intTypePromotion=1

Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Chia sẻ: Đỗ Thanh Nga | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:33

0
98
lượt xem
19
download

Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài tiểu luận quy hoạch xây dựng vùng thủ đô hà nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 gồm 4 phần: Phần 1 Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; xác định động lực phát triển vùng, phần 2 Xác định và định hướng phát triển không gian vùng, phần 3 Các chương trình dự án ưu tiên, phần 4 Dự báo tác động môi trường vùng và đề xuất biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài tiểu luận môn Cơ sở quy hoạch và quản lý lãnh thổ: Quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ­ ĐỊA CHẤT KHOA TRẮC ĐỊA BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC: CƠ SỞ QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ LÃNH  THỔ  ĐỀ TÀI: QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÙNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM  2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050                       GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY: TRẦN XUÂN MIỄN                       SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐỖ THANH NGA                       MSV: 1321031001. LỚP: ĐỊA CHÍNH A K58 ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­Hà Nội, 04/2017­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­
  2. Phần 1: Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự  nhiên, kinh tế ­ xã hội; xác định động lực phát  triển vùng. Phần 2: Xác định và định hướng phát triển  không gian vùng. Phần 3: Các chương trình dự án ưu tiên.
  3. Phần 4: Dự báo tác động môi trường vùng và  đề xuất biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng  xấu đến môi trường. Tháp Rùa – Thủ đô Hà Nội
  4. Khuê Văn Các – Văn Miếu Quốc Tử Giám – Thủ đô Hà Nội Phần 1: Đánh giá hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế ­ xã  hội; xác định động lực phát triển vùng I. Điều kiện tự nhiên: 1.  Vị trí địa lý : 
  5. Hình 1: Bản đồ hình chính Thành Phố Hà Nội Nằm chếch về  phía tây bắc của trung tâm vùng  đồng bằng châu thổ  sông  Hồng, Hà Nội có vị  trí từ  20°53' đến 21°23' vĩ độ  Bắc và 105°44' đến 106°02'  kinh độ  Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc  ở  phía Bắc, Hà  Nam, Hòa Bình phía Nam, B   ắc     Giang ,B   ắc     Ninh  và H    ư    ng        Yên  phía Đông, Hòa         Thọ  phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km.  Bình cùng Phú Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện  2 tích 3.324,92 km , nằm  ở cả  hai bên bờ  sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu  bên hữu ngạn.
  6. 2.  Địa hình:  Nhìn chung, địa hình Hà Nội khá đa dạng với núi thấp, đồi và đồng bằng.  Trong đó phần lớn diện tích của Thành phố  là vùng đồng bằng, thấp dần từ  Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy của sông Hồng. Điều này  cũng  ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh tế ­ xã hội  của Thành phố. Khu vực nội Thành và phụ cận là vùng trũng thấp trên nền đất yếu, mực nước   sông Hồng về mùa lũ cao hơn mặt bằng Thành phố trung bình 4 ­ 5m. Hà Nội   có nhiều hồ, đầm thuận lợi cho phát triển Thủy sản và du lịch, nhƣng do thấp  trũng nên khó khăn trong việc tiêu thoát nước nhanh, gây úng ngập cục bộ  thường xuyên vào mùa mưa. Vùng đồi núi thấp và trung bình  ở  phía Bắc Hà  Nội thuận  lợi  cho xây dựng, phát triển  công  nghiệp,  lâm  nghiệp  và  tổ  chức  nhiều loại hình du lịch. 3.  Khí hậu:  Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ  với đặc điểm của  khí hậu nhiệt  đới gió mùa, có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh và có thể phân   ra thành 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mưa  nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10. Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 đến  hết tháng 3. Từ cuối tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ  tháng 2 đến hết  tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt. Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11,   Hà Nội có những ngày thu với tiết trời mát mẻ  và sẽ  đón từ  hai đến ba đợt   không khí lạnh yếu tràn về. Nhiệt độ  trung bình mùa đông: 17,2 °C (lúc thấp xuống tới 2,7 °C). Trung bình   mùa hạ: 29,2 °C (lúc cao nhất lên tới 43,7 °C). Nhiệt độ  trung bình cả  năm:  23,2 °C, lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800mm 4.  Tài nguyên nước mặt:  Về trữ lượng, thành phố Hà Nội được chia làm 2 khu vực: Khu vực Hà Nội cũ: Nguồn nước cung cấp và phục vụ cho sinh hoạt và một 
  7. phần  cho các dịch vụ khác của người dân Thủ đô được khai thác chủ yếu từ  nguồn nước dưới đất thông qua các giếng khoan. Trữ  lượng  nước  mưa  1,34  tỷ  m3;  nước  mặt:  Sông  Hồng  có  lưu  lượng  trung  bình quan sát nhiều năm là 2.650 m3/s; các sông khác có tổng lưu lượng khoảng  70 m3/s. Nước dưới đất: lưu lượng tiềm năng 5.914.000 m3/ngày. Khu vực Hà Nội phần mở rộng: Theo các số  liệu sơ bộ  đã có về  khu vực (có tham khảo tài liệu tại Liên đoàn  quy hoạch điều tra tài nguyên nước Miền Bắc) cho thấy tài nguyên nước dưới   đất phân bố không đều. Đặc biệt có một số khu vực hiếm nước (Thạch Thất,   Chương Mỹ,...) hoặc nước bị nhiễm mặn (Thường Tín, Phú Xuyên...). Trên địa bàn khu vực Hà Nội mở  rộng có các sông lớn chảy qua là: sông Đà,   sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ, trong đó sông Đà hiện  tại và trong tương lai có khả năng lớn về cấp nước cho thành phố Hà Nội. 5.  Tài nguyên đất:  Hà Nội có tổng diện tích đất tự  nhiên 92.097 ha, trong đó, diện tích đất nông  nghiệp   chiếm   47,4%,   diện   tích   đất   lâm   nghiệp   chiếm   8,6%,   đất   ở   chiếm  19,26%. Xuất phát từ  yêu cầu sử  dụng đất của Thủ  đô Hà Nội, có 2 nhóm đất có ý   nghĩa lớn nhất đối với phát triển kinh tế ­ xã hội, đó là đất nông lâm nghiệp và  đất xây dựng. Phần lớn diện tích đất đai ở nội Thành Hà Nội được đánh giá là  không thuận lợi cho xây dựng do có hiện tượng tích nước ngầm, nước mặt, sụt  lún, nứt đất, sạt lở, trôi trượt dọc sông, cấu tạo nền đất yếu. 6.  Tài nguyên sinh vật:  Hà Nội có một số kiểu hệ sinh thái đặc trưng như hệ sinh thái vùng gò đồi ở  Sóc Sơn và hệ  sinh thái hồ, điển hình là hồ  Tây, hệ  sinh thái nông nghiệp, hệ  sinh thái đô thị... Trong đó, các kiểu hệ sinh thái rừng vùng gò đồi và hồ có tính   đa dạng sinh học cao hơn cả. Khu hệ  thực vật, động vật trong các hệ  sinh thái đặc trưng của Hà Nội khá  phong phú và đa dạng. Cho đến nay, đã thống kê và xác định có 655 loài thực 
  8. vật bậc cao, 569 loài nấm lớn (thực vật bậc thấp), 595 loài côn trùng, 61 loài   động vật đất, 33 loài bò sát­ếch nhái, 103 loài chim, 40 loài thú, 476 loài thực  vật nổi, 125 loài động vật KXS Thủy sinh, 118 loài cá, 48 loài cá cảnh nhập  nội. Trong số  các loài sinh vật, nhiều loài có giá trị  kinh tế, một số  loài quý   hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Hà Nội hiện có 48 công viên, vườn hoa, vườn dạo  ở  7 quận nội Thành với  tổng diện tích là 138 ha và 377 ha thảm cỏ. Ngoài vườn hoa, công viên, Hà Nội  còn có hàng vạn cây bóng mát thuộc 67 loại thực vật trồng trên các đường phố,   trong đó có 25 loài được trồng tương đối phổ biến như bằng lăng, sữa, phượng  vĩ, săng đào, lim xẹt, xà cừ, sấu, muồng đen, sao đen, long nhãn, me... II. Điều kiện kinh tế ­ xã hội: 1.  Dân    số  Hà Nội là Thành phố đông dân thứ hai cả nước (sau TP Hồ Chí Minh) với dân số  ước tính đến 31/12/2015 là 7.558.965 người chiếm hơn 8% dân số cả nước, toàn  Thành phố đã đạt mức sinh thay thế (số con bình quân/ một phụ nữ trong độ tuổi  sinh đẻ ­ TFR: 2,03 con). Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km². Mật độ dân số cao  nhất là  ở  quận  Đống  Đa  lên tới 35.341 người/km², trong khi  đó,  ở  những  huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000  người/km². Tuy nhiên, cơ  cấu dân số  chuyển đổi theo hướng tỷ  lệ  người cao tuổi tiếp tục  gia tăng, dân số Hà Nội đang có xu hướng già hóa. Cơ cấu về giới tính, đặc biệt  là tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ  là nam/100 trẻ nữ  ) đang ở  mức cao hơn mức  trung bình của cả  nước. Kết  quả năm 2015, tỷ  số  giới tính khi sinh ở  Hà Nội là  114 trẻ trai/100 trẻ gái (toàn quốc 112,8/100) 2.  Kinh    tế  a) Công nghiệp Ngành công nghiệp đã lấy lại đà tăng trưởng, ước 6 tháng đầu năm 2015 giá trị  gia tăng tăng 6,7%, cao hơn cùng kỳ  năm 2014 (6,4%). Chỉ  số  phát triển sản   xuất công nghiệp tháng Sáu năm 2015 tăng 0,8% so với tháng trước và tăng   7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2015, chỉ số 
