Dự án nghiên cứu: Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng phục vụ các hoạt động nghiên cứu - phát triển và bảo tồn ngoại vi - MS4 '
lượt xem 9
download
Thuật ngữ rừng giống (seed stand và seed production area) nhìn chung được định nghĩa là “một lâm phần các cây trội được xây dựng và phát triển từ việc loại bỏ những cây có kiểu hình không mong muốn và sau đó được canh tác nhằm sớm sản xuất hạt giống và cung cấp giống đại trà”. Hai thuật ngữ này thường được xem xét trong các ngữ cảnh khác nhau. ë một số nước, thuật ngữ (seed stand) được định nghĩa là một rừng trồng đã được chuyển hóa để cung cấp hạt giống, trong khi thuật ngữ...
Bình luận(0) Đăng nhập để gửi bình luận!
Nội dung Text: Dự án nghiên cứu: Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng phục vụ các hoạt động nghiên cứu - phát triển và bảo tồn ngoại vi - MS4 '
- Phụ lục 2. Bản hướng dẫn cho việc xây dựng và quản lý rừng giống Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn _________________________________________________________________________ Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng phục vụ các hoạt động nghiên cứu - phát triển và bảo tồn ngoại vi (M· sè: 058/04VIE) RỪNG GIỐNG MS4: Hướng dẫn thực hành xây dựng và quản lý Khongsak Pinyopusarerk Tæ chøc hîp t¸c gi÷a CSIRO vµ Scion (ensis Genetics ) Canberra, Australia th¸ng 8 - 2005
- 1. Giới thiệu Thuật ngữ rừng giống (seed stand và seed production area) nhìn chung được định nghĩa là “một lâm phần các cây trội được xây dựng và phát triển từ việc loại bỏ những cây có kiểu hình không mong muốn và sau đó được canh tác nhằm sớm sản xuất hạt giống và cung cấp giống đại trà”. Hai thuật ngữ này thường được xem xét trong các ngữ cảnh khác nhau. ë một số nước, thuật ngữ (seed stand) được định nghĩa là một rừng trồng đã được chuyển hóa để cung cấp hạt giống, trong khi thuật ngữ “seed production stand” lại nói đến một diện tích rừng tự nhiên đặc biệt được quản lý để cung cấp hạt giống. Tuy nhiên, ở một số nước khác, thuật ngữ “seed production stand” lại thường được sử dụng để nói đến rừng trồng được quản lý phục vụ việc sản xuất hạt giống. Trong bản hướng dẫn này “seed production stand” được định nghĩa là một lâm phần sản xuất hạt giống được chuyển hoá từ các lâm phần rừng trồng có sẵn hoặc từ lâm phần được trồng đặc biệt và được quản lý phục vụ cho mục đích sản xuất hạt giống. Các tổ chức trồng rừng lớn thường cần nhiều hạt giống có chất lượng di truyền được cải thiện nhằm tăng năng suất và sản lượng rừng trồng. Có một vài phương pháp khác nhau có thể áp dụng nhằm thu được nguồn hạt giống có chất lượng di truyền cao. Xây dựng rừng giống là một phương pháp đơn giản và chi phí thấp để sản xuất nguồn hạt giống được cải thiện bước đầu về di truyền. Rừng giống là rừng được quản lý đặc biệt cho việc sản xuất giống. Chúng thường được sử dụng như nguồn cung cấp giống tạm thời cho đến khi có một chương trình sản xuất giống tiến bộ hơn được thực hiện, chẳng hạn như xây dựng vườn giống. Tuy nhiên, rừng giống là một phương pháp rất hiệu quả để tạo ra nguồn cung cấp giống với giá thành phù hợp, song cần phải nhấn mạnh lại chất lượng di truyền của hạt giống chỉ được cải thiện một phần nào. Mặc dù, tổng giá trị của việc cải thiện chất lượng di truyền từ rừng giống được mong đợi là nhỏ, nhưng hạt giống được thu hái từ rừng giống vẫn luôn có chất lượng di truyền tốt hơn hạt thu hái đại trà trong các lâm phần thông thường, đặc biệt là khả năng thích nghi, hình dáng thân