Tiểu luận: Tác động của tổ chức lãnh thổ du lịch đến tỉnh Quảng Nam

Chia sẻ: Mvnc Bgfhf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
32
lượt xem
4
download

Tiểu luận: Tác động của tổ chức lãnh thổ du lịch đến tỉnh Quảng Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quảng Nam cũng là nơi sở hữu 2 di sản văn hóa thế giới là đô thị cổ Hội An và Khu đền Tháp Mỹ Sơn; ngoài ra còn có Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. Tất cả đã tạo nên những lợi thế quan trọng tạo cơ hội cho ngành công nghiệp không khói ở Quảng Nam phát triển.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Tác động của tổ chức lãnh thổ du lịch đến tỉnh Quảng Nam

  1. Tiểu luận Tác động của tổ chức lãnh thổ du lịch đến tỉnh Quảng Nam 1
  2. I- Giới thiệu đôi nét về ngành du lịch tỉnh Quảng Nam Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam, là vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền Văn hóa Chămpa. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là "mở rộng về phương Nam". Quảng Nam nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống văn hóa, độc đáo về bản sắc văn hóa. Quảng Nam có 14 huyện, thị xã và 211 xã, phường với gần 1,365 triệu dân, trong đó 85% dân cư nông thôn và 78% lao động nông nghiệp. Đến nay, toàn tỉnh đã có 18 huyện, thành phố với 244 xã, phường, trong đó có đến 9 huyện miền núi đặc biệt khó khăn như Tây Giang, Đông Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My… Thêm vào đó, thiên tai liên tục xảy ra ảnh hưởng nặng nghề đến sản xuất cũng như đời sống của người dân. Nằm ở vị trí trung điểm khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam, Quảng Nam có vị trí giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường thủy… Đây cũng là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như: Kinh, Cơtu, Xêđăng, Cor, Dẻ Triêng… với các bản sắc văn hóa riêng khá độc đáo cả về phong tục, tập quán, kiến trúc, trang phục, lễ hội, ẩm thực…Đặc biệt, Quảng Nam cũng là nơi sở hữu 2 di sản văn hóa thế giới là đô thị cổ Hội An và Khu đền Tháp Mỹ Sơn; ngoài ra còn có Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. Tất cả đã tạo nên những lợi thế quan trọng tạo cơ hội cho ngành công nghiệp không khói ở Quảng Nam phát triển. Sự phát triển du lịch cũng đã kéo theo sự ra đời của nhiều loại hình dịch vụ như mua sắm, hàng lưu niệm, may mặc, ăn uống, chăm sóc sức khỏe…, đáp ứng nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng ngày càng cao của du khách, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Các điểm tham quan mới được đầu tư, khai thác và ngày càng thu hút du khách như: Bãi biển Cửa Đại, Hà My, Bình Minh, Tam Thanh, Biển Rạng ; Khu du lịch hồ Phú Ninh, Thuận Tình, Suối Mơ, Khe Tân, Khe Lim, Suối Tiên, thủy điện Duy Sơn 2..., nhiều công trình hạ tầng quan trọng đã được đầu tư, nâng cấp và ngày càng hoàn thiện, không chỉ phục vụ cho phát triển du lịch mà còn đáp ứng các mục tiêu về dân sinh, kinh tế khác. Trong đó, có các tuyến giao thông quan trọng như: Đường Nam Phước - Mỹ Sơn, đường du lịch ven biển Điện 2
  3. Ngọc - Cẩm An, đường Thanh Niên ven biển,… với tổng vốn đầu tư hơn hàng nghìn tỷ đồng… Một số khu du lịch như: Suối Mơ, Khe Tân, hồ Phú Ninh, Thác Grăng,... cũng đã được đầu tư bước đầu, góp phần mở rộng không gian du lịch, huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư vào sự nghiệp phát triển du lịch…. Cùng với việc tham gia các hội chợ du lịch tại Đức, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore…, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch cũng đã được tổ chức với nhiều hình thức phong phú như: Tổ chức các roadshow trong và ngoài nước; phối hợp với các Đài phát thanh, Truyền hình Trung ương và địa phương thực hiện nhiều video clip quảng bá các sự kiện văn hóa du lịch tỉnh của tỉnh ; phủ sóng wifi miễn phí tại Hội An; tổ chức in ấn phẩm, quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng... đưa hình ảnh du lịch Quảng Nam đến với du khách trong và ngoài nước, để lại ấn tượng đẹp và khá hấp dẫn… Đặc biệt, bằng việc tổ chức thành công các sự kiện văn hóa du lịch như Tuần Văn hóa du lịch Quảng Nam tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng..., thương hiệu, hình ảnh du lịch Quảng Nam, du lịch Hội An được nhìn nhận là một điểm đến an toàn, thân thiện. II- Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Quảng Nam 3
  4. Theo điều chỉnh định hướng quy hoạch du lịch Quảng Nam đến năm 2015 và tầm nhìn năm 2020 Tổ chức không gian phát triển du lịch được lồng ghép trong không gian kinh tế – xã hội của vùng nghiên cứu và mối quan hệ về du lịch với các lãnh thổ lân cận cũng như phụ thuộc vào sự phân bổ của các nguồn tài nguyên du lịch nổi trội, của hệ thống kết cấu hạ tầng và phù hợp các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch trong nước và quốc tế . - Đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch nổi trội và lợi thế về vị trí địa lý: Quảng Nam là nơi hội tụ hai di sản thế giới và nhiều tài nguyên du lịch có giá trị khác Cần tận dụng hiệu quả những thế mạnh tài nguyên du lịch đặc thù cũng như mối liên hệ toàn vùng đề xây dựng các sản phẩm du lịch có chất lượng và thương hiệu du lịch Quảng Nam nổi tiếng cả trong và ngoài nước. - Phù hợp với định hướng phát triển KTXH của tỉnh Quảng Nam: Tổ chức không gian du lịch để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ với các ngành đồng thời giảm bớt những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình triển khai đối với các ngành kinh tế khác. 4
  5. - Tạo được liên kết hợp lý và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cum, điểm du lịch: Không gian phát triển du lịch mang tính hệ thống, có sự liên kết hợp lý giữa các điểm du lịch và tránh sự trùng lặp, cạnh tranh triệt tiêu lẫn nhau 1. Khu vực ưu tiên phát triển du lịch các di sản Văn hoá - Lịch sử: + Phạm vi tổ chức không gian:ở phía Đông-Bắc tỉnh Quảng Nam bao gồm thị xã Hội An và các huyện: Điện Bàn, Duy Xuyên. Trung tâm cụm du lịch là Đô thị du lịch Hội An. Các khu, điểm du lịch chính : - Đô thị du lịch Hội An. - Khu di sản thế giới Mỹ Sơn và phụ cận: - Khu du lịch sinh thái Cù Lao Chàm: - Ven biển Điện Ngọc - Cẩm An và ven sông Cổ Cò: 2. Khu vực phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng : + Phạm vi cho không gian gồm:phía Đông Nam Quảng Nam gồm các huyện: Thăng Bình., Đông Duy Xuyên. Phát triển du lịch ven biển sông Trường Giang và các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, vui chơi giải trí, thể thao, nghỉ cuối tuần, thể thao trên bờ và trên mặt nước...Khai thác loại hình du lịch sông nước dọc theo sông Trường Giang, mở ra các tuyến du lịch đường thuỷ kết hợp du lịch sinh thái tham quan các làng quê, làng nghề hai bên bờ sông. Du lịch tuyến sông Trường Giang sẽ là mắt xích nối vùng du lịch phía Bắc với vùng du lịch phía Nam của tỉnh. Các dự án ưu tiên đầu tư: - Các cơ sở vui chơi giải trí. - Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là tuyến giao thông ven biển nối khu vực của Đại đến các khu kinh tế mở Chu Lai - Các khu lưu trú dạng nhà nghỉ nhỏ, nhà nghỉ tại gia đình - Các ngành nông nghiệp, công nghiệp , thủ công nghiệp - Các trang trại kết hợp du lịch sinh thái 3. Khu vực phát triển du lịch thương mại , giải trí cao - Bao gồm Thành phố Tam Kỳ, huyện Núi Thành, huyện Phó Ninh. Trung tâm khu vực : Thành phố Tam Kỳ - Các điểm du lịch: - Khu kinh tế mở Chu Lai.Diện tích phát triển du lịch trong là 1.700 Ha trong các sân golf và khu Casino - Di tích chiến thắng Núi Thành - Địa đạo Kỳ Anh - Phật viện Đông Dương - Tháp Khương Mỹ - Tháp Chiên Đàn 5
  6. - Điểm dừng quốc lộ 1A và biểu tượng điểm giữa Việt Nam - Du lịch sinh thái hồ Phú Ninh - Tham quan mỏ vàng Bồng Miêu. - Các trung vui chơi, giải trí, mua sắm tại thành phố Tam Kỳ. - Trung tâm mua sắm khu vực phi thuế quan tại khu kinh tế mở Chu Lai 4. Khu vực phát triển du lịch sinh thái, văn hóa – lịch sử Phạm vi gồm Huyện Phước Sơn, Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My .Trung tâm cụm Du lịch là Thị trấn Khâm Đức Đường Hồ Chi Minh được xây dựng, đưa vào sử dụng sẽ đánh thức tiềm năng du lịch vùng rừng núi phía tây của tỉnh. Với các địa danh và thắng cảnh nổi tiếng như: khu bảo tồn sông Thanh, A Sờ, các di tích lịch sử, các làng văn hoá của các dân tộc thiểu số, di tích lịch sử Thượng Đức, làng Rô, thác Grăng... hướng phát triển các loại hình dịch vụ du lịch ở đây là: tham quan di tích lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng núi, tham quan các hang động tự nhiên, rừng nguyên sinh. Đặc biệt thu hút du khách tham quan làng văn hoá các dân tộc thiểu số... Gắn du lịch đường Hồ Chí Minh với tuyến du lịch đường bộ qua cửa khẩu Đắc ốc khai thác thị trường khách từ Thái Lan đến Lào và vàoViệtNam. Dự án ưu tiên đầu tư: cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú, dịch vụ phục vụ du khách, xây dựng các thiết chế văn hoá, làng văn hoá. Các điểm DLST rừng nguyên sinh, thác nước , suối nước nóng . Tham quan các bản dân tộc Cơ Tu, Xê Đăng, Cor, GỉeTriêng... III- Tác động của tổ chức lãnh thổ du lịch đến tỉnh Quảng Nam 1. Tác động tích cực a) Phát triển kinh tế Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn giai đoạn 1997-2010 tăng 10,57%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh, công nghiệp và dịch vụ ngày càng phát triển. Giá trị các ngành thương mại – dịch vụ tăng bình quân hơn 14%. Du lịch có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất là sau khi Khu Di tích Mỹ Sơn và Khu phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Năm 2011, ngành du lịch đã đón trên 2,5 triệu lượt khách, gấp hơn 11 lần so với 1997. Giá trị sản xuất các ngành nông, lâm ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 3,56%. Tổng kim ngạch 6
  7. xuất khẩu tăng bình quân hàng năm trên 27%, riêng năm 2011 xuất khẩu đạt 336 triệu USDD, gấp hơn 22 lần so với 1997. Từ một tỉnh lệ thuộc hoàn toàn vào trợ cấp ngân sách Trung ương, thu nội địa chỉ đạt 157 tỷ đồng năm 1997, đến nay, tổng thu nội địa trên địa bàn đạt 4.200 tỷ đồng, tăng gần 27 lần, tỷ lệ thu nội địa đóng góp trong GDP chiếm 5,3% năm 1997 lên trên 12,2% năm 2011. Kết quả kinh doanh khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành Đơn vị Thực Dự tính Cộng dồn Tháng 8 tháng tính hiện tháng 8 tháng 8/2012 năm tháng 8/2012 đầu năm so với 2012 so 7/2012 2012 cùng kỳ với cùng năm kỳ năm 2011(%) 2011(%) I. Hoạt động khách sạn 1. Doanh thu Triệu 129.180 130.800 929.792 138,65 131,68 đồng 2. Lượt khách Lượt 77.547 78.375 604.926 114,63 109,46 phục vụ khách 3. Ngày khách Ngày 157.179 160.700 1.145.424 110,65 105,86 phục vụ khách II. Hoạt động nhà hàng Doanh thu Triệu 350.732 356.700 2.598.964 141,37 143,56 đồng III. Hoạt động du lịch lữ hành 7
  8. 1. Doanh thu Triệu 8.520 9.100 55.710 156,36 130,78 đồng 2. Lượt khách Lượt 93.700 96.200 897.462 110,66 116,65 du lịch theo khách tour 3. Ngày khách Ngày 166.420 187.200 1.519.232 103,88 98,55 du lịch theo khách tour Tổng lượt khach tham quan và lưu trú trên địa bàn tỉnh tháng 8 năm 2012 ước đạt 263.875 lượt tăng 2,1 % so với tháng trước và tăng 22,8% so với cùng kỳ ( cùng kỳ +12%), trong đó : khách lưu trú đạt 78,375 lượt (+1,1%; +14,6%), khách thăm quan 185.500 lượt (+2,5%;+26,7%).Doanh thu hoạt động khách sạn nhà hàng tháng 8 ước đạt gần 488 tỷ đồng tăng 1,6 % so với tháng 7 và tăng 41 % so với cùng kỳ ( cùng kỳ +19%), trong đó khách sạn đạt 131 tỷ đồng (+1,3%;+38,7%); du lịch lữ hành ( bao gồm cả 2 văn phòng hướng dẫn du lịch: Hội An , Mỹ Sơn) đạt trên 9 tỷ đồng (+6,8%;+56,4%). Dự tính 8 tháng đầu năm 2012 tổng lượt khách tham quan và lưu trú trên địa bàn tỉnh ước đạt 2.286.916 lượt, tăng 32,6%( cùng kỳ :+5,8%), đạt 83% KH, trong đó : khách tham quan đạt 1.681.990 lượt tăng 43,5%(+4%), khách lưu trú đạt 604.926 lượt tang 9,5%(+9,9%). Doanh thu hoạt động khách sạn , nhà hàng trong 8 tháng ước đạt 3.529 tỷ đồng tăng 40,7% ( cùng kỳ:+28,2%), trong đó khách sạn đạt 930 tỷ đồng tăng 31,7%(+19%); du lịch lữ hành đtạt gần 56 tỷ đồng tăng 30,8% (+1,5%). Theo một báo cáo mới đây, Quảng Nam hiện có khoảng 110 dự án đầu tư du lịch hoạt động và tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát triển du lịch cộng đồng, mở rộng xúc tiến, quảng bá hình ảnh địa phương. Tính đến giữa năm 2012, ngành du lịch đã thu hút gần 3,5 triệu lượt khách quốc tế và nội địa (51% và 49%), công suất sử dụng buồng phòng 55%, 110 khách sạn hoạt động với gần 4.500 phòng, doanh thu du lịch tăng bình quân 25 - 30%/năm. Với những lợi thế trên, 15 năm qua, du lịch Quảng Nam không ngừng phát triển. Nếu như năm 1997 khi mới tái lập tỉnh, Quảng Nam đón hơn 200 ngàn lượt khách, 8
  9. thì đến năm 2000, số khách đến Quảng Nam tăng lên 400 ngàn lượt Đến năm 2011, Quảng Nam đón được 2 triệu 530 ngàn lượt khách trong đó khách quốc tế chiếm 1,2 triệu lượt, thu nhập xã hội từ du lịch đạt hơn 2.000 tỷ đồng, tăng 53 lần so với năm 1997. Cùng với đó, cơ sở lưu trú, hạ tầng du lịch cũng không ngừng được cải thiện theo chiều hướng tăng dần từ 8 phòng nghỉ của Công ty Du lịch dịch vụ Hội An vào giữa những năm 90 đến nay. Nhiều khách sạn, khu nghỉ mát tại Hội An đã được đầu tư mở rộng và phát triển nhanh chóng với 108 đơn vị dịch vụ, hơn 4 nghìn phòng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế. Nhiều dự án đi vào hoạt động tốt như : Khu nghỉ mát The Nam Hải, Palm Garden, Golden Sand, Victoria, Life Resort, Hội An Beach, Vĩnh Hưng… Hiện, Quảng Nam có hơn 200 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký hàng chục nghìn tỷ đồng và gần 5 tỷ USD, trong đó 110 dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động, 20 dự án đang trong quá trình xây dựng. Nhiều dự án khác đã có thông báo thoả thuận địa điểm và đang làm các thủ tục xây dựng... chủ yếu là ở khu vực Hội An, tuyến du lịch ven biển Điện Ngọc - Cẩm An và KTM Chu Lai. Ngày 7/5/2012, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) vừa phối hợp cùng Sở VHTTDL Quảng Nam tổ chức hội thảo giảm nghèo và việc làm bền vững thông qua phát triển du lịch. Hội thảo đưa ra một kế hoạch hành động nhằm phát triển ngành du lịch Việt Nam bền vững mà điểm nhấn là thúc đẩy du lịch giảm nghèo. Được biết, dự án “Tăng cường du lịch sâu trong đất liền ở Quảng Nam” của ILO trị giá 1,35 triệu USD do chính phủ Luxembourg viện trợ nhằm mục đích phát triển hướng tiếp cận bền vững giúp giảm nghèo cho du lịch Việt Nam đã khởi động vào tháng 5/2010 và kết thúc vào tháng 12/2013. ILO phát triển 2 chuỗi giá trị quan trọng đối với ngành du lịch lữ hành Quảng Nam đó là điểm đến sâu trong đất liền và các sản phẩm địa phương nhằm tạo thu nhập cho cộng đồng ở nông thôn. b) Chất lượng cuộc sống - Tạo cơ hội việc làm Ngoài đóng góp về mặt thu nhập cho nền kinh tế địa phương, du lịch đã mang lại nhiều cơ hội nghề nghiệp cho người dân và đặc biệt là cho lớp thanh niên trẻ của Quảng Nam. Ở Quảng Nam, số lượng các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, quán bar và các cửa hàng bán đồ lưu niệm, thủ công mỹ nghệ, may quần áo, giầy dép và túi 9
  10. xách….xuất hiện ngày càng nhiều và nhờ thế, đòi hỏi có một lượng nhân công lớn làm việc cho họ. Sẽ rẻ và an toàn hơn nếu những đơn vị kinh doanh này thuê người dân địa phương làm cho mình. Và ở Quảng Nam, họ được khuyến khích để làm điều này. Ngoài ra, có hàng ngàn người đang làm việc trong các loại hình kinh doanh dịch vụ khác liên quan đến du lịch như là các văn phòng du lịch, dịch vụ cung cấp thông tin du lịch, vận chuyển, bưu chính, hướng dẫn khách tại các địa điểm tham quan… Những con số đó phần nào có thể cho chúng ta thấy vai trò của du lịch trong việc mang lại nhiều việc làm cho người dân địa phương ở Quảng Nam. Nhiều người vốn là nông dân, ngư dân và những người làm nghề thủ công tạm thời dời làng để đến làm việc, trở thành nhân viên trong các nhà hàng, khách sạn, doanh nghiệp may mặc, nhiều người trong số họ trở thành những người bán hàng rong. Tác dụng tạo công ăn việc làm của du lịch ở Quảng Nam còn rõ ràng hơn trong trường hợp của những làng nghề truyền thống. Quảng Nam có nhiều làng nghề, trong đó có làng mộc Kim Bồng, làng rau Trà Quế, làng gốm Thanh Hà, làng yến Thanh Châu,… Trước ngày du lịch phát triển, những làng này chủ yếu là để phục vụ nhu cầu đời sống của bà con nhân dân địa phương. Tuy nhiên, khi du lịch phát triển mạnh ở tỉnh, những làng này dẫn trở thành những điểm tham quan và ngày càng thu hút lượng lớn khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài. Nhờ đó, những làng nghề truyền thống vốn đã từng có nguy cơ biến mất nay lại hồi phục và phát triển. Những làng nghề này sống trở lại đồng nghĩa với việc có nhiều việc làm hơn cho người dân địa phương. Những thanh niên vốn từng rời làng đi làm ăn xa giờ dần quay trở lại. Giờ họ có thể kiếm tiền ngay tại ngôi làng của họ thay vì phải đi kiếm ăn ở các nơi xa. Năm 2006, ông Huỳnh Ri, một trong những nghệ nhân còn lại của làng mộc Kim Bồng đã vui vẻ thông báo là ông đã đào tạo được 12 người thợ trẻ có tay nghề và rằng, xưởng của ông đang làm ăn rất tốt và đảm bảo thu nhập cho thợ. Một nghệ nhân khác của nghề mộc, ông Đinh Văn Lời cũng cho biết rằng, việc phát triển nhanh của du lịch đã thúc đẩy công việc làm ăn của ông tốt hơn và hiện ông có khoảng 100 thợ, phần lớn trong số họ là thương binh, những người tàn tật và những thanh niên trẻ tuổi. Trong năm 2006, các làng nghề truyền thống khác như là làm đèn lồng, đồ thêu, khắc trên tre đã mang lại công việc cho khoảng 1.150 người dân địa phương. Dù rằng thu nhập từ những nghề thủ công này không cao so với các hoạt động du lịch khác nhưng chúng vẫn giúp cho nhiều người dân Quảng Nam có việc làm. Tổng số lao động trực tiếp 7.604 người, có 43 đơn vị kinh doanh lữ hành và vận chuyển (7 lữ hành quốc tế, 16 lữ hành nội địa và 20 doanh nghiệp vận chuyển). Sự quan tâm của chính quyền, đầu tư đang được đẩy mạnh và tính liên kết đã bắt đầu mở rộng, đưa đến ý thức làm du lịch của người dân được nâng lên. 10
  11. Hiện tại Quảng Nam có 6 cơ sở tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch. Toàn tỉnh hiện có 4.021 lao động hoạt động tại các doanh nghiệp du lịch. Có 2.411 lao động (chiếm 60,7%) được đào tạo chuyên ngành, trong đó chỉ có 1,43% trình độ đào tạo sau đại học; 19,41% có trình độ đại học. Trình độ sơ cấp và trung cấp chiếm đến 68, 84%. Có 39,3% trong tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp du lịch được đào tạo nghiệp vụ, chủ yếu tập trung trong lĩnh vực khách sạn (99%) và chỉ có 1% còn lại được đào tạo trong hoạt động lữ hành. - Nâng cao chất lượng đời sống Chất lượng đời sống người dân Quảng Nam ngày càng cao hơn nhờ vào nguồn thu cao, hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện, và nhiều cơ hội việc làm từ việc phát triển du lịch địa phương. Thu nhập bình quân đầu người tỉnh tăng trên 10 lần, từ 2,1 triệu đồng năm 1997 lên gần 22,5 triệu đồng năm 2011. Ví dụ như Hội An: thu nhập trung bình hàng năm của người dân tăng đáng kể từ 7.92 triệu đồng (528 USD) năm 2003, 11.22 triệu đồng năm 2005 và khoảng 14.71 triệu đồng (>900USD) năm 2007 (Lê Phương, 2007; Lê Văn Giảng, 2007; Thanh Hải, 2003). So với các thành phố khác cùng cấp ở Việt Nam, Hội An rõ ràng có thu nhập bình quân cao hơn nhiều nhờ vào chính sách chiến lược biến du lịch thành ngành công nghiệp chính của thị xã kể từ năm 1995. Tại khu vực trung tâm của phố cổ, đặc biệt là dọc các con phố chính như Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng, Lê Lợi, Trần Phú,…nhiều hộ dân đã cải tạo ngôi nhà cổ của mình thành các cửa tiệm, quầy hàng, nhà hàng, quán bar hoặc phòng triển lãm nghệ thuật… Nhờ thế mà thu nhập bình quân hàng năm của các hộ gia đình này có tăng lên đáng kể c) Văn hóa xã hội - Chục năm qua, kể từ khi Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn trở thành Di sản thế giới, người dân Quảng Nam đã chứng kiến nhiều sự đổi thay to lớn trong cuộc sống của họ. Nhiều người có cơ hội việc làm và kinh doanh hơn, thu nhập cao hơn, mức sống cao hơn… Người dân Quảng Nam ngày càng nhận thức rõ hơn về mức độ quan trọng của di sản và việc bảo vệ chúng. Họ đều hiểu rõ rằng du lịch, một công cụ hữu hiệu, đã và đang mang lại nhiều thay đổi cho đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá cho người dân hoàn toàn dựa trên các di sản văn hoá của địa phương. Nếu không có các di sản đó, du lịch không thể có cơ hội để phát triển ở Quảng Nam. Mọi cố gắng từ chính phủ, chính quyền địa phương, từ các nhà quản lý di sản hay 11
  12. các chuyên gia di sản luôn luôn là không đủ để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các di sản văn hoá vốn đã đang gắn kết chặt chẽ với đời sống hiện tại của người dân địa phương. Sự xuất hiện của du lịch đã mang lại nhiều cơ hội cho nhiều người để nâng cao thu nhập. Một khi đời sống kinh tế của họ được đảm bảo, người ta dường như quan tâm nhiều hơn đến nguồn đảm bảo sinh sống của họ hơn. - Nhờ du lịch các di sản văn hóa được bảo tồn đến ngày nay . Ví dụ như: 82,8% các nhà cổ ở Hội An thuộc sở hữu tu nhân, nếu không có các ngôi nhà cổ này, Hội An không còn là Hội An. Hầu hết các thực hành văn hoá, phong tục tập quán ở Hội An đã đang được thực hành bởi người dân địa phương, nếu thiếu những thực hành đó, Hội An cũng không còn là Hội An. Vì thế, nếu thiếu đi sự tham gia và tự nguyện của những người chủ sở hữu, người thực hiện các thực hành văn hoá, những di sản đó không thể tồn tại lâu dài. . 2. Tác động tiêu cực Lợi ích không phải là toàn bộ câu chuyện về việc phát triển du lịch ở Quảng Nam . Du lịch vốn vẫn được biết đến như là một con dao hai lưỡi, có thể mang lại nhiều điều tốt nhưng cũng có thể gây ra nhiều tác hại, đặc biệt ở những nước đang phát triển như là Việt Nam nơi du lịch chỉ mới đang ở giai đoạn non trẻ. Quảng Nam cũng không là một ngoại lệ. Một vài tác động tiêu cực của phát triển du lịch đối với cộng đồng và di sản đã được quan sát thấy tại tỉnh Quảng nam như sau: a) Phát triển kinh tế Phát triển du lịch ở Hội An gần đây có chiều hướng tăng mạnh về số lượng các khu nghỉ cao cấp sở hữu bởi các công ty hay tập đoàn quốc tế chứ không phải người tại địa phương. Ngoại trừ nguồn thuế thu được từ các khu nghỉ này thì không có gì đảm bảo chắc chắn là những khu nghỉ này sẽ sử dụng hàng hoá, nguyên vật liệu và các dịch vụ của người địa phương. Điều này có thể sẽ mang lại sự thất thoát lớn về tài chính và không hoàn toàn mang lại lợi ích cho người dân địa phương mà phát triển du lịch vốn được trông mong nhiều là sẽ làm được điều này. b) Chất lượng cuộc sống Một số những tác động tiêu cực khác có thể quan sát thấy ở Quảng Nam và nhiều địa phương khác là rác thải, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, tiếng ồn… 12
  13. - Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của địa phương. - Nước thải: nước thải của khách sạn, nhà hàng ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản. - Rác thải: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch. Ðây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội. - Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông. - Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng phí. - Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại. - Ô nhiễm phong cảnh: khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất. - Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng...). Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền... c) Văn hóa xã hội 13
  14. Bên cạnh những tác động tiêu cực, phát triển du lịch ở Quảng Nam gần đây đã bộc lộ rõ những bất cập trong quá trình phát triển. - Phát triển du lịch đã tạo ra sự phân bổ thu nhập không đồng đều trong người dân Quảng Nam . Thực tế đã cho thấy có sự khác biệt về thu nhập giữa các nhóm người trong từng khu vực khác nhau của tỉnh. Trong khu vực phố cổ Hội An, những người sống ở các ngôi nhà dọc đường Trần Phú, Lê Lợi, Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng thường có thu nhập từ việc kinh doanh buôn bán nhiều hơn những người sống ở các phố khác. Người dân sống ở khu vực phố cổ nói chung thì có nhiều cơ hội nâng cao thu nhập hơn người dân sống ở các vùng phụ cận như là Cẩm Kim, Tân Hiệp, Cẩm Thanh. Thực tế, sự tăng trưởng đáng kể của ngành du lịch không thể làm lợi cho tất cả các thành phần của lực lượng lao động, những khu vực nông thôn vùng sâu của đất nước được hưởng lợi rất ít. Tỉnh Quảng Nam là một ví dụ điển hình cho sự phát triển không công bằng. Vì cho dù Quảng Nam có những lợi thế nói trên, tuy nhiên, du lịch lại bị giới hạn ở những tour trong ngày từ các bãi biển, khiến khu vực sâu trong đất liền vẫn hầu như không mấy phát triển. Bởi vậy, mặc dù sở hữu những tiềm năng quan trọng, tỉnh Quảng Nam vẫn có khoảng 24% số hộ nghèo và cận nghèo (theo chuẩn nghèo 400.000/tháng/người). - Bên cạnh những điểm yếu đó còn có một vài những bất cập khác đang xảy ra trong quá trình phát triển du lịch ở Quảng Nam, gồm có môi trường kinh doanh cạnh tranh cao và không lành mạnh, hoạt động của “cò”, làm phiền du khách của những người bán hàng rong, trẻ con bỏ học để đi bán dạo…. - Lượng khách du lịch ngày càng tăng mạnh gây áp lực lớn lên các di tích và công trình kiến trúc vốn rất cổ và dễ bị hư hại. Áp lực này là một trong các nguyên nhân chính gây ra sự xuống cấp thể chất nghiêm trọng của các di sản văn hóa. - Lợi ích về kinh tế từ các hoạt động du lịch là lý do chính khiến nhiều chủ nhà cổ ở khu vực phố cổ biến nhà của mình thành những nơi buôn bán. Nhiều người cho rằng phố cổ Hội An ( Quảng Nam) giờ giống như một khu mua sắm và họ cảm thấy tiếc cho một Hội An hoài cổ và yên tĩnh như trước kia. Sự phát triển du lịch thiếu sự quản lý và kiểm soát một cách chặt chẽ sẽ dẫn đến ô nhiễm văn hóa xã hội, nó được biểu hiện trên một số mặt sau:  Du lịch có tác động vừa khuyến khích vừa kìm hãm các loại hình nghệ thuật cổ truyền. Tầm thường hóa văn hóa dân tộc là kết quả tất yếu của hàng hóa hóa.Để thu hút du khách, một số hãng kinh doanh du lịch tự ý “cải tạo” và “sáng tạo mới” 14
  15. rất nhiều thứ vốn có trong sắc thái văn hóa dân tộc và địa phương và ra sức chế tạo thành hàng hóa để kiếm tiền. Mặt khác để thỏa mãn nhu cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trước mắt nên các hoạt động văn hoá truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc chuyên nghiệp hoặc mang ra làm trò cười cho du khách. Nhiều nhà cung ứng du lịch đã thuyết phục người dân địa phương thường xuyên trình diễn lại các phong tục, lễ hội lại cho khách xem. Như vậy những giá trị văn hoá của một cộng đồng, đáng lý phải được tôn trọng lại đem ra làm trò tiêu khiển mua vui cho du khách. Giá trị truyền thống bị lu mờ do sự lạm dụng vì mục đích kinh tế. Phong tục tập quán dân gian và hoạt động lễ hội truyền thống có thể tổ chức bất kì lúc nào và bất cứ ở đâu, kiến trúc phỏng cổ, nhà ở danh nhân giả, đền thần giả, đồ cổ giả, thư họa giả lan tràn thành tai họa, các bộ lạc nguyên thủy, lối sống nguyên thủy được “sáng tạo”, nghệ thuật biểu diễn dân gian, nghi thức tôn giáo trở thành trò diễn để kiếm tiền. Do chạy theo số lượng, không ít mặt hàng truyền thống được chế tác để làm hàng lưu niệm cho du khách được sản xuất một cách cẩu thả đã làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh của một nền văn hoá bản địa  Sự sa sút của quan niệm đạo đức và bắt chước sùng ngoại Đa số du khách quốc tế đến từ các nước kinh tế phát triển, họ giàu có và làm cho cư dân ở địa phương sinh ra cảm giác sùng bái a dua nước ngoài, thậm chí vứt bỏ quan niệm đạo đức và lối sống truyền thống để bắt chước du khách. Điều này chứng minh rằng khi một nền “văn hóa mạnh” tiếp xúc với một nền văn hóa “yếu”, nền văn hóa yếu thường chịu ảnh hưởng của nền văn hóa mạnh (Cultural Change). Một trong những xu hướng thường thấy đón khách từ các nước ngoài là người dân bản xứ, nhất là giới trẻ ngày càng chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sống theo mốt du khách. Có hai yếu tố được coi là nguyên nhân chính của hiện tượng này. Một là trong hoạt động kinh doanh, người dân bản xứ dùng chuẩn của du khách để làm vừa lòng họ nhằm thu hút được tối đa lợi nhuận cho mình. Điển hình nhất là trong ngôn ngữ. Do thường xuyên tiếp xúc với du khách nước ngoài nên nhiều người đã bị ảnh hưởng rất nhiều về văn hóa, đặc biệt là về văn hóa giao tiếp và ngôn ngữ.  Dưới con mắt người dân bản xứ, du khách là những kẻ giàu sang, lắm tiền,… Vì vậy chính du khách đã trở thành mục tiêu béo bở cho việc tống tiền, làm ăn của một số kẻ sống bằng nghề trộm cướp, đồng thời là đối tượng khá hấp dẫn 15
  16. của những người ăn xin. Có thể nêu điển hình là hiện tượng người dân địa phương chèo kéo, nài ép khách mua hàng, trẻ em bỏ học đi bán hàng theo yêu cầu của cha mẹ đang dần trở thành một vấn nạn - Du lịch làm tăng tệ nạn xã hội Ngày 21.10, Sở VHTTDL và Công an tỉnh Quảng Nam đã tổ chức sơ kết 5 năm (2004-2009) thực hiện quy chế phối hợp công tác đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong quản lý hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Báo cáo về tình hình hoạt động du lịch liên quan đến an ninh-trật tự trên địa bàn Quảng Nam thời gian qua cho biết khách du lịch đến địa bàn tỉnh phần nhiều chấp hành tốt luật pháp Việt Nam và các quy định khác của địa phương. Tuy nhiên cũng xuất hiện một số trường hợp người nước ngoài bằng nhiều thủ đoạn tinh vi thực hiện các hoạt động phạm tội như: Dùng sec giả rút tiền tại ngân hàng (1 vụ); sử dụng chất ma túy (1 vụ); lừa đảo chiếm đoạt (4 vụ); trộm cắp tiền (2 vụ) của công dân Việt Nam;... Đồng thời tội phạm Việt Nam lợi dụng sơ hở của người nước ngoài để thực hiện các hành vi phạm tội như cướp giật tài sản (54 vụ); trộm cắp (17 vụ). Ngoài ra có 2 vụ đình công tại các khách sạn. Hầu hết những vụ việc này đều được liên ngành phối hợp chặt chẽ nhanh chóng phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Ông Hồ Tấn Cường- Phó giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Nam- cho biết: Nhìn chung khách du lịch đến Quảng Nam trong thời gian qua hoạt động đúng nội dung, chương trình, mục đích nhập cảnh, được đảm bảo an toàn, tính mạng. Sở VHTTDL phối hợp cùng Công an tỉnh khảo sát các điểm du lịch, xây dựng kế hoạch bảo tồn biển Cù Lao Chàm; tổ chức tour famtrip khảo sát một số điểm du lịch,... để hỗ trợ xây dựng sản phẩm du lịch mới cho địa phương. Kiểm tra 30 cơ sở lưu trú, 7 văn phòng đại diện và đã lập biên bản cảnh cáo 3 trường hợp vi phạm; 9 trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hướng dẫn tham quan du lịch; kiểm tra xử lý hàng chục trường hợp hướng dẫn viên hoạt động không theo quy định của Nhà nước. Mở lớp bồi dưỡng chuyên đề cho các hướng dẫn viên; mở các đợt phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc,... Một số tồn tại trong thời gian qua cũng được hội nghị nêu ra để tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục. Chẳng hạn như công tác quản lý khách du lịch tự do, quản lý số hướng dẫn viên còn lỏng lẻo, sơ hở. Tính đến nay có 170 hướng dẫn viên du lịch, trong số đó 16
  17. chỉ có 3 HDV làm trong các công ty lữ hành tại địa phương, số còn lại làm việc ở đâu thì vẫn chưa quản lý được. Tại hội nghị, liên ngành VHTTDL và Công an tỉnh Quảng Nam cũng đã đưa ra 7 nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai để đảm bảo an ninh-trật tự trong quản lý và hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến. IV- Kết luận Trong những năm qua tỉnh Quảng Nam đã có sự quy hoạch lãnh thổ du lịch một cách đồng bộ và có hệ thống.Vì vậy đã đạt được những mục tiêu về phát triển du lịch như đề ra, không những thế còn tác động tích cực đến các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống…Tuy những mặt tiêu cực vẫn còn tồn tại nhưng không thể phủ nhận rằng tỉnh Quảng Nam đã có cách làm du lịch một cách đúng đắn và đáng để các tỉnh khác học hỏi và noi theo. V- Nguồn tài liệu http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340695&cn _id=540928 http://www.qso.gov.vn http://www.itdr.org.vn/details_daqh-x-8.vdl http://my.opera.com/kyhaport/blog/show.dml/905020 http://my.opera.com/kyhaport/blog/show.dml/905020 http://quangnam.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?IDBaiViet=6155 http://baoquangnam.com.vn/du-lich/20/38920-dich-den-cua-du-lich-quang- nam.html Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh quảng nam tháng 8 năm 2012 của tổng cục thống kê Quảng Nam 17

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản