intTypePromotion=1

Tiểu luận: Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

Chia sẻ: Phan Dương Hùng Vĩ | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:76

0
341
lượt xem
89
download

Tiểu luận: Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam đang diễn ra một cách nhanh chóng. Hội nhập và toàn cầu hóa đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nó cũng đem đến nhiều đe dọa và thách thức, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau ngày càng khốc liệt. Các doanh nghiệp Việt Nam được biết đến trên trường quốc tế như là một niềm tự hào...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING ---------- BÀI TIỂU LUẬN Đề tài: “Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. GVHD: Th.S Quách Thị Bửu Châu Thành viên nghiên cứu: Lương Thị Huyền Trâm TM01 1. Trần Thị Lê Nga TM01 2. Ngô Thị Như Hoa TM02 3. Nguyễn Thị Thêm TM02 4. Phan Dương Hùng Vĩ TM04 5. Nguyễn Thị Thanh An TM03 6. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012 1
  2. Mục lục I.TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GIÀY DÉP CỦA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN....................................3 II.TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU GIÀY DÉP CỦA NHẬT BẢN TỪ CÁC NƯỚC...................................35 III. PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CUẢ GIÀY DÉP VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC TẠI THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN (THEO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER).......43 IV.KẾT LUẬN VỀ NHỮNG ĐIỀM MẠNH VÀ ĐIỀM YẾU TRONG VIỆC XUẤT KHẨU GIÀY DÉP CỦA VIỆT NAM SO VỚI TRUNG QUỐC THÔNG QUA MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER ...............................................................................................................73 LỜI MỞ ĐẦU Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam đang diễn ra một cách nhanh chóng. Hội nhập và toàn cầu hóa đã và đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nó cũng đem đến nhiều đe dọa và thách thức, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau ngày càng khốc liệt. Các doanh nghiệp Việt Nam được biết đến trên trường quốc tế như là một niềm tự hào của nền kinh tế Việt Nam tuy nhiên đó chỉ là một con số ít ỏi trong số những ngành nghề kinh doanh cũng như những doanh nghiệp tạo được vị thế trên thị trường. Ngành da giày Việt Nam cũng không nằm ngoài sự cạnh tranh đó, bên cạnh đó đây cũng đ ược coi là một ngành có kim ngạch xuất khẩu cao trong mấy năm gần đây và đ ược quan tâm đ ầu tư, mở rộng sản xuất. Việt Nam hiện nay đang là một trong mười nước xuất khẩu hàng đầu thế giới trong ngành da giày. Trong đó giầy dép được xem là một trong những s ản phẩm xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam. Sản phẩm giầy dép của Việt Nam có chất lượng cao, rất có uy tín trên thị trường quốc tế. Vì vậy, nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này mong muốn đem lại cho các bạn cái nhìn tổng quan nhất về ngành da giày Việt Nam nói chung cũng như sản phẩm giày dép 2
  3. nói riêng. Thông qua việc phân tích mô hình kim cương của M.Porter chúng ta sẽ nhận thấy những cơ hội và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong quá trình hội nhập và phát triển về sản phẩm mũi nhọn này. I. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GIÀY DÉP CỦA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN 1. Khái quát về ngành da giày Việt Nam 1.1. Sự hình thành và phát triển ngành da giày Việt Nam 1.1.1. Sự hình thành. Nghề làm giầy ở Việt Nam được khai sinh cách đây 527 năm và có bề dầy lịch sử phong phú. Nghề được khai sáng bởi tiến sỹ Nguyễn Thời Trung và 3 vị sư tổ là: ông Phạm Đức Chính; ông Nguyễn Sỹ Bân; ông Phạm Thuần Khánh. Vào thời đại nhà Lê Trung Hưng, trong đợt sứ sang Trung Hoa của tiến sỹ Nguyễn Thời Trung , ba vị sư tổ được đi theo học nghề, tích lũy kiến thức về thuộc da, làm giầy truyền thống và các bí quyết khác của người dân Hàng Châu, tỉnh Hồ Nam. Từ khi về nước, các ông đã truyền bá và phát triển nghề làm giầy trong nước. Nghề làm giầy lan truyền khắp nơi và được mọi người dân theo học và phát triển đến ngày nay, các vị sư tổ được nhân dân yêu mến và phong làm “Ông tổ” nghề giầy của Việt Nam, khởi nguồn khai sinh ra ngành Da –Giầy Việt 3
  4. Nam. Đến đầu thế kỷ XX, công nghệ thuộc da và làm giầy phổ biến và phát triển rộng khắp, ngành Da – Giầy Việt Nam được hình thành từ các phường thợ, làng nghề thủ công, cao hơn phát triển thàng vùng chuyên sản xuất và những cụm công nghiệp chuyên ngành như Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Hải Phòng.Giai đoạn này khá dài và trong suốt thời gian này không có nhiều sự phát triển và cũng không ai ghi nhận lại được những thành tựu trên nên chỉ để lại rất ít thông tin 1.1.2. Quá trình phát triển: Ngành Da – Giầy Việt Nam là ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thời trang phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu quan trọng. Ngành đ ược hình thành và phát triển lâu đời qua các giai đoạn chính và với những đặc thù nh ư sau: • Giai đoạn từ khi hình thành đến 1950 Nổi bật thời kỳ này là việc hình thành làng nghề Da – Giầy Phú Yên tại xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ). Đây là làng nghề chuyên sản xuất giầy được hình thành hơn 100 năm. Ban đầu làng nghề chỉ sản xuất dép da, sau đó mở rộng sản xuất giầy da. Những năm từ 1986 – 1992, hoạt động của làng nghề tạm chìm lắng do những khó khăn từ nhiều phía, nhiều người bỏ làng đi làm ăn nơi khác. Đến năm 1993, nhiều người quay về và tập hợp lực lượng xây dựng lại làng nghề, trong thời gian cao điểm làng có gần 400 hộ sản xuất kinh doanh giầy và sử dụng trên 1.000 lao động tại chỗ và khoảng 2.000 lao động từ các đ ịa phương khác hoặc nhận gia công lại. Hiện nay, làng nghề vẫn duy trì và phát triển hoạt động với những sản phẩm trung và thấp cấp, chủ yếu tiêu thụ trong nước. Làng nghề Da – Giầy Phú Yên có thể được xem là một làng nghề điển hình của Việt Nam • Giai đoạn 1950 – 1990. Giai đoạn này thể hiện thông qua sự phát triển của ngành Da – giầy khu vực phía Nam, đặc biệt là tại quận 4 và khu vực Phú Thọ thuộc thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là tỉnh Gia Định). Nổi bật nhất là sự phát triển của khu vực thuộc 4
  5. da thủ công tại Phú Thọ, đây là nơi cung cấp da cho tất cả các Xưởng làm giầy dép ở miền Nam. Bên cạnh đó các cơ sở làm giầy dép tại quận 4, quận 11 là nơi cung cấp hầu hết giầy dép cho khu vực Sài Gòn, Gia Định và miền Nam. Phần lớn các cơ sở này sản xuất giầy dép bằng phương pháp thủ công và nửa thủ công với sự trợ giúp của một số thiết bị giản đơn như: máy may mũ các loại, máy may đ ế, máy may cóp đế v.v Sau ngày miền Nam giải phóng (năm 1975), tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh như: Đồng Nai, Hải Phòng đã phát triển sản xuất mặt hàng hài, dép thêu xuất khẩu cho Liên Xô (cũ), Ba Lan v.v, theo một số chuyên gia của Liên hiệp Xã ngành Thảm thêu giầy dép thuộc Liên hiệp Xã Tiểu thủ công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, thì chỉ riêng tại Thành phố có lúc số lao động đạt trên 20.000 người tham gia sản xuất mặt hàng này.Một số cơ sở sản xuất có tiếng lúc bấy giờ là: Hợp tác xã giầy da số 1, Hợp tác xã 19/5, Hợp tác xã Thống Nhất v.v.Vào cuối thập kỷ 1980, các đơn hàng xuất khẩu vào khối XHCN ít dần, trong khi đó nhu cầu thị trường nội địa chưa cao, nên các cơ sở sản xuất xuất khẩu này đã thu hẹp dần và đóng cửa. Đặc điểm chính của giai đoạn này là: Chủ yếu là sản xuất bằng phương pháp thủ công và bán thủ công.Thị trường chính là Liên xô cũ và các nước XHCN Đông Âu.Thị trường xuất khẩu chủ yếu do các Công ty Thương mại cấp 1 cung ứng như Tocontap, Axtexport, Intimex thông qua việc thực hiện các Hiệp định của Chính phủ. Nhiệm vụ chính là giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.Với sự đổi mới về chính sách kinh tế, việc tiếp cận ra bên ngoài giúp các doanh nghiệp sản xuất giầy dép nhập da thành phẩm từ Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, Achentina, Canada với chất lượng tốt và giá cạnh tranh trở nên dễ dàng hơn, đồng thời với sự phát triển nhanh chóng của khu dân cư sau những năm 1990, nhiều Xưởng thuộc da ở khu vực này phải đóng cửa do không đủ sức cạnh tranh và do vấn nạn ô nhiễm. Một số xưởng còn tồn tại là những cơ sở có đầu tư công nghệ và đổi mới máy móc thiết bị, nhưng đều phải di chuyển ra ngoại ô. Hiện 5
  6. nay, chỉ còn lại vài cơ sở thuộc da khởi đầu từ khu vực này như : Đ ặng Tư Ký, Kim Thành, Hưng Thái v.v. • Giai đoạn 1990 – 2010. Giai đoạn này bắt đầu từ khi Hiệp Hội Da – Giầy Việt Nam đ ược thành lập, Hiệp Hội đã cùng cộng đồng doanh nghiệp định vị và phát triển ngành dựa trên cơ sở các mục tiêu được phê duyệt trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da – Giầy Việt Nam đến năm 2000. Giai đoạn này (từ năm 1992), ngành Da – Giầy Việt Nam tiếp nhận sự dịch chuyển sản xuất từ các nước công nghiệp mới trong khu vực như: Đài Loan, Hàn Quốc v.v . Các dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển với sự hợp tác của các đối tác trung gian nước ngoài. Khu vực chính tập trung phát triển ngành Da – Giầy bao gồm: Hà Nội , Hải Phòng, Thành Phố Hồ Chí Minh. Bình Dương, Đồng Nai v.v Việc sản xuất giầy dép được trợ giúp bởi các thiết bị công nghiệp từ thiết bị cắt, may, gò đến các dây chuyền sản xuất chuyên dụng v.v. Bên cạnh đó là việc thành lập hàng loạt các nhà máy sản xuất công cụ hỗ trợ như: nhà máy sản xuất khuôn, phom giầy, dao chặt v.v, các nhà máy sản xuất đế cao su, EVA, TPR v.v. Đặc biệt là từ khi có Bộ Luật đầu tư nước ngoài ra đời đã tạo khung pháp lý cho hàng loạt các doanh nghiệp lớn từ Đài Loan, Hàn Quốc đầu tư sang Việt Nam, tên tuổi của các nhà máy lớn sử dụng hàng nghìn lao động như: Teakwang VINA, Hwa Sung, Pou Yuen, Chang Shin, Ching Lu, Kwang Nam v.v bắt đầu được biết đến. Bên cạnh đó, cũng chính giai đoạn này những doanh nghiệp có tên tuổi của ngành Da – Giầy Việt nam như: Biti’s, ThaiBinh Shoes, Bitas, An Lạc, Hiệp Hưng, Thượng Đình, Thụy Khuê, Da Giầy Hải Phòng, Giầy Sài Gòn, Giầy Phú Lâm, Asia Shoes, VINA Giầy v.v được nhiều khách hàng trong và ngoài nước biết đến. Từ đầu những năm 2000 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước giúp cho các doanh nghiệp da giày trong nước cơ hội phát triển, cộng với đầu tư của nhiều doanh nghiệp sản 6
  7. xuất da giày từ Hàn Quốc, Đài Loan... góp phần thay đổi nhanh chóng bộ mặt của ngành da giày Việt Nam. Sản lượng sản xuất giầy dép các loại tăng nhanh qua các năm. Năm 2007,ngành giày da Việt Nam đứng thứ tư trong số 8 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hồng Kông và Italia . Năm 2010, ngành xuất khẩu da giầy Việt Nam đã vượt lên đứng thứ 2 sau Trung Quốc • Giai đoạn 2011 – 2012. Giai đoạn 2011 – 2012 đánh giá sự phát triển mạnh mẽ của ngành giày gia Việt Nam.  Tổng quát về tình hình tiêu thụ giày da Việt Nam năm 2011.  Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đạt 6.523 triệu USD, tăng 27,3% so với năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của ngành túi xách – ba lô đ ạt 1.279 triệu la Mỹ, tăng 33,4% so với năm 2010. Tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 7.802 triệu Đô la Mỹ. Ba vùng thị trường chính hiện nay của ngành da giày là EU, Mỹ với Nhật với kim ngạch xuất khẩu Triệu USD Thị trường 2007 2008 2009 2010 2011 EU 2.176,83 2.484,72 2.007,27 2.403,75 3.110,80 America 885,12 1.075,13 1.038,82 1.407,31 1.846,80 Japan 114,75 137,35 122,47 171,96 209,60 Các nước khác 817,54 1.060,35 1.060,35 1.138,62 1.381,80 Tổng số 3.994,24 4.767,22 4.066,76 5.122,25 6.549,00 Giày dép xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ dang đứng hàng thứ 2 sau Trung Quốc và dẫn đầu tại một số thị trường như Mexico, Brazil… 7
  8. Lĩnh vực ba lô - túi sách, vùng thị trường chính là: Mỹ, EU, Nhật và Đông Á. Dự kiến năm 2011 kim ngạch xuất khẩu vào các cùng thị trường này như sau: Mỹ: 461 triệu USD; EU: 422 triệu USD; Nhật: 140 triệu USD; Đông Á: 66 triệu USD, các thị trường còn lại: 190 triệu USD.  Nội Địa. Tổng dung lượng thị trường nội địa ước chừng 130 – 140 triệu đôi/năm, có tổng trị giá tương đương 1,5 tỷ USD. Dự kiến sản lượng giày dép do DN trong nước sản xuất và tiêu thụ nội địa đạt ở mức gần 70 triệu đôi, chiếm tỷ trọng gần 50%. Các loại cặp, túi xách, ba lô tiêu thụ nội địa ước khoảng 25 triệu chiếc trong năm 2011, trong đó có khoảng 15 triệu chiếc được sản xuất từ các doanh nghiệp Việt nam, chiếm tỷ trọng trên 60%. Trong sản phẩm tiêu thụ nội địa, lượng da thuộc trong nước đ ược đánh giá là chiếm đến 70%.  Tổng quan về tình hình tiêu thụ da giày trong 3 tháng đầu năm 2012. Xuất khẩu giày dép sang các thị trường sụt giảm liên tục về kim ngạch trong 2 tháng đầu năm 2012, nhưng sang tháng 3 đã có sự tăng trưởng nhẹ với mức tăng 0,08%, đạt 477,93 triệu USD; tính chung cả quí I/2012 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 1,49 tỷ USD, tăng 13,61% so với cùng kỳ năm 2011. Kim ngạch xuất khẩu giày dép chiếm 6,01% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Theo Bộ Công Thương, doanh nghiệp (DN) da giày đang rất lo lắng vì hiện tại mới ký hợp đồng xuất khẩu đến hết quý I. Chỉ có số ít DN ký được hợp đồng đến hết quý II nhưng đơn hàng lại giảm 20%-30% so với cùng kỳ 8
  9. năm trước. Cùng với sự cắt giảm chi tiêu, chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật đang có sự thay đổi trong cách thức mua hàng và yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, các tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội cua DN. Để bù đắp sự sụt giảm này, các DN da ̉ giày đang nỗ lực chuyển sang tìm kiếm đơn hàng từ thị trường Nam Mỹ, nghiên cứu hợp tác đầu tư sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu da giày với các nước có tiềm năng như Ấn Độ, Brazil. Thị trường xuất khẩu chủ yếu nhóm hàng giày dép của Việt Nam là Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Bỉ, Đức, Trung Quốc, Hà Lan. Tính trong cả quí I/2012, Hoa Kỳ vẫn là thị trường chủ đạo, tiêu thụ lớn nhất nhóm hàng giày dép của Việt Nam, với kim ngạch đạt 439,58 triệu USD, chiếm 29,48% trong tổng kim ngạch xuất khẩu ngành hàng, tăng 15,8% so cùng kỳ. Thị trường lớn thứ 2 là Anh chiếm 6,87%, đạt 102,4 triệu USD, giảm 3,27% so cùng kỳ; đứng thứ 3 là kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản chiếm 6,04%, đạt 90,14 triệu USD, tăng 14,73%; tiếp theo là Bỉ chiếm 5,91%, đạt 88,14 triệu USD, tăng 25,67%; Đức chiếm 5,67%, đạt 84,12 triệu USD, tăng 2,44%. Tính chung trong cả 3 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang đa số các thị trường vẫn tăng so với 3 tháng đầu năm ngoái; trong đó các thị trường góp phần vào việc đẩy nhanh tốc độ tăng kim ngạch gồm có: Ba Lan (tăng 262,88%, đạt 4,94 triệu USD); Séc (tăng 176%, đạt 8,41triệu USD); Indonesia (tăng 129,55%, đạt 5,16triệu USD); Thái Lan (tăng 73,78%, đạt 3,74triệu USD); U.A.E (tăng 73,44%, đạt 7,53triệu USD); Trung Quốc (tăng 61,77%, đạt 82,69triệu USD); Singapore (tăng 60%, đạt 6,33triệu USD). Tuy nhiên, xuất khẩu sang Phần Lan sụt giảm mạnh nhất tới 50,74% so với cùng kỳ, chỉ đạt 0,61triệu USD và xuất sang Na Uy cũng giảm 32,7%, đạt 2,01 triệu USD, ngoài ra, còn một số thị trường cũng sụt giảm nhưng mức giảm nhẹ từ 2% – 14% so với cùng kỳ; trong đó xuất sang Cu Ba giảm ít nhất 2,11% về kim ngạch so cùng kỳ. 9
  10. Những thị trường tiêu thụ giày dép của Việt Nam qúi I/2012 ĐVT: USD %Tăng/giảm %Tăng/giảm Thị trường T3/2012 so với 3T/2012 so với T3/2012 3T/2012 T2/2012 cùng kỳ Tổng cộng 477.932.832 1.491.338.458 +0,08 +13,61 Hoa Kỳ 158.412.643 439.578.760 +14,02 +15,80 Anh 33.103.636 102.395.959 +1,29 -3,27 Nhật Bản 28.757.982 90.140.368 -4,93 +14,73 Bỉ 25.909.973 88.136.724 -18,64 +25,67 Đức 20.058.190 84.516.383 +10,10 +2,44 Trung Quốc 22.462.215 82.686.326 -30,69 +61,77 Hà Lan 18.323.600 61.993.322 -6,04 -12,76 Brazil 19.254.300 52.775.653 +136,69 +51,96 Tây Ban Nha 17.772.630 52.341.790 +5,46 -2,71 Hàn Quốc 16.042.134 46.732.473 -14,59 +41,74 Pháp 14.302.241 46.674.054 -6,93 +13,06 Italia 11.926.732 45.023.678 -6,35 -6,75 Mêhicô 14.531.135 44.287.569 -9,59 +2,26 Panama 5.400.290 22.299.688 -27,48 -8,88 Canada 7.832.292 22.079.947 +23,04 +5,90 Hồng Kông 6.583.482 17.381.313 +2,22 +17,83 Ôxtrâylia 4.875.143 16.889.595 -33,18 +35,55 Đài Loan 7.057.281 14.484.076 +58,82 +22,57 Nga 2.225.557 14.071.054 -50,78 +17,90 Nam Phi 3.007.677 12.611.431 -37,58 +25,18 Áo 3.543.349 9.536.095 +29,96 -9,29 Chi Lê 1.457.911 8.544.950 -34,29 * Séc 3.825.214 8.405.771 +169,77 +176,05 Thuỵ Điển 2.219.596 8.293.112 -5,05 +32,24 Achentina 2.432.752 8.047.872 +11,26 * Tiểu Vương 3.016.750 7.526.182 +10,68 +73,44 quốc Ả Rập thống nhất Slovakia 1.681.111 6.895.052 -13,02 * Đan Mạch 1.890.201 6.335.944 -14,82 +3,68 Singapore 2.010.528 6.326.498 -37,15 +60,08 Malaysia 1.342.681 6.156.846 -59,23 -5,24 10