và khả năng chống chịu sâu bệnh. 2. Rừng giống Rừng giống có thể là các lâm phần được trồng đặc biệt nhằm mục đích sản xuất hạt giống hay là các lâm phần sẵn có được quản lý để sản xuất hạt giống, đã được chứng minh nguồn gốc di truyền là phù hợp. 2.1. Chuyển hoá Rừng giống từ các lâm phần rừng trồng sẵn có. Cách nhanh nhất để tạo rừng giống là chuyển hoá các lâm phần rừng trồng trưởng thành sẵn có của những cây chất lượng tốt, phù hợp với mục đích sản xuất hạt giống. Một rừng giống cũng có thể được chuyển hoá từ một khảo nghiệm hậu thế hay khảo nghiệm xuất xứ. Không có sự giới hạn về tuổi, nhưng các lâm phần này cũng nên đủ tuổi trưởng thành để sản xuất hạt giống. Một lâm phần rừng trồng phù hợp cho việc chuyển hoá thành rừng giống nên có những đặc tính như sau: (1) Thông tin rõ ràng về nguồn gốc hạt giống được sử dụng để xây dựng lâm phần. Những hiểu biết về nguồn gốc địa lý và cơ sở di truyền là rất quan trọng để xác định khả năng phù hợp của các lâm phần trước khi chuyển hoá thành rừng giống. 1
- (2) Tuổi lâm phần nên là tuổi trưởng thành để sản xuất hạt giống, nhưng không quá già Những lâm phần này tuy không có giới hạn tuổi nhưng cũng cần phải đủ tuổi để việc chọn lọc là đáng tin cậy và đủ tuổi thành thục sinh sản để sản xuất hạt giống. Những cây cá thể phải có tán đủ dày và rộng để tạo tiềm năng sản xuất những mùa hạt giống bội thu. Hạt giống thu từ những cây quá già hoặc quá trẻ thường có chất lượng thấp hơn so với hạt thu từ những cây ở độ tuổi trung bình. Hơn nữa, những cây già có xu thế không phát triển tán nữa kể cả khi có tác động tỉa thưa. (3) Các lâm phần nên có tỷ lệ sống cao và có nhiều cây sinh trưởng tốt và hình dáng thân đẹp Một lâm phần phù hợp trước khi chuyển hoá cần có số lượng cây gần đủ như khi trồng để tăng cường độ chọn lọc. Mật độ cuối cùng của một khu sản xuất hạt giống thường là 150 - 200 cây/ ha. Nên tiến hành một cuộc khảo sát ban đầu để khẳng định mật độ cây có hình thái tốt tương ứng với mật độ cuối cùng của rừng giống. (4) Không bị sâu bệnh Lâm phần bị sâu bệnh chứng tỏ khả năng thích nghi kém của nguồn hạt giống. Nếu lâm phần bị tấn công rộng lớn của sâu bệnh thì không nên sử dụng lâm phần này cho việc chuyển hoá rừng giống. (5) Các cây trong lâm phần nên được chứng minh về khả năng ra hoa và kết quả tốt Để tránh những sai xót sau này, việc điều tra chi tiết khả năng ra hoa và kết quả của các loài cây dự tuyển trong một môi trường đặc biệt là điều kiện tiên quyết để xây dựng rừng giống. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các loài cây nhập nội được dẫn giống tới nơi mà khả năng ra hoa có thể kém hoặc không có khả năng kết hạt do không phù hợp về điều kiện lập địa. Rừng giống không nên xây dựng trên các điều kiện môi trường không thích hợp như những vùng dễ gặp khô hạn. Sự có mặt của các nhân tố thụ phấn cũng có thể là một yếu tố quan trọng khi xem xét xây dựng rừng giống. (6) Lâm phần được chọn phải dễ dàng đi lại Để thuận lợi cho việc chuyển hoá rừng giống và các hoạt động quản lý tiếp theo như thu hái hạt giống đòi hỏi các lâm phần phải dễ dàng đi lại trong cả năm. Điều này có nghĩa là khu vực này không những phải khá bằng phẳng mà còn phải thoát nước tốt. Lý tưởng nhất là các lâm phần không ở các vùng quá sâu và xa, đặc biệt là quá xa nguồn lao động địa phương để dễ dàng chăm sóc và quản lý. (7) Các lâm phần được chọn không phải chịu sự khai thác thương mại. Rừng giống sẽ được chăm sóc trong nhiều năm. Do đó cần phải đảm bảo rằng những lâm phần được chọn là an toàn từ các hoạt động khai thác thương mại. Sự liên kết tốt giữa các nhà quản lý rừng sẽ giúp tránh khỏi những mất mát đáng tiếc cho các rừng giống có giá trị. (8) Diện tích của rừng giống Nói chung diện tích tối thiểu thích hợp để áp dụng các biện pháp quản lý cho một rừng giống, đối với hầu hết các loài cây rừng, là 4 ha. Việc quản lý các lâm phần nhỏ sẽ là không hiệu quả và nguy cơ nhiễm phấn từ bên ngoài là rất lớn. Tuy nhiên, đối với một số loài như Bạch đàn chỉ cần một diện tích nhỏ khoảng 0,5 ha cũng đủ, do khả năng 2
- sinh sản lớn (sai quả). Diện tích được chọn nên là hình càng vuông càng tốt, vì trong đó khả năng thụ phấn chéo giữa các cây sẽ dễ dàng hơn so với những hình khối dài. (9) Cách ly Sự cách ly kém sẽ là một bất lợi phổ biến của rừng giống được chuyển hoá từ các lâm phần rừng trồng sẵn có. Thông thường những lâm phần này được chọn từ những rừng trồng thuần loài và thành thục. Nên hầu như không thể loại bỏ hoàn toàn việc nhiễm phấn của những loại phấn lạc. Tuy nhiên, xây dựng khu cách ly hay khu pha loãng phấn xung quanh rừng giống có thể làm giảm bớt sự nhiễm phấn. Khu pha loãng phấn có thể là một khu mở, khoảng 200m. Những loài cây được trồng trong khu pha loãng phấn chắc chắn phải là loài không thể lai giống với các loài cần sản xuất hạt giống. 2.2. Phát triển rừng giống từ các rừng trồng đặtc biệt Khi một rừng giống được phát triển từ một rừng trồng mới được xây dựng đặc biệt cho mục đích sản xuất giống, thì các vấn đề sau đây cần được xem xét: Yêu cầu lập địa Môi trường tại khu vực xây dựng rừng giống phải đại diện cho rừng trồng sản xuất trong vùng, vì việc chọn lọc đầu tiên sẽ là những cá thể ưu trội trong những môi trường như vậy. Điều quan trọng để lựa chọn lập địa là càng đồng điều càng tốt, nếu không việc quản lý trong tương lai sẽ là rất khó khăn. Cần kiểm tra để chắc chắn rằng những loài cây cần xây dựng rừng giống đã ra hoa kết quả trong môi trường định lựa chọn. Việc kiểm tra các lâm phần sẵn có sẽ trả lời có đúng là loài này đã ra hoa kết quả hay chưa. Một số chi tiết kỹ thuật như diện tích và khoảng cách ly cho rừng giống, cũng được đề cấp tương tự như phần chuyển hoá rừng giống từ các lâm phần rừng trồng. Nguồn hạt giống Nguồn hạt giống nên được lấy từ một số lượng lớn các cây bố mẹ không có quan hệ di truyền của một hay nhiều xuất xứ phù hợp. Việc sử dụng một hay nhiều xuất xứ thích hợp đảm bảo rằng cây sẽ thích nghi hơn với lập địa trồng rừng. Riêng khả năng thích nghi được cải thiện cũng đã làm cho công tác thu thập nguồn hạt giống trở nên có giá trị. Ở hầu hết các loài, các chỉ tiêu chất lượng như độ thẳng thân và ở một số loài là chất lượng cành, cũng sẽ được cải thiện. Chuẩn bị lập địa Cần phải phát dọn thực bì, cày rạch hàng và làm cỏ trước khi trồng Khoảng cách trồng Rừng giống nên được trồng với khoảng cách gần. Khoảng cách ban đầu là 3 x 2 m (mật độ 1666 cây/ ha) là phù hợp cho hầu hết các loài Bạch đàn nhiệt đới. Khoảng cách rộng hơn 4 x 2m (mật độ 1250 cây/ ha) hay 3 x 3 m (mật độ 1100 cây/ ha) thì phù hợp hơn với hầu hết các loài Keo. Mật độ cây ban đầu cao cho phép tỉa thưa chọn lọc sớm và mạnh, vì vậy những cây ưu trội và kiều hình đẹp nhất có thể giữ lại. Cùng đó, một khoảng cách rộng được mở ra sẽ giúp tán cây phát triển đầy đủ và sai quả. Bón phân. 3
- Việc sử dụng phân bón với liều lượng cân đối ở giai đoạn đầu được khuyến cáo nhằm xây dựng thành công rừng giống. Loại và tỷ lệ phân bón được sử dụng nên dựa vào ý kiến của giới chuyên môn địa phương. Nếu không, khuyến cáo sử dụng phân bón NPK tỷ lệ 15:15:15 với khối lượng 100 g/cây, bón xung quanh gốc cây với bán kính 30 cm. Phân bón nên được sử dụng sau khi trồng một tháng. 3. Chọn lọc cây cho rừng giống Tiêu chuẩn mong muốn của những cây được giữ lại trong rừng giống là tương tự, nhưng ít nghiêm ngặt hơn, với những tiêu chuẩn được đòi hỏi đối với việc chọn lọc cây trội sử dụng trong các chương trình cải thiện giống tập trung. Chỉ những cây có tầng tán ưu trội và trội thì được xem xét giữ lại bởi tiềm năng sinh trưởng và sản xuất hạt giống của chúng. Đối với những lâm phần trưởng thành có sẵn khi chuyển hoá thành rừng giống thì những cây tỏ ra có tiềm năng sản xuất hạt giống sẽ được ưu tiên, cho dù trước đây khi sinh trưởng trong một lâm phần mật độ cây quá dày chúng không thể hiện ưu thế này. Thời vụ thu hái hạt tốt nhất thường là sau khi tỉa thưa mạnh những cây ít quả. Tiêu chí chọn lọc cây có thể rất khác nhau giữa các loài và giữa các nhu cầu về sản phẩm cuối cùng song đối với các loài cây lấy gỗ cần phải có một số đặc tính sau đây: (1) Sinh trưởng nhanh (2) Thân đơn trục và thẳng (3) Tán lá phát triển tốt (4) Cành nhỏ với gốc phân cành lớn (5) Tỉa thưa tự nhiên tốt (6) Không bị sâu bệnh Không nên giữ lại những cây dưới tiêu chuẩn, bất chấp khoảng cách. Điều cần thiết để cây sai quả là tán cây phải được phơi nắng và chiếu sáng ít nhất từ 3 phía. Khi trong đám chỉ có một vài cây có kiểu hình tốt nhưng có biểu hiện cạnh tranh về không gian và ánh sáng thì phải loại bỏ chỉ để lại những cây tốt nhất trong đám để chúng có thể tiếp nhận đủ ánh sáng. Ngược lại nếu có một đám cây chỉ có một số cây là có kiểu hình kém nhưng do điều kiện lập địa không tốt vẫn phải chặt bỏ toàn bộ, ngay cả khi sẽ tạo ra một khoảng trống lớn trong rừng. Việc chọn cây nên được tiến hành theo từng đám nhỏ để dễ so sánh. Mỗi một nhóm 16 cây (4 x 4) sẽ phù hợp cho việc quan sát. Việc chia lâm phần thành những đám nhỏ sẽ tạo điều kiện để những cây giữ lại sau lần tỉa thưa cuối cùng được phân bố đồng đều hơn. Những cây không đáp ứng được tiêu chuẩn chọn lọc sẽ được đánh dấu để tỉa thưa. Các dải băng màu có thể được sử dụng phục vụ cho mục đích này. Một số loài cây đơn tính khác gốc như phi lao (với sự tách biệt cây đực và cây cái). Khi tỉa thưa cần phải quan tâm để đảm bảo đủ số lượng cây đực tạo điều kiện thụ phấn tốt. Tuy nhiên chưa có quy định về tỷ lệ cây đực/ cây cái giữ lại, song tỷ lệ cây đực/cây cái là 30/70 dường như là hợp lý. Tính đồng nhất của các cây ban đầu trong một rừng giống nhìn chung không được biết đến. Sau lần tỉa thưa cuối cùng, số lượng cây để lại trên mỗi một lâm phần đã được tính đến. Điều này liên quan đến việc đánh giá khả năng ra hoa và hình thành quả của từng cây trong tương lai. 4. Kỹ thuật tỉa thưa rừng giống Tỉa thưa là việc cần làm cho sự phát triển của rừng giống. Việc loại bỏ những cây cá thể có kiểu hình xấu nhằm tăng thêm chất lượng di truyền cho hạt giống thông qua thụ phấn chéo giữa những cây được giữ lại. Cũng cần lưu ý rằng đối với một số loài cây sai quả có thể cũng 4
- không đạt được sản lượng như mong muốn trong một vài năm sau khi tỉa thưa, bởi vì chúng cần có thời gian để phát triển tán lớn hơn. Mật độ cuối cùng 150 - 200 cây/ ha được xem là phù hợp cho việc thụ phấn chéo và sản xuất hạt giống cho những năm tiếp theo đối với hầu hết các loài cây trồng rừng thương mại. Cuờng độ tỉa thưa Mỗi rừng giống nên tiến hành tỉa thưa ít nhất 2 đến 3 lần liên tục để loại bỏ những cây xấu. Mỗi lần tỉa thưa khoảng 50% tổng số cây. Việc tỉa thưa một lâm phần sẽ gặp những rủi ro như điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Khô cháy có thể là một vấn đề ở những khu vực nóng ẩm, trong khi đó gió thổi lại là một vấn đề bình thường ở khu vực có gió mạnh. Việc tỉa thưa theo từng bước, không được làm toàn bộ trong một lần, sẽ cho phép những cây giữ lại điều chỉnh và thích nghi với điều kiện mới. Quá trình tỉa thưa được trình bày ở sơ đồ 1 - 6. Thời gian tỉa thưa Thời gian tỉa thưa nên chọn làm sao tránh được các ảnh hưởng tiêu cực. Ví dụ, không tiến hành tỉa thưa trong mùa mưa bão hoặc gió mạnh vì có thể phá hoại tán cây. Nếu khô cháy là một rủi ro chính thì chỉ tiến hành tỉa thưa trước khi mùa mưa. Đối với những rừng giống được chuyển hoá từ các lâm phần rừng trồng đặc biệt, thời gian tỉa thưa sẽ dựa vào tốc độ sinh trưởng đạt được. Mục đích của việc tiến hành tỉa thưa này là để hạn chế sự cạnh tranh giữa các tán cây liền nhau (chỉ tiến hành trước khi tán cây giao nhau). Đối với nhiều loài Bạch đàn và Keo nhiệt đới, tốc độ sinh trưởng ở giai đoạn đầu rất nhanh, sẽ đòi hỏi phải tiến hành việc tỉa thưa lần đầu ở giai đoạn 24 tháng tuổi sau khi trồng. Tỉa thưa lần hai và lần cuối được tiến hành lần lượt vào giai đoạn 4 và 6 năm tuổi. Chỉ dẫn kỹ thuật tỉa thưa cần đặc biệt quan tâm bởi vì việc làm tổn thương tới những cây để lại có thể dẫn đến sự suy thoái khả năng sản xuất hạt giống. Việc tỉa thưa cẩu thả là một nguyên nhân chung dẫn đến những vấn đề sau này trong rừng giống. 5. Quản lý rừng giống Sản xuất hạt giống nên được quản lý và duy trì một cách phù hợp để đảm bảo tiềm năng sản xuất giống cao nhất. Thu dọn vật liệu chặt tỉa Sau khi tỉa thưa phải thu dọn sạch vật liệu chặt tỉa đã chất đống trên mặt đất. Việc dọn sạch vật liệu chặt tỉa tạo điều kiện đi lại và chăm sóc rừng giống một cách dễ dàng và giảm bớt nguồn phát sinh sâu bệnh và nguồn vật liệu gây cháy rừng. Làm cỏ Nếu rừng giống được coi là quản lý hiệu quả thì sinh trưởng của lớp thực bì dưới tán rừng cũng phải được kiểm soát. Sinh trưởng của cỏ dại có thể được kiểm soát bằng việc nhổ cỏ bằng tay thường xuyên hoặc sử dụng thuốc trừ cỏ một cách cẩn trọng. Do đó cây trong rừng giống sẽ không bị hạn chế sinh trưởng bởi phải cạnh tranh với cỏ dại. Việc kiểm soát cỏ dại trong rừng giống sẽ là yêu cầu cần thiết trong suốt quá trình tồn tại bởi vì việc tỉa thưa chọn lọc sẽ để lại những khoảng trống lớn giữa các cây. Khi cây đạt đến 5
- chiều cao xấp xỉ 10 m việc kiểm soát cỏ dại có thể tiến hành bằng cách chăn thả gia súc trong khu rừng giống đó. Kiểm soát tái sinh chồi Đối với những loài có khả năng tái sinh chồi mạnh như Bạch đàn, việc cần thiết là phải làm chết những gốc cây sau khi tỉa thưa để ngăn cản sự tái sinh. Thuốc trừ cỏ Glyphosate, chẳng hạn như thuốc Round-up, đã tỏ ra có hiệu quả khi phun hay quét chúng ngay lập tức lên trên mặt cắt của gốc cây sau khi chặt tỉa. Việc áp dụng nhiều lần có thể là rất cần thiết để đảm bảo 100% gốc cây đã chết. Bón phân Bón phân nên được sử dụng kết hợp với việc tỉa thưa. Việc tăng cường thể trạng của cây từ tỉa thưa và bón phân sẽ tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt, tán lá dày và xum xuê, ra hoa và kết quả tốt. Việc sử dụng thường xuyên những loại phân bón chứa đạm chỉ làm tăng khả năng sinh trưởng của thảm thực bì. Nên sử dụng các loại phân chứa lân, kali và dinh dưỡng vi lượng trước và trong quá trình ra hoa. Phân ranh giới Đường ranh giới bên ngoài khu rừng giống nên được đánh dấu bằng những điểm mốc cố định rõ ràng. Một mốc giới rõ ràng nên được thiết lập để chỉ rõ mục đích của lâm phần và trách nhiệm của cơ quan quản lý nó. Bảo vệ Phải xây dựng đường băng cản lửa (rộng 10 m hoặc hơn) xung quanh mỗi rừng giống và phải duy trì liên tục. Nếu cần có thể xây dựng một hàng rào quanh rừng giống để hạn chế việc cắt cỏ cho gia súc hay những hoạt động của con người và động vật hoang dã, đó là nguyên nhân gây tổn thưởng đến cây giống. 6. Lưu trữ thông tin Công việc ghi chép và lưu giữ đầy đủ các thông tin trong rừng giống có vai trò rất quan trọng. Những thông tin cần ghi chép như sau: - Loài - Nguồn gốc hạt giống - Địa điểm - Năm xây dựng rừng giống - Điều kiện thời tiết (lượng mưa, nhiệt độ....) - Điều kiện đất đai - Các chế độ lâm sinh (thời gian tỉa thưa, kiểm soát cỏ dại, sử dụng phân bón...) - Đặc tính vật hậu học - Thu hái hạt giống hàng năm (khối lượng hạt, số lượng cây được thu hái hạt) Điều quan trọng là theo dõi quá trình ra hoa, hình thành quả. Các quá trình này bị ảnh hưởng bởi các biện pháp canh tác lâm sinh. 7. Thu hái hạt Trước thời gian thu hái hạt, cần tiến hành một cuộc điều tra sơ thám để xác định số lượng quả hiện có có đủ để thu hái hay không. Việc này có thể được tiến hành bằng cách kiểm tra những cây ở một số khu vực nhỏ trong rừng giống. Không nên tiến hành thu hái nếu chỉ có một số ít 6
- cây kết quả. Hạt thu hái từ những cây này chắc chắn sẽ có chất lượng di truyền kém bởi vì sự thụ phấn chéo chỉ xảy ra giữa một số ít cây mang hoa. Cũng cần khuyến cáo rằng không nên thu hái hạt giống trên những cây ra hoa quá sớm hoặc quá muộn trong cùng một mùa. Có rất nhiều phương pháp khác nhau để thu hái hạt giống. Nhưng hầu hết phương thứuc thu hái hạt gống phủ biến là thu hái trên cây đứng trên toàn bộ diện tích rừng giống, và trộn lẫn chúng thành một lô hạt (seedlot). Người trèo cây thu hái thường được thuê để cưa cành. Tuy nhiên phương thức này có thể chi phí cao và cần được xem xét để thực hiện chỉ khi nhu cầu hạt giống cao. Nên lưu ý rằng nếu cành bị cưa quá nhiều để thu hái hạt thì sẽ phải mất vài năm để tán phát triển đầy đủ và cây sai quả trở lại. Một rừng giống có thể được chia thành nhiều phần. Mỗi phần được xác định cho việc thu hái hạt trong từng năm riêng biệt. Bằng việc chia rừng giống thành một vài lâm phần nhỏ hơn, những cây đã thu hái sẽ cần có đủ thời gian để hồi phục và phát triển tán để tiếp tục cung cấp hạt giống. Phương thức này cũng đảm bảo rằng hạt giống sẽ được cung cấp liên tục từ rừng giống. 8. Kết luận Rừng giống có ba thuộc tính quan trọng sau đây: (1) Hạt giống thu hái từ rừng giống sẽ có chất lượng di truyền tốt hơn so với hạt giống được thu hái xô bồ mang tính chất thương mại từ các rừng trồng thông thường, đặc biệt là tính thích nghi, khả năng sinh trưởng, hình dáng thân và khả năng chống chịu sâu bệnh. (2) Khi rừng giống được xây dựng từ rừng trồng đặc biệt phục vụ cho mục đích này, nguồn gốc địa lý rõ ràng của từng cây bố mẹ được biết rõ, vì thế hạt giống được sản xuất ra là từ các nguồn giống thích hợp. (3) Rừng giống là những nguồn giống thích nghi tốt, đáng tin cậy với giá cả vừa phải và dễ chấp nhận. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng rừng giống chỉ cung cấp vật liệu giống tạm thời có chất lượng di truyền cải thiện một bước để đáp ứng nhu cầu tạm thời. Rừng giống sẽ là lỗi thời khi vườn giống được xây dựng và sẵn sàng cung cấp giống chất lượng di truyền cao hơn. 7
- MỘT SỐ THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA Dòng: Một quần thể của các cá thể đồng nhất về tính di truyền có được thông qua quá trình nhân giống sinh dưỡng. Gia đình: Gia đình là những cá thể có cùng bố mẹ - Gia đình nửa Sib (half-sib) là gia đình gồm các cá thể cùng một bố hoặc mẹ (thông thường là từ cùng một mẹ).Cây bố không biết, thông qua thụ phấn tự do - Gia đình cả Sib (Full-sib) là gia đình gồm các cá thể cùng chung bố mẹ. Được tạo ra từ việc thụ phấn có kiểm soát (lai nhân tạo) Kiểu gen: Khả năng di truyền của cây khi những yếu tố môi trường đã bị loại trừ...chỉ được xác định bởi các gen của cây Lai cận huyết: Tạo ra thế hệ con bằng việc lai giống giữa các cây có quan hệ họ hàng gần gũi, thường là tự thụ phấn. Nếu quá trình này diễn ra qua nhiều thế hệ sẽ bộc lộ những tính trạng lặn, không mong muốn. Nòi địa phương: Một quần thể của một loài đã thích ứng với điều kiện hoàn cảnh mới (“xa lạ”) sau một hay một vài thế hệ Cá thể đầu dòng: Là cây gốc mà từ đó một dòng được nhân ra. Nhóm hạt thông thường: Hạt có kích cỡ từ nhỏ đến trung bình, thường có vỏ cứng, chịu được việc sấy khô và nhiệt độ thấp, ví dụ như các loài keo, bạch đàn, phi lao, thông Cất trữ ở điều kiện thông thường với hàm lượng độ ẩm hạt từ 5 - 7% và ở nhiệt độ 0 - 50C Có thể cất trữ hàng chục năm với hàm lượng độ ẩm hạt 2 - 4% và ở nhiệt độ 200C Lai chéo: Tạo ra thế hệ con bằng việc lai giống giữa các cây không có quan hệ họ hàng hoặc có quan hệ họ hàng xa. Kiểu hình: Là hình thái của cây mà ta quan sát được.Kiểu hình được xác định bởi sự tác động qua lại giữa kiểu gen (G) với môi trường (E), được biểu diễn bằng công thức sau P = G xE Quần thể: Là một tập hợp các cá thể có khả năng giao phối được với nhau. Không tính đến mức độ quan hệ của các cá thể trong quần thể. Hậu thế: Là những cây con mọc từ hạt của cây bố mẹ được biết trước Xuất xứ: Vị trí địa lý nơi phân bố của một quần thể lấy vật liệu giống (hạt hay cây) hoặc quần thể thực vật sinh trưởng ở một khu vực địa lý đặc trưng Cá thể dòng vô tính: Một thành viên cá thể của một dòng Nhóm hạt ưa ẩm: Hạt có kích cỡ từ trung bình đến lớn, hạt nặng do hàm lượng độ ẩm cao như các loài cây họ dầu, Quế, Mít...Hạt không thể bị sấy khô xuống dưới 5% hàm lượng độ ẩm. Hạt không thể cất trữ lâu dài trong điều kiện nhiệt độ thấp. Chịu được hàm lượng độ ẩm tối thiểu là 20% và ở nhiệt độ từ 12 - 150C đối với các loài cây nhiệt đới. Chỉ cất trữ được trong một vài ngày đến một vài tháng. 8
- B i Ó u 1 . M é t rõng t r ång t hµnh t hôc cho v i Ö c chuy Ón ho ¸ t h µnh rõng gièng BiÓu 2. Rõng gièng tr−íc khi tØa th−a lÇn ®Çu TØa th−a theo nhãm: Lo¹i bá 8 c©y cã kiÓu h×nh xÊu nhÊt trong nhãm 16 c©y TiÓu chuÈn chän läc: - Sinh tr−ëng - §é th¼ng th©n - Ýt cµnh nh¸nh MËt ®é c©y ban ®Çu: 1250 c©y/ha 9
- B iÓu 3. R õ ng g i èn g - sau tØa th − a c hä n lä c lÇ n t hó nh Ê t Mật độ cây: - Ban đầu : 1250 cây/ha - Sau tỉa thưa: 550cây/ha BiÓu 4. Rõng gièng- sau tØa th−a chän läc lÇn thø hai TØa th−a lÇn hai: tØa bá ®i 50% tæng sè c©y cßn l¹i sau lÇn tØa th−a thø nhÊt MËt ®é c©y: - Ban ®Çu: 1250 c©y/ha - Sau tØa th−a lÇn1: 625 - Sau tØa th−a lÇn 2: 312 Thu h¹t gièng tõ nh÷ng c©y cßn l¹i, c©y tréi, nh÷ng c©y sau khi ra hoa hµng lo¹t ngay sau khi tØa th−a 10
- BiÓu 5. Rõng gièng- sau tØa th−a chän läc lÇn thø ba TØa th−a lÇn ba: tØa bá ®i 50% tæng sè c©y cßn l¹i sau lÇn tØa th−a thø hai MËt ®é c©y: - Ban ®Çu: 1250 c©y/ha - Sau tØa th−a lÇn 1: 625 - Sau tØa th−a lÇn 2: 312 - Sau tØa th−a lÇn 3: 150 Thu h¹t gièng tõ nh÷ng c©y cßn l¹i, c©y tréi, nh÷ng c©y sau khi ra hoa hµng lo¹t ngay sau khi tØa th−a BiÓu 6. Toµn c¶nh mét rõng gièng sau khi kÕt thóc tØa th−a 11
CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD
-
Dự án nghiên cứu: Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam - MS10 '
18 p | 141 | 24
-
Dự án nghiên cứu nông nghiệp: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi - MS10 '
14 p | 111 | 21
-
Dự án nghiên cứu nông nghiệp: Xây dựng chiến lược nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn trong chuỗi giá trị nông nghiệp: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi '
94 p | 110 | 20
-
Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Tăng cường năng lực giám sát và khống chế bệnh Lở mồm long móng trên gia súc và heo góp phần tăng cường an toàn sinh học cho quốc gia "
42 p | 83 | 15
-
Dự án nghiên cứu nông nghiệp: TĂNG CƯỜNG KỸ NĂNG VÀ CẢI TIẾN CÔNG NGHỆ CHO CÁC XƯỞNG XẺ QUY MÔ NHỎ Ở VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM ' MS6
9 p | 121 | 15
-
Dự án nghiên cứu nông nghiệp: TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG GIÁM SÁT VÀ KHỐNG CHẾ BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG (LMLM) Ở TRÂU , BÒ VÀ HEO GÓP PHẦN NÂNG CAO AN TOÀN SINH HỌC CHO QUỐC GIA - Milestones 6&9'
38 p | 89 | 14
-
Luận án Tiến sĩ Dược học: Nghiên cứu bào chế và đánh giá tác dụng tăng cường miễn dịch của cao khô lá đu đủ rừng (Trevesia palmata (Roxb. ex Lindl.) Vis., họ Nhân sâm Araliaceae)
262 p | 80 | 14
-
Dự án nghiên cứu nông nghiệp: Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam ' MS6
16 p | 110 | 13
-
Dự án nghiên cứu: TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG GIÁM SÁT VÀ KHỐNG CHẾ BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG (LMLM) Ở TRÂU , BÒ VÀ HEO GÓP PHẦN NÂNG CAO AN TOÀN SINH HỌC CHO QUỐC GIA - Milestones 3&7 '
33 p | 73 | 13
-
Báo cáo nghiên cứu: Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng phục vụ các hoạt động nghiên cứu, phát triển và bảo tồn ngoại vi - MS10'
22 p | 69 | 10
-
Dự án nghiên cứu: Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam ' MS5
11 p | 112 | 9
-
Báo cáo nghiên cứu: Tăng cường năng lực giám sát và khống chế bệnh lở mồm long móng (LMLM) trên trâu bò và heo để góp phần tăng cường an toàn sinh học cho quốc gia - Milestone 10 '
13 p | 115 | 9
-
Dự án nghiên cứu: Tăng cường kĩ năng và cải tiến công nghệ cho các xưởng xẻ quy mô nhỏ vùng nông thôn Việt Nam ' MS2
24 p | 82 | 8
-
Báo cáo nghiên cứu dự án: Sustainable community-based forest development and management in some high-poverty areas in Bắc Kạn Province ( ATTACHMENT 10 )
26 p | 75 | 8
-
Dự án nghiên cứu: Tăng cường năng lực của cán bộ khuyến nông trong việc đánh giá những mặt hạn chế của đất để sản xuất bền vững qua việc sử dụng hệ thống các quyết định hỗ trợ SCAMP - MS4 '
7 p | 82 | 7
-
Dự án nghiên cứu nông nghiệp: Tăng cường năng lực của cán bộ khuyến nông trong việc đánh giá những mặt hạn chế của đất để sản xuất bền vững qua việc sử dụng hệ thống các quyết định hỗ trợ SCAMP '
8 p | 60 | 4
-
Dự án nghiên cứu:Tăng cường năng lực về công nghệ hạt giống cây rừng phục vụ các hoạt động nghiên cứu và phát triển và bảo tồn ex-situ '
16 p | 72 | 4
Chịu trách nhiệm nội dung:
Nguyễn Công Hà - Giám đốc Công ty TNHH TÀI LIỆU TRỰC TUYẾN VI NA
LIÊN HỆ
Địa chỉ: P402, 54A Nơ Trang Long, Phường 14, Q.Bình Thạnh, TP.HCM
Hotline: 093 303 0098
Email: support@tailieu.vn