  9. phát triển sản xuất  công  nghiệp tăng 6,8% so với cùng kỳ. Thị  trường bất   động sản đang ấm dần. Ngành xây dựng có mức tăng trưởng cao nhất trong 4  năm  trở lại đây,  ước  6 tháng đầu năm,  giá trị  gia tăng ngành này tăng 10,5%  (cùng kỳ 2014 tăng 8,9%), trong đó, quý II tăng cao vượt trội tới 12,2%. b) Thương mại dịch vụ Giá trị gia tăng ngành dịch vụ 6 tháng đầu năm ước tăng 8,3% ­ cao hơn mức   cùng kỳ  năm 2014 (8,2%). Thị  trường bán buôn và bán lẻ  đã sôi động hơn.  Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 10,5%. Nếu loại trừ  yếu tố tăng giá thì năm 2015 cao hơn 2014 khá nhiều (9,6%) so với cùng kỳ. Du lịch tiếp tục tăng trưởng so cùng kỳ. Khách Quốc tế vào Hà Nội ước tháng  Sáu khoảng 162 nghìn lượt khách, giảm 6,1% so tháng trước và tăng 67,9% so   cùng kỳ. Cộng dồn 6 tháng, lượng khách quốc tế lưu trú tại Hà Nội ước đạt  1129 nghìn lượt người, tăng 8,8% so cùng kỳ  và lượng khách nội địa đến Hà  Nội ước tăng 5,8% so cùng kỳ năm  trước. c) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển. Giá trị  gia tăng 6 tháng đầu năm  ƣớc tăng 2,8% cao hơn cùng kỳ  năm 2014 (2,5%). Diện tích vụ  Đông Xuân   2015 tăng 2,7% so với cùng kỳ. Hiện nay các huyện đang thu hoạch lúa xuân,   năng suất  ước đạt 60 tạ/ha (giảm 1,8%). Tình hình đàn gia súc, gia cầm  ổn   định, không xảy ra các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Hầu hết đàn gia  súc, gia cầm và diện tích nuôi thủy sản đều tăng. Hệ  thống công trình thủy   lợi, đê điều được tăng cường, sẵn sàng ứng phó khi có mưa lũ. 3.  Về văn hóa – xã    hội  Hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể. Xây dựng chính sách   huy động nguồn lực để bảo tồn di sản; cơ chế về đầu tư, quản lý và khai thác  các thiết chế  văn hóa, thể  thao. Công tác tổ  chức hoạt động lễ  hội có nhiều   chuyển biến tốt hơn. Tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo và chuẩn đầu ra của từng cấp  học, trường  học. Công   tác   xây   dựng   kế   hoạch   khoa   học   công   nghệ   được   thực   hiện   khẩn  trƣơng, nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học và tiến độ nhanh hơn năm trước.
  10. An sinh xã hội được đảm bảo. Các đối tƣợng chính sách, gia đình có công,  người nghèo, cán bộ  hưu trí, đồng bào khu vực vùng sâu, vùng xa và dân tộc  được đặc biệt quan tâm. III. Các động lực phát triển vùng Vào năm 2030, Hà Nội sẽ  là một thủ  đô văn minh, với tổ  chức xã hội   phù hợp với trình độ  tiên tiến về  kinh tế  tri thức và công nghệ  thông tin, có  những hệ thống công trình văn hóa tiêu biểu của cả nước Hà Nội đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2011­2015  là 10%/năm, thời kỳ 2016­ 2020 đạt 9%/năm và khoảng 8%/năm thời kỳ 2021­ 2030. Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt khoảng 3.300  USD, đến năm 2020 đạt 5.300 USD và năm 2030 đạt 11.000 USD (tính theo giá  thực tế). Tốc độ  tăng giá trị  xuất khẩu trên địa bàn bình quân là 10­12%/năm thời kỳ  2011­ 2015 và 14­15% thời kỳ 2016­2020. Quy mô dân số Hà Nội đến năm 2015   đạt 7,2­7,3 triệu người, năm 2020 đạt khoảng 7,9­8 triệu ng ƣời và năm 2030  đạt khoảng 9,4­9,5 triệu người. Tỷ  lệ  lao động qua đào tạo khoảng 55­60% vào năm 2015 và 70­75% vào  năm 2020, đưa Thủ  đô trở  thành trung tâm đào tạo chất lượng cao của cả  nước và có tầm cỡ khu vực. Hà Nội đặt mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc,  người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Tỷ  lệ  đô thị  hóa của Hà Nội năm 2015   khoảng 46­47%, năm 2020 đạt 54­55%… Phần 2: Xác định và định hướng phát triển không gian vùng –  phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật. I. Định hướng phát triển không gian vùng: 1.  Các định hướng chính phát triển vùng Thủ đô: 
  11. Vùng Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng vùng đô thị đa cực tập  trung: liên kết không gian giữa thành phố Hà Nội (vùng đô thị hạt nhân  trung tâm gắn với vùng phụ cận) và các tỉnh xung quanh (vùng phát triển  đối trọng), trong đó các đô thị tỉnh lỵ là các hạt nhân của vùng phát triển  đối trọng.  Đô thị hạt nhân: Thủ đô Hà Nội đóng vai trò chủ đạo của vùng, chủ yếu  tập trung các trung tâm chính trị, hành chính, văn hoá, thương mại, tài  chính, dịch vụ, công nghệ cao, các cơ quan nghiên cứu và là một trung tâm  du lịch của toàn vùng và quốc gia. Vùng phụ cận Hà Nội được xác định trong phạm vi xung quanh Hà  Nội hiện hữu. Vùng đô thị hoá mạnh bao gồm không gian các đô thị công nghiệp ­  dịch vụ phát triển nối kết về phía Đông; không gian các đô thị du lịch ­  đào tạo ­ công nghệ cao phát triển nối kết về phía Tây của vùng, hình  thành các trục không gian kinh tế ­ đô thị đối trọng Đông ­ Tây.  Vùng động lực phát triển kinh tế, công nghiệp, dịch vụ tập trung  trên trục kinh tế giữa đô thị hạt nhân thành phố Hà Nội với thành  phố Hải Phòng và thành phố Hạ Long, trong đó đô thị Hải Dương đóng  vai trò đô thị trung tâm cấp vùng, phát triển công nghiệp nhẹ, kỹ thuật cao  và hỗ trợ phát triển các loại công nghiệp chế biến của vùng đồng bằng  phía Nam ­ Đông Nam đồng bằng sông Hồng.  Các đô thị trung tâm tỉnh phát triển quy mô và chất lượng đô thị với  đầu tư xây dựng hạ tầng xã hội ­ kỹ thuật gắn các vùng công nghiệp  ­ dịch vụ xung quanh đô thị để tăng sức hút phát triển đô thị. Phát triển  giao thông liên đô thị gắn kết với đô thị hạt nhân trung tâm và tạo khung  phát triển chính cho vùng đối trọng.  Các đô thị trung bình và nhỏ phát triển gắn với các vùng nông nghiệp  và là các trung tâm công nghiệp ­ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông  thôn, tạo sức hút lao động tại chỗ. Bảo vệ những khu vực tự nhiên (không xây dựng và phát triển đô  thị) bao gồm: các vùng thấp trũng lưu vực ven các dòng sông, các vùng  xả lũ, những tuyến đê và các vùng giới hạn xây dựng, các vùng cảnh 
  12. quan, di tích văn hoá lịch sử quốc gia trong vùng Hà Nội và các tiểu vùng  nông nghiệp chính của các tỉnh.  Nghiên cứu mở rộng ranh giới Thủ đô Hà Nội để tạo quỹ đất phát  triển các công trình trọng điểm quốc gia, bao gồm: Trung tâm hành  chính quốc gia phát triển các đô thị mới, các trung tâm dịch vụ du lịch,  nghiên cứu đào tạo và các hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, nhằm  giải toả các khu công nghiệp, các công trình gây ô nhiễm ra khỏi Hà Nội. 2.  Tổ chức phát triển không gian vùng Thủ đô Hà Nội:  Không gian vùng Thủ đô được phân thành 2 phân vùng chính: Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận. Vùng phát triển đối trọng. Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận: vùng đô thị hạt nhân là Thủ đô Hà  Nội mở rộng lựa chọn các loại hình phát triển kinh tế, kiểm soát gia tăng  dân số và đất đai, hướng tập trung hình thành các trung tâm thương mại  tài chính lớn của quốc gia, các khu nghiên cứu ­ đào tạo công nghệ cao,  trung tâm văn hoá lớn.  Vùng phụ cận trong phạm vi 25 ­ 30 km có chức năng hỗ trợ phát triển  và mở rộng đô thị trung tâm, là các vùng giao thoa, lan toả sự phát triển  giữa Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Vai trò của các khu vực này là  tạo các vành đai xanh cung cấp các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm  cho Thủ đô, đồng thời phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, v.v...  Vùng phát triển đối trọng trong phạm vi 30 ­ 60 km, hình thành theo 3  phân vùng lớn với các trung tâm tỉnh lỵ là các hạt nhân phát triển.  Vùng đối trọng phía Tây của Thủ đô Hà Nội: là Hoà Bình có địa hình  bán sơn địa, cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng có nhiều tiềm  năng để phát triển các khu du lịch, nghỉ dưỡng, làng văn hoá v.v... Đồng  thời có thể bố trí các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật.  Vùng đối trọng phía Đông và Đông Nam: bao gồm các tỉnh đồng bằng  chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng sông Hồng với vùng duyên hải Bắc Bộ  như: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và Hà Nam. Vùng này nằm trên 
  13. các trục kinh tế nối Thủ đô Hà Nội với các cảng biển Bắc Bộ, có tiềm  năng phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Vùng đối trọng phía Bắc ­ Đông Bắc: gồm các khu vực phía Bắc sông  Hồng và dọc theo hành lang trục đường 18, chủ yếu là vùng bán sơn địa  thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây có tiềm năng về quỹ đất gò đồi để hình  thành các khu vực công nghiệp ­ dịch vụ đô thị.  3.  Phát triển hệ thống dân cư, đô thị và các dịch vụ hạ tầng xã hội:  Đảm bảo phát triển theo hướng bền vững với nguyên tắc tầng bậc, tập  trung tại các trung tâm đô thị và xung quanh, tiết kiệm đất đai và đầu tư  các dịch vụ hạ tầng, nâng cao chất lượng và sức thu hút về dịch vụ hạ  tầng, nhà ở và việc làm cho các đô thị trong vùng.  Hệ thống đô thị được phân như sau:  Thủ đô Hà Nội: hướng phát triển không gian theo ba khu vực:  Khu vực đô thị phía Nam sông Hồng, theo hướng chỉnh trang và mở  rộng đô thị về hướng Tây ­ Tây Nam;  Khu vực đô thị phía Bắc sông Hồng hình thành mới trung tâm  thương mại ­ đô thị gắn với đầu mối giao thông quốc gia tổng hợp  và tham gia vào hành lang kinh tế Côn Minh ­ Hạ Long;  Khu vực đô thị phía Đông sông Hồng ­ Nam sông Đuống đáp ứng  dịch vụ nhà ở gắn khu vực công nghiệp ­ tiểu thủ công nghiệp và  dịch vụ thương mại.  Hạn chế phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư các khu công nghiệp kỹ  thuật cao gắn với sự hình thành các đô thị dịch vụ, tạo các trung tâm kinh  tế công nghiệp trên các trục chính của vùng.  Các thành phố cấp vùng, phân vùng: gồm các thành phố Hải Dương,  Vĩnh Yên, Hoà Bình. Phát triển đô thị trung tâm tỉnh và các đô thị trên  địa bàn theo hướng đầu tư tập trung, nâng cao chất lượng kiến trúc và  điều kiện dịch vụ đô thị, hạ tầng... để có cơ hội thu hút đầu tư phát  triển về dân cư, lao động và các công trình trung tâm lớn trong vùng. Các đô thị chuyên ngành chủ yếu là các đô thị mới gắn với các trung  tâm đào tạo, công nghệ cao (Hoà Lạc), công nghiệp (như Phố Nối, 
  14. Đồng Văn...), du lịch (như Sơn Tây, Sao Đỏ ­ Chí Linh, Tam Đảo,  Lương Sơn, Quan Sơn...), dịch vụ thương mại, phát triển nhà ở (như  An Khánh, Mê Linh, Văn Giang, Từ Sơn...). Các đô thị, thị trấn cấp huyện là trung tâm công nghiệp vừa và nhỏ,  dịch vụ dân cư nông nghiệp ­ nông thôn. Các vùng dân cư nông thôn  trong xu hướng đô thị hoá tăng dần hoạt động phi nông nghiệp, phát  triển nghề thủ công, dịch vụ và thương mại, công nghiệp vừa và nhỏ  nông thôn, nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng và cải thiện hệ  thống hạ tầng nông thôn. Các đô thị trung tâm huyện là các đô thị dịch  vụ cho vùng nông nghiệp ­ nông thôn. Các khu cụm công nghiệp nhỏ  nên gần với trung tâm huyện hoặc trung tâm cụm xã. 4.  Tổ chức không gian công nghiệp vùng Thủ đô Hà Nội:   Hình thành các khu vực công nghiệp chính trong vùng theo các xu hướng bố trí  không gian phát triển toàn vùng, bao gồm: Vùng đô thị hạt nhân trung tâm: Phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, công  nghệ cao, mới, không ô nhiễm, ít chiếm đất, sử dụng lao động có lựa  chọn, gắn với khu vực nghiên cứu. Khu công nghệ cao Hà Nội xây dựng tại Khu công nghiệp Nam Thăng  Long. Các khu công nghiệp khác cần rà soát lại loại hình và phát triển trong  khu vực phụ cận trung tâm. Các vùng đối trọng: Vùng công nghiệp đường 18: phát triển công nghiệp năng lượng, vật  liệu xây dựng, khai thác chế biến khoáng sản, cơ khí hoá chất... trong  đó có sự phát triển gắn với địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang.  Phát triển trục không gian công nghiệp ­ đô thị theo hành lang kinh tế  Côn Minh ­ Hạ Long nối ra khu vực cảng biển. Công nghiệp nặng của  vùng chuyển dịch lên khu vực phía Bắc, Đông Bắc, sử dụng quỹ đất  gò đồi phía Bắc đường 18 và một số khu vực ngoài vùng tại Thái  Nguyên, Quảng Ninh (Đông Triều ­ Mạo Khê) và Bắc Giang. 
  15. Vùng công nghiệp Bắc sông Hồng: gồm khu vực Sóc Sơn ­ Nội Bài,  Mê Linh ­ Phúc Yên ­ Vĩnh Yên với hướng phát triển các công nghiệp  lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử, hạn chế các công nghiệp chế biến, ô  nhiễm cao. Vùng Phả Lại: công nghiệp nhiệt điện. Vùng công nghiệp gắn với 2 đô thị lớn phụ cận là thành phố Việt Trì  và thành phố Thái Nguyên, trong đó Thái Nguyên và phụ cận phía Nam  (sông Công, Phổ Yên) phát triển công nghiệp thép, công nghiệp vật  liệu xây dựng. Phát triển vùng công nghiệp gắn tuyến trục đô thị hoá mạnh của vùng  về phía Đông hướng cảng Hải Phòng với các ngành công nghiệp chế  tác, chế biến lương thực thực phẩm, vật liệu cao cấp, công nghiệp  nhẹ, dịch vụ sản xuất nông nghiệp.   Xây dựng khu vực công nghệ cao phía Tây (kết hợp Khu công nghiệp  Phú Cát) tại khu vực Hoà Lạc.  Công nghiệp thủy điện tại Hoà Bình. Phát triển các vùng làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Tây. Phát triển các cụm công nghiệp quy mô nhỏ gắn đô thị như Xuân Mai,  Lương Sơn, Hoà Bình trên quốc lộ 6.  Phía Nam hình thành khu vực công nghiệp đa ngành gắn với 2 đô thị  phía Nam của vùng là Hưng Yên và Phủ Lý, trong đó gồm 2 cụm là:  Cụm công nghiệp khai thác đá, xi măng, vật liệu xây dựng Bút Sơn  ­ Kim Bảng ­ Kiện Khê.  Cụm công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng tại trục Đồng Văn ­  Hoà Mạc ­ Châu Sơn. Vùng trọng điểm công nghiệp: Vùng trọng điểm công nghiệp của vùng Thủ đô Hà Nội chủ yếu tập  trung vào khu vực phía Đông (từ vùng đô thị trung tâm nối ra Hải  Phòng và Quảng Ninh), tạo một hành lang kinh tế chủ đạo của toàn  vùng với sự nối kết các tuyến đường cao tốc Đông ­ Tây, hành lang đô  thị hoá mạnh với các đô thị trung tâm phát triển lớn và các cụm đô thị ­ 
  16. công nghiệp ­ dịch vụ xen kẽ trên toàn dải trục, hình thành một vùng  phát triển đối trọng với đô thị trung tâm. Đối với Thủ đô Hà Nội: di chuyển kết hợp cải tạo, nâng cấp cơ sở  các ngành sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội  thành (khi chuyển ra ngoại thành có biện pháp đồng bộ bảo vệ môi  trường) gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới  như các khu Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Bồ Đề (Gia Lâm),  Yên Viên. Đối với phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao:  đẩy nhanh việc xây dựng theo quy hoạch và đưa vào hoạt động khu  công nghệ cao Hoà Lạc. Rà soát lại quy hoạch xây dựng các khu công  nghiệp của toàn vùng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, cân đối.  5.  Tổ chức không gian du lịch vùng:  Vùng ưu tiên đầu tư phát triển du lịch: nằm trong hạt nhân của các  trung tâm du lịch; các điểm du lịch lớn; nơi tập trung nhiều tài nguyên du  lịch có khả năng khai thác đồng thời. Không gian trung tâm du lịch: thành phố Hà Nội là trung tâm du lịch của  vùng, là nơi hội tụ các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc và các lễ hội  truyền thống với nhiều di tích được xếp hạng, trong đó có 2 di tích đặc  biệt, được coi là tiềm năng du lịch nhân văn lớn nhất trong cả nước. Không gian các trung tâm du lịch vệ tinh: phát triển chủ yếu gắn với  các đô thị trong vùng như thành phố Việt Trì, thành phố Vĩnh Yên, thành  phố Sơn Tây, thành phố Hoà Bình, thành phố Nam Định, thành phố Bắc  Ninh, thành phố Hải Dương với các ưu tiên đầu tư các cơ sở lưu trú, các  công trình vận chuyển giao thông, dịch vụ. Các vùng du lịch lớn:  Vùng du lịch sinh thái ­ giải trí ­ thể thao ­ nghỉ dưỡng Ba Vì ­ Hà Tây,  bao gồm các cụm du lịch xung quanh các vùng núi và hồ của khu vực Ba  Vì ­ Suối Hai. Các dự án đã khởi động gồm sân golf Đồng Mô, Làng du  lịch ­ văn hoá các dân tộc Việt Nam và một số điểm dịch vụ du lịch quy  mô nhỏ. 
  17. Vùng du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Tam Đảo ­ Tây Thiên: các trung tâm  du lịch vườn quốc gia Tam Đảo, hồ Đại Lải hiện đã được đầu tư phát  triển theo hướng gắn với đô thị, cần được kiểm soát theo quy chế quản  lý chặt chẽ.  Vùng du lịch văn hoá, lễ hội kết hợp thắng cảnh hồ ­ vùng cảnh quan núi  đá Hương Sơn ­ Quan Sơn ­ Tam Chúc: vùng du lịch Hòa Bình, du lịch  tham quan nghiên cứu văn hóa Mường, hồ thủy điện, vùng du lịch Chí  Linh ­ Sao Đỏ (Hải Dương), vùng du lịch tham quan di tích, thắng cảnh  đồng thời là cụm du lịch tạo cầu nối kết hợp vùng du lịch Quảng Ninh ­  Hải Phòng.  6.  Tổ chức định hướng phát triển hệ thống dịch vụ xã hội:  Tổ chức hệ thống dịch vụ thương mại ­ y tế vùng: Để hỗ trợ cho các đô thị có vai trò trung tâm vùng và các đô thị chuyên  ngành lớn, có khoảng cách hợp lý với Hà Nội đồng thời có vai trò ảnh  hưởng đến sự điều phối dịch cư trong vùng như các đô thị: Hải  Dương, Vĩnh Yên và Hoà Bình đầu tư xây dựng các trung tâm dịch vụ  thương mại ­ công cộng, văn hoá giải trí và y tế để nâng cao chất  lượng đô thị nhằm tạo sức hấp dẫn, thu hút các nguồn lực vào đô thị.  Xây dựng trung tâm y tế chất lượng cao quy mô vùng tại đô thị Hòa  Lạc (Hà Tây), thành phố Hải Dương, Vĩnh Yên và thị xã Phủ Lý nhằm  giảm sự quá tải các bệnh viện đầu ngành tại nội thành Hà Nội. Xây dựng các trung tâm thương mại đầu mối, với vai trò phát luồng,  điều hòa phân phối hàng hóa trong vùng và các khu vực lân cận tại Phủ  Lý (Hà Nam), Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Hòa Lạc.  Tổ chức hệ thống đào tạo vùng: Tổ chức 3 trung tâm đào tạo của vùng là Hà Nội ­ Hải Phòng ­ Nam  Định, trong đó Hà Nội là trung tâm và Hải Phòng ­ Nam Định là hai địa  bàn hỗ trợ nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia.  Các trường đào tạo công nghệ cao phân bố gần với Hà Nội, bao gồm  các ngành như vật liệu mới, công nghệ thông tin, tự động hóa, sinh  học, đào tạo dịch vụ trình độ quốc tế. 
  18. Hà Nội là trung tâm đào tạo lớn nhất. Hình thành các trung tâm đào tạo  mới gắn với các đô thị trong vùng theo các dự án lớn như khu Đại học  Quốc gia tại Hoà Lạc, các trường cao đẳng kỹ thuật hình thành từng  cụm gắn với các khu vực công nghiệp tập trung lớn Bắc Thăng Long ­  Nội Bài ­ Sóc Sơn của Hà Nội, vùng công nghiệp đường 18 và 18 mới  (thuộc Hải Dương ­ Quảng Ninh), khu vực công nghiệp Phố Nối ­ Yên  Mỹ (Hưng Yên). Tại các tỉnh theo hướng phân bố 1 ­ 2 trường đại học dân lập đào tạo  đa ngành và các trường chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật của tỉnh  theo nhu cầu riêng. Quy mô các trường đại học công lập 10 ­ 12.000 sinh viên, trường  trọng điểm 18 ­ 20.000 sinh viên, trường dân lập 6 ­ 10.000 sinh viên,  cao đẳng 3 ­ 5.000 sinh viên.  Việc điều phối lại sự phân bố các trường đào tạo trong vùng tạo thêm  động lực cho các đô thị phát triển và tạo điều kiện cho các trường đầu  tư phát triển cơ sở đào tạo, khu nhà ở cho sinh viên theo các mô hình  môi trường đào tạo tiên tiến gắn kết với các dịch vụ đô thị hiện đại.  II. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật: 1.  Giao thông:  Tận dụng năng lực cơ sở hạ tầng giao thông hiện có, coi trọng công tác bảo  trì, tập trung đầu tư nâng cấp các công trình hiện có.  Phát huy tối đa về lợi thế địa lý của vùng, phát triển đồng bộ hệ thống các  loại hình giao thông vận tải đối ngoại như: đường bộ, đường sắt, đường  hàng không và đường thuỷ. Đầu tư phát triển các hành lang vận tải: Bắc ­  Nam; Đông ­ Tây và các tuyến đường vành đai kết nối liên hoàn với cảng  hàng không và hệ thống cảng biển. Phát triển hệ thống giao thông vận tải một cách thống nhất, cân đối, đồng  bộ, đảm bảo sự liên hoàn giữa các phương thức vận tải, giữa mạng lưới  giao thông vận tải của vùng với mạng lưới giao thông vận tải quốc gia và  quốc tế.  a. Đường bộ:
  19. Xây dựng các tuyến đường vành đai để giải toả lưu lượng các phương  tiện giao thông quá cảnh qua Hà Nội. Xây dựng mới tuyến đường vành đai (vành đai IV) cao tốc vùng Thủ đô  Hà Nội, bán kính phân bố trung bình từ 20 ­ 40 km, phục vụ giải toả lưu  lượng các phương tiện giao thông, đặc biệt xe tải và ô tô quá cảnh trên  các tuyến đường cao tốc và quốc lộ hướng tâm vào thành phố hạt nhân.  Cải tạo và xây dựng mới các tuyến đường quốc gia kết nối liên thông các  đô thị đối trọng xung quanh Hà Nội, bán kính phân bố trung bình 40 ­ 60  km (vành đai V), phục vụ mối giao lưu trực tiếp giữa các đô thị, đồng thời  góp phần giải toả lưu lượng ô tô quá cảnh trên các tuyến đường cao tốc  và quốc lộ hướng tâm. Xây dựng mới các tuyến đường mới dọc các hành lang kinh tế quan trọng  giữa vành đai IV và vành đai V và các tuyến hướng tâm từ cảng hàng  không quốc tế và các đô thị vệ tinh, đô thị đối trọng kết nối trực tiếp với  Thủ đô Hà Nội nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông con lắc giữa thành phố  hạt nhân với các thành phố trong vùng. Trục đường cao tốc phía Bắc song song với quốc lộ 2 và quốc lộ 18 nối  vùng Vân Nam ­ Trung Quốc và vùng Tây Bắc với cảng nước sâu Cái Lân  ­ Quảng Ninh. Trục đường cao tốc phía Nam song song quốc lộ 6 và quốc lộ 5, liên hệ  vùng Tây Bắc với cụm cảng Hải Phòng ­ Cái Lân. Trục đường cao tốc Bắc Nam phía Tây là tuyến đường Hồ Chí Minh,  quốc lộ 21 nối với quốc lộ 2. Trục đường cao tốc Bắc Nam phía Đông song song với quốc lộ 1A, đây là  tuyến đường ô tô quan trọng, huyết mạch của quốc gia và quốc tế. Tập trung cải tạo nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ hướng tâm đạt  tiêu chuẩn đường cấp I đồng bằng quy mô 4 ­ 6 làn xe.  Cải tạo nâng cấp kết hợp xây dựng mới hệ thống đường tỉnh kết nối liên  thông với mạng lưới đường quốc gia. Tổ chức các tuyến đường nội vùng nối liền hệ thống các điểm dân cư  tập trung với các trục đường chính tạo thành mạng lưới đường bộ liên  hoàn đáp ứng nhu cầu đi lại, giao lưu nội ngoại vùng.
  20. b. Đường sắt: Đường sắt quốc gia: Cải tạo nâng cấp 5 tuyến đường sắt quốc gia tập trung vào đầu mối  Hà Nội thành các tuyến đường sắt đôi điện khí hoá. Cải tạo xây dựng hoàn chỉnh tuyến vành đai đường sắt tiếp cận khu  vực Hà Nội, nhằm giải toả lưu lượng tàu quá cảnh chạy qua khu vực  nội thành. Xây dựng mới các tuyến đường sắt quốc gia đáp ứng nhu cầu vận tải  của các hướng:  Tuyến đường sắt cao tốc Bắc ­ Nam. Tuyến đường sắt Lào Cai ­ Hà Nội ­ Quảng Ninh. Tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội ­ Hải Phòng. Đường sắt nội vùng: cải tạo kết hợp xây dựng các tuyến đường sắt  nội vùng: từ Hà Nội đi Thái Nguyên, Việt Trì, Bắc Giang, Hải Dương,  Ninh Bình, Hòa Bình và Sơn Tây.  Nối kết hệ thống đường sắt nội vùng với hệ thống tuyến đường sắt  đô thị. Nghiên cứu xây dựng mới một số tuyến đường sắt nhẹ kết nối  các đô thị với các vùng du lịch nghỉ ngơi giải trí lớn trong vùng như:  Ba Vì, Sơn Tây, Hoà Bình, Hưng Yên, Chùa Hương (Hà Tây). Hệ thống đường sắt đô thị cần được nghiên cứu, đầu tư xây dựng  thành mạng lưới đường sắt giao thông công cộng hoàn chỉnh đáp ứng  nhu cầu đi lại. Hệ thống các công trình phục vụ đường sắt: Xây dựng các đầu mối kết nối liên thông giữa các tuyến đường sắt,  đặc biệt giữa các tuyến đường sắt hướng tâm với tuyến đường sắt  vành đai. Xây dựng cầu, các công trình và trang thiết bị an toàn chạy tàu. Xây dựng hệ thống các nhà ga đầu mối hàng hoá (Ngọc Hồi, Cổ Bi,  Yên Viên, Bắc Ninh, Bắc Hồng...) nhằm đảm bảo mối liên kết thống  nhất giữa các tuyến của hệ thống đường sắt quốc gia qua khu vực  đầu mối Hà Nội.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2