  11. Indonesia 1.416.912 5.157.716 -42,19 +129,55 Thuỵ Sĩ 1.651.101 5.085.327 +33,72 +32,18 Ba Lan 221.589 4.941.039 -87,32 +262,88 Ấn Độ 867.401 4.418.849 -44,67 +54,44 Philippines 900.492 4.418.444 -63,47 +26,53 Thái Lan 1.435.151 3.739.346 +7,47 +73,78 Thổ Nhĩ Kỳ 699.965 3.082.101 -22,91 +9,59 NewZealand 1.138.881 2.983.400 -5,32 * Israel 1.137.299 2.479.063 +66,65 * Hy Lạp 1.523.503 2.376.129 +777,06 -14,21 Na Uy 863.525 2.010.663 +63,53 -32,74 Ucraina 127.974 1.443.333 -70,81 +1,78 Phần Lan 273.024 671.521 +25,98 -50,74 Cuba 345.057 539.835 * -2,11 Bồ Đào Nha 101.737 387.543 +61,48 -12,22 Nguồn: vinanet 1.1.3. Đặc điểm và vai trò của ngành da giày • Đăc điểm Nguồn nhân công dồi dào có thể sử dụng được với chi phí thấp: Việt Nam - hiện có lực lượng lao động đông đúc, trẻ, khỏe khoảng 30 triệu người có tay nghề đáp ứng được yêu cầu khi bắt đầu sử dụng công nghệ và máy móc thiết bị mới. Toàn ngành giầy dép hiện nay có khoảng 350.000 lao động, trong đó 80% lao động là nữ. Theo dự đoán số lượng lao động toàn ngành đến năm 2005 là 550.000 người, năm 2010 là 650.000 người, nhưng hầu hết các công nhân không được đào tạo chính quy chỉ được đào tạo chủ yếu là kèm cặp trên dây chuyền sản xuất. Cấp bậc kỹ thuật của công nhân bình quân là 2.5 trên 6 và phần lớn số công nhân ở độ tuổi 20-35. Trong đó số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học chiếm 70%, số còn lại mới tốt nghiệp lớp 9. Chi phí nhân công ở Việt Nam và đặc biệt trong ngành giầy da rất thấp. Điều này góp phần làm giảm chi phí sản xuất song cũng dẫn đến tình trạng mức l ương toàn ngành thấp, phải thu hút lao động từ các vùng nông thôn, do đó số lao 11
  12. động này cần cù chịu khó nhưng kỹ năng tay nghề, trình độ tinh xảo, tác phong công nghiệp còn kém. Điều này rất khó khăn trong việc thực hiện những đơn hàng có giá trị và đòi hỏi chất lượng cao. Bảng 1: Chi phí lao động so sánh giữa các nhà sản xuất giầy dép ASEAN Đơn vị USD Việt Nam Indonesia Hàn Quốc Trung Quốc Hồng Kông Đài Loan 0.3 0.31 0.38 0.48 5.16 5.98 Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt Nam LEFASO Trình độ công nghệ chưa cao: Trình độ công nghệ của ngành Da giầy Việt - Nam thuộc loại trung bình so với thế giới nhưng trong giữa các nhà máy của Việt Nam lại có sự khác biệt lớn. Đó là sự khác biệt giữa các doanh nghiệp có loại hình sở hữu khác nhau. Trong khu vực các doanh nghiệp nhà nước, hầu hết các máy móc thiết bị nhập khẩu từ Liên Xô và Đông Âu từ thập kỷ 80, đến nay đã cũ kỹ và lạc hậu. Hiện nay, các doanh nghiệp này cũng đang dần dần đổi mới, thay thế máy móc thiết bị, nhập khẩu những dây chuy ền công nghệ tiên tiến nhưng quá trình này diễn ra còn manh mún và r ất chậm chạp do thiếu vốn. Một nguyên nhân khác là do chúng ta chủ y ếu sản xuất theo phương thức gia công nên quy mô đầu tư sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào các đối tác nước ngoài. Trong khi đó các doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài lại có qui mô lớn, được trang bị công nghệ máy móc nhà xưởng đồng bộ. Số máy móc thiết bị này được các đối tác nước ngoài vận chuyển đến Việt Nam, trong số đó có hai đối tác lớn nhất là Hàn Quốc và Đài Loan. Toàn ngành đã có trên 500 dây chuyền sản xuất đồng bộ sản xuất các loại dày dép hoàn chỉnh với công suất mỗi năm hơn 420 triệu đôi các loại. Tuy nhiên số thiết bị máy móc nói trên phần lớn thuộc thế hệ trung bình của thế giới chứ chưa phải thuộc thế hệ hiện đại nên năng suất còn thấp. 12
  13. Phương thức hoạt động ở các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép hiện nay chủ - yếu là sản xuất gia công xuất khẩu: Chính vì thế trong những năm qua kim nghạch xuất khẩu thì lớn còn kim ngạch thực thì lại rất ít. Tuy nhiên việc thực hiện phương thức gia công này cũng có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực nhất định. Ngoài những tác động tích cực như nhanh chóng tạo được nhiều công ăn việc làm cho ngưòi lao động, tiếp thu được những kỹ năng kiến thức về quản lý sản xuất và công nghệ, tiết kiệm được vốn đầu tư và tránh được rủi ro về thị trường đầu ra, nó còn có các tác dộng tiêu cực như: phụ thuộc nặng nề vào đối tác nước ngoài, không có cơ hội nắm bắt thị trường, bị động trong việc tiếp nhận đơn hàng và triển khai kế hoạch sản xuất, lợi nhuận thấp và ít vốn tích luỹ để tái đầu tư phát triển. Ngoài ra còn có một tác động do tâm lý chủ quan như do dựa vào nguồn nguyên liệu nước ngoài không chú trọng đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu trong nước. Nguồn nguyên liệu đầu vào hạn chế: Khoảng từ 60% đến 80% đầu vào cho - sản xuất giầy dép ở Việt Nam là nhập khẩu, cụ thể tuỳ theo từng chủng loại sản phẩm. Có khi một sản phẩm giầy được sản xuất tại Việt Nam nhưng phần lớn nguyên phụ liệu của sản phẩm đó lại được nhập khẩu từ nơi khác. Thái Lan và Hàn Quốc là hai quốc gia cung cấp nguyên liệu da và Trung Quốc là nhà cung cấp các phụ liệu khác. Về tổ chức quản lý sản xuất : Ngành Da giầy Việt Nam cùng với sự chuyển - đổi cơ chế và chính sách của Nhà nước hiện nay được tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu: doanh nghiệp nhà nước (76 doanh nghiệp), doanh nghiệp ngoài quốc doanh (80 doanh nghiệp), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (77 doanh nghiệp) (Nguồn LEFASO-2001). Do vậy về hình thức tổ chức quản lý sản xuất có nhiều điểm khác nhau.Sau năm 90, do có sự khuyến khích từ phía Chính phủ Việt Nam, nhiều đối tác nước ngoài đã đến Việt Nam. Hiện nay có khoảng 80% các doanh nghiệp sản xuất giầy ở Việt Nam có quan hệ hợp đồng sản xuất với các hãng nước ngoài. Trong tổ chức của một Công ty liên doanh điển hình ở Việt Nam, phía nước ngoài chịu trách 13
  14. nhiệm về mặt kỹ thuật các hoạt động của Công ty bao gồm: vận chuyển máy móc và vật liệu từ nước họ đến Việt Nam, cung cấp hầu như toàn bộ các nguyên vật liệu sử dụng trong dây chuyền sản xuất và tìm kiếm hợp đồng. Trong khi đó phía Việt Nam thường cung cấp nguồn nhân lực, duy trì bảo dưỡng các thiết bị máy móc trong nhà máy và chịu trách nhiệm về công tác quản trị hành chính của công ty. Tuy nhiên, đến năm 2000 sự phát triển rầm rộ của ngành giầy dép cũng đã từ từ giảm dần. Xét ở mức độ quốc gia có một vài yếu tố ảnh hưởng làm giảm tốc độ gia tăng của ngành giầy dép như do giá trị gia tăng của một số sản phẩm giầy dép cụ thể thấp, sự lệ thuộc quá lớn vào các nhà đầu tư nước ngoài và sự hạn chế của dây chuyền sản xuất. Do vậy, các chủ nhà máy và các phía đối tácViệt Nam đã ý thức được nhu cầu phải thoát ra khỏi sự lệ thuộc đó và cải thiện được các điểm yếu kém để đạt được một sự vững mạnh của ngành công nghiệp giầy dép của Việt Nam trong tương lai. • Vai trò Giải quyết công ăn việc làm: Với số dân hơn 86 triệu người, mỗi năm Việt - Nam có hàng triệu người bước vào độ tuổi lao động trong đó tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo còn khá lớn. Ngành da giầy với ưu điểm là sử dụng nhiều lao động và có thể dùng lao động phổ thông, hàng năm đã tạo ra rất nhiều công ăn việc làm với những lao đông chưa qua đào tạo. Với việc mở rộng sản xuất, số công nhân da - giầy đã tăng rất nhanh trong vòng 5 năm trở lại đây. Năm 1995 số người lao động trong ngành giầy dép là 148.000 người nhưng đến năm 1999, con số này đã lên đến 250.00 người với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 27% trong giai đoạn này. Năm nay trong toàn ngành hiện có 500.000 lao động. Bình quân mỗi năm ngành da giầy đã tạo ra khoảng 50.000 suất công ăn việc làm. Điều này có ý nghĩa xã hội rất to lớn với một nước ở giai đoạn đầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và 14
  15. đông dân như nước ta. Việc giải quyết công ăn việc làm cho một số l ượng lao động lớn, tay nghề chưa cao sẽ giải quyết được nhiều vần đề xã hội khác. Mặt khác thông qua việc lao động trên dây chuyền đặc biệt là lao động trong các công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, ý thức lao động công nghiệp trình độ tay nghề của người lao độngnước ta cũng được nâng lên r ất cao. Điều này cũng là một thứ mà người lao động của chúng ta đang rất cần. Phục vụ nhu cầu trong nước: Hiện nay nhu cầu trong nước về mặt hàng giầy - dép tăng nhanh cùng với mức tăng thu nhập của dân cư trong nước. Với năng lực sản xuất hiện có, ngành công nghiệp giầy - dép đã đáp ứnSg đ ược một phần nhu cầu giầy dép trong nước, tuy nhiên Việt Nam vẫn còn nhập khẩu giầy dép với số lượng lớn, vào khoảng 4 triệu đôi/năm chủ yếu là giầy dép Trung Quốc. Trong những năm trở lại đây, các nhà máy da giầy trong nước đã nỗ lực bên cạnh việc tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu đã chú tr ọng đến thị trường trong nước, cải tiến mẫu mã chất lượng để phù hợp, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng nội địa. Có thể nêu ra vài ví dụ như công ty giầy Hà Nội, công ty giầy Thượng Đình, công ty giầy Bình Tiên . v.v để chứng minh cho điều này. Phát huy được lợi thế so sánh của đất nước: Công nghiệp da giầy đóng một - vai trò rất to lớn trong hoạt động công nghiệp chung của nước ta. Nó đã tận dụng và phát triển được lợi thế so sánh trong việc sản xuất các loại sản phẩm này nhờ có nguồn nhân lực rẻ mang tính cạnh tranh cao. Trong nền công nghiệp da giầy của Việt Nam, giầy vẫn được sản xuất nhiều hơn là túi xách tay và các sản phẩm khác. Góp phần làm tăng thu ngoại tệ: Đất nước ta trong giai đoạn đầu Công - nghiệp hoá - Hiện đại hoá rất cần nhiều ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị góp phần xây dựng đất nước. Cùng với sự phát triển của ngành da giầy, sự tăng trưởng trong việc xuất khẩu của ngành giầy dép trong thời gian qua cũng đem lại một số lượng ngoại tệ lớn. 15
  16. 2. Tình hình xuất khẩu giày dép của Việt Nam vào các quốc gia 2.1. Tổng quan tình hình xuất khẩu của Việt Nam Tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua có nhiều khởi sắc, đặc biệt từ khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ, cùng với các chính sách thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu của Chính phủ. Bằng việc tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới, cải tiến các hoạt động xúc tiến thương mại, đặc biệt là các hoạt động thuộc chương trình xúc tiến thương mại quốc gia nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu để phát triển thêm các mặt hàng xuất khẩu mới có tiềm năng. Quy mô và tốc độ tăng trưởng và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển dịch theo hướng tích cực. cụ thể được thể hiện qua bảng sau: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM ĐVT: Triệu USD 2010/2009 2011/2010 Tuyệt Tương Tuyệt Tương TT Chỉ tiêu 2009 2010 2011 đối đối đối đối Tổng kim ngạch 57,096 72,237 96,257 15,141 26.52 24,020 33.25 Nhóm nông sản, I 12,261 15,286 19,713 3,025 24.67 4,428 28.97 thủy sản Thuỷ sản 1 4,251 5,018 6,107 767 18.04 1,089 21.71 Rau quả 2 439 460 628 21 4.85 168 36.42 Nhân điều 3 847 1,135 1,476 288 33.97 341 30.05 4 Cà phê 1,731 1,851 2,741 120 6.95 890 48.07 Chè các loại 5 180 200 201 20 11.10 1 0.69 Hạt tiêu 6 348 421 746 73 21.09 324 76.92 Gạo 7 2,664 3,248 3,643 584 21.92 395 12.17 Sắn & sp từ sắn 8 574 564 948 (10) (1.69) 384 68.07 9 Cao su 1,227 2,388 3,223 1,161 94.64 835 34.96 16
  17. Nhóm nhiên liệu, II 8,651 8,071 11,160 (580) (6.71) 3,090 38.28 kh/sản 1 Than đá 1,317 1,611 1,659 294 22.35 48 2.97 2 Dầu thô 6,195 4,958 7,236 (1,237) (19.96) 2,278 45.94 3 Xăng dầu 1,005 1,346 2,068 341 33.97 721 53.57 Quặng và các khoáng 4 135 156 199 21 15.39 43 27.55 sản khác Nhóm công nghiệp III 29,619 43,353 57,249 13,734 46.37 13,896 32.05 chế biến Bánh kẹo & SP từ ngũ 1 276 326 377 50 18.16 50 15.46 cốc 2 Hóa chất 90 223 245 133 148.44 22 9.95 3 Sản phẩm hóa chất 274 416 585 143 52.04 168 40.40 4 Chất dẻo 160 219 230 59 36.75 11 5.16 5 Sản phẩm chất dẻo 808 1,049 1,347 241 29.88 298 28.41 6 Sản phẩm từ cao su 175 291 387 116 65.98 96 33.06 Túi xách, va li, mũ, ô 7 731 959 1,279 228 31.20 320 33.38 dù 8 Mây, tre, cói, thảm 179 203 199 24 13.66 (5) (2.23) 9 Sản phẩm gỗ 2,598 3,436 3,910 838 32.26 475 13.81 10 Giấy và sp từ giấy 276 374 415 99 35.88 40 10.75 11 Hàng dệt may 9,066 11,210 14,029 2,144 23.65 2,819 25.14 12 Giày dép 4,067 5,122 6,523 1,056 25.96 1,401 27.35 13 SP gốm, sứ 267 317 350 50 18.74 33 10.48 Thủy tinh và các sản 14 275 368 373 93 33.80 5 1.35 phẩm 15 Đá quý, sp từ đá quý 2,732 2,824 2,676 92 3.39 (148) (5.23) 16 Sắt thép 383 1,050 1,640 667 174.23 590 56.23 17 Sp từ sắt thép 604 828 1,146 224 37.11 318 38.43 Hàng đ/tử & LK 18 2,763 3,590 4,198 827 29.93 608 16.92 m/tính Máy móc, thiết bị, PT 19 2,059 3,066 4,124 1,007 48.92 1,058 34.49 khác 20 Dây điện và cáp điện 885 1,311 1,518 426 48.15 207 15.77 Phương tiện vận tải 21 954 1,578 2,387 624 65.39 809 51.31 và phụ tùng IV Hàng hoá khác 6,565 5,527 8,134 (1,038) (15.81) 2,607 47.16 17
  18. Nhận xét: Nhìn vào bảng trên ta thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu đã được mở rộng và tăng trưởng ở mức độ khá cao. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô. Phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới như sản phẩm cơ khí, thực phẩm chế biến, hoá phẩm tiêu dùng... các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như sản phẩm phần mềm, hàng điện tử và tin học. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2010 đạt khoảng 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009. Trong đó nhóm hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt 15,1 tỷ USD, chiếm 21% trong tổng KNXK, tăng 22,9% so với cùng kỳ. Nhóm khoáng sản ước đạt 7,9 tỷ USD, chiếm 11,1% trong tổng KNXK. Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 38,5 tỷ USD, chiếm 53,8% trong tổng KNXK, tăng 30% so với năm 2009. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 72,2 tỷ USD tăng 26,52% so với năm 2009, về giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 15,1 tỷ USD. Trong đó: Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản ước đạt 15,1 tỷ USD, chiếm 21% trong tổng KNXK, tăng 22,9% so với cùng kỳ. Nhóm khoáng sản ước đ ạt 7,9 tỷ USD, chiếm 11,1% trong tổng KNXK, giảm 4,1% so với cùng kỳ. Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 38,5 tỷ USD, chiếm 53,8% trong tổng KNXK, tăng 30% so với năm 2009. Năm 2011, tuy kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng hoạt động xuất khẩu vẫn đạt kết quả cao, vượt trội cả về quy mô xuất khẩu và tốc độ tăng so với năm trước. Tỷ lệ xuất khẩu/GDP vượt qua mức 80% (năm 2010 là 70%). Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt mức 200 tỉ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá (KNXK) năm 2011 ước đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010. So với năm 2010 có thêm 2 mặt hàng là túi xách, 18
  19. va li, mũ, ô dù và sản phẩm từ sắt thép có kim ngạch trên 1 tỷ USD, đ ưa các mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD lên con số 23 mặt hàng. Nhiều mặt hàng tăng mạnh về số lượng xuất khẩu, giúp duy tăng tr ưởng xuất khẩu và thể hiện được quy mô mở rộng sản xuất. Lượng hàng công nghiệp tăng lên đã góp phần bù đắp cho lượng hàng khoán sản, dầu thô giảm mạnh. Giá xuất của nhiều mặt hàng cũng tăng mạnh, trong đó nhiều mặt hàng được hưởng lợi từ tăng giá thế giới như gạo, cà phê, cao su, dầu thô, than….một số hàng hóa tăng giá khá do hàm lượng chế biến tăng lên như dệt may, thủy sản, gỗ, dây và cáp điện,… Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng dần qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 2009-2011 vào khoảng 30%/năm. 2.2. Tình hình và các thị trường xuất khẩu giày dép của Việt Nam Bảng số liệu về tình hình xuất khẩu giày dép của Việt Nam 2010, 2011,2012 2010 2011 1/2012-8/2012 Tổng kim Tổng kim Giày Giày Thị trường Giày dép ngạch ngạch dép dép EU 2.403,75 2720.05 3.110,80 3532.8 1740 America 1.407,31 1752.91 1.846,80 2307.8 1450 Japan 171,96 276.86 209,60 349.6 233 Các nước khác 1.138,62 1330.62 1.381,80 1637.8 1337 Tổng kim ngạch 5.112,25 6071.05 6549 7828 4760 Nguồn: Viện nghiên cứu gia giầy Năm 2011 là năm đầy khó khăn, thử thách của các doanh nghiệp ngành da giày, sự tiết giảm nhu cầu tiêu dùng của các thị trường xuất khẩu, nguồn vốn vay khó khăn, chi phí đầu vào ngày một cao… đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành. Tuy nhiên, với rất nhiều nỗ lực ngành da giày đã vượt khó một cách xuất sắc. Kim ngạch xuất kh ẩu c ủa ngành da giày đạt 6,549 tỷ USD, tăng 27,3% so với cùng kỳ, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2011 đạt 7,828 tỷ USD, chỉ đứng thứ 3 sau dệt may, dầu khí. 19
  20. EU, Mỹ, Nhật Bản vẫn là những thị trường chính của ngành với 80% tỷ trọng xuất khẩu Đặc biệt, năm 2011 là năm đáng nhớ trong công tác đối ngoại của ngành da giày, với những thắng lợi trong vụ kiện chống bán phá giá giày nhập khẩu vào Canada, EU quyết định chấm dứt việc áp thuế Anti dumping đối với một số mặt hàng giày và mũ da xuất khẩu của Việt Nam, Việt Nam được công nhận là nước xuất khẩu giày lớn thứ 2 sau Trung Quốc và là nước sản xuất giày lớn thứ 4 trên toàn thế giới tại Hội nghị WFC diễn ra tại Brazil… ngành da giày Việt Nam đã không chỉ bảo vệ được quyền lợi của các doanh nghiệp trong ngành mà còn tô đậm hơn tên mình trong bản đồ ngành da giày thế giới. Tính đến hết tháng 8-2012, xuất khẩu nhóm hàng giày dép đạt 4,76 tỷ USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, thị trường EU đ ạt 1,74 t ỷ USD, tăng 3% và chiếm 36,5% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,45 tỷ USD, tăng 17,9%; sang Nhật Bản đạt 223 triệu USD, tăng 31%; sang Trung Quốc đạt 208 triệu USD, tăng 39,1%;... so với cùng kỳ năm 2011. Những thị trường tiêu thụ giày dép của Việt Nam qúi I/2012 (ĐV: USD) %Tăng/giảm 3T/2012 so với Thị trường 3T/2012 cùng kỳ Tổng cộng 1.491.338.458 +13,61 Hoa Kỳ 439.578.760 +15,80 Anh 102.395.959 -3,27 Nhật Bản 90.140.368 +14,73 Bỉ 88.136.724 +25,67 Đức 84.516.383 +2,44 Trung Quốc 82.686.326 +61,77 Hà Lan 61.993.322 -12,76 Brazil 52.775.653 +51,96 Tây Ban Nha 52.341.790 -2,71 Hàn Quốc 46.732.473 +41,74 Pháp 46.674.054 +13,06 Italia 45.023.678 -6,75 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2