intTypePromotion=1

ĐỀ TÀI: Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình CNH-HĐH ở việt nam

Chia sẻ: Nhu Chau | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:36

0
191
lượt xem
52
download

ĐỀ TÀI: Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình CNH-HĐH ở việt nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài: vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình cnh-hđh ở việt nam', luận văn - báo cáo, báo cáo khoa học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐỀ TÀI: Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình CNH-HĐH ở việt nam

  1. ĐỀ TÀI: Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình CNH-HĐH ở việt nam 1
  2. LỜI NÓI ĐẦU Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã vàđang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Bước vào thế kỷ XXI, trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục-đào tạo, môi trường … đều có những biến đổi sâu sắc. Cùng với sự xuất hiện các cơ hội phát triển mới, nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học và công nghệ thông tin … sẽ là những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhờ vận dụng nhanh chóng những thành tựu mới của khoa học công nghệ, cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đối với công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học … Cục diện hiện nay của nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới đã có sự thay đổi về căn bản trên quy mô toàn cầu, trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều nước đang tiến nhanh vào kỷ nguyên thông tin, trong đó cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc nghiên cứu vàứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ. Khoa học-công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sản xuất, điều này kéo theo sự thay đổi lớn trong các lĩnh vực kinh doanh cũng như trong quản lý của mỗi một đơn vị doanh nghiệp. Sự phát triển của khoa học công nghệ cũng làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các quốc gia trở nên khốc liệt. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuất kinh doanh và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển mạnh. Là một sinh viên chuyên ngành về quản lý, em rất tâm đắc với đề tài: “Vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình CNH-HĐH ở việt nam”. Nhưng do kiến thức và kinh nghiệm còn ít, sự nghiên cứu vềđề tài còn nhiều thiếu sót, kính mong các giảng viên giúp đỡ và sửa chữa những thiếu sót hộ em để sau này em có thể nghiên cứu được những đề tài khác tốt hơn. 2
  3. I.NHỮNGLÝLUẬNCHUNGVỀCÔNGNGHỆ: 1.Công nghệ là gì ? Công nghệ luôn được hiểu theo một nghĩa rộng là sựứng dụng các trí thức khoa học vào giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn. Như vậy công nghệ là một sản phẩm do con người tạo ra làm công cụđể sản xuất ra của cải vật chất. Cho tới này định nghĩa về công nghệ chưa toàn diện thống nhất, điều này được lý giải là do số lượng các công nghệ có nhiều đến mức không thể thống kêđược. Người sử dụng công nghệ trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau dẫn đến sự hiểu biết về công nghệ cũng khác nhau. +Theo UNIDO (United Nation’s Industrial Development organization) tổ chức phát triển công nghệ của liên hợp quốc thì : công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và sử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp. +Theo ESCAP (Economic and Social Commission for asia and the Pacific) uỷ ban kinh tế và xã hội châu á Thái Bình Dương thì : công nghệ là một hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Sau đó ESCAP mở rộng định nghĩa của mình: Nó bao gồm tất cả các kỹ năng kiến thức thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin. Định nghĩa này được coi là bước ngặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ. Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể mà mở rộng khái niệm ra các lĩnh vực mới như dịch vụ và quản lý. +Cuối cùng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ : công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra. 2.Các bộ phận cấu thành của công nghệ. Công nghệ là phương tiện để giải quyết các mục tiêu kinh tế nên thước đo của hoạt động công nghệ là phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào việc nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội. Công nghệ phụ thuộc vào môi trường kinh tế, môi trường xã hội trong thực tế. Yêu cầu chất lượng, xu thế phát triển của thị trường, sản phẩm là nhân tố hạn chế sự 3
  4. lựa chọn. Đồng thời lựa chọn công nghệ lại bị ràng buộc bởi quan hệ buôn bán trong nước và quốc tế, do đó vấn đềáp dụng công nghệ vào quá trình phát triển kinh tế giải quyết một mục tiêu cụ thề là một tập hợp các vấn đề cần tính toán vàđồng bộ. Bất cứ một công nghệ nào, dù công nghệđơn giản hay công nghệ phức tạp thì cũng đều được cấu thành từ 4 yếu tố cơ bản, bốn thành phần đó tác động qua lại lẫn nhau và hợp thành một chính thể khoa học. +Con người- đội ngũ lao động kỹ thuật vận hành điều khiển và quản lý có kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm (Human ware - Viết tắt là H) +Thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tùng. Đây là phần vật chất, phần cứng của công nghệđược gọi là kỹ thuật (Techro ware - viết tắt là T) +Thông tin dữ liệu, dữ kiện, thuyết minh kỹ thuật, đặc trưng kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn (Inforware- viết tắt là I) +Quản lý là chỉ các hoạt động giữ mối liên kết trong phân bổ các nguồn lực, thiết kế và thực thi các chính sách quản lý sản xuất và kinh doanh. Có thể gọi đây là phần tổ chức của công nghệ (Orga ware - viết tắt là O) Vậy trong 4 bộ phận cấu thành cơ bản đó thì con người đóng vai trò chủđạo trong quá trình vận hành và biến đổi công nghệ. Nhờđó sử dụng tốt hơn các nguồn lực, thiết bị là cốt lõi. Nhưng thiết bị lại do con người lắp đặt và vận hành: thông tin là sự tích luỹ kiến thức. Khối lượng kiến thức càng tăng càng đỏi hỏi công tác quản lý thông tin ngày càng cao; tổ chức là quá trình điều phối thông tin. Nhận xét tổng thể lại, con người, thiết bị cùng với vật tư tạo thành các nguồn lực cho sản xuất và kinh doanh, hay nói một cách khác công nghệđược phân thành : -Phần cứng là sản phẩm tồn tại ở dạng vật chất. -Phần mềm là sản phẩm của trí tuệ, các bí quyết thông số, phương pháp… 3.Các thuộc tính của công nghệ : Công nghệ là một loại hàng hoáđặc biệt, tuy nhiên với tư cách là một hệ thống công cụ chế biến vật chất và chế biến thông tin, hàng hoá công nghệ có những thuộc tính riêng. Các thuộc tính này quy định vàảnh hưởng trực tiếp đến việc mua bán định giá, trao đổi, sử dụng công nghệ. Công nghệ bao gồm 4 thuộc tính cơ bản : 4
  5. -Tính hệ thống -Tính sinh thể -Tính đặc thù -Và tính thông tin Cũng như 4 bộ phận cấu thành một công nghệ, 4 thuộc tính cơ bản này cũng có thểđược xem là 4 tiêu thức cơ bản để mọi người có thể nhìn nhận một công nghệ. II.SỰPHÁTTRIỂNCỦACÔNGNGHỆ. Con người là chủ thể của sản xuất và là yếu tố quyết định. Song sự phát triển của con người về tri thức và kỹ năng sản xuất thì lại biểu hiện hay kết tinh ở tư liệu lao động. Việc sử dụng và sáng tạo ra những tư liệu lao động tuy đã có mầm mống ở một vài loài động vật nào đó. Nhưng vẫn là một nét đặc trưng riêng của quá trình lao động của con người. Đối với việc đánh giá những hình thái kinh tế xã hội cũng nhưđánh giá sự phát triển của tiến bộ khoa học loài người thì chúng ta nên đánh giá từ những mốc lịch sử khám phá sơ khai của loài người. 1.Sự phát triển chung của công nghệ : Những thời đại Kinh tế khác nhau không phải là chúng sản xuất ra cái gì mà là chúng sản xuất bằng cách nào. Với những tư liệu lao động gì và khám pháđược gì cho nền sản xuất kinh doanh. Như vậy sự phát triển của kỹ thuật công nghệ có thểđược biết tới qua những mốc lịch sử lớn sau đây: +Thứ nhất: những công cụ nguyên thuỷ: hòn đá, cây gậy nhọn, cung tên và những tư liệu lao động khác như ngọn lửa, một sốđộng vật được thuần dưỡng … Đây có thể xem như là sự khám phá tìm tòi. Nghiên cứu cùng như là những phát minh của con người ở thủa còn sơ khai. +Thứ hai: thời đại đồđá, đây là một giai đoạn phát triển khá dài vàđược phân rõ thành 2 giai đoạn: -Thời đại đồđá cũ -Thời đại đồđá mới +Thứ ba: thời đại đồđồng +Thứ tư: thời đại đồ sắt 5
  6. +Thứ năm: thời đại cơ khí hoá. Mởđầu bằng cuộc công nghệ công nghiệp cuối thế kỷ 18 vàđược phát triển mạnh hơn cao hơn với việc ứng dụng rộng rãi của điện khí hoá từđầu thế kỷ 19. Cuộc CM khoa học-kỹ thuật hay còn gọi là cuộc CM khoa học - công nghệ. Khởi đầu từ những thập niên 50 của thế kỷ 20 với tên gọi này người ta muốn nhấn mạnh đến sự kết nối trực tiếp từ những phát minh khoa học đến những ứng dụng vào kỹ thuật công nghệ. Nếu trước đây từ những phát minh khoa học đến những ứng dụng vào kỹ thuật công nghệ thường phải mất một thời gian khá dài, có khi cả trăm năm, nghìn năm, thì ngày nay khoảng cách đóđược rút ngắn đi rất nhiều. Vào thời đại của C.Mác đã sớm nhận thấy xu hướng ấy khi đưa ra nhận định : “Khoa học ngày trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” Ở Châu Âu, sau đêm dài trung cổ, nhiều ngành khoa học đã có bước phát triển nhảy vọt trong 2 thế kỷ 17 và 18. Khởi đầu là toán học, thiên văn học, vật lý học, hoá học, với những nhà bác học điển hình như : -Galia (1564- 1642) là nhà thiên văn học người Italia. Người đầu tiên dùng kính viễn vọng quan sát mặt trời, mặt trăng và các hành tinh. Ông nổi tiếng về công lao chứng minh thuyết vũ trụ của Copernic, phát minh ra luật quán tính, luật rơi tự do… -Niwton (1642- 1727) nhà khoa học người Anh, ông là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, cơ học, phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn. Các quy luật của cơ học cổđiển … kể từđây, mở ra thời kỳ mới- thời đại cơ giới hoá. -Leonard de Vinci- danh hoạ vĩđại. Ông đã vẽ các kiểu máy tiện, máy bơm, vũ khí, máy bay, nghiên cứu địa chất. -Copernic (1473-1543)-người Ba Lan, phát hiện ra mặt trời là trung tâm vũ trụ. -Lavoisier (1743-1794) nhà khoa học người Pháp phát hiện thành phần hoá học của nước và cấu tạo nguyên tố hoá chất. Cuộc cách mạng khoa học đã mởđường cho một cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ lớn nhất trong lịch sử loài người vào cuối thế kỷ 18 mà nội dung là chế tạo ra máy móc, cơ khí hoá nền sản xuất xã hội chuyển từ lao động thủ công sang 6
  7. lao động bằng máy móc. Cuộc cách mạng kỹ thuật – công nghệđược gọi là cuộc cách mạng công nghiệp lớn nhất của nhân loại. Bởi nóđưa máy móc vào công nghiệp thay thế thủ công bằng cơ khí hoá và dùng máy móc để sản xuất ra maý móc như một quy luật quan trọng của C.Mác đã phát hiện của sản xuất đại công nghiệp nhằm cơ khí hoá tiếp các ngành sản xuất khác như vận tải, nông nghiệp… Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra đầu tiên ở Anh (trong khoảng thời gian 1750-1830) rồi sau đó lan rộng sang Pháp, Đức và một số nước Châu Âu cụ thể là: -Máy kéo Sợi (1735) và tiếp sau là máy dệt. -Máy hơi nước (1784) và tiếp sau đó làôtô chạy bằng hơi nước (1789). -Đầu tàu hoả chạy bằng hơi nước (1803) -Tàu biển chạy bằng hơi nước (1851) -Động cơđốt trong (1860) và tiếp sau làôtô chạy bằng động cơđốt trong (1886). -Điện tín (1843), liên lạc điện thoại (1875), trạm điện thoại (1878) -Đèn điện (1878) -Từđầu thế kỷ XX, điện được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất và vào nhiều ngành kỹ thuật cơ khí hoáđược phát triển và nâng cao nhờĐiện khí hoá. Tất cả những thành tựu về công nghệđã dẫn đến kết quả làm cho lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng cao. Nhờđó mà loài người chuyển từ phương thức sản xuất này lên phương thức sản xuất khác cao hơn, chuyển từ nền văn minh này lên nền văn minh khác tiên tiến hơn. Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra nửa thế kỷ nay cũng đang gây ra những biến đổi sâu sắc trong các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, sản xuất tựđộng hoá ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng cao, sản phẩm dồi dào. Tỷ lệ lao động tríóc trong sản xuất tăng lên trong khi tỉ lệ lao động chân tay giảm xuống, nảy sinh nạn thất nghiệp cơ cấu. Hợp chất mới sáng tạo ra thay thế một số vật lực có sẵn trong thiên nhiên, tiết kiệm tài nguyên, thiên nhiên, con người qua hạn hẹp mà thiên hiên đã ban tặng cho họ. Xuất hiện một số ngành sản xuất mới trong khi một số ngành sản xuất cũ suy thoái. Khoảng cách giữa những nước tiên 7
  8. tiến vốn cóưu thế về kỹ thuật-công nghệ và phần lớn những Nước lạc hậu ngày càng doãng ra, lợi thế của một số nước giàu tài nguyên thiên nhiên, giàu lao động giảm xuống. Xu thế toàn cấu hoá nền kinh tế với sự kiên doanh kiên kết, đầu tư, chuyển giao công nghệ ngày càng phát triển mạnh. Ngày nay vị thế của công nghệ-kỹ thuật tếđã có vị trí xứng đáng trong quỹđạo của nền sản xuất-xã hội và nó cũng được xem như một chiến lược phát triển lâu dài của mỗi một quốc gia. 2.Công nghệđiển hình: *Công nghệ vật liệu mới Trong vòng 40 năm trở lại đây, khoa học và công nghệđã tạo ra được các loại vật liệu đáp ứng được tất cả các yêu cầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Trong nhiều trường hợp phát minh vật liệu mới, làm nảy sinh ngành công nghiệp mới (bán dẫn-vi mạch, máy tính điện tử, tin học, thông tin…) một vài thành tựu nổi bật về công nghệ vật liệu mới là: -Vật liệu siêu dẫn -Vật liệu composit ( vật liệu tổ hợp hay phức hợp) -Gốm kim loại. Vật liệu mới làđặc trưng quan trọng đánh dấu sự phát triển của công nghệ (kỷ nguyên phát triển nhân loại đánh dấu bằng đồđá, đồđông, thép tổng hợp, phức hợp) Một công nghệ mới, cao cấp cần có các thiết bị làm bằng các vật liệu đặc biệt (nhẹ, cách âm, cách nhiệt…) ngược lại muốn có các vật liệu đăc biệt lại đòi hỏi công nghệ cao cấp về cơ khí chính xác, chân không siêu sạch… 8
  9. *Công nghệĐiện tử và vi điện tử Trong rất nhiều lĩnh vực khoa học-kinh tế, người ta phải dùng đến các thiết bịđiện tửđể thực hiện các chức năng như khuyếch đại, phát tín hiệu điện, biến đổi tín hiệu điện. -Tạo hình, tạo âm thanh… lúc đầu, linh kiện chính trong các thiết bịđó làđèn điện tử, được phát minh vào năm 1906, năm 1947 xuất hiện các linh kiện bán dẫn, năm 1961 xuất hiện mạnh tích hợp IC và năm 1971 là các mạch vi sử lý thường phát minh các dụng cụđiển tử mở ra kỷ nguyên của máy tính điện tử. *Công nghệ thông tin Thành quả của công nghệĐiện tử-Vi điện tử tạo ra máy tính điện tử cùng với phần mềm là các chương trình ứng dụng, tạo ra một công nghệ mới là tin học (informaties). Cuối những năm 70 vàđầu những năm 80 của thế kỷ XX xuất hiện kỹ thuật số (digital) tạo bước ngoặt trong lĩnh vực truyền tin, do các ưu việt: -Độ tin cậy cao -Số lượng truyền lớn. -Tốc độ trao đổi nhanh. Kỹ thuật số kết hợp với vật liệu quang truyền dẫn thông tin bằng Laze trong cáp quang. Tin học cùng viễn thông tạo ra ngành công nghiệp mới, công nghệ thông tin qua các hoạt động lưu trữ và truyền số liệu điện tử (EDI) dẫn đến các hoạt động như vay vốn chuyển vốn ngoại tệ, mua bán cổ phần, tìm chênh lệch giá tín dụng, chứng khoán… Tạo ra một xã hội hoàn toàn mới trong thế kỷ XXI. *Công nghệ sinh học Công nghệ sinh học sử dụng các tác nhân sinh vật vào quá trình sản xuất, cóđặc trưng công nghiệp, sản xuất tư liệu sản xuất cho nó và các nành khác, có quy mô sản xuất là tế bào trong lĩnh vực này có 4 khía cạnh cụ thể: -Công nghệ Vi sinh -Kỹ thuật enzim 9
  10. -Kỹ thuật nuôi cấy tế bào *Công nghệ tựđộng hoá Tựđộng hoá là một quá trình trong sự phát triển sản xuất mà các chức năng điều khiển và kiểm tra do máy móc và thiết bị tựđộng điều khiển, nhờ tựđộng hoá quá trình sản xuất mà chất lượng sản phẩm hoàn hảo, năng suất lao động cao và tránh được các nguy hiểm đối với con người. Sự ra đời của máy tính điện tửđã làm thay đổi về chất của tựđộng hoá và mở rộng nó ra không chỉ trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà cả trong thông tin, dịch vụ và quản lý, đưa các lĩnh vực này trở thành các ngành công nghệ mũi nhọn trên phạm vi toàn thế giới. Trong lĩnh vực sản xuất, các thành tựu của tựđộng hoá bao trùm lên tất cả các ngành sản xuất, là cơ sở của các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật cao: Du hành vũ trụ thông tin, năng lượng mới, kỹ thuật hai dương, công nghệ sinh học… thiết bị chủ yếu trong tựđộng hoá là Người máy các loại, có thể hoạt động theo một chương trình cứng, hay thao tác theo sựđiều khiển trực tiếp của con người hoặc hoạt động nhờ trí năng nhân tạo. Sự phát triển của tựđộng hoá và Công nghệ thông tin hứa hẹn những thành tựu cho những bước ngoặt trong xã hội loài người ở thế kỷ XXI. 3. Vai trò của công nghệđối với sự phát triển kinh tế- xã hội. Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Ngày nay, khi mà nhân loại bước vào kỷ nguyên tri thức thì khoa học công nghệ càng khẳng định hơn vai trò quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt làđối với các nước đang phát triển trong quá trình tiến hành CNH- HĐH, nó chính làđộng lực lớn thúc đẩy và góp phần tích cực rút ngắn quá trình này. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, việc tìm ra những công nghệ mới, vật liệu mới và những nguồn năng lượng mới đã xuất hiện một kiểu tăng trưởng mới về chất- tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu trong điều kiện sản xuất phát triển dựa trên cơ sở cuộc cách mạng khoa học hiện đại. Khoa học công nghệ làđiều kiện để có sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng cao,tăng năng suất 10
  11. lao động, đảm bảo an toàn sản xuất, chống ỗ nhiễm môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên quốc gia, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội. Qua nghiên cứu vai trò cụ thể của khoa học công nghệđối với tăng trưởng kinh tế, nhà kinh tế học P.A. Samuelson và W.P.Nordhaus đã dùng các phân tích của mình để tính toán phần đóng góp của khoa học công nghệ trong tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1984 vàđã rút ra kết luận: Trong mức tăng trưởng 2,2%/năm về sản lượng theo đầu công nhân, khoảng 0,5% là do tăng yếu tố tư bản(vốn), và do yếu tố công nghệ là 1,7%. Như vậy, nhân tố khoa học công nghệ giữ một vai tròđặc biệt đối với tăng trưởng kinh tế. Cũng theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học S.A.Samuelson và W.P.Nordhaus, cho thấy: Từ năm 1981 ở Mỹ với mức tăng trưởng trung bình là 3,2%/năm thì sựđóng góp của yếu tốđầu vào: đất đai, vốn, lao động chỉ chiếm 1,1%, còn yếu tố giáo dục và khoa học công nghệ chiếm tới 2,1%. (Bảng1.1) Bảng 1.1. Đóng góp của các yếu tố vào mức tăng trưởng GDP thực tế Yếu tốđóng góp Tăng % hàng % của tổng năm số GDP thực tế 3,2 100 Đóng góp đầu vào 1,1 34 -Vốn 0,5 15 -Lao động 0,6 19 -Đất đai 0 0 Giáo dục và tiến bộ khoa học công nghệ 2,1 66 Nguồn: P.A.Samuelson và W.P.Nordhaus. Kinh tế học tập II-Học viện Quan hệ Quốc tế- Hà Nội 1989 11
  12. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của khoa học công nghệđối với tăng trưởng kinh tế quốc gia. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay đã tạo ra thời cơ rất thuận lợi để các nước đang phát triển nhanh chóng thực hiện Công nghiệp hoáđất nước. Nhiều nhà kinh tế cũng dự báo rằng, trong giai đoạn tới “tương lai sẽ phụ thuộc vào các quốc gia có tiềm năng ứng dụng”. Vì vậy, để nhanh chóng rút ngắn thời gian Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa, các nước đang phát triển phải quan tâm và khai thác tốt những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, phát huy được lợi thế là các nước đi sau. Thực tế lịch sử cho thấy, nước Anh cần 120 năm để Công nghiệp hoá, Mỹ và Tây Âu cần 60 năm, còn các con rồng Châu Á chỉ mất 30 năm là hoàn thành. Trong tương lai sẽ hứa hẹn thời gian hoàn thành Công nghiệp hoá tiếp tục rút ngắn. Cách mạng khoa học và công nghệđã làm thay đổi chiến lược kinh tế và chiến lược thị trường. Sự xuất hiện của các ngành công nghệ cao đưa đến kết quả là năng suất lao động được nâng lên vượt bậc và thực sự hiệu quả hơn. Vì vậy, các nước tư bản phát triển và các công ty xuyên quốc gia đều coi việc phát triển khoa học công nghệ với các ngành công nghệ cao là con bài trong cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường. Có thể nói, thực chất của Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá của các nước đang phát triển chính là sự vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ dựa trên những đổi mới công nghệ nhằm chuyển hệ thống kinh tế xã hội từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quả thấp, sử dụng lao động thủ công là chính, sang một hệ thống có năng suất cao, dựa trên những phương pháp công nghiệp, những công nghệ tiên tiến. Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ giá trị cao. Muốn đạt mục tiêu trên phải đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế, phải sử dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới. 4. Tính tất yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ a.Đặc điểm, các yếu tố cấu thành công nghệ, các thuộc tính của công nghệ, vai tròđối với sự phát triển kinh tế * Công nghệ và yếu tố cấu thành công nghệ 12
  13. Công nghệ có xuất xứ từ hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ: “techno” là tài năng, sự khéo léo, kỹ thuật, nghệ thuật, là từ “logy” là lời lẽ, ngôn từ, cách diễn đạt, học thuyết. Trước đây, trong giai đoạn đầu Công nghiệp hóa, người ta thường dùng khái niệm kỹ thuật trong sản xuất, sau đó khái niệm công nghệ xuất hiện với ý nghĩa ban đầu rất hẹp, đơn giản chỉ là tuần tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sản xuất. Ngày nay, tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu vàđối tượng áp dụng các khái niệm khác nhau về công nghệ. Theo Uỷ ban kinh tế- Xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) định nghĩa ” Công nghệ là hệ thống tri thức về quy trình kỹ thuật chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm tất cả kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế biến hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý”. Với khái niệm này, công nghệđược mở rộng và hoàn thiện hơn. Công nghệ là tập hợp những công cụ, phương pháp dùng để biến đổi các nguồn lực sản xuất thành những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu con người. Như vậy, công nghệđược phân biệt rõ với khoa học và kỹ thuật. “Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm đưa ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy”, còn “kỹ thuật có thể hiểu là tổng hợp các tư liệu vật chất như công cụ lao động, năng lượng, vật liệu và phương pháp do con người sáng tạo ra vàđược sử dụng trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội”. Qua đó, chúng ta có thể thấy công nghệ có cái đồng nhất với kỹ thuật, song cái khác nhau cơ bản là kỹ thuật chỉ nặng về phần cứng, còn công nghệ thìđi sâu vào phần mềm của quy trình. Hơn nữa công nghệ còn bao gồm cả sự năng động trong nhận thức của con người để cải tiến quy trình sản xuất, đặc biệt là khả năng chuyển giao công nghệ(CGCN) trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này cóý nghĩa quan trọng trong giai đoạn cách mạng Khoa học công nghệ hiện nay. Kỷ nguyên mà công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường và tỷ lệ”phần mềm” có vị trí ngày càng quan trọng trong các quy trình công nghệ sản xuất. Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ gồm 4 thành phần cơ bản tác động qua lại lẫn nhau. 13
  14. a.Hình thái vật chất của công nghệ b.Thông tin: là các sơđồ, bản vẽ, thuyết minh, dựán, mô tả sáng chế, chỉ dẫn kỹ thuật.. Phần thông tin rất quan trọng, nó quyết định phần lớn sự thành công hay thất bại của hoạt động chuyển giao công nghệ. Nó thường được tìm kiếm trong khoảng thời gian dài vàđược hoàn thiện trước khi kí hợp đồng chuyển giao công nghệ. c. Thiết chế: là cơ cấu tổ chức, quản lý, gồm sự liên hệ, bố trí sắp xếp, đào tạo đội ngũ.. cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra, tiến hành. d.Yếu tố con người: gồm kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất làm việc có trách nhiệm và có năng suất cao của đội ngũ nhân lực có sức khoẻ. III.SỰPHÁTTRIỂNCÔNGNGHỆỞ VIỆT NAMVÀTHỰCTRẠNGCỦAPHÁTTRIỂNCÔNGNGHỆ VIỆTNAMTRONGSỰNGHIỆPCÔNGNGHIỆPHOÁ, HIỆNĐẠIHOÁĐẤTNƯỚC. 1.Sự phát triển công nghệở Việt Nam Việt Nam hiện tại là một quốc gia đang trên đường phát triển và tăng trưởng về mọi mặt, trong đó có cả công nghệ.Nhưng cho dù có tăng trưởng đến đâu đi chăng nức khi nghiên cứu về vấn đề này, ta cũng sẽ không thể bỏ qua được những bước ngoặt, những khám phá có tính chất lịch sử mà dân tộc đãđạt được từ thủa bình minh của loài người. Lịch sử, phát triển của công nghệở Việt Nam đãđược biết đến qua các mốc lớn sau: *Thứ nhất: Nền văn hóa vi sơn, vào cuối thời đại đồđá cũ, cách đây khoảng 23 nghìn năm. *Thứ hai: Văn hoá hoà bình, vào đầu thời đàu đồđá mới, cách đây khoảng 10 nghìn năm. ở giai đoạn này, con Người đã tìm tòi và phát minh ra công cụ sản xuất bằng đá, làm đồ gốm, thuần dưỡng các loại động vật hoang dã. *Thứ ba: Văn hoáĐông Sơn, nổi tiếng với công nghệđúc đồng cách đây khoảng 4 nghìn năm. Vào thời kỳ này, đã hình thành nên các Nhà nước. 14
  15. *Thứ tư: Thế kỷ XIII-XV Việt Nam có chữ Nôm thế kỷ XVI. XVII chữ quốc Ngữ-Tiếng Việt bằng mẫu tự la tinh ra đời. Đó là sáng tạo đặc biệt; đỉnh cao mới của con người Việt Nam vàđất nước Việt Nam. Khi cuộc C M khoa học-công nghệ trên thế giới nổ ra tạo ra được một khối lượng vật chất khổng lồ cho nhân loại, nhưng vìđược thực hiện trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản cho nên bên cạnh những tác động tích cực đối với sự tiến bộ của nhân loại, cũng đang gây ra những tác động bất lợi đối với một số lực lượng xã hội và một số quốc gia ở thời điểm đó với những quốc gia đang bị tụt hậu về kỹ thuật công nghệ thì trở thành một nguy cơ lớn trong số những quốc gia tụt hậu đó. Việt Nam được xem như một quốc gia điển hình. Đất nước có nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu bằng nông nghiệp. Bị chiến tranh tàn phá nặng nề trong một thời gian dài, chủ trương của Đảng và Nhà nước làđưa đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa quáđộ giai đoạn chủ nghĩa tư bản tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng : cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng về khoa học-kỹ thuật, cách mạng về tư tưởng văn hoá, trong đó cách mạng về khoa học kỹ thuật là then chốt đểđẩy mạnh công nghệ hoá và hiện đại hoáđất nước. Nhờ có những áp dụng và nghiên cứu công nghệ mới vào nông nghiệp, nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ trong một giai đoạn dài, tạo ra nhiều việc làm; các ngành gốm sứ, vật liệu xây dựng đãđược đưa công nghệ hiện đại vào sản xuất cụ thể là lò tunen, sấy bằng năng lượng mặt trời nung bằng khíđốt … đảm bảo việc làm cho lao động và góp phần tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Công nghệ thông tin được phát triển vàứng dụng rộng rãi trong sản xuất và quản lý của đất nước. Đảng và nhà nước đang có chủ trương phát triển công nghệ thông tin bởi công nghệ thông tin được đánh giá là cơ sở hạ tầng của sự phát triển kinh tế xã hội. Công nghệ sinh học được khám phá vàđưa vào phục vụ nông nghiệp và công nghiệp cũng như y tế. Công nghệ phục vụ cho nền công nghiệp trong nước cũng được khám phá vàáp dụng mạnh đặc biệt làđối với lĩnh vực công nghiệp chủđạo như : Năng lượng luyện kim, chế tạo máy, xi măng, đóng tầu, lọc dầu. 15
  16. Ngoài ra kỹ thuật nhiệt đới cũng phần nào được đưa vào ứng dụng rộng rãi trên cơ sở nghiên cứu về mặt thuận lơị do thiên nhiên mang lại cho đất nước, trên thực tế kỹ thuật công nghệ nhiệt đới đang được xem là một bộ phận quan trọng của CM khoa học- kỹ thuật nước ta, có nhiệm vụ tìm ra biện pháp hạn chế yếu tố tiêu cực, khai thác yếu tố tích cực tác động đến các thiết bị kỹ thuật, quy trình công nghệ, các cơ sở sản xuất. 2.Thực trạng phát triển công nghệ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoáđất nước. Ở nước ta, thông qua các văn kiện của Đảng và nhà nước, vai trò vị trí của khoa học công nghệ trong công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoáđãđược xác định. Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, là một động lực đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu và vươn lên trình độ tiên tiến của thế giơí. Khoa học-công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới. Khoa học-công nghệ là nền tảng của công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Nhìn một cách tổng thể tình hình công nghệ trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay so với các nước trong khu vực Đông Nam Á nói riêng và các nước….. nói chung là rất thấp và lạc hậu, tỷ lệ các công nghệ và thiết bị hiện đại rất thấp, trình độ cơ khí hoá của nền kinh tế chưa được cao, mức tiêu hao năng lượng, nhiên liệu và lãng phí nguyên liệu do nguyên nhân công nghệ và kỹ thuật cao. Những thiết bị và công nghệ lạc hậu hơn mức trung bình của thế giới khoảng 1-2 thế hệ. Nhờ một phần lớn chuyển giao công nghệ thông qua FDI đãđưa công nghệ và thiết bị của các ngành lắp ráp điện tử, ô tô, lắp ráp xây dựng, thuỷ sản đông lạnh thuộc loại này. Các thiết bị và công nghệ lạc hậu 2- 3 thế hệ so với trung bình của thế giới, ví dụ như trong ngành điện, giấy, đường và chế biến thực phẩm. Các thiết bị lạc hậu từ 3 đến 5 thế hệ chủyếu bao gồm công nghệ và thiết bị của các ngành đường sắt, đường bộ, cơ khíđóng tầu, vật liệu xây dựng… Trong xu thế toàn cầu hoá về kỹ thuật, sự cạnh tranh về hàng hoá và dịch vụở thị trường trong khu vực và thế giới ngày càng gay gắt, tính cạnh tranh của hàng hoáđược nâng cao chủ yếu nhờ những tiến bộ khoa học-công nghệ của nhân loại. 16
  17. Đảng và nhà nước cũng như các cơ quan thẩm quyền đãđưa ra danh mục lựa chọn công nghệ cao cần ưu tiên phát triển là : công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và một số công nghệ cao khác trong một số lĩnh vực cụ thể. Trong đó công nghệ thông tin và công nghệ sinh học cần phát triển sớm với một sốđối tượng cần ứng dụng công nghệ cao. +Đối với công nghệ thông tin: phát triển được dựa trên 3 ngành kỹ thuật : điện tử, tin học, viễn thông. Có tốc độ phát triển khá nhanh, vì nóđược ví như là cơ sở hạ tầng của kinh tế-xã hội, cho nên tất cả các quốc gia đều có những chiến lược phát triển riêng. Đối với Việt Nam thì hiện nay đang ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển viễn thông và thông tin liên lạc mà chưa ứng dụng nó một cách có hiệu quả toàn diện trên bước đường công nghiệp hoá-hiện đại hoáđất nước. Và một lĩnh vực nữa là vi tính, vi tính cũng đãđược sử dụng rộng rãi trong thiết kế và sản xuất nhằm làm giảm nhiên liệu, năng lượng, vật liệu dùng cho một đơn vị sản phẩm, làm giảm chất thải và hạn chế tác động xấu đến môi trường trong nước. Công nghệ thông tin có thể hiện đại hoá các công nghệ cổ truyền vàđảm bảo hiệu quả cho các công nghiệp truyền thống. Do vậy, mục tiêu của Đảng đề ra cần đẩy mạnh và xúc tiến có hiệu quả. +Đối với công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và y tế: Việt Nam là nước có thiên nhiên nhiệt đới ẩm với nguồn gen rất đa dạng phong phú. Công nghệ sinh học bao gồm từ kỹ thuật chọn, lai tạo giống truyền thống, công nghệ vi sinh, công nghệ mô, công nghệ tế bào đến công nghệ di truyền cóý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện, bền vững, tác động đến việc bảo vệ và cải thiện môi trường, thiên nhiên và sinh thái đất nước. Thành tích trong việc tiếp thu các tiến bộ công nghệ sinh học còn rất khiêm tốn nhưng thực lực nó cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất những mặt hàng nông sản chủ lực để xuất khẩu, điển hình là mặt hàng gạo xuất khẩu (Việt Nam đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan) +Đối với các ngành công nghiệp truyền thống trên cơ sở công nghệ cao: đểđảm bảo tốc độ phát triển nhanh vàđẩy mạnh công nghiệp hoá. Nhu cầu về năng lượng, vật liệu sẽ tăng mạnh, có 2 con đường để giải quyết nhu cầu trên nhập khẩu và sản xuất trong nước. 17
  18. Con đường sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn, đây là ngành công nghiệp đã trở nên lỗi thời đối với các nước phát triển, nhưng những kinh nghiệm thực tế cho thấy ở Hàn Quốc, Indone Sia, Singapore, Thái Lan chúng vẫn phát huy được tác dụng. Do vậy Việt Nam cần phải có một chiến lược tổng thểđối với lĩnh vực này, vấn đề cốt lõi là phải sản xuất bằng công nghệ cao đểđảm bảo tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước khu vực và thế giới. +Đối với lĩnh vực kỹ thuật-công nghệ nhiệt đới: lĩnh vực này cần nên xem là một bộ phận quan trọng của công nghệ khoa học-kỹ thuật ở nước ta bởi xét trên từng khía cạnh, từng góc độ cụ thể thì nó có nhiệm vụ tìm ra các giải pháp hạn chế tiêu cực. Khai thác yếu tố tích cực tác động đến các mặt của nền kinh tế. +Đối với GTVT: GTVT được xem là mạch máu xuyên suốt tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, an ninh quốc phòng. Phát triển công nghệ giao thông, vận tải đồng nghĩa với việc thúc đẩy xây dựng đất nước. Đưa công nghệ tiên tiến vào giao thông vận tải là việc đáp ứng tính đồng bộ của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá xuyên suốt toàn bộ quá trình. Do vậy lĩnh vực này không thể không coi trọng và xúc tiến phát triển nhanh, mặt khác nếu như phát triển chậm hoặc không đồng bộ sẽđưa đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu so với khu vực và thế giới. Trên đây là một số lĩnh vực công nghệđiển hình đang được Đảng và Nhà nước chú trọng và có những định hướng, chiến lược phát triển để nhằm mục đích đưa công nghệ Việt Nam trên mỗi lĩnh vực tiên tiến kịp với nhịp độ của khu vực vàđặc biệt là tiến kịp với xu thế hội nhập toàn cầu hoá về KT. ở Việt Nam 3. Thành tựu đạt được thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua. Qua nghiên cứu những ứng dụng của công nghệ nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua, chúng ta có thể thấy được khái quát thực trạng của hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam. Theo Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm thì “ nhìn chung công nghệđược chuyển giao vào Việt Nam thời gian qua có trình độ cao hơn công nghệ nước ta hiện có hoặc trong nước chưa có”. 18
  19. - Trước hết, hoạt động CGCN đã góp phần chuyển dịch có cấu của nền kinh tế theo hướng tích cực. Nó làm tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, chuyển nền kinh tế truyền thống của ta từ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn sang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm ưu thế. Đây là sự chuyển dịch phù hợp với quá trình CNH- HĐH đất nước và phù hợp với sự phát triển của các nền kinh tế hiện đại. - Ngoài ra, việc tiếp thu vàứng dụng các dây chuyền công nghệ hiện đại vào sản xuất góp phần cải thiện nền công nghiệp lạc hậu của ta. Nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại đãđược chuyển giao vào nước ta trong các lĩnh vực như khai thác dầu khí, thông tin, viễn thông, xây dựng,...tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp chủ chốt của nước ta. Từđó, thúc đẩy rút ngắn quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoáđất nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. - Đồng thời, nhờ có hoạt động CGCN, các doanh nghiệp của ta thường xuyên tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ mới, từđó, góp phần thúc đẩy tính chủđộng, sáng tạo trong việc tựđổi mới công nghệ. Nhờđó, có khả năng cải tiến chất lượng và tính năng sản phẩm, giúp hạ giá thành sản phẩm do tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu trong nước. Sản phẩm tạo ra vừa có chất lượng cao, vừa có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực, cho phép tăng thu ngoại tệ. - Việc chuyển giao công nghệ trong thời gian qua đã tận dụng được những yếu tố cần có, đó là sử dụng tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi trường lao động, nâng cao trình độ tay nghề và trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ và tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu khoa học. 4. Một số hạn chế còn tồn tại Bên cạnh những thành tựu đạt được, CGCN nước ngoài còn tồn tại một số hạn chế : - Thứ nhất, hiệu quả và trình độ công nghệđược chuyển giao không cao do bị hạn chế nhiều mặt về lựa chọn công nghệ tối ưu, tỷ lệ chuyển giao phần mềm thấp, hiệu suất sử dụng chỉđạt tối đa là 70-80% công suất thiết kế. Do thiếu vốn đầu tư mà trong một số trường hợp doanh nghiệp buộc phải nhập thiết bịđã qua sử dụng, dẫn đến làm chậm tốc độđổi mới công nghệ, còn gây lãng phí. 19
  20. Chỉ riêng qua khảo sát đối với ngành công nghiệp nhẹ, chúng ta thấy trong số hơn 700 thiết bị, 3 dây chuyền nhập tại 42 nhà máy có 76% số máy mới nhập thuộc thế hệ máy sản xuất từ những năm 50-60; 70% số máy nhập khẩu đã hết khấu hao; 50% số máy móc thiết bị làđồ cũ tân trang lại. Qua đó, chúng ta có thể thấy hầu hết công nghệđược chuyển giao đều là quá lạc hậu, dây chuyền và thiết bị quá cũ, hiệu suất sử dụng không cao. Thêm vào đó, ngay cả các thiết bị trong các dựán đầu tư nước ngoài phần lớn thuộc loại trung bình và trung bình tiên tiến của khu vực, ít có thiết bị hiện đại ngang tầm của thế giới hiện nay. Chính những dây chuyền thiết bị lạc hậu này, sau khi được các nước tư bản phát triển loại ra, đã tái nhập vàđược sử dụng tại Việt Nam. Điều này càng làm cho nước ta chậm đổi mới về công nghệ, thậm chí còn gây nguy cơ biến nước ta thành “bãi rác thải” công nghệ của các nước phát triển. - Không những thế, những công nghệ cũđược các nước loại bỏ này nhập vào nước ta còn gây ảnh hưởng xấu đến năng suất lao động, làm phá hoại môi trường sinh thái và có hại cho sức khoẻ con người. - Do sử dụng nhiều máy móc, thiết bị và công nghệ quá lạc hậu, ước tính ở Việt Nam hiện nay có khoảng 300-400 thương tật dẫn đến chết người và hơn 20.000 tai nạn nghề nghiệp xảy ra hàng năm. - Ngoài ra, đa số các công nghệđược chuyển giao vào nước ta trong các ngành nghề chủ yếu là công nghệ lắp ráp, nhất là trong lĩnh vực cơ khí. Nhiều dây chuyền sản xuất trong lĩnh vực này hầu như chỉ mang tính đơn thuần, với các khâu gia công đơn giản, lắp ráp, hoàn thiện và bao gói sản phẩm. Không có khâu tạo phôi và gia công chính xác như sản xuất quạt điện, sản xuất ô tô, xe máy, chế tạo linh kiện điện tử và phụ tùng chính xác. Đặc biệt, ngành cơ khí chế tạo tuy được nâng cấp đổi mới công nghệ song các dây chuyền thiết bị thường thiếu tính đồng bộ. Do đó, làm hạn chế phần nào khả năng tự nghiên cứu và phát triển công nghệ trong nước. - Ngoài ra, qua thẩm định đã phát hiện nhiều dựán trong đó thiết bị, công nghệ và chuyển giao công nghệ bị nâng giá cao hơn giá trị thực tế của nó rất nhiều. Trong nhiều công trình, dựán liên doanh với nước ngoài, công nghệ nhập bị phía nước ngoài nâng giá công nghệ lên gấp 2- 2,5 lần. Một mặt do chúng ta còn thiếu năng 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản