy nghĩ làm bài tập,  còn lười : Một bài toán giáo viên đã thiết lập ra công thức, yêu cầu thay số, thậm chí đã  thay số và chỉ yêu cầu học sinh tính toán để tìm kết quả mà một số em vẫn không chịu  làm. d. Nguyên nhân Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 4
  5. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Những nguyên nhân của thành công của đề  tài là giáo viên tạo cho học sinh có   động cơ học tập, hứng thú và học sinh phải có thói quen độc lập, tính tự  giác làm bài   tập và sự ham học hỏi.  Giáo viên phải đầu tư công sức và thời gian nhiều cho việc làm đề cương, phân   ra các dạng bài tập và phương pháp giải cơ bản để  học sinh dể biết áp dụng vào làm  các bài tập có liên quan.  Những hạn chế, yếu kém khi thực hiện đề  tài này là đối với những học sinh  không tích cực, ỉ lại, mất kiến thức cơ bản, không có tính tự giác, chỉ chờ khi nào giáo   viên hoặc các bạn giải bài tập xong trên bảng thì chép lại. e. Phân tích, đánh giá  Tới năm học 2014­2015 đã hơn một thập kỉ áp dụng chương trình và SGK mới,   mà với bộ môn Vật lý lớp 6 có 1 quyển bài tập nhưng trong phân phối chương trình lại   không có tiết bài tập, cách đây vài năm mới có sự  điều chỉnh nên trong phân phối   chương trình được 2 tiết bài tập kết hợp trong hai tiết dạy của bài Khối lượng riêng –  Trọng lượng riêng. Đến tháng 9 năm học 2015­2016 thì PGD&ĐT đã có hướng mở cho  các trường tự  xây dựng Phân phối chương trình cho phù hợp thực tế  của từng trường  dựa trên khung phân phối chương trình và áp dụng từ tháng 10/2015. Nhưng vận dụng  vào hiệu quả  ở  một số trường THCS chưa được như  mong muốn, học sinh chưa tích   cực, tự giác làm bài tập hoặc làm tắt theo kiểu toán học. Các trường học luôn đổi mới phương pháp dạy ­ học nhưng chất lượng và hiệu  quả ở một số trường THCS chưa cao, trong đó có trường THCS Lê Quý Đôn. Một ngôi   trường còn thiếu thốn về  cơ  sở  vật chất và trình độ  nhận thức của học sinh không   đồng đều đặc biệt là học sinh người đồng bào dân tộc. Nên việc học sinh tự giác làm  bài tập còn ít. Muốn nâng cao chất lượng giáo viên cần phải hướng cho học sinh tính  độc lập, tự giác và sáng tạo khi làm bài tập. Trong hoạt động học tập về thực chất là   tự giác làm bài tập sẽ giúp cho học sinh củng cố được kiển thức. Tự giác làm bài tập   liên quan trước hết đến  động cơ  làm bài tập, động cơ  làm bài tập tạo ra   hứng thú,  hứng thú là tiền đề  của tự  giác. Hứng thú và tự  giác sản sinh ra tư  duy độc lập. Suy  nghĩ độc lập tạo ra sáng tạo. Tóm lại tính tích cực độc lập sáng tạo sẽ  phát triển tự  giác, có hứng thú và có động cơ làm bài tập. Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 5
  6. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Tính tự giác, tích cực làm bài tập từ những cấp độ từ thấp đến cao, từ dể đến  khó. Bắt chước: Làm theo các bài tập mẫu của giáo viên, của bạn… Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác  nhau về một vấn đề trong khi làm bài tập. Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới,  độc đáo, hữu hiệu. Giáo viên phải thấy được muốn đạt được mục đích mới trong dạy học Vật lý  thì việc dạy học Vật lý phải được tiến hành thông qua việc làm bài tập của học sinh.   Học sinh không chỉ  tiếp thu kiến thức lí thuyết suông mà phải vận dụng vào làm các   bài tập. Muốn vậy giáo viên phải đặt học sinh vào những tình huống của bài học, của  đời sống thực tế.  Người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo  cách suy nghĩ của mình. Từ  đó vừa nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được  cách “làm ra”  kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu có sẵn, mà  được bộc lộ  và phát huy tính sáng tạo và vận dụng vào làm bài tập. Việc vận dụng   kiến thức lý thuyết vào làm các bài tập thể hiện sự độc lập, tự giác của học sinh cần   được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, không chỉ ở sách giáo khoa, sách bài tập mà có thể ở  sách tham khảo hoặc báo... không những ở trường lớp mà có thể những tình huống, các   hiện tượng trong thực tế cuộc sống hằng ngày. Giáo viên cần phải hướng cho học sinh biết được học tập là phài kết hợp “Học   đi đôi với hành”. Trong đó hoạt động học tập thực chất là tự  nhận thức, đặc trưng ở  khả năng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.  Trong dạy học và hướng dẫn làm bài tập Vật lý THCS nói chung và Vật lý 6 nói  riêng, giáo viên phải phân ra cho học sinh biết và phương pháp làm hai dạng bài tập  này là: Bài tập định tính và bài tập định lượng.  Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, học sinh không cần thực hiện các  phép tính phức tạp mà phải sử dụng những phép suy luận lôgic trên cơ sở hiểu rõ bản  chất của các khái niệm, định luật Vật lí  và nhận biết được những biểu hiện của  chúng trong các trường hợp cụ thể. Đối với loại bài tập này, việc xác lập lời giải  thường gây cho Học sinh nhiều khó khăn vì nó đòi hỏi phải lập luận một cách lôgic, có  căn cứ đầy đủ và xác đáng về mặt kiến thức. Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 6
  7. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Bài tập định lượng là những bài tập mà khi giải, học sinh cần thực hiện các  phép tính, biến đổi công thức để tình ra kết quả . Đối với loại này, việc biến đổi công  thức và tính toán thường gây cho học sịnh nhiều khó khăn vì nó đòi hỏi học sinh phải  có trí nhớ kiến thức lí thuyết cũ và khả năng tư duy sáng tạo. II.3. Giải pháp thực hiện II.3.1.Phương pháp làm bài tập định tính Để  làm được tốt các bài toán định tính thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh   thực hiện như sau:  a. Tìm hiểu đề bài, nắm vững giả thiết của bài tập Yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài để tìm hiểu các thuật ngữ chưa biết, tên  gọi... xác định ý nghĩa Vật lý của các thuật ngữ vật lý, tóm tắt đầy đủ các giả thiết và  nêu bật câu hỏi chính của bài tập (cần xác định cái gì? mục đích cuối cùng của bài giải  là gì?).  b. Phân tích hiện tượng Yêu cầu học sinh nghiên cứu các dữ kiện ban đầu của bài tập (những hiện  tượng gì, sự kiện gì, những tính chất gì...) để nhận biết chúng có liên quan đến những  khái niệm nào, quy tắc nào đã học trong Vật lý 6. c. Xây dựng lập luận và suy luận kết quả Có thể phân loại các bài tập định tính theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên về  cơ bản ta thường gặp hai dạng, đó là giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ  xảy ra: – Đối với loại câu hỏi giải thích hiện tượng, phải thiết lập được mối quan hệ  giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay định luật Vật lý, tức là  phải thực hiện được phép suy luận lôgic, trong đó cơ sở kiến thức phải là một đặc tính  chung của sự vật hoặc định luật Vật lý có tính tổng quát áp dụng vào điều kiện cụ thể  của đề bài mà kết quả cuối cùng chính là hiện tượng đã được nêu ra trong đề bài. – Đối với loại câu hỏi dự đoán hiện tượng, trước hết cần phải “khoanh vùng”  kiến thức bằng cách căn cứ vào những dấu hiệu ban đầu (các dụng cụ thí nghiệm,  dạng đồ thị, cấu tạo vật thể, trạng thái ban đầu của hệ ...) để liên tưởng, phán đoán  chúng có thể liên quan đến những quy tắc Vật lý nào đã biết. Từ những phân tích về  Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 7
  8. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 diễn biến của quá trình và việc vận dụng các kiến thức Vật lý liên quan đã tìm được ta  có thể dự đoán hiện tượng một cách chính xác. d. Kiểm tra kết quả tìm được Kiểm tra kết quả tìm được thực chất là phân tích kết quả cuối cùng để xem kết  quả tìm được có phù hợp với điều kiện nêu ra ở bài tập hay không. Đối với các bài tập  định tính có nhiều cách để kiểm tra, trong đó hai cách thường dùng là thực hiện các thí  nghiệm có liên quan để đối chiếu với kết luận về dự đoán hiện tượng hoặc đối chiếu  câu trả lời với các nguyên lí hay định luật Vật lý tổng quát xem chúng có thoả mãn hay  không. Ví dụ: Bài tập 20.6* (Sách BTVL6). Trong một ống thủy tinh nhỏ đặt ngang đã  được hàn kín hai đầu và hút hết không khí, có một giọt thủy ngân nằm ở giữa (hình  20.3). Nếu đốt nóng một một đầu ống thì giọt thủy ngân có dịch chuyển không? Tại  sao? Trước khi hướng dẫn tôi kiểm tra bài làm của học sinh thì thấy đa số các em  đều làm như sau: Giọt thủy ngân không chuyển, vì ống thủy tinh đã được hàn kín hai  đầu và hút hết không khí. Hoặc một số học sinh trả lời giọt thủy ngân chuyển động vì  ống thủy tinh bị nóng lên giọt thủy ngân chuyển động giống như giọt nước màu trong  ống thủy tinh khi áp tay vào bình cầu ở thí nghiệm hình 20.2 SGK Vật lý 6.  Sau khi kiểm tra bài làm của học sinh tôi thấy đa số các em trả lời chưa chính  xác hoặc một số em trả lời đúng nhưng chưa giải thích được. Nên tôi đưa ra hướng  dẫn làm bài tập này như sau: Hướng dẫn: Đây là loại bài tập định tính có yêu cầu dự đoán và giải thích hiện tượng xảy ra. Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 8
  9. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Tìm hiểu đầu bài ta thấy: Do có giọt thủy ngân nằm ở giữa mà ống thủy tinh  được chia làm hai phần, dung tích ban đầu của mỗi phần là bằng nhau, bên trong mỗi  phần là chân không. Chi tiết đáng lưu ý trong đầu bài thuật ngữ “đốt nóng”. Chỉ riêng việc “đốt nóng” đã có thể đó làm ta liên tưởng đến một loạt các hiện  tượng Vật lý  xảy ra như ống thủy tinh và giọt thủy ngân nóng lên bị dãn nở, giọt thủy  ngân bị bay hơi... Câu hỏi thứ nhất đặt ra là: Ống thủy tinh và giọt thủy ngân có bị dãn nở không?  giọt thủy ngân có bị bay hơi không? Như vậy diễn biến đáng chú ý của hiện tượng là  ở hai phần của ống thủy tinh có chứa hơi thủy ngân. Câu hỏi thứ hai đặt ra là: Hơi thủy ngân ở hai phần của ống thủy tinh như thế  nào? Dữ kiện của đầu bài cho biết ngọn nến được đốt nóng một đầu, điều đó làm lộ  ra về tác động làm bay hơi thủy ngân về phía đầu kia, có thể kết luận lượng thủy ngân  bay hơi về phía đầu kia.  Cuối cùng, căn cứ vào các điều kiện về hơi thủy ngân, thể tích hơi thủy ngân  trong ống, học sinh dễ dàng liên tưởng đến việc sử dụng kiến thức về sự nở vì nhiệt  của chất khí để suy luận ngay sau khi nung nóng giọt thủy ngân có dịch chuyển. Tuy  trong ống không có không khí nhưng lại có hơi thủy ngân. Hơi thủy ngân ở một đầu bị  hơ nóng lên, nở ra đẩy giọt thủy ngân dịch chuyển về phía đầu kia. e. Kết quả khảo nghiệm.  ­Trước hướng dẫn Lớp Số học sinh Số học sinh dự đoán đúng   Số học sinh giải thích đúng  6A 33 8 3 6B 33 2 0 6C 32 6 2 6D 33 5 1 6E 34 4 0 Tổng cộng 165 25 6 ­Sau hướng dẫn Lớp Số học sinh Số học sinh dự đoán đúng   Số học sinh giải thích đúng  6A 33 30 25 6B 33 26 18 6C 32 29 24 6D 33 29 22 Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang 9
  10. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 6E 34 29 23 Tổng cộng 165 143 122 *Phương pháp này có thể  áp dụng gần như  hầu hết cho các bài tập  ở  chương  trình Vật lí lớp 6.  II.3.2.Phương pháp làm bài tập định lượng: Để  làm được tốt các bài toán định lượng thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh  thực hiện như sau: a. Tìm hiểu đề: Đọc kĩ đề bài. Tìm hiểu ý nghĩa Vật lý của các từ ngữ trong đề bài bằng ngôn ngữ Vật lý. Tóm tắt đề bài bằng các kí hiệu Vật lý. Vẽ hình (nếu cần) Xác định điều “cho biết” đã cho, điều “phải tìm”  ẩn số của bài tập, điều kiện  trung gian “cần tìm”. b. Phân tích hiện tượng Vật lý theo đề bài: Xác định xem hiện tượng đã nêu trong bài tập thuộc phần kiến thức Vật lý nào?   khái niệm nào? Nếu gặp hiện tượng Vật lý phức tạp thì phân tích ra thành những hiện tượng   đơn giản. Tìm hiểu xem hiện tượng Vật lý diễn biến qua những giai đoạn nào? c. Xây dựng lập luận cho việc giải bài tập Trình bày có hệ  thống, lập luận chặt chẽ, logic  để  tìm ra mối liên hệ  giữa   những điều cho biết và điều phải tìm. Đổi các đơn vị cho phù hợp. Lập các công thức liên quan đến các đại lượng cho biết, đại lượng cần tìm.   Thực hiện các phép biến đổi để tìm ẩn số là đại lượng Vật lý phải tìm.  *Có thể lập luận theo hai phương pháp sau: Phương pháp phân tích: Bắt đầu từ  điều phải tìm (ẩn số) xác định mối liên hệ  giữa những điều cho biết và điều phải tìm và các điều kiện trung gian. Tìm mối liên hệ  giữa các điều kiện trung gian đã biết.  Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   10
  11. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Phương pháp tổng hợp: Từ  những điều đã cho biết, xác định mối liên hệ  giữa   những điều đã cho biết với các điều trung gian, sau đó tìm mối liên hệ giữa những điều   kiện trung gian và những điều phải tìm.             d. Giải bài tập. Dựa vào các phân tích trên học sinh tìm ra mối liên hệ giữa những điều đã cho  biết và điều phải tìm, học sinh tìm được công thức áp dụng cho việc giải bài tập đó  thông qua các công thức đã học: Ghi lời giải. Sắp xếp công thức và thay số, tính toán, tìm kết quả. Ghi đơn vị. Thử lại kết quả: Kiểm tra lại kết quả thu được là chính xác. Học sinh cần dùng  các phép tính để kiểm tra kết quả hoặc có thể dùng cách giải khác sau đó so sánh kết  quả của các cách giải. Ví dụ 1. Bài tập 11.3 (Sách BTVL6). Biết 10 lít cát có khối lượng 15 kg. a) Tính thể tích của 1 tấn cát b) Tính trọng lượng của 1 đống cát 3m3. Trước khi hướng dẫn tôi kiểm tra bài làm của học sinh thì thấy một số học sinh  làm như sau:  15:10 = 1,5 1: 1,5 = 0,666 15 x 3 = 45 Đáp số: 1,5; 0,666; 45 Một số học sinh khác làm như sau: 1,5 : 0,01 = 1500 1000 : 1500 = 0,666 10 x 1500 = 15.000 15.000 x 3 = 45.000 Đáp số: 1500; 0,666; 15.000; 45.000 Một số học sinh khác lại làm như sau: 1,5 : 0,01 = 1500 kg/m3 1000 : 1500 = 0,666 m3 Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   11
  12. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 10 x 1500 = 15.000 N/m3 15.000 x 3 = 45.000 N Đáp số: 1500 kg/m3; 15.000 N/m3; 45.000 N Một số học sinh khác làm cụ thể hơn như sau: Khối lượng riêng của cát là: 1,5 : 0,01 = 1500 kg/m3 Thể tích của 1 tấn cát là: 1000 : 1500 = 0,666 m3 Trọng lượng riêng của cát là: 10 x 1500 = 15.000 N/m3 Trọng lượng của 1 đống cát 3m3 là 15.000 x 3 = 45.000 N Đáp số: 1500 kg/m3; 15.000 N/m3; 45.000 N Sau khi kiểm tra bài làm của học sinh tôi thấy một số học sinh làm bài tập chưa  đúng hoặc một số học sinh làm đúng nhưng chưa đầy đủ các bước: Lời giải, lập luận  (nếu có), đổi đơn vị, công thức hoặc biến đổi công thức (nếu cần), ghi đơn vị .. . Nên  tôi đưa ra hướng dẫn làm bài tập này như sau: Hướng dẫn Đề bài đã cho biết gì?  Tóm tắt bài toán bằng các kí hiệu Vật lý đã học? Đổi đơn vị theo các đại lượng  Vật lý đã học? Phải tìm gì, bằng công thức nào? Muốn vậy cần tìm điều kiện trung gian nào,  bằng công thức nào? ­Đề bài đã cho biết thể tích 10l cát có khối  lượng 15kg.  m ­Phải tìm thể tích của 1 tấn cát bằng công thức:  V . Cần tìm khối lượng  D m riêng của cát bằng công thức  D . V ­Phải tìm trọng lượng của 1 đống cát có thể tích 3 m3, bằng công thức  P d P d .V . Cần tìm trọng lượng riêng của cát, bằng công thức d=10.D V Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   12
  13. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Giải Tóm tắt :  a.  Khối lượng riêng của cát:  V1=10l = 0,01m3; m1 15 D 1500(kg / m 3 ) m1 = 15kg V1 0,01 m2= 1 tấn = 1000kg  Thể tích 1 tấn cát:  a. V2=? ; m2 1000 b. P =? ; V=3m3 V2 0,667( m 3 ) D 1500 b. Trọng lượng riêng của cát: d=10.D = 10.1500=15000(N/m3) Trọng lượng 1 đống cát 3m3: P d P d .V  = 15000 x 3 = 45000(N) V Ví dụ 2. Bài tập 11.5 (Sách BTVL6). Mỗi hòn gạch “hai lỗ” có khối lượng 1,6kg.  Hòn gạch có thể tích 1200 cm3. Mỗi lỗ có thể tích 192cm3. Tính khối lượng riêng và  trọng lượng riêng của gạch (h.11.1) Trước khi hướng dẫn tôi kiểm tra bài làm của học sinh thì thấy không biết làm  bài tập này Một số học sinh làm như sau: 192 x 2 = 384 1200 ­ 384 = 816 1,6 : 186 = 0,001960 Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   13
  14. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 0,001960 x 10 = 0,01960 Đáp số: 0,001960;  0,01960 Một số học sinh khác lại làm như sau: 1200 – (192 x 2) = 816 m3 = 0,000816 m3   1,6 : 0,000816 m3= 1960,078 kg/m3 10 x  1960,078 kg/m3 = 19607,84N/m3 Đáp số: 1960,078 kg/m3; 19607,84N/m3 Một số học sinh khác làm theo cách sau sau: Thể tích của hòn gạch:  1200 – (192 x 2) = 816 m3= 0,000816 m3 Khối lượng riêng của gạch: 1,6 : 0,000816 m3= 1960,078 kg/m3 Trọng lượng riêng của gạch: (1,6 x 10) : 0,000816  = 19607,84N/m3 Đáp số: 1960,078 kg/m3; 19607,84N/m3 Cũng giống như bài tập ở ví dụ 1 trên sau khi kiểm tra bài làm của học sinh tôi  thấy một số học sinh làm bài tập chưa đúng hoặc một số học sinh làm đúng nhưng  chưa đầy đủ các bước: Lời giải, lập luận (nếu có), đổi đơn vị, công thức hoặc biến  đổi công thức (nếu cần), ghi đơn vị .. . Nên tôi đưa ra hướng dẫn làm bài tập này như  sau: Hướng dẫn Đề bài đã cho biết gì?  Tóm tắt bài toán bằng các kí hiệu Vật lý đã học? Đổi đơn vị theo các đại lượng Vật lý đã học? Phải tìm gì, bằng công thức nào?Muốn vậy cần tìm điều kiện trung gian nào,  bằng công thức nào? ­Đề bài đã cho biết hòn gạch “hai lỗ”, có khối  lượng 1,6kg, có thể tích 1200  cm3, mỗi lỗ có thể tích 192cm3. m ­Phải tìm khối lượng riêng của gạch, bằng công thức: D . Cần tìm thể tích  V thực của gạch bằng cách lấy thể tích của hòn gạch trừ thể tích của hai lỗ gạch. Đổi  đơn vị từ cm3 sang m3. P ­Phải tìm trọng lượng riêng của gạch, bằng công thức d= 10.D hay  d . Cần  V tìm khối lượng  của gach, bằng công thức P=10.m Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   14
  15. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 Giải Tóm tắt :  Thể tích thực của hòn gạch: m = 1,6kg V = 1200 – (192 x 2) = 816 cm3 Vhòn  gạch  =1200cm3 Đổi 816cm3 = 0,000816m3 V1 lỗ  gạch  =192cm3 Khối lượng riêng của gạch:  D = ?  m 1,6 D 1960,8(kg / m 3 ) d = ? V 0,000816 Trọng lượng riêng của gạch: Cách 1. d=10 x D = 10 x 1960,8=19608(N/m3) Cách 2.  P= 10 x m = 10 x 1,6 = 16N P 16 d 19608( N / m 3 ) V 0,000816 e. Kết quả khảo nghiệm ­Trước hướng dẫn Lớp Số học sinh Số HS làm đúng   Số HS làm được, trình bày rõ ràng 6A 33 16 3 6B 33 14 1 6C 32 17 3 6D 33 15 1 6E 34 16 2 Tổng cộng 165 76 10 ­Sau hướng dẫn Lớp Số học sinh Số HS làm đúng   Số HS làm được, trình bày rõ ràng 6A 33 27 20 6B 33 23 14 6C 32 25 21 6D 33 24 16 6E 34 24 17 Tổng cộng 165 123 88 *Phương pháp này có thể  áp dụng cho các bài: Trọng lực – Đơn vị  lực; Khối   lượng riêng ­ Trọng lượng riêng và các bài tập nâng cao trong phần Máy cơ đơn giản:   Ròng rọc, Mặt phẳng nghiêng, Đòn bẩy. Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   15
  16. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 II.4. Kết quả quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề  Việc làm bài tập Vật lý lớp 6 là đối với học sinh mới chỉ mang tính vận dụng,  làm các bài tập đơn giản bước đầu hình thành các bước và kĩ năng làm bài tập. Nhưng  với những phương pháp và các bước thực hiện trên học sinh sẽ khắc sâu được những  kiến thức trong đầu vì trong qua trình làm bài tập các em đã tự  suy nghĩ, tìm tòi, sáng   tạo, nên khi giáo viên hỏi lại các kiến thức cũ học sinh sẽ tái hiện lại ở trong đầu của  mình. Môn Vật lý 6 chủ yếu là thực hành và thí nghiệm nên với các phương pháp làm  bài tập như trên sẽ giúp cho học sinh có thói quen và kĩ năng làm bài tập kết hợp nhuần  nhuyễn và áp dụng tốt giữa lý thuyết vào làm bài tập xuyên suốt trong quá trình học.   Qua đó kết quả học tập hàng năm và của từng lớp học ngày càng được nâng lên. Vật lý là Khoa học thực nghiệm, không phải chỉ làm thí nghiệm đơn thuần mà   ngoài việc làm thí nghiệm cần có sự phân tích sâu sắc các sự  kiện thực nghiệm, tổng   quát lý thuyết và phát hiện ra bản chất sự  vật. Do đó sau trước hoặc sau khi làm thí   nghiệm giáo viên cần giúp cho học sinh có sự thống nhất giữa thí nghiệm, lý thuyết và  làm bài tập, hay tóm lại là gồm cả quá trình tìm tòi ý tưởng ban đầu đến kết luận cuối   cùng. Phải rèn luyện cho học sinh hoạt động nhận thức tìm tòi, sáng tạo trong khi làm  bài tập và phải lựa chọn mức độ thích hợp từ dể đến khó, từ  đơn giản đến phức tạp:  Mức độ biết   mức độ hiểu  mức độ vận dụng (vận dụng thấp   vận dụng cao);  Câu hỏi phân tích   câu hỏi tổng hợp  câu hỏi đánh giá. Từ đó sẽ khích thích và tạo  cho các em có hứng thú trong việc làm bài tập môn Vật lý 6. Giáo viên cần phải có một số kĩ năng: +Kĩ năng hỏi: Tích cực hoá tất cả  các học sinh; Đưa câu hỏi và bài tập cho tất  cả các học sinh từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. +Kĩ năng nên làm: Tập trung vào trọng tâm; Giải thích; Vận dụng. +Hướng cho học sinh dần có được năng lực thích ứng với các phương pháp làm  bài tập: Giác ngộ mục đích của việc làm bài tập, tự giác làm bài tập, có ý thức về kết   quả học tập của mình và kết quả chung của cả nhóm, lớp.  Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   16
  17. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ III.1. Kết luận  Trong luật giáo dục có điều đã viết: Giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích  cực, tự giác, chủ động sáng tạo cho học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,   môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự giác làm bài tập, rèn luyện kĩ năng vận  dụng kiến thức vào thực tiễn khi làm bài tập qua đó đem lại niềm vui, hứng thú  cho  học sinh.  Đổi mới dạy và học nhưng phải hướng tới hoạt động độc lập, sáng tạo, tự giác  làm bài tập, chống lại thói quen thụ động, ỉ lại. Nhằm tạo nên động lực, động viên,  thúc đẩy khuyến khích học sinh phải có ý thức tự giác, năng động, sáng tạo khi làm bài  tập. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân đã áp dụng trong những năm  học qua. Để có được kết quả đó, đòi hỏi mỗi người giáo viên hãy phấn đấu qua mỗi  tiết học để học sinh được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều  hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn, tự giác làm bài tập nhiều hơn để chiếm  lĩnh kiến thức. Đây mới chỉ là bước khởi đầu, trong tương lai nhu cầu của học sinh còn đòi hỏi  cao hơn. Trong quá trình thực hiện đề tài có gì sơ xuất, mong được đón nhận sự thông  cảm và góp ý, giúp đỡ và trao đổi để tôi hoàn thiện thiệt tốt hơn trong công tác giảng  dạy môn Vật lý 6.  III.2. Kiến nghị Phân phối chương trình cần thêm một số tiết bài tập tạo để tạo điều kiện cho  giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập . Việc kiểm tra, đánh giá phải theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của  học sinh. Khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào bài tập  trong thực tế. Việc làm bài tập Vật lý của học sinh không chỉ có riêng thầy và trò thực hiện  được mà cần phải có sự kết hợp chặt giữa học trên lớp và ở nhà. Vì vậy cần phải có  sự quan tâm của phụ huynh học sinh: Tạo điều kiện cho con em có thời gian làm bài  Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   17
  18. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 tập ở nhà. Phụ huynh phải đôn đốc và kiểm tra việc làm bài tập ở nhà của con em  mình. Giáo viên chủ nhiệm trong 15 phút sinh hoạt đầu giờ cần yêu cầu ban cán sự  lớp kiểm tra việc làm bài tập ở nhà của học sinh. Giáo viên bộ môn chọn cán sự bộ môn Vật lý để những học sinh này có thể giải  hoặc hướng dẫn các học sinh khác làm bài tập vào những lúc sinh hoạt hay những giờ  ra chơi, học nhóm … Nhà trường cần khuyến khích, ủng hộ mỗi sáng kiến cải tiến dù nhỏ của giáo  viên và giúp đỡ, tạo điều kiện cho giáo viên vận dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá  mới phù hợp với môn học: Một số phần mềm soạn đề kiểm tra, cách kiểm tra, đánh  giá…     Người thực hiện      Lê Văn Điệp Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   18
  19. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN     (Ký tên, đóng dấu) NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   19
  20. Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Vật lý 6 ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN     (Ký tên, đóng dấu) TÀI LIỆU THAM KHẢO STT TÊN TÀI LIỆU TÁC GIẢ 1 Sách giáo khoa Vật lý 6 Nhà xuất bản giáo dục 2 Sách giáo viên Vật lý 6 Nhà xuất bản giáo dục 3 Sách bài tập Vật lý 6 Nhà xuất bản giáo dục 4 Luật Giáo dục Nhà xuất bản giáo dục VN 5 Một số tư liệu sưu tầm trên Internet Người viết: Lê Văn Điệp ­Bộ môn Vật lý 6 ­Trường THCS Lê Quý Đôn ­Krông Ana     Trang   20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản