intTypePromotion=1

Báo cáo: Đánh giá tác động môi trường của đề án thăm dò nước dưới đất thôn Ngọa Long - xã Minh Khai - huyện Từ Liêm

Chia sẻ: Mai Phú Lực | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:29

0
54
lượt xem
8
download

Báo cáo: Đánh giá tác động môi trường của đề án thăm dò nước dưới đất thôn Ngọa Long - xã Minh Khai - huyện Từ Liêm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đánh giá tác động môi trường của đề án thăm dò nước dưới đất thôn Ngọa Long - xã Minh Khai - huyện Từ Liêm được xây dựng nhằm mục đích thăm dò, lắp đặt công trình khai thác nước dưới đất phục vụ cấp nước cho thôn Ngọa Long với lưu lượng 1200m3/ngày. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo: Đánh giá tác động môi trường của đề án thăm dò nước dưới đất thôn Ngọa Long - xã Minh Khai - huyện Từ Liêm

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ­ ĐỊA CHẤT  MÔN HỌC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Chủ  đề: “Đánh giá tác động môi trường của đề  án thăm dò nước dưới   đất thôn Ngọa Long ­ xã Minh Khai ­ huyện Từ Liêm được xây dựng nhằm mục   đích thăm dò, lắp đặt công trình khai thác nước dưới đất phục vụ cấp nước cho   thôn Ngọa Long với lưu lượng 1200m3/ngày” GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN PGS.TS. Nguyễn Văn Lâm Học viên: Mai Phú Lực Lớp: Cao học ĐCTV K31
  2. Hà Nội, tháng 06/2016 MỤC LỤC
  3. MỞ ĐẦU Đánh giá tác động môi trường là một trong những môn học nằm trong giáo   trình giảng dạy sau đại học trong chương trình đào tạo của chuyên ngành Địa chất   thủy văn ­ Địa chất công trình, khoan khai thác, dầu khí và một số  ngành đào tạo  khác của trường đại học Mỏ ­ Địa chất. Đây là môn học quan trọng góp phần củng  cố  kiến thức về  việc đánh giá tác động môi trường, dự  đoán các tác động có hại,   trực tiếp hoặc gián tiếp trong từng giai đoạn thực hiện dự  án đến môi trường tự  nhiên xung quanh và các yếu tố  kinh tế  xã hội, từ  đó tìm ra phương án tối  ưu để  hạn chế  cá c tác động xấu do việc xây dựng và hoạt động của dự  án đến môi  trường xung quanh. Để hạn chế những tác động đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước mà  trực tiếp là Bộ  Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng nhiều giải pháp hữu hiệu,   trong đó đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý có liên quan, như  luật Bảo vệ  Môi trường, luật Tài nguyên nước… Một trong những giải pháp được nhiều người  quan tâm đó là yêu cầu các dự án đầu tư khai thác nước nói chung, trong đó có nước  dưới đất phải lập báo cáo ĐTM. Sau thời gian học tập môn học ở trên lớp, dưới sự  hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Văn Lâm kết hợp với các tài liệu thu thập được,   học viên được vận dụng những kiến thức đã học, những kiến thức thực tế để áp  dụng viết tiểu luận “Đánh giá tác động môi trường của đề án thăm dò nước dưới   đất thôn Ngọa Long ­ xã Minh Khai ­ huyện Từ Liêm được xây dựng nhằm mục đích   thăm dò, lắp đặt công trình khai thác nước dưới đất phục vụ  cấp nước cho thôn   Ngọa Long với lưu lượng 1200m3/ngày”.  Bài viết bao gồm những nội dung sau: Mở đầu Chương 1: Mô tả tóm tắt đề án Chương 2: Đặc điểm tự nhiên – kinh tế ­ xã hội vùng nghiên cứu Chương 3: Đặc điểm địa chất thủy văn vùng nghiên cứu Chương 4: Đánh giá tác động môi trường Chương 5: Biện pháp giảm thiểu tác động xấu, phòng ngừa và ứng phó các sự  cố môi trường Chương 6: Kế hoạch quản lý và giám sát môi trường Kết luận 3
  4. CHƯƠNG 1 MÔ TẢ TÓM TẮT ĐỀ ÁN 1.1. Thông tin chung về đề án Nhà máy nước thôn Ngọa Long nằm trên địa bàn thôn Ngọa Long, xã Minh  Khai, huyện Từ  Liêm, thành phố  Hà Nội. Trong thời gian qua nhà máy đang cung  cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho nhân dân, các cơ quan, nhà máy trong   khu vực. Do nhu cầu sử  dụng nước ngày càng tăng, công suất của nhà máy hiện  không đủ để đáp ứng. Nhiệm vụ cấp thiết hiện nay là nâng công suất của nhà máy. Căn cứ  vào quyết định số  2551 ngày 27/06/2008 của UBND Huyện Từ  Liêm  về việc phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư dự án khoan bổ sung giếng nước sạch   (máy bơm chìm), trạm nước sạch thôn Ngọa Long ­ xã Minh Khai. Căn cứ  vào biên bản nghiệm thu hồ  sơ  “Khảo sát thiết kế  bản vẽ  thi công  khoan bổ sung giếng nước sạch (máy bơm chìm), trạm nước sạch thôn Ngọa Long”  của Ủy ban nhân dân xã Minh Khai ­ Từ Liêm ­ Hà Nội.  Căn cứ  vào Hợp đồng Kinh tế  số  13/11/HĐ ­ KT giữa  Ủy ban nhân dân xã   Minh Khai và Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Địa chất ­ Trường Đại học Mỏ  Địa chất. Đề  án thăm dò nước dưới đất thôn Ngọa Long ­ xã Minh Khai ­ huyện Từ  Liêm được xây dựng nhằm mục đích thăm dò, lắp đặt công trình khai thác nước   dưới đất phục vụ cấp nước cho thôn Ngọa Long với lưu lượng 1200m3/ngày. Dựa trên những tài liệu địa chất, địa chất thủy văn đã có trong khu vực, dự  kiến tiến hành thăm dò khai thác nước trong tầng chứa nước Pleistoxen. Tư  vấn thiết kế: Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Địa chất ­ Trường Đại  học Mỏ Địa chất. 1.2. Cơ sở lập báo cáo ĐTM 1.2.1. Cơ sở pháp lý 1. Luật Bảo vệ  môi trường  do Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam  thông qua ngày 27/12/1993 và Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành ngày 20/01/1994.  2. Nghị định số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 của chính phủ hướng dẫn   thi hành luật bảo vệ môi trường. 4
  5. 3. Nghị định số 143/2004/NĐ­CP ngày 12 tháng 7 năm 2004 của chính phủ về   việc sửa đổi, bổ sung điều 14 nghị định số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 của   chính phủ hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường  4. Nghị định số 80/2006/NĐ­CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về   việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  điều của Luật Bảo vệ  môi   trường;  5. Nghị định số 81/2006/NĐ­CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của chính phủ  về  xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi  6.   Thông   tư   25/2009/TT­BTNMT  ngày  16   tháng   11   năm   2009  của   Bộ   Tài  nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn quốc gia về môi trường 7. Luật Tài nguyên nước đã được nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua   ngày 20 tháng 5 năm 1998 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 01 tháng 06 năm   1998. 8. Nghị định số 81/2007/NĐ­CP ngày 23 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy   định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và   doanh nghiệp nhà nước; 9. Nghị  định số  21/2008/NĐ­CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ   về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ­CP ngày 09 tháng 8   năm 2006 của Chính phủ  về  việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số   điều của Luật Bảo vệ môi trường; 10. Thông tư  số 05/2008/TT­BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài  nguyên Môi trường hướng dẫn về  đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác  động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường. 1.2.2. Cơ sở kỹ thuật ­ Các báo cáo ĐTM đã thực hiện tại Việt Nam trong những năm qua, nhất là   các báo cáo đối với những cơ sở có công nghệ tương tự; ­ Các tài liệu về  địa lý tự  nhiên, tình hình kinh tế  xã hội của khu vực công   trình; ­ Các số  liệu điều tra về  hiện trạng môi trường, số  liệu liên quan đến hoạt  động dự án, liên quan đến khu vực công trình; ­ Luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng hệ thống cấp nước của khu vực công  trình; ­ Các tài liệu về công nghệ xử lý chất thải và tài liệu về  quản lý môi trường   của trung ương và địa phương. 5
  6. CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ ­ XàHỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1. Vị trí địa lý Từ  Liêm là một huyện ngoại thành của thành phố  Hà Nội, có ranh giới như  sau:  ­ Phía Bắc giáp huyện Đông Anh và quận Tây Hồ. ­ Phía Nam huyện Thanh Trì và thành phố Hà Đông. ­ Phía Đông giáp 3 quận: Cầu Giấy, Tây Hồ và Thanh Xuân. ­ Phía Tây giáp huyện Hoài Đức và huyện Đan Phượng. 2.2. Địa hình, địa mạo Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng   với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mặt biển. Còn lại chỉ có khu vực đồi  núi ở phía bắc và phía Tây Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi   Tam Đảo có độ  cao từ  20m đến trên 400m với đỉnh Chân Chim cao nhất là 462m.   Địa hình của Hà Nội thấp dần từ  Bắc xuống Nam và từ  Tây sang Đông. Điều này  được phản ánh rõ nét qua hướng dòng chảy tự nhiên của các dòng sông chính thuộc  địa phận Hà Nội. Dạng địa hình chủ  yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp   bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao và các bậc thềm. Xen giữa  các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu   vết của các lòng sông cổ).  Đồng bằng được cấu tạo bởi các trầm tích Đệ  tứ  bở  rời dày đến gần 100m   phủ trên các trầm tích Neogen và các đá cố kết Mesozoi. 6
  7. 2.3. Khí tượng thủy văn Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm tiếp nhận được  lượng   bức   xạ   mặt  trời   dồi   dào.   Tổng  lượng   bức   xạ   trung   bình   hàng   năm   120  kcal/cm², nhiệt độ  trung bình năm 24°C, độ   ẩm trung bình 80 ­ 82 %, lượng mưa   trung bình 1.660 mm/năm. Đặc điểm khí hậu rõ nét nhất là sự thay đổi khác biệt giữa hai mùa nóng, lạnh.   Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm  sau là mùa lạnh và khô. Giữa hai mùa lại có 2 thời kỳ  chuyển tiếp vào tháng 4 và   tháng 10, nên xét ở góc độ khác có thể nói Hà Nội có đủ 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.   Mùa xuân bắt đầu vào tháng 02 (hay tháng giêng âm lịch) kéo dài đến tháng 4. Mùa  hạ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, nóng bức nhưng lại mưa nhiều. Mùa thu bắt đầu   từ tháng 8 đến tháng 10, trời dịu mát, lá vàng rơi. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến   tháng 01 năm sau, thời tiết giá lạnh, khô hanh. Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ  có   tính chất tương đối, vì Hà Nội có năm rét sớm, có năm rét muộn, có năm nóng kéo  dài, nhiệt độ lên tới 40°C, có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 5°C. Sông Hồng là một trong những con sông lớn ở  Việt Nam, bắt nguồn từ Trung   Quốc chảy qua phía Tây cách khu vực bãi giếng khoảng 15km. Theo các tài liệu   nghiên cứu đã được công bố  thì nước sông Hồng là nguồn bổ  cập quan trọng cho   nước dưới đất vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mực nước sông Hồng thay đổi theo mùa rõ   rệt, phụ thuộc vào lượng mưa rơi trên lưu vực. Theo tài liệu của trạm thủy văn Hà Nội, từ 1/2000 đến  tháng 10 năm 2007 mực  nước trung bình tháng trong các năm dao động từ  245,4cm (tháng 2) đến 735,3cm  (tháng 7). Bảng 2.1. Mực nước trung bình tháng ­ trạm Hà Nội ­ Sông Hồng (cm) (Theo tài liệu quan trắc trạm Hà Nội từ tháng 1/2000 đến 10/2007) VII Tháng I II III IV V VI VII IX X XI XII I Năm 32 2000 301 286 302 390 560 763 732 483 521 352 298 0 30 2001 268 266 306 452 760 914 821 529 455 507 332 8 30 2002 295 286 293 491 679 819 979 488 397 343 315 2 30 2003 345 285 300 378 461 710 661 638 398 294 258 8 28 2004 230 239 232 446 513 670 634 540 364 289 250 4 7
  8. 64 2005 231 218 228 234 231 434 710 586 401 339 232 4 20 2006 209 194 178 265 388 674 587 342 416 250 183 6 68 2007 201 189 173 158 285 406 638 563 423 8 26 TB 260 245 251 367 525 735 720 521 421 339 266 0 2.4. Dân sinh ­ kinh tế Sau nhiều lần chia tách lãnh thổ để lập nên các quận mới, hiện nay, Từ Liêm  còn lại 15 xã và 1 thị  trấn với diện tích đất tự  nhiên 7.532ha, dân số  trên 240.000   người. Theo quy hoạch phát triển kinh tế  ­ xã hội của Thủ  đô đến năm 2020, quá  nửa huyện Từ Liêm nằm trong vành đai phát triển đô thị, diện tích đất nông nghiệp  ngày càng bị  thu hẹp và chia cắt, các khu công nghiệp, khu đô thị  mới từng bước   hình thành. Sự biến động này có những thuận lợi song cũng có những khó khăn hết   sức phức tạp vì nó tác động đến tất cả  các lĩnh vực kinh tế  ­ văn hoá, xã hội, tập   quán của nhân dân. CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1. Điều kiện địa chất thủy văn 3.1.1. Các tầng chứa nước 3.1.1.1. Tầng chứa nước lỗ hổng không áp Holoxen (qh) Các thành tạo chứa nước Holoxen phân bố  khá rộng rãi ở  phía Nam của sông  Hồng. Phần phía Bắc sông Hồng chỉ gặp ở khu vực huyện Gia Lâm, khu vực Chèm  còn lại hầu như vắng mặt. Thành phần thạch học chủ yếu là cát, cát pha sét, ở đáy  8
  9. tầng còn có sạn sỏi và cuội nhỏ  với tướng chuyển đổi từ  tướng lòng sông đến  tướng đầm lầy. Chiều dày trung bình của tầng là 15m. Nước trong tầng Holoxen chủ  yếu là nước không áp hoặc có áp cục bộ. Kết   quả thí nghiệm ở một số lỗ khoan trong tầng này cho thấy: Mực nước tĩnh thay đổi từ  0,5 đến 4,0m. Lưu lượng lỗ khoan thay đổi từ  0,4  đến 29,0 l/s, trung bình 7­ 8 l/s. Trị  số  hạ  thấp mực nước dao động từ  1,12 đến  8,08m, trung bình 2,9m. Trị số hạ thấp mực nước lớn  ở khu vực trung tâm và giảm  dần ra khu vực gần sông Hồng. Tỷ  lưu lượng lỗ  khoan (q) dao động 0,08 đến 20,9l/s.m, trung bình 3,1l/s.m.  Qua trị số q ta thấy khả năng chứa nước của tầng trong những khu vực khác nhau,  trong đất đá khác nhau có sự chênh lệch nhau tương đối lớn. Hệ số thấm cao đến rất cao, thay đổi từ 20 (tại Pháp Vân) đến 1788m2/ng (tại  Gia Lâm), trung bình 432 m/ng.   Kết quả thí nghiệm ở 14 lỗ khoan cho thấy: + Loại giàu nước q > 1 l/s.m có 11 lỗ khoan chiếm 78,6% + Loại trung bình q = 0.1 ­ 1 l/s.m có 1 lỗ khoan chiếm 7,1%   + Loại nghèo nước  q 
  10. nặng bởi các hợp chất nitơ  và vi sinh như   ở  kho vực nghĩa trang Văn Điển (hàm  lượng Coliform trên 660.000MPN/100ml), có một số nơi gần các bãi rác như bãi rác  Tam Hiệp, Mễ  Trì, Bồ  Đề  có dấu hiệu ô nhiễm bởi kim loại nặng như  Hg (hàm  lượng 0,4mg/l). Nước dưới đất trong tầng chứa nước qh có động thái  liên hệ  chặt  chẽ với nước sông như sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy...  Động thái nước ngầm  được chia ra 3 vùng: Vùng động thái phụ  thuộc các yếu tố  khí tượng thuỷ  văn. Vùng này nằm xa   sông, ít chịu ảnh hưởng của nước sông. Tiếp theo là vùng động thái chịu ảnh hưởng   của sông (chủ yếu là sông Hồng). Đó là các khu vực phân bố thành dạng dải chạy   dọc theo hai bên bờ của sông Hồng, sông Đuống. Bề rộng của khu vực này khoảng   2­3 km tính từ bờ sông vào sâu trong đất liền. Cuối cùng là đới động thái bị phá huỷ.   Đó là đới thành tạo các phễu hạ  thấp mực nước do hoạt động khai thác nước lớn  cuả  các nhà máy nước. Chúng phân bố  chủ  yếu  ở  khu vực nội thành và tại đây   động thái tự nhiên của dòng ngầm không còn nữa. Chúng tôi tạm gọi là khu vực có  động thái phá huỷ.   Trữ  lượng nước dưới đất trong tầng chứa nuớc qh không lớn nhưng có thể  cung cấp nước với quy mô nhỏ cho ăn uống và sinh hoạt. Bên cạnh đó, có thể khai   thác đồng thời với tầng chứa nước Pleistoxen (qp) nằm phía dưới để cấp nước cho  thành phố. Thông thường người ta khoan giếng vào tầng qh để lấy nước. Số lượng  các giếng khoan nhỏ của nhân dân trong các gia đình khá cao và chưa thể thống kê   chính xác. Bảng 3.1. Kết quả thí nghiệm ĐCTV trong tầng chứa nước Holoxen (qh)  Số  Kết  Km a hiệu  quả  (m2/ng m2/ng lỗ  thí  ) khoan nghiệ m Q(l/s) S(m) Ht(m) q(l/sm) M(g/l) M18 4.76 1.03 3.15 4.62 0.202 716 5.2000 YL3 7.73 2.51 0.95 3.08 0.235 530 9.700 KĐ 3.4 8.08 1.5 0.42 0.290 160 3900 M19 5.4 2.6 3.04 2.08 0.580 656 4500 54E 3.3 1.75 4.6 1.9 0.314 95 1000 TD7K 29.01 1.39 3.56 20.87 0.222 790 6700 55I 7.0 2.35 2.69 3.00 184 1650 GL5B 16.4 6.07 6.82 2.7 0.218 1788 20000 0.09 T11 2.17 1.66 1.95 1.31 149 10
  11. Số  Kết  Km a hiệu  quả  (m2/ng m2/ng lỗ  thí  ) khoan nghiệ m Q(l/s) S(m) Ht(m) q(l/sm) M(g/l) T46 1.04 6.39 1.63 0.76 20 M35 1.78 9.72 0.66 0.18 5HN 0.47 0.31 6.43 1.51 32 VT5 8.53 5.71 3.03 1.49 0.420 VC 18.43 4.10 2.96 4.50 0.280 1389 8000 3.1.1.2. Tầng chứa nước Pleistoxen giữa ­ trên (qp) Diện phân bố  của tầng chứa nước qp rất rộng rãi, chúng có mặt  ở  hầu hết  diện tích khu vực. Tầng chứa nuớc qp có mức độ  chứa nước tốt và là đối tượng  chính cung cấp nước cho nội, ngoại thành thành phố  Hà Nội, cho sinh hoạt cũng  như cho ăn uống, công nghiệp. Chiều dày của tầng chứa nước Pleistoxen thay đổi trong phạm vi khá lớn, từ  9,97 đến 30,8m, trung bình từ 35 đến 45m, có nơi trên 60 đến 70m. Mực nước tĩnh  (Ht) vào mùa khô thay đổi từ 2,0 m đến 4,0m còn mùa mưa thay đổi từ  0 đến 1,0m.  Thậm chí có nơi dọc ven sông Hồng nước tự  phun cao hơn mặt đất (khu vực  xã   Hải Bối­ Đông Anh, Phú Thượng, Thụy Phương ­ Quận Tây Hồ, Liên Mạc­ Từ  Liêm...)   Lưu lượng (Q) thay đổi từ 1,9 đến 9,09l/s. Trị số hạ thấp mực nước (S) thay đổi từ 1,28 đến 8,61m. Tỉ lưu lượng (q)thay đổi 0,32 đến 4,94l/s.m, có nơi đạt trên 5 l/sm. Hệ số dẫn nước (Km) thay đổi tuỳ theo từng khu vực cụ thể. Ở khu vực Bắc   sông Hồng, Km thay đổi từ  400 đến 1600m2/ng,  ở khu vực Sóc Sơn trị  số Km thay  đổi từ  260 đến 700m2/ng. Khu vực Nam sông Hồng, Km thường thay đổi từ  1000  đến 1500m2/ng. Về đặc tính thuỷ lực, nước dưới đất trong tầng qp chủ yếu là nước có áp lực.   Chất lượng nước trong các thành tạo Pleistoxen nói chung khá tốt. Nước thuộc loại  nửa cứng, loại hình hoá học thường là Bicacbonat ­ Canxi, Bicacbonat­Natri. Hàm  lượng Clo biến đổi từ  6,03 đến 9,29mg/l  ở  đoạn Chèm ­ Yên Phụ, từ  5,88 đến   22,94 mg/l  ở đoạn Lĩnh Nam, từ  23,9 đến 26,73mg/l  ở  đoạn Hà Đông ­ Văn Điển.  Độ khoáng hoá thay đổi từ 0,15 đến 0,52g/l. Hàm lượng các vi nguyên tố đều dưới  tiêu chuẩn cho phép đối với mục đích ăn uống, sinh hoạt. Riêng hàm lượng sắt và   11
  12. mangan cao cần phải xử lý trước khi sử dụng. Hàm lượng sắt khá lớn và biến đổi   trong phạm vi từ  2,4mg/l đến 26,24mg/l. Hàm lượng mangan thay đổi từ  0,1 đến  1,15mg/l. Một số  mẫu nước có hàm lượng phenol cao hơn tiêu chuẩn cho phép  (0,0001 đến 0,011mg/l) nhưng không phải là phổ biến.  Hiện nay tại một số  nơi đã phát hiện thấy dấu hiệu ô nhiễm bởi kim loại  nặng, tại khu vực bãi rác Bồ  Đề, hàm lượng thuỷ  ngân trong nước dưới đất đạt  đến 0,004mg/l. Một số  nơi thấy có biểu hiện ô nhiễm asen và một số  kim loại   khác. Kết quả thí nghiệm cho thấy, nước dưới đất trong tầng qp và tầng qh có quan  hệ chặt chẽ với nhau, chúng quan hệ thuỷ lực cả khi giữa hai tầng đó có lớp bùn và   sét ngăn cách. Đồng thời nước dưới đất trong tầng chứa nước qp cũng có quan hệ  thuỷ lực với nước sông Hồng, ở những nơi lớp sét ngăn cách bị bào mòn. Như vậy,  nguồn cung cấp cho tầng chứa nước qp là nước mưa, nước mặt (mà sông Hồng là   nguồn bổ cập quan trọng). Theo thành phần thạch học và đặc điểm vận động có thể chia tầng chứa nước   Pleistoxen ra làm hai lớp có đặc điểm khác nhau, đó là: Lớp chứa nước trên (qp2):  Lớp chứa nước qp2 nằm giữa tầng chứa nước qh  và lớp chứa nước qp1. Trầm tích cấu thành chủ  yếu của lớp này là cát các loại, đa  phần là cát trung, cát thô có lẫn sạn sỏi tướng lòng sông. Lớp có chiều dày nhỏ nhất   là 1,6m (YL3), lớn nhất là 33 m (LK33­PY), trung bình là 13,45 m. Bằng các thí nghịêm  ở    27 lỗ  khoan Liên đoàn ĐCTV ­ ĐCCT Miền Bắc đã   đưa kết quả nêu  như sau: + q > 1 l/s.m có 16 lỗ khoan chiếm 61,4% . + q =  1 ­ 0,2  l/s.m có 7 lỗ khoan chiếm 26,8,%. + q 
  13. Chiều dày lớp chứa nước qp1  thay đổi trong phạm vi khá lớn, chúng có xu  hướng tăng dần từ  Tây Bắc xuống Đông Nam, từ  rìa đồng bằng vào trung tâm.  Chiều dày nhỏ nhất đạt 2,5 m (LK 608­ Chèm) và lớn nhất là 69.5 m (LK46­Quảng   An), trung bình khoảng 26,35m. Trên lát cắt, ta thấy lớp chứa nước qp 1 nằm chỉnh  hợp dưới lớp qp2.  Nước tàng trữ  và vận động trong tầng chủ  yếu là nước nhạt, hầu hết nước  trong các lỗ  khoan có tổng độ  khoáng hoá lớn hơn 0,1 g/l và nhỏ  hơn 0.5 g/l, đa   phần nước thuộc loại mềm đến hơi cứng các lỗ khoan trong lớp chứa nước qp 1 có  tỷ lưu lượng khá lớn. Chúng đạt tới 20,87 l/s.m (LK 41PY) và thấp nhất đạt khoảng   0,3 l/s.m (LK813). Kết quả thí nghiệm tại 94 lỗ khoan trong khu vực cho thấy: + Các lỗ có tỷ lưu lượng q > 1 l/s.m chiếm 94%.  + Các lỗ có tỷ lưu lượng q = 0,2 đến 1,0 l/s.m chiếm 6,0 %. Lớp chứa nước qp1 thuộc loại giàu nước đến rất giàu nước. Nước chủ yếu có  loại hình Bicacbonat Canxi. Xét về phương diện vi sinh, đa phần các lỗ khoan mới  khoan đều đạt tiêu chuẩn. 3.1.1.3. Phức hệ chứa nước khe nứt ­ Neogen (m4)  Trầm tích Neogen phân bố rộng rãi, chiếm 2/3 diện tích trong khu vực nghiên   cứu. Chúng không lộ ra trên mặt đất mà bị  tầng chứa nước lỗ hổng ­ vỉa trầm tích   sông biển Pleistoxen (qp) phủ trực tiếp lên trên. Thành phần thạch học chủ  yếu là  cuội sỏi cát kết xen bột kết, sét kết, cát kết có tính phân nhịp ở phần tiếp giáp với   trầm tích Đệ Tứ với mức độ gắn kết yếu, có nơi gần như còn bở rời. Mực   nước   thay  đổi   thường   từ   2­   4m,   tỷ   lưu  lượng   lỗ   khoan   thay   đổi  từ  0,00005 l/s.m (LK 116­62) đến 1,63 l/s.m (LK809). Các lỗ khoan có tỷ lưu lượng q <   0,11 l/s.m chiếm 5,28%, Các lỗ  khoan có tỷ  lưu lượng từ  0,1l/s.m  đến 0,5 l/s.m   chiếm 17,2%. Các lỗ khoan có tỷ lưu lượng 0,5 l/s.m đến 11 l/s.m chiếm 13,79% và   q > 11 l/sm chỉ có 2 lỗ khoan (LK 4­ 63 và 809­64). Phức hệ  chứa nước Neogen có tính thấm cao, giá trị  Km đạt tới 840m2/ng.  Nước vận động là nước có áp yếu, là nước nhạt. Loại hình chủ  yếu là Bicacbonat  Canxi, Bicacbonat Natri. Nước có tính mềm đến cứng. 3.1.2. Các thành tạo nghèo nước hoặc thực tế không chứa nước 3.1.2.1. Lớp cách nước trên:  Các thành tạo của tầng chứa nước phía trên bao gồm các trầm tích Holoxen.  Chúng phân bố rộng rãi trong khu vực. Đất đá tạo nên tầng cách nước bao gồm sét,  sét pha, sét bột, sét bùn màu xám nâu, xám đen. Chiều dày từ 2,5 đến 24m thậm chí  13
  14. đến 31,5 m (LK48). Kết quả  thí nghiệm cho thấy tính thấm nước trung bình của  tầng nhỏ, chỉ đạt 0,049 m2/ng. Tầng này không có vai trò cấp nước nhưng chúng lại  rất quan trọng trong việc bảo vệ tầng chứa nước Holoxen nằm phía dưới khỏi bị  nhiễm bẩn do các tác nhân ngoại sinh. Trên thực tế các thành tạo này không phân bố  một cách liên tục, chúng luôn luôn thay đổi chiều dày và biến đổi cả  thành phần   thạch học. Tuy nhiên dù có sự  thay đổi thì mức độ  chứa nước của chúng đều rất  hạn chế.  3.1.2.2. Lớp cách nước Pleistoxen ­ Holoxen: Đây là các thành tạo chủ yếu là sét, sét pha có màu loang lổ, đôi chỗ là sét pha   bột sét, sét bùn lẫn thực vật màu xám đen đến đen đôi chỗ  xen lẫn thấu kính cát   pha. Tầng cách nước này gọi là tầng đánh dấu Vĩnh Phúc. Tầng cách nước này có   diện phân bố rộng, chúng chỉ vắng mặt ở các đới ven sông. Tại đây chúng có thể đã   bị bào mòn do tác dụng đào lòng của các dòng chảy. Chiều dày tầng cách nước này   thay đổi mạnh từ  3m đến 37,3 m (LKLY). Tại nhiều vị trí chúng bị  bào mòn hoàn   toàn làm cho tầng chứa nước qh phía trên và tầng qp phía dưới có quan hệ thuỷ lực   trực tiếp với nhau. Các thí nghiệm ngoài thực địa (thí nghiệm thấm nhanh) trong  nhiều lỗ  khoan (12 lỗ) cho thấy hệ số thấm của chúng rất bé, thay đổi từ  0,0036  m/ng đến 0,065 m/ng. Tuy nhiên trên thực tế, một số giếng của các gia đình nông   dân khu vực huyện Đông Anh vẫn lấy nước trong các thấu kính cát pha với lưu   lượng nhỏ, không đáng kể. Sở dĩ như vậy vì theo kết quả nghiên cứu của Liên đoàn  ĐCTV ­ ĐCCT Miền Bắc, tầng này có cấu tạo gồm nhiều lớp do các thấu kính cát   pha, sét pha, sét xen lẫn nhau. Những nơi thấu kính cát pha phát triển thì  ở  đó vẫn  chứa nước. Tất nhiên mức độ chứa nước không nhiều.  3.2. Hiện trạng khai thác nước trong khu vực Hiện tại, Hà Nội là thành phố  lớn duy nhất  ở  nước ta sử  dụng 100% lượng   nước cấp cho thành phố từ  nguồn nước dưới đất. Do phát triển dân số và kinh tế,   nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, công nghiệp ở thủ đô Hà Nội rất lớn và ngày  càng tăng. Năm 1978 các trạm khai thác nước tập trung  ở Hà Nội mới chỉ khai thác   khoảng   164.000   m3/ngày,   đến   năm   1983   khoảng   199.000   m3/ngày,   năm   1990   là  325.000 m3/ngày, đến năm 1996 là khoảng 352.400 m3/ngày, năm 1999 trong khu vực  Hà Nội khai thác khoảng 464.000 m3/ngày, và hiện nay, tổng lưu lượng khai thác từ  các công trình cấp nước tập trung  ở Hà Nội lên tới khoảng 700.000m3/ngày. Trong  đó, tốc độ khai thác nước dưới đất phát triển nhanh nhất diễn ra khoảng thời gian   mười năm trở lại đây, khi nền kinh tế của thủ  đô phát triển mạnh mẽ theo hướng   14
  15. kinh tế  thị  trường, có nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu đô thị  mọc   lên nhanh chóng và đô thị hoá phát triển mạnh. Trong Quy hoạch, nguồn nước thô cấp cho hệ thống cấp nước thành phố  Hà   Nội là nguồn nước dưới đất và nguồn nước mặt. Trong đó dự  kiến đến năm 2010,   tổng   công   suất   khai   thác   nước   dưới   đất   ở   phía   Nam   sông   Hồng   là   khoảng  700.000m3/ngày;  ở  phía Bắc sông Hồng là khoảng 140.000m 3/ngày; và khai thác  nguồn nước mặt trên sông Hồng hoặc sông Đà là khoảng 500.000m3/ngày. Trong  tương lai, để  đạt được mục tiêu cấp nước đến năm 2010 và đến năm 2020, ngoài  dự  án khả  thi khai thác nước mặt công suất 150.000m3/ngày hiện đã được Thủ  tướng Chính phủ  phê duyệt, khai thác nước dưới đất  ở  thành phố  Hà Nội vẫn sẽ  tiếp tục duy trì, phát triển và đóng vai trò chủ yếu cho cấp nước ở Hà Nội. Mạng lưới cấp nước của Hà Nội tuy rộng nhưng chưa phủ  khắp được toàn  bộ địa bàn. Tại thôn Ngọa Long, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm hiện nay mạng lưới   cấp nước tập trung hiện không đủ  cung cấp cho nhu cầu sử  dụng của người dân   nên nhiệm vụ cấp bách lúc này là xây dựng bổ sung một trạm cấp nước nhằm đảm  bảo nhu cầu dùng nước của người dân trong khu vực. CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Khi mở rộng nâng công suất khai thác của nhà máy nước thôn Ngọa Long, có  thể  gây nên một số  quá trình tác động đến môi trường xung quanh do  ảnh hưởng  của khai thác nước dưới đất, bao gồm: ­ Hạ thấp mực nước tại các lỗ khoan khai thác do sự can nhiễu của hệ thống   lỗ khoan trong quá trình khai thác. ­ Sự cạn kiệt tầng chứa nước nằm trên ­ Tạo nguồn gây ô nhiễm do việc xử lý nước  ­ Tăng khả năng gây ô nhiễm cho nước dưới đất tầng sản phẩm. 4.1. Dự báo mực nước hạ thấp do khai thác Việc tính toán dự báo hạ thấp mực nước trong đề án được sử dụng là phương   pháp mô hình số.  15
  16. Kết quả  dự  báo hạ  thấp mực nước đến năm 2020 cho thấy toàn bộ  khu vực  phía Nam Hà Nội, cốt cao mực nước đều nằm dưới ­6,0m. Phễu hạ thấp mực nước   phát triển hình thành tại 3 vị trí có cốt cao mực nước thấp nhất: ­ Vị  trí thứ  nhất phân bố  tại bãi giếng Mai Dịch đến năm 2020 tâm phễu hạ  thấp có cao độ mực nước khoảng ­26,06 m. ­ Vị  trí thứ  hai phân bố  tại bãi giếng Ngọc Hà, cao độ  mực nước thấp nhất   năm 2020 tại bãi giếng khoảng ­22,21 m. ­ Vị trí thứ ba phân bố tại bãi giếng Ngô Sỹ Liên với cao độ mực nước dự báo  đến năm 2020 là khoảng ­18,42 m. Các giếng khai thác nước thuộc xã Minh Khai phân bố giữa bãi giếng Thượng  Cát và Mai Dịch nên hạ  thấp mực nước dao động trong khoảng từ  20 – 24m cách  mặt đất, chưa vượt quá chiều sâu phân bố lớp sét cách nước. Từ kết quả tính toán bằng phương pháp giải tích và phương pháp mô hình cho  thấy việc khai thác nước của nhà máy nước khu Nhà máy nước thôn Ngọa Long  nằm trên địa bàn thôn Ngọa Long, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội  với tổng lưu lượng là 1200m3/ngày là khả  thi. Như  vậy, phương án thiết kế  và bố  trí các lỗ khoan là hoàn toàn hợp lý. 4.2. Tạo nguồn ô nhiễm cho việc xử lý nước Để  đảm bảo tiêu chuẩn nước sử  dụng cho sinh hoạt, cần phải xử  lý sắt,  Mangan, Amoni, vi sinh vật và một số chất độc hại khác. Quá trình xử lý sẽ tạo nên  một lượng lớn chất thải và dư lượng các hoá chất đã sử dụng. Các chất này có thể  ngấm xuống gây ô nhiễm cho nước dưới đất, hoặc cản trở  việc thoát nước cũng  như  môi trường nước mặt. Vì vậy, cần có biện pháp thu gom, lắng bùn và thải   đúng nơi quy định. 4.3. Tăng khả năng gây ô nhiễm cho tầng chứa nước khai thác Giếng khai thác nước thuộc thôn Ngọa Long xã Minh Khai huyện Từ  Liêm  được bố trí trong một khu đất trống dọc trục đường liên thôn, cách giếng khai thác   cũ khoảng 100m. Trong quá trình hoạt động dân sinh, nhân dân địa phương có thể  thải ra các chất thải rắn, chất thải hữu cơ, các hóa chất bảo vệ thực vật, động vật.  Điều này có thể làm hàm lượng các chất này xâm nhập vào tầng chứa nước qh.  Do  ảnh hưởng của khai thác, mực nước dưới đất bị  hạ  thấp, đặc biệt ở  khu  vực bãi giếng sẽ  tạo nên độ  dốc thuỷ  lực lớn làm tăng khả  năng thấm xuyên của  nước dưới đất từ  các tầng chứa nước nằm trên, tăng khả  năng cuốn theo của các  dòng và khối nước mặt xuống cung cấp cho các tầng sản phẩm. Quá trình này chắc  chắn sẽ làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm amoni, làm biến đổi chất lượng nước dưới  16
  17. đất TCN qp1.  Vì vậy khi thiết kế  các công trình khai thác nhất thiết phải thiết kế  đới phòng hộ vệ sinh chống ô nhiễm nguồn nước.  4.4. Những tác động cụ thể của đề án đến môi trường Giai đoạn của Nội dung công việc Tác động đến môi trường dự án ­ Hư hại hoa màu của người dân ­ Ứ đọng nước ở các ruộng lân cận. San   lấp   mặt   bằng   để  ­   Ô   nhiễm   không   khí   do   máy   xúc,  khoan máy ủi làm việc ­ Tiếng  ồn do máy móc thiết bị  gây  Giai đoạn  ra trong quá trình làm việc chuẩn bị ­ Gây tiếng  ồn trong quá trình vận  chuyển Vận chuyển và lắp đặt  ­ Khí thải của các phương tiện thiết bị ­ Hư hại đường xá ­ Ùn tắc giao thông ­ Gây tiếng  ồn trong quá trình máy  khoan làm việc ­   Gây   ồn,   rung   cho   những   hộ   dân  xung quanh Khoan thăm dò ­ Chất thải do dung dịch khoan, dầu  máy ­ Chất thải sinh hoạt do công nhân  khoan thải ra ­ Ô nhiễm không khí do khí thải của  thiết bị. ­ Ồn, rung ­ Lượng mùn khoan, dung dịch khoan  Giai đoạn  làm   ô   nhiễm   kênh   rạch   hoặc   khu  thi công vực xung quanh Thổi   rửa   lỗ   khoan   và  ­ Nước bơm lên trong quá trình bơm  Bơm   hút   nước   thí  hút nước thí nghiệm có thể gây ngập  nghiệm úng khu vực lân cận ­ Làm tụt giảm mực nước ngầm của  tầng   chứa   nước,   làm   giảm   mực  nước   giếng   của   người   dân   xung  quanh ­ Đào bới đường lòng đường hoặc  cống rãnh mất mỹ quan đường phố Lắp đặt đường ống ­ Ùn tắt giao thông ­ Ùn ứ đất đào cục bộ 17
  18. Giai đoạn của Nội dung công việc Tác động đến môi trường dự án ­ Tiếng  ồn, rung khi vận hành nhà  máy xử lý nước ­ Hóa chất khử  trùng dùng trong quá  trình xử lý nước có thể bị rò rỉ gây ô  nhiễm môi trường Xử lý nước ­ Lượng nước thải sau khi xử  lý có  thể gây ô nhiễm môi trường ­ Bùn  lắng  ở   ống  dẫn,  bể  lọc,  bể  chứa   gây   ách   tắc   mương   den,   bồi  Giai đoạn  lắng ao hồ. vận hành ­ Trong quá trình vận chuyển có thể  đường  ống bị  vỡ, rò rỉ  gây lầy lội,  ngập úng ­ Tụt giảm mực nước ngầm có thể  kéo theo sự  thay đổi về  chất lượng   Cấp nước nước, sụt lún mặt đất ­ Sự  tụt giảm mực nước trong một  quá trình lâu dài có thể khiến cho dễ  cây   không   thể   hút   được   nước   ảnh  hưởng đến môi trường sinh thái. CHƯƠNG 5 BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG XẤU, PHÒNG NGỪA VÀ ỨNG PHÓ  VỚI CÁC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG 5.1. Các giải pháp giảm thiểu trong giai đoạn giải phóng mặt bằng và xây  dựng 5.1.1. Các giải pháp tổng thể ­ Trong quá trình lực chọn vị trí xây dựng và thiết kế  kỹ  thuật thi công, khai   thác cần phải tính toán xem xét trên mọi góc độ để đảm bảo các tiêu chí: + Đảm bảo an toàn trong quá trình khai thác, vận hành dự án cho bản thân cán  bộ công nhân viên trong dự án cũng như đối với người dân trong khu vực + Lựa chọn địa điểm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hợp lý giảm thiếu tối  đa việc lấn chiếm diện tích thảm thực vật hiện hữu xung quanh, giảm thiểu tối đa   việc sử  dụng đất nông nghiệp và tránh xâm hại tới môi trường nước mặt xung   quanh khu vực dự án. 18
  19. + Tận dụng tối đa lượng đất đá thải trong quá trình xây dựng để  làm đường  hoặc san lấp các công trình phụ trợ để làm giảm khối lượng chất thải rắn phát sinh. ­ Lập và phổ  biến kế hoạch thi công và bố  trí nhân lực hợp lý, tuần tự, tránh   chồng chéo giữa các giai đoạn thi công, hạn chế sự di chuyển thiết bị, cản trở lẫn   nhau trong quá trình thực hiện. ­ Quy định về việc giữ gìn vệ sinh môi trường trong khu vực dự án. Xây dựng,  lắp đặt các công trình xử lý nước thải, thùng chứa rác thải. ­ Trong quá trình thi công hạn chế thấp nhất những tổn hại đến công trình hạ  tầng như đường xá, cầu cống, hệ thống điện…. trong khu vực dự án ­ Các phương tiện thi công phải đảm bảo tiêu chuẩn về  tan toàn kỹ  thuật và  bảo vệ môi trường 5.1.2. Giảm thiểu và khống chế  ô nhiễm do khí, bụi thải, tiếng  ồn và độ   rung Trong giai đoạn thi công xây dựng cơ bản, để giảm thiểu và khống chế các tác  động tiêu cực của các dạng ô nhiễm này cần áp dụng các biện pháp:  Đối với bụi khuếch tán: Phun nước chống bụi khuếch tán từ mặt đường nơi   có các phương tiện vận tải chạy qua và các khu vực có khả năng phát tán bụi cao. Đối với phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị thi công: thi công mà dự án sử  dụng phải qua kiểm tra về độ ồn, rung, và khí thải đảm bảo tiêu chuẩn Việt Nam.   Đối với vận chuyển vật liệu thi công: Che kín mọi phương tiện vận chuyển  vật liệu xây dựng (cát, đá, xi măng,...), tiến hành thi công ngay sau khi tập kết vật   liệu để tránh phát tán bụi.  Đối với lưu giữ  nguyên vật liệu thi công: Những nguyên vật liệu phục vụ  thi công đưa về dự án, chưa được sử  dụng sẽ  được đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm   môi trường bằng các biện pháp che phủ, bảo quản tránh hư hỏng, tránh phát tán gây  ô nhiễm môi trường.  Đối với thi công có quá trình gia nhiệt như  hàn, cắt, đốt nóng chảy: Có sự  trang bị  đầy đủ  về  bảo hộ  lao động cho các công nhân lao động trực tiếp, hướng  dẫn an toàn lao động cho các công nhân chuyên trách.  Đối với trang thiết bị, máy móc xây dựng: luôn được kiểm tra kỹ thuật và sẽ  hoạt động trong tình trạng tốt nhất để đạt các tiêu chuẩn về phát sinh tiếng  ồn và   rung cho thiết bị  xây dựng. Xe cơ  giới, xe tải nặng, thiết bị thi công mà dự  án sử  dụng phải qua kiểm tra về độ   ồn, rung, đây là điều kiện đấu thầu mà chủ  đầu tư  dự án sẽ đưa vào. Hoạt động của công trường: không thi công vào các giờ nghỉ của công nhân  19
  20. lao động trên công trường: sáng từ 11h30 đến 13h và tối là sau 22h00. Các công nhân   xây dựng được trang bị các thiết bị bảo hộ lao động và các nút bịt tai nếu cần thiết. 5.1.3. Giảm thiểu các tác động khác * Giải phóng mặt bằng: Trong quá trình thực hiện, dự án có sử dụng một phần diện tích đất trồng hoa  màu của  hộ dân trong khu vực. Chủ dự án sẽ thực hiện việc đền bù cho hộ bị mất  các diện tích đất trên theo đúng quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của các  hộ trên. Tuy nhiên, trong quá trình triểu khai dự  án nếu có vấn đề  phát sinh gây  ảnh  hưởng tới hoa màu của người dân trong khu vực thì chủ  dự  án cần phối hợp với  chính quyền địa phương và các hộ  bị   ảnh hưởng để  có những biện pháp đền bù   thích hợp. * Tai nạn lao động: + Áp dụng triệt để  các quy định về  an toàn lao động đối với công nhân vận   hành máy móc, vận tải nguyên vật liệu. + Phổ biến, hướng dẫn cho cán bộ và công nhân viên của dự án cũng như của   các nhà thầu phụ để làm rõ trách nhiệm về bảo vệ môi trường khu vực. + Khi thi công, lắp rắp phải mang thiết bị bảo hộ lao động. + Chủ dự án cũng như các nhà thầu phụ phải trang bị đầy đủ các thiết bị y tế  cần thiết ứng phó kịp thời các sự cố tai nạn xảy ra. + Kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên các thiết bị thi công cũng như các tuyến  đường vận chuyển, kiểm tra đảm bảo an toàn khu vực khai thác. * Sự cố cháy nổ: Xây dựng, thực hiện các quy định về phòng chống cháy nổ, phổ biến, nâng cao  ý thức của cán bộ công nhân viên trong vấn đề phòng chống cháy nổ. * An ninh, xã hội khu vực Tăng cường sử  dụng nhân công địa phương nhằm tránh xung đột giữa công  nhân địa phương và công nhân vùng khác để  đảm bảo an toàn, trật tự  xã hội khu  vực. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để  đảm bảo tốt an ninh, trật   tự. 5.1.4. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước Không cho máy móc, dụng cụ chuyên dụng được rửa tại các nguồn nước hoặc   khu vực chảy xuống nguồn nước, các hồ, mương hiện tại của khu vực. Đảm bảo   20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2