intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Báo cáo " Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài "

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
116
lượt xem
20
download

Báo cáo " Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khái quát pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Ở Việt Nam trước đây hôn nhân có yếu tố nước ngoài là loại quan hệ không phổ biến. Tuy nhiên, trong gần hai thập kỉ qua, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hôn nhân có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xã hội. Hiện nay thậm chí có nơi, có lúc hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở thành hiện tượng khá phổ biến. Cũng như mọi...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo " Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài "

  1. nghiªn cøu - trao ®æi LÊ THỊ HOÀNG THANH * TRƯƠNG QUANG HỒNG ** 1. Khái quát pháp luật Việt Nam về nhận. Có thể nói, nội dung của các văn bản quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế Ở Việt Nam trước đây hôn nhân có yếu trên đây đã đóng góp phần rất quan trọng tố nước ngoài là loại quan hệ không phổ trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có biến. Tuy nhiên, trong gần hai thập kỉ qua, yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế gian qua. Tuy nhiên, so với đòi hỏi thực tế quốc tế, hôn nhân có yếu tố nước ngoài của đời sống quốc tế, pháp luật của Việt Nam không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời về vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu để áp sống xã hội. Hiện nay thậm chí có nơi, có dụng có hiệu quả và bổ sung hoàn thiện. lúc hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở Hiện nay, quan hệ hôn nhân và gia đình thành hiện tượng khá phổ biến. Cũng như có yếu tố nước ngoài được quy định tại Luật mọi quan hệ khác, quan hệ hôn nhân có yếu HN&GĐ Việt Nam năm 2000. Luật này đã tố nước ngoài cần có sự điều chỉnh của pháp dành Chương XI quy định những vấn đề có luật. Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề pháp lí tính nguyên tắc về quan hệ hôn nhân và gia liên quan tới quan hệ này trong giai đoạn đình có yếu tố nước ngoài.(1) Theo quy định hiện nay là rất cần thiết. của Luật HN&GĐ năm 2000(2) thì quan hệ Văn bản pháp lí trong nước đầu tiên của hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là Việt Nam ghi nhận các quy định điều chỉnh quan hệ mà có ít nhất một bên trong quan hệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là hôn nhân là người nước ngoài hoặc các chủ Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) thể cùng quốc tịch nhưng căn cứ để xác lập, năm 1986. Trên cơ sở của các quy định này, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nhiều văn bản pháp luật quan trọng về hôn nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan nhân có yếu tố nước ngoài lần lượt ra đời. hệ đó ở nước ngoài. Một trong những đặc Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã kí kết trưng cơ bản của quan hệ dân sự có yếu tố nhiều hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) nước ngoài nói chung và quan hệ hôn nhân với các nước mà mở đầu là HĐTTTP với và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng là Cộng hòa dân chủ Đức (cũ) vào năm 1980. vấn đề xung đột phát luật(3) nên Luật Tính đến nay, Việt Nam đã kí kết 14 HN&GĐ Việt Nam năm 2000 đã xây dựng HĐTTTP với các nước. Trong các hiệp định này vấn đề liên quan tới việc giải quyết quan *, ** Viện khoa học pháp lí hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được ghi Bộ tư pháp 50 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011
  2. nghiªn cøu - trao ®æi được một số quy phạm xung đột,(4) mục đích cường quản lí nhà nước đối với quan hệ hôn là giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xác nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; định hệ thống văn bản được áp dụng để giải - Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ quyết các vấn đề phát sinh. 05/2003/CT-UB ngày 20/02/2003 về việc thực Cần lưu ý rằng quan hệ hôn nhân có yếu hiện Nghị định của Chính phủ số 68/2002/CP tố nước ngoài không chỉ được điều chỉnh tại quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chương XI của Luật HN&GĐ Việt Nam năm HN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có 2000 mà còn được điều chỉnh ở các quy định yếu tố nước ngoài; khác của Luật như các quy định về điều kiện - Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, giải quyết Toà án nhân dân tối cao số 02/2004/NQ- li hôn… và hệ thống các văn bản khác có liên HĐTP ngày 10/08/2004 hướng dẫn áp dụng quan như Bộ luật dân sự năm 2005, Luật pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân quốc tịch năm 2008, Luật cư trú năm 2006, sự, hôn nhân và gia đình. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004... Ngoài các Như vậy, có thể nhận thấy trong hệ thống văn bản luật này, quan hệ hôn nhân và gia văn bản hướng dẫn thi hành LHN&GĐ, phần đình có yếu tố nước ngoài còn được điều nội dung về quan hệ hôn nhân và gia đình có chỉnh tại các văn bản hướng dẫn sau: yếu tố nước ngoài đã được ban hành tạo - Nghị định của Chính phủ số khung pháp lí tương đối đầy đủ, toàn diện. 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 quy định 2. Quy định của pháp luật Việt Nam chi tiết thi hành một số điều của Luật về nguyên tắc, điều kiện kết hôn, hồ sơ, HN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có thủ tục đăng kí kết hôn, li hôn trong quan yếu tố nước ngoài; hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài - Nghị định của Chính phủ số 2.1. Nguyên tắc của quan hệ pháp luật 69/2006/NĐ-CP ngày 21/07/2006 sửa đổi, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài bổ sung một số điều của Nghị định của Chính Theo quy định tại Điều 2 Luật HN&GĐ phủ số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 năm 2000, quan hệ hôn nhân và gia đình nói quy định chi tiết thi hành một số điều của chung, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu Luật HN&GĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; tố nước ngoài nói riêng tại Việt Nam phải - Nghị định của Chính phủ số tuân thủ những nguyên tắc sau: 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng “1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ kí và quản lí hộ tịch; một chồng, vợ chồng bình đẳng. - Nghị định của Chính phủ 87/2001/NĐ-CP 2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam ngày 21/11/2001 về xử phạt vi phạm hành thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, - Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 03/2005/CT-TTg ngày 25/02/2005 về tăng được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 51
  3. nghiªn cøu - trao ®æi 3. Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính 2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. với công dân Việt Nam, người nước ngoài 4. Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con tại Việt Nam được hưởng các quyền và có thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm 3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ sóc, giúp đỡ nhau. hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật 5. Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và và tập quán quốc tế...” con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú Quy định này cho thấy Nhà nước Việt và con ngoài giá thú. Nam tôn trọng và bảo vệ các quan hệ hôn 6. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các điều ước nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc gia nhập mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của (các điều ước quốc tế trong lĩnh vực này chủ người mẹ”. yếu là các hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp Đây là các nguyên tắc cơ bản của chế độ định lãnh sự) theo nguyên tắc “Trong trường hôn nhân và gia đình thể hiện những quan hợp điều ước quốc tế mà nước CHXHCN điểm chủ đạo xuyên suốt trong các quy định Việt Nam kí kết hoặc gia nhập có quy định của pháp luật. Những nguyên tắc chung của khác với Nghị định này thì áp dụng quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và của điều ước quốc tế đó” (Điều 4 Nghị định gia đình với công dân Việt Nam đều được áp số 68/2002/NĐ- CP). dụng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có Khoản 2 Điều 100 đã thể hiện tuyên bố yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó do tính đặc của Nhà nước Việt Nam về việc áp dụng chế thù của quan hệ này, Điều 100 Luật độ đãi ngộ như công dân với người nước HN&GĐ còn quy định một số nguyên tắc ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các giữa người nước ngoài với công dân Việt bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có Nam trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có yếu tố nước ngoài: quy định khác. “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 2.2. Điều kiện kết hôn trong quan hệ hôn Việt Nam quan hệ hôn nhân và gia đình có nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ Theo quy định tại Điều 103 Luật phù hợp với các quy định của pháp luật Việt HN&GĐ “Trong việc kết hôn giữa công Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia. bên phải tuân theo pháp luật của nước mình 52 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011
  4. nghiªn cøu - trao ®æi về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được 2.3. Hồ sơ đăng kí kết hôn có yếu tố tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm nước ngoài tại Việt Nam (5) quyền của Việt Nam thì người nước ngoài Theo quy định tại Nghị định số còn phải tuân theo các quy định của Luật 69/2006/NĐ-CP, hồ sơ đăng kí kết hôn của này về điều kiện kết hôn. Việc kết hôn giữa mỗi bên phải có các giấy tờ sau đây: những người nước ngoài với nhau tại Việt - Tờ khai đăng kí kết hôn theo mẫu Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt quy định; Nam phải tuân theo các quy định của Luật - Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của này về điều kiện kết hôn”. mỗi bên, do cơ quan có thẩm quyền của nước Pháp luật Việt Nam đã lựa chọn hệ mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa thuộc luật quốc tịch để giải quyết xung đột quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác pháp luật về điều kiện kết hôn - trong quan nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hệ kết hôn mỗi bên phải tuân theo pháp luật hoặc không có chồng. của nước mà mình là công dân về điều kiện Trong trường hợp pháp luật của nước mà kết hôn. Ngoài ra, công dân nước ngoài người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn đăng kí kết hôn tại Việt Nam ngoài việc nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng tuân thủ pháp luật của nước mình còn phải hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ tuân thủ pháp luật Việt Nam về điều kiện của đương sự là hiện tại họ không có vợ kết hôn, cụ thể là: hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật - Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ của nước đó; mười tám tuổi trở lên; - Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm - Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc cản trở; bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác - Việc kết hôn không thuộc một trong mà không thể nhận thức, làm chủ được hành các trường hợp cấm kết hôn (người đang vi của mình; có vợ hoặc có chồng; người mất năng lực - Bản sao có công chứng hoặc chứng hành vi dân sự; giữa những người cùng thực giấy chứng minh nhân dân (đối với dòng máu về trực hệ; giữa những người có công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành với con nuôi; giữa người đã từng là cha, hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài); dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con - Bản sao có công chứng hoặc chứng thực riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu chồng; giữa những người cùng giới tính - tập thể hoặc giấy xác nhận đăng kí tạm trú có Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000). thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 53
  5. nghiªn cøu - trao ®æi nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc mình và kí tên vào văn bản phỏng vấn; giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước - Niêm yết việc kết hôn trong 07 ngày ngoài ở Việt Nam). liên tục tại trụ sở sở tư pháp đồng thời có Ngoài các giấy tờ trên, đối với công dân công văn đề nghị UBND cấp xã, nơi thường Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan sự là công dân Việt Nam, nơi thường trú của trực tiếp đến bí mật nhà nước thì phải nộp người nước ngoài tại Việt Nam thực hiện giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lí việc niêm yết. UBND cấp xã có trách nhiệm ngành cấp trung ương hoặc cấp tỉnh, xác niêm yết việc kết hôn trong 07 ngày liên tục nhận việc người đó kết hôn với người nước tại trụ sở uỷ ban, kể từ ngày nhận được công ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí văn của sở tư pháp. Trong thời hạn này, nếu mật nhà nước hoặc không trái với quy định có khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện hành vi vi của ngành đó. phạm pháp luật về việc kết hôn thì UBND cấp 2.4. Thủ tục đăng kí kết hôn có yếu tố xã phải gửi văn bản báo cáo cho sở tư pháp; nước ngoài tại Việt Nam - Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng kí kết 2.4.1. Cơ quan có thẩm quyền đăng kí(6) hôn. Trong trường hợp nghi vấn hoặc có Theo quy định, UBND tỉnh hoặc thành khiếu nại, tố cáo đương sự kết hôn thông qua phố trực thuộc trung ương là cơ quan có môi giới bất hợp pháp, kết hôn giả tạo, lợi thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kết dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, kết hôn có yếu tố nước ngoài thông qua cơ quan hôn vì mục đích trục lợi khác hoặc xét thấy chuyên môn của UBND là sở tư pháp, hồ sơ có vấn đề cần làm rõ về nhân thân của đương đăng kí kết hôn có yếu tố nước ngoài được sự hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng kí kết hôn, nộp và giải quyết tại sở tư pháp tỉnh, thành sở tư pháp tiến hành xác minh làm rõ; phố thuộc trung ương. Đối với trường hợp - Báo cáo kết quả phỏng vấn các bên kết hôn giữa công dân Việt Nam với người đương sự, thẩm tra hồ sơ kết hôn và đề xuất nước ngoài ở khu vực biên giới Việt Nam thì ý kiến giải quyết việc đăng kí kết hôn, trình thẩm quyền do UBND cấp xã công nhận. UBND cấp tỉnh quyết định, kèm theo 01 bộ 2.4.2. Trình tự, thủ tục Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày hồ sơ đăng kí kết hôn. nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, sở tư pháp Việc đăng kí kết hôn cũng bị từ chối nếu có trách nhiệm:(7) kết quả phỏng vấn, thẩm tra, xác minh cho - Thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở thấy việc kết hôn thông qua môi giới bất hợp sở tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm pháp; kết hôn giả tạo không nhằm mục đích tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của họ, về xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và hạnh phúc, bền vững; kết hôn không phù mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau. Việc hợp với thuần phong mĩ tục của dân tộc; lợi phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán dụng việc kết hôn để mua bán phụ nữ, xâm bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục 54 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011
  6. nghiªn cøu - trao ®æi đích trục lợi khác. Việt Nam, sở tư pháp tiến hành phỏng vấn Có thể nói rằng quy định pháp luật Việt các bên kết hôn để làm rõ sự tự nguyện kết Nam tương đối chặt chẽ trong việc giải quyết hôn của họ” (Nghị định số 69/2006/NĐ-CP). hồ sơ kết hôn, các biện pháp phỏng vấn đương Có thể nhận thấy quy định về việc công sự, thẩm tra, xác minh hồ sơ và quyền từ nhận kết hôn đã được tiến hành ở nước ngoài chối đăng kí kết hôn đã tạo cơ chế hữu hiệu còn khá đơn giản, lỏng lẻo, chưa đáp ứng cho việc kiểm soát tình trạng hôn nhân giả được yêu cầu trong thực tế. mạo, vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện. 2.6. Li hôn có yếu tố nước ngoài 2.5. Công nhận việc kết hôn đã được tiến Pháp luật Việt Nam đã lựa chọn quy hành ở nước ngoài phạm xung đột một bên, theo đó khẳng định Nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp pháp luật của nước sở tại sẽ được áp dụng của công dân, pháp luật Việt Nam đã quy định để giải quyết việc li hôn giữa công dân Việt về thủ tục công nhận việc kết hôn đã được tiến Nam với người nước ngoài, giữa người hành ở nước ngoài, theo đó: nước ngoài với nhau thường trú tại Việt “1. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam được giải quyết theo quy định của Nam với nhau hoặc với người nước ngoài pháp luật Việt Nam, cụ thể là Bộ luật tố đã được đăng kí tại cơ quan có thẩm quyền tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật HN&GĐ của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của Việt Nam. Ngoài ra, hệ thuộc luật nơi cư trú nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, chung cũng được lựa chọn trong trường hợp nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt bên là công dân Việt Nam không thường trú Nam không vi phạm quy định của pháp luật tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu li hôn, Việt Nam về điều kiện kết hôn. theo đó việc li hôn sẽ được giải quyết theo Trong trường hợp có sự vi phạm pháp pháp luật của nước nơi thường trú chung luật Việt Nam về điều kiện kết hôn nhưng của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết trú chung thì theo pháp luật Việt Nam. Việc hôn, hậu quả của sự vi phạm đó đã được giải quyết tài sản là bất động sản ở nước khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn đó ngoài khi li hôn tuân theo pháp luật của là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và nước nơi có bất động sản đó. trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công Việc li hôn trong quan hệ hôn nhân có nhận tại Việt Nam. yếu tố nước ngoài hiện nay được xem là 2. Việc công nhận kết hôn quy định tại quyền dân sự của các bên trong quan hệ hôn khoản 1 Điều này được ghi chú vào sổ đăng nhân đó và được pháp luật bảo hộ, không có kí theo quy định của pháp luật về đăng kí hộ bất cứ trở ngại nào. Trong trường hợp li hôn tịch. Trong trường hợp công dân Việt Nam một bên (quy định tại Điều 91 Luật vắng mặt khi làm thủ tục đăng kí kết hôn tại HN&GĐ năm 2000), người muốn li hôn cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải có nghĩa vụ chứng minh được trong hồ khi có yêu cầu công nhận việc kết hôn đó tại sơ li hôn của mình rằng mục đích hôn nhân t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 55
  7. nghiªn cøu - trao ®æi và mục đích sống chung giữa người đó và cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để người chồng hoặc vợ là không đạt được đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo trong quá trình sống chung. theo quy định của pháp luật tố tụng. Theo tinh thần của Nghị quyết của Hội Nếu người nước ngoài đang ở nước đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số ngoài (nguyên đơn) xin li hôn với người Việt 01/2003/NQ-HĐTP, đối với trường hợp Nam mà người Việt Nam còn quốc tịch và công dân Việt Nam ở trong nước xin li hôn đang cư trú tại Việt Nam thì toà án thụ lí giải với công dân Việt Nam đã ra nước ngoài (bị quyết như sau: Trường hợp nguyên đơn là đơn), toà án phân biệt như sau: công dân của nước mà Việt Nam đã kí điệp Thứ nhất, nếu có thể liên lạc được với bị định tương trợ tư pháp thì áp dụng hiệp định đơn ở nước ngoài thông qua thân nhân của để giải quyết (nếu hiệp định quy định khác họ thì toà án thông qua thân nhân đó gửi cho với luật trong nước) hoặc áp dụng Luật bị đơn ở nước ngoài lời khai của nguyên đơn HN&GĐ năm 2000 để giải quyết (nếu không và yêu cầu họ phúc đáp về toà án những lời có quy định khác). Trường hợp nguyên đơn khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải là công dân của nước mà Việt Nam chưa kí quyết li hôn. Căn cứ vào lời khai và tài liệu kết hiệp định tương trợ tư pháp thì áp dụng nhận được, toà án xét xử theo thủ tục chung. Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết. Thứ hai, nếu thực sự không liên hệ được Trong cả hai trường hợp trên, việc giải quyết với bị đơn ở nước ngoài thì toà ra quyết định tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi li tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, giải thích hôn tuân theo pháp luật của nước đó. Trong cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện trường hợp người Việt Nam không còn quốc yêu cầu TAND cấp huyện nơi họ thường trú tịch Việt Nam thì dù họ đang cư trú tại Việt tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết. Đây Nam, toà án cũng không thụ lí giải quyết vì là cơ sở để chấm dứt hôn nhân. việc này không thuộc thẩm quyền giải quyết Thứ ba, nếu có căn cứ cho thấy thân của toà án Việt Nam. Trong trường hợp nhân của bị đơn biết nhưng không cung cấp người nước ngoài sau khi kết hôn với người địa chỉ, tin tức bị đơn cho toà án cũng như Việt Nam tại Việt Nam đã trở về nước và không thực hiện yêu cầu của toà án (ở phần không quay trở lại, không liên lạc nếu người thứ nhất) thì coi đây là trường hợp bị đơn trong nước xin li hôn thì toà án xác minh địa cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Nếu chỉ của bị đơn ở nước ngoài để liên hệ lấy lời đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của khai. Nếu không liên lạc được và người nước họ vẫn không chịu hợp tác thì toà án đưa vụ ngoài không liên hệ với vợ hoặc chồng trong án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục nước từ 01 năm trở lên thì toà coi đó là chung. Sau khi xét xử, toà án gửi ngay cho trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Vụ thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc kiện xin li hôn được xét xử vắng mặt bị đơn. quyết định đồng thời niêm yết công khai Như vậy, có thể nhận thấy các quy định bản sao bản án, quyết định tại trụ sở UBND hiện hành về li hôn có yếu tố nước ngoài đã 56 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011
  8. nghiªn cøu - trao ®æi tạo sự thuận lợi cho cả hai bên vợ, chồng, đăng kí kết hôn (điểm b khoản 1 Điều 16) đảm bảo quyền lợi, công bằng cho các đối nhưng chưa có văn bản hướng dẫn xác định tượng có liên quan. các căn cứ cụ thể để làm cơ sở cho việc từ 3. Một số đánh giá pháp luật Việt Nam chối (như trường hợp chênh lệch tuổi tác). về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố - Chưa có những quy định hướng dẫn nước ngoài hoạt động của trung tâm hỗ trợ kết hôn trong Có thể nói rằng pháp luật Việt Nam đã việc thực hiện chức năng tư vấn, môi giới quy định khá đầy đủ những vấn đề cơ bản về hôn nhân. quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, thể - Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam những quy định về xác lập thông tin về tình trong việc tôn trọng quan hệ kết hôn tự hình sinh sống của công dân Việt Nam kết nguyện, tiến bộ, chấp hành quy định của hôn với người nước ngoài và đang sinh sống pháp luật Việt Nam. Cùng với quá trình phát ở nước ngoài (chẳng hạn pháp luật chưa có triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế sâu quy định việc bảo hộ cho công dân Việt rộng, pháp luật về quan hệ hôn nhân và gia Nam là phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn đình đã tạo khung pháp lí quan trọng để ghi sang định cư ở nước ngoài như Đài Loan nhận, bảo hộ các quan hệ hôn nhân có yếu tố (Trung Quốc), Hàn Quốc nên việc giúp đỡ nước ngoài giữa công dân Việt Nam với các cô dâu Việt Nam khi gặp hoàn cảnh khó người nước ngoài, giữa người nước ngoài khăn còn nhiều hạn chế. với nhau trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài - Chưa có những quy định để giải quyết những thành tựu này, việc rà soát khung vướng mắc về hộ tịch cho trẻ em là con pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố chung của phụ nữ Việt Nam và người nước nước ngoài cho thấy hệ thống pháp luật tồn ngoài khi theo mẹ về cư trú ở trong nước. tại một số điểm bất cập, hạn chế sau: Thứ hai, pháp luật về quan hệ hôn nhân Thứ nhất, pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài có những điểm chưa có yếu tố nước ngoài chưa đầy đủ. phù hợp với thực tiễn cuộc sống. - Các quy định về điều kiện kết hôn - Một số hệ thuộc luật áp dụng tại trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Chương XI của Luật HN&GĐ chưa thực sự được áp dụng chung cho cả các quan hệ hôn phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn áp nhân có yếu tố nước ngoài mà chưa có dụng pháp luật. những quy định riêng về các điều kiện kết - Cơ chế về tổ chức và hoạt động của các hôn với người nước ngoài (chẳng hạn quy trung tâm hỗ trợ kết hôn thuộc hội liên hiệp định không quá chênh lệch về tuổi tác, có phụ nữ chưa thực sự hợp lí để các trung tâm hiểu biết lẫn nhau giữa hai bên tại thời điểm này hoạt động có hiệu quả, góp phần bảo đảm đăng kí kết hôn) . việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với - Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị người nước ngoài đúng pháp luật và lành mạnh. định số 69/2006/NĐ-CP cho phép từ chối - Pháp luật chưa có biện pháp hữu hiệu t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 57
  9. nghiªn cøu - trao ®æi để ngăn chặn tình trạng kết hôn giả tạo nhằm Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định mục đích khác. số 69/2006/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều hạn chế, - Trước thực trạng kết hôn có yếu tố không theo kịp diễn biến thực tế của quan hệ nước ngoài diễn biến phức tạp, những năm hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. gần đây, Chính phủ đã chỉ đạo chấn chỉnh Điều địa phương trông chờ hiện nay là các công tác quản lí và đăng kí kết hôn có yếu tố bộ, ngành nhanh chóng tham mưu cho Chính nước ngoài. Tại Long An, năm 2006, UBND phủ sửa đổi 2 văn bản quan trọng nói trên và tỉnh ban hành Quyết định số 52 quy định về có chỉ đạo kịp thời để chấn chỉnh quản lí thủ tục, trình tự và thời hạn giải quyết việc công tác này trong thời gian tới.(8) hộ tịch, quốc tịch, lí lịch tư pháp tại sở tư Thứ ba, pháp luật về quan hệ hôn nhân có pháp; chỉ đạo sở tư pháp tăng cường thực yếu tố nước ngoài có những điểm còn khó hiện quy định về phỏng vấn các bên kết hôn khăn trong việc áp dụng. Chẳng hạn quy định trong thủ tục đăng kí kết hôn và thủ tục ghi về công nhận và cho thi hành các bản án, chú. Trên cơ sở đó, sở tư pháp đã thành lập quyết định của toà án nước ngoài về việc li đội ngũ cán bộ phỏng vấn độc lập với Phòng hôn của công dân Việt Nam với người nước nghiệp vụ đăng kí hộ tịch nên đã hạn chế ngoài tại Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam tiêu cực, lạm quyền trong quá trình giải năm 2004 còn khó khăn trong việc áp dụng. quyết và nâng cao chất lượng phỏng vấn. Thứ tư, hệ thống phát luật còn thiếu Tỉnh cũng chỉ đạo ngành công an tăng cường vắng những thoả thuận hợp tác, hiệp định thực hiện biện pháp xác minh để làm rõ các tương trợ tư pháp với các nước(9) để tạo lập trường hợp kết hôn có nghi vấn. Công tác cơ chế hữu hiệu cho việc bảo hộ công dân xác minh, phỏng vấn đã giúp cho việc giải Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và quyết đúng pháp luật, loại trừ các trường hợp sinh sống tại nước ngoài. kết hôn giả tạo thông qua môi giới bất hợp Để giải quyết những vấn đề xung đột pháp hoặc kết hôn nhằm mục đích khác. Đầu pháp luật và bảo hộ quyền lợi chính đáng tháng 12/2007, UBND tỉnh tiếp tục ban hành của công dân sinh sống ở nước khác, việc Chỉ thị về tăng cường quản lí quan hệ hôn các nước kí kết các thoả thuận hợp tác cấp nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong nhà nước về dân sự, các hiệp định tương trợ đó áp dụng nhiều biện pháp như tuyên tư pháp là biện pháp hữu hiệu, tuy nhiên tại truyền, giáo dục pháp luật cho phụ nữ, ngăn Việt Nam việc nghiên cứu, đề xuất việc đàm chặn, triệt phá các đường dây môi giới kết phán, kí kết thoả thuận với các nước hữu hôn; Tăng cường công tác phỏng vấn, xác quan để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp minh, mạnh dạn từ chối giải quyết với những pháp của công dân Việt Nam kết hôn với trường hợp kết hôn qua môi giới, kết hôn vội người nước ngoài và đang sinh sống ở nước vã hoặc hai bên chưa giao tiếp được với ngoài trên các phương diện quốc tịch, cư trú, nhau. Tuy nhiên, mọi cố gắng của địa hôn nhân và gia đình, tài sản... phù hợp với phương cũng chỉ là tạm thời, bởi hiện nay pháp luật của Việt Nam, pháp luật nước sở 58 t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011
  10. nghiªn cøu - trao ®æi tại, pháp luật và tập quán quốc tế còn chậm. cầu nghiên cứu tổng thể và kĩ càng hơn quy Thực tế cũng cho thấy do chưa có văn định pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân bản hợp tác cấp nhà nước để có giải pháp và gia đình có yếu tố nước ngoài để bảo vệ chung giải quyết những vấn đề xung đột những cuộc hôn nhân tự nguyện tiến bộ, ngăn pháp luật nên trong quan hệ công dân Việt chặn tình trạng vi phạm pháp luật và bảo vệ Nam kết hôn với công dân ở một số nước, hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của công vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan nên dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài./. trên thực tế đã nảy sinh tình trạng lách luật trong việc đăng kí kết hôn, quyền lợi của (1). Chương XI Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 có 7 điều (từ Điều 100 đến Điều 106) điều chỉnh toàn công dân Việt Nam sinh sống ở nước ngoài diện hơn so với Luật HN&GĐ Việt Nam năm 1986. chưa được bảo hộ đúng mức. Chẳng hạn, (2).Xem: Điều 8 “quan hệ hôn nhân và gia đình có pháp luật Hàn Quốc chấp nhận việc đăng kí yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: kết hôn vắng mặt, trong khi đó pháp luật a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; Việt Nam yêu cầu hai bên nam nữ phải có b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; mặt khi làm thủ tục đăng kí kết hôn. Nhiều c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để đôi trong hôn nhân Hàn-Việt chưa có điều xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật kiện gặp gỡ, tìm hiểu đã đi đến quyết định nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở kết hôn và để giảm thiểu chi phí đi lại, phía nước ngoài”. Việt Nam sẽ gửi hồ sơ (giấy xác nhận độc (3). Hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể được áp dụng nhằm điều chỉnh thân, bản sao khai sinh, chứng minh nhân một quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài. dân) sang Hàn Quốc để kê khai việc kết hôn (4).Xem: Điều 101, 103, 104, 105, 106 Luật HN&GĐ và được nhập tên vào sổ hộ khẩu gia đình năm 2000. người chồng tại Hàn Quốc. Sau đó, công dân (5). Trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với Việt Nam có thể đến lãnh sự quán Hàn Quốc công dân nước ngoài cùng sinh sống ở khu vực biên giới, hồ sơ đăng kí kết hôn được quy định đơn giản hơn. tại Việt Nam để được cấp giấy chứng nhận (6). Trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với không cản trở việc kết hôn theo luật pháp Hàn công dân nước ngoài cùng sinh sống ở khu vực biên Quốc, làm thủ tục ghi chú kết hôn tại sở tư giới, thẩm quyền cấp chứng nhận đăng kí kết hôn là pháp và thực hiện các thủ tục để xuất cảnh UBND xã và thủ tục giải quyết hồ sơ đăng kí kết hôn đến Hàn Quốc. Ngoài ra, pháp luật Hàn Quốc cũng đơn giản hơn. (7).Xem: Điều 16 Nghị định của Chính phủ số còn có một số quy định bất lợi đối với người 68/2002/NĐ-CP. phụ nữ như trường hợp người vợ phải làm (8).Nguồn:http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabi việc nhà, nuôi dạy con cái thì không được d=81&NewsId=3102 công nhận đóng góp trong việc hình thành (9). Hiện tại Việt Nam chỉ mới kí Hiệp định tương trợ tài sản chung vợ chồng, thủ tục nhập quốc tư pháp với 15 nước (Ba Lan, Bê-la-rút, Bun-ga-ri, CHDCND Triều Tiên, Cu Ba, Hung-ga-ri, CHDCND tịch Hàn Quốc tương đối khó khăn và tiềm Lào, Liên Xô (cũ), Mông Cổ, Cộng hoà Liên bang Nga, ẩn nhiều rủi ro cho phía công dân nước ngoài. Cộng hoà Pháp, Tiệp Khắc, Trung Quốc, U-crai-na, Một số điểm bất cập nói trên đặt ra yêu Hàn Quốc). t¹p chÝ luËt häc sè 9/2011 59

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản