intTypePromotion=1

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh - Nghề: Kế toán doanh nghiệp - CĐ Kỹ Thuật Công Nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu

Chia sẻ: Ochuong_999 Ochuong_999 | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:78

0
33
lượt xem
4
download

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh - Nghề: Kế toán doanh nghiệp - CĐ Kỹ Thuật Công Nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

(NB) Giáo trình "Phân tích hoạt động kinh doanh" được biên soạn theo hình thức tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, nhằm giúp ích trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của DN. Hiệu quả kinh doanh được phân tích dưới các góc độ khác nhau và được tổng hợp từ hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong DN nên sẽ là cơ sở để đánh giá và điều chỉnh các hoạt động , các bộ phận cụ thể trong DN và lập kế hoạch kinh doanh theo đúng mục tiêu chiến lược của DN.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh - Nghề: Kế toán doanh nghiệp - CĐ Kỹ Thuật Công Nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BR – VT TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG  KINH DOANH NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số: 01/QĐ­CĐN, ngày 04 tháng 01 năm 2016   của Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  2. Bà Rịa – Vũng Tàu, năm 2016
  3. TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được  phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về  đào tạo và tham   khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử  dụng với mục đích kinh  doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
  4. LỜI GIỚI THIỆU Các nhà quản trị chịu trách nhiệm về hoạt động của DN, ra các quyết định   về  tài chính  , đầu tư  và kinh doanh, xây dựng và thực hiện các chiến lược  kinh doanh của doanh nghiệp. Sự  thành công hay thất bại trong việc điều  hành hoạt động của DN được thể hiện trực tiếp qua việc phân tích hiệu quả  kinh doanh. Giáo trình "Phân tích hoạt động kinh doanh" được biên soạn theo hình thức  tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, nhằm giúp ích trong việc lập kế hoạch  và kiểm soát hoạt động của DN. Hiệu quả  kinh doanh được phân tích dưới   các góc độ  khác nhau và được tổng hợp từ  hiệu quả  hoạt động của từng bộ  phận trong DN nên sẽ là cơ sở để đánh giá và điều chỉnh các hoạt động , các   bộ  phận cụ  thể  trong DN và lập kế  hoạch kinh doanh theo đúng mục tiêu  chiến lược của DN. Nội dung giáo trình gồm: Bài 1: Xác định đối tượ ng, phươ ng pháp phân tích hoạt độ ng kinh  doanh Bài 2: Phân tích tính hình sử dụng lao động Bài 3: Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định, nguyên vật liệu Bài 4: Phân tích chung tình hình thực hi ện giá thành Bài 5: Phân tích chỉ  tiêu chi phí trên 1.000 đồng doanh thu và các  khoản mục giá thành Bài 6: Phân tích kết quả sản xuất v ề kh ối l ượng s ản xu ất Bài 7: Phân tích kết quả sản xuất v ề ch ất l ượng s ản ph ẩm Bài 8: Phân tích tình hình tài chính của doanh nghi ệp Mặc dù có nhiều cố  gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả  rất mong nhận được sự  góp ý của các thầy, cô giáo và các học viên để  giáo   trình ngày càng hoàn thiện hơn. Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 02 tháng 01 năm 2016
  5. Biên soạn Lê Thị Lan Anh
  6. MỤC LỤC
  7. MÔ ĐUN:PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Mã mô đun:MĐ 27 Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun: ­ Vị trí: Phân tích hoạt động kinh doanh thuộc nhóm các mô đun chuyên nghành  của nghề kế toán doanh nghiệp, được bố  trí giảng dạy sau khi đã học xong các   mô đun chuyên nghành của nghề ­ Tính chất: Phân tích hoạt động kinh doanh là mô đun chuyên môn bắt buộc có  tính chất tổng hợp, vận dụng các công cụ phân tích kinh tế để phân tích và đánh   giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm cung cấp cho nhà  quản lý các thông tin cần thiết trong việc ra các quyết định tổ chức và điều hành   hoạt động sản xuất kinh doanh. Mục tiêu của mô đun:  ­ Trình bày được các đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh  trong doanh nghiệp; ­ Xác định được những nội dung cần phân tích, các phương pháp phân tích và   tiến trình tổ chức phân tích; ­ Vận dụng được các kiến thức cơ  sở  và chuyên môn của kinh tế, kế  toán, tài   chính thống kê để phân tích mức độ  ảnh hưởng của các nhân tố  đến đối tượng  cần phân tích; ­ Xây dựng được các phương trình kinh tế khoa học phù hợp với từng đối tượng  cần phân tích; ­ Lựa chọn đúng các phương pháp để  phân tích, đánh giá và xác định chính xác   mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đối tượng phân tích; ­ Tổ  chức được việc phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp  ở  từng   khâu, từng giai đoạn. Từ đó, tìm các nguyên nhân và đề xuất giải pháp phù hợp; ­ Say mê, năng động, sáng tạo trong học tập; Trang 7
  8. ­ Có tinh thần tự giác, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tinh thần làm việc   nhóm tích cực; ­ Có khả  năng tìm kiếm việc làm và học lên trình độ  cao hơn hoặc tự  tổ  chức   kinh doanh. Nội dung của mô đun: Số  Thời  Hình   thức  Tên các bài trong mô đun TT gian giảng dạy 1 Xác   định   đối   tượ ng,   phươ ng   pháp   phân   tích   hoạt  6 Tích hợp động kinh doanh 2 Phân tích tính hình sử dụng lao động 5 Tích hợp 3 Phân tích tình hình sử  dụng tài sản cố  định, nguyên  5 Tích hợp vật liệu Kiểm tra bài 1 ,2 1 Tích hợp 4 Phân tích chung tình hình thực hi ện giá thành 3 Tích hợp 5 Phân tích chỉ  tiêu chi phí trên 1.000 đồng doanh thu   6 Tích hợp và các khoản mục giá thành 6 Phân tích kết quả sản xuất v ề kh ối l ượng s ản xu ất 4 Tích hợp 7 Phân tích kết quả sản xuất v ề ch ất l ượng s ản ph ẩm 6 Tích hợp 8 Phân tích tình hình tài chính của doanh nghi ệp 6 Tích hợp Kiểm tra bài 5, 6, 7, 8 2 Tích hợp Tổng 45 Trang 8
  9. BÀI 1 XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH  HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Giới thiệu: Hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp chịu nhiều tác động bởi các nhân tố  bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Các nhân tố bên trong là các quyết định của  nhà quản trị trong quá trình sử dụng các nguồn lực, các yếu tố của quá trình sản  xuất..Các nhân tố bên ngoài là sự tác động của các chính sách, định chế tài chính  của nhà nước. Do đó, nếu chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu kinh tế hoặc các báo cáo kế  toán thì sẽ  không thấy được bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.   Vì vậy, chúng ta cần phải đi vào phân tích hoạt động kinh doanh để  thấy được  những  ưu nhược điểm của quá trình tổ  chức quản lý sản xuất kinh doanh của   doanh nghiệp.Phân tích hoạt động kinh doanh là gì?Đối tượng, phương pháp  phân tích như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong nội dung bài học sau đây.  Mục tiêu: ­ Trình bày được khái niệm, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh trong hệ  thống quản lý doanh nghiệp; ­ Nêu được đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh doanh; ­Vận dụng được 4 phương pháp phân tích chủ yếu nhất của phân tích hoạt động  kinh doanh vào phân tích hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp; ­ Phân loại được các hình thức phân tích hoạt động kinh doanh để vận dụng vào  tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp; ­ Trung thực, nhanh nhẹn nắm bắt hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung chính: Trang 9
  10. 1.Khái niệm. đối tượng, ý nghĩa và mục tiêu của phân tích hoạt động kinh  doanh: 1.1.Khái niệm. Hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp chịu nhiều tác động bởi các   nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Các nhân tố bên trong là các quyết   định của nhà quản trị trong quá trình sử dụng các nguồn lực, các yếu tố của quá  trình sản xuất..Các nhân tố bên ngoài là sự tác động của các chính sách, định chế  tài chính của nhà nước. Do đó, nếu chỉ dừng lại  ở các chỉ  tiêu kinh tế  hoặc các   báo cáo kế  toán thì sẽ  không thấy được bản chất hoạt động kinh doanh của   doanh nghiệp , không thấy được những  ưu nhược điểm của quá trình tổ  chức  quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  Như  vậy, phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp là đi sâu  nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh dựa trên các tài liệu hạch  toán, báo cáo và các thông tin kinh tế  khác…để  đánh giá đúng hoạt động kinh   doanh của doanh nghiệp. Trên cơ  sở  đó, đề  ra những biện pháp cụ  thể  khắc  phục các nhược điểm, phát huy ưu điểm, khai thác khả  năng tiềm tàng để  nâng  cao hiểu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2. Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh. Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt   động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình  và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế. Ta có thể khái quát   đối tượng của phân tích qua sơ đồ sau: Trang 10
  11. 1.2.1. Quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh Phân tích nhằm nghiên cứu quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.  Các kết quả  do quá trình hoạt động kinh doanh mang lại có thể  là kết quả  quá   khứ  hoặc các kết quả  dự  kiến có thể  đạt được trong tương lai và là kết quả  tổng hợp từ nhiều quá trình hoạt động.  Các kết quả này được biểu hiện dưới dạng các chỉ tiêu kinh tế.Các chỉ tiêu kinh   tế  có thể  là chỉ  tiêu đạt được trong thực tế  hoặc là các chỉ  tiêu mang tính định   hướng từ các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp: Phân tích HĐKD không chỉ  dừng lại  ở  đánh giá biến động của kết quả  HĐKD thông qua các chỉ tiêu kinh tế, mà phân tích còn đi sâu xem xét các nhân tố  ảnh hưởng tác động đến sự  biến động của chỉ  tiêu.Nhân tố  là các yếu tố  cấu   thành nên chỉ  tiêu kinh tế.Vì vậy, các nhân tố  tác động đến các chỉ  tiêu kinh tế  cũng là đối tượng nghiên cứu của phân tích HĐKD. VD: Để nghiên cứu tăng trưởng quy mô trong kinh doanh của doanh nghiệp ­ Chỉ tiêu kinh tế được sử dụng là: doanh thu tiêu thụ sản phẩm ­ Các nhân tố tác động đến doanh thu: Sản lượng tiêu thụ và đơn giá bán Doanh thu      =          Sản lượng tiêu thụ          x             Giá bán Tùy theo mức độ  tác động và mối quan hệ  với chỉ  tiêu, mà nhân tố  tác động  thuận hoặc nghịch đến chỉ tiêu kinh tế.  Ở  VD này, cả  hai nhân tố  Sản lượng tiêu thụ  và Giá bán cùng tác động cùng  chiều với Doanh thu. Có nghĩa là hai nhân tố  này tăng sẽ  làm chỉ  tiêu tăng và  ngược lại. 1.3. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Trang 11
  12. Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả  hoạt động kinh doanh theo yêu cẩu của quản lý kinh doanh, căn cứ  vào các tài  liệu hạch toán và các thông tin kinh tế  khác, bằng những phương pháp nghiên  cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế nhằm làm rõ  bản chất của hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên  cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh  nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh không những là công cụ  để  phát hiện  những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ để cải  tiến quản lý trong kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ  sở  quan trọng để  đề  ra các quyết   định kinh doanh. Thông qua tài liệu phân tích cho phép các nhà quản trị  doanh   nghiệp nhận thức đúng đắn về  khả  năng, những hạn chế   cũng như  thế  mạnh   của doanh nghiệp mình. Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi   ro trong kinh doanh.Để  hoạt động kinh doanh đạt được kết quả  mong muốn,  doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích hoạt động kinh doanh. Ngoài việc  phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp như tài chính, lao động, vật tư… Doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động bên ngoài như  khách hàng, thị trường, đối thủ cạnh tranh….trên cơ sở đó doanh nghiệp dự đoán  các rủi ro trong kinh doanh có thể xảy ra và có phương án phòng ngừa trước khi   chúng xảy ra. => Tóm lại, với các ý nghĩa trên, phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ  cần   thiết cho các cấp độ  quản lý khác nhau trong nội bộ  doanh nghiệp mà còn cần   thiết cho các đối tượng bên ngoài khi họ có mối quan hệ về quyền lợi với doanh  nghiệp.  Trang 12
  13. 1.4. Mục tiêu phân tích hoạt động kinh doanh Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu  kinh tế đã xây dựng Xác định các nhân tố   ảnh hưởng của các chỉ  tiêu và tìm nguyên nhân gây   nên các mức độ ảnh hưởng đó. Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn  tại yếu kém Xây dựng phương án kinh doanh và các biện pháp phòng ngừa các rủi ro  trong kinh doanh. 2. Phương pháp phân tích Có nhiều phương pháp được sử  dụng trong phân tích hoạt động kinh tế,   tuỳ  theo mục  đích của việc phân tích mà sử  dụng biện pháp cho thích hợp.  Thông thường người ta sử dụng các phương pháp sau: 2.1. Phương pháp so sánh So sánh cũng là phương pháp được sử  dụng phổ  biến trong phân tích để  xác định xu hướng, mức độ  biến động của chỉ  tiêu phân tích.Vì vậy, để  tiến   hành so sánh, phải giải quyết những vấn đề  cơ  bản như  xác định số  gốc để  so   sánh, xác định điều kiện so sánh và xác định mục tiêu so sánh. Xác định số  gốc để  so sánh  phụ  thuộc các mục đích cụ  thể  của phân  tích. Chỉ  tiêu số  gốc để  so sánh bao gồm: số  kế  hoạch, định mức, dự  toán kỳ  trước. Tùy theo mục đích (tiêu chuẩn) so sánh mà lựa chọn số gốc so sánh: ­ Nếu số  gốc là số  kỳ  trước: tiêu chuẩn so sánh này có tác dụng đánh giá mức  biến động, khuynh hướng hoạt động của chỉ tiêu phân tích qua hai hay nhiều kỳ. ­ Nếu số gốc là số  kế  hoạch: Tiêu chuẩn so sánh này có tác dụng đánh giá tình  hình thực hiện mục tiêu đặt ra. Trang 13
  14. ­ Số  gốc là số  trung bình ngành: Tiêu chuẩn so sánh này thường sử  dụng khi  đánh giá kết quả của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của các doanh  nghiệp có cùng quy mô trong cùng ngành. Xác định điều kiện so sánh:  Để kết quả so sánh có ý nghĩa thì các chỉ tiêu được sử  dụng so sánh phải   thống nhất về các mặt sau: ­ Phải cùng phản ánh nội dung kinh tế. ­ Phải cùng một phương pháp tính toán. ­ Phải có cùng một đơn vị đo lường. ­ Phải cùng một khoảng thời gian hoạch toán. Xác định kỹ thuật so sánh: So sánh bằng số tuyệt đối: Là hiệu số giữa trị số kỳ phân tích và trị số kỳ  gốc của chỉ tiêu kinh tế. Việc so sánh này cho thấy sự biến động về khối lượng,  quy mô của chỉ tiêu phân tích. So sánh bằng số tương đối: Là thương số giữa trị số kỳ phân tích và trị số  kỳ  gốc của chỉ  tiêu kinh tế. Việc so sánh này biểu hiện kết cấu, mối quan hệ,  tốc độ phát triển… của chỉ tiêu phân tích . So sánh bằng số  bình quân: Số  bình quân có thể  biểu thị  dưới dạng số  tuyệt   đối(năng   suất   lao  động   bình  quân,   tiền  lương  bình  quân….)hoặc   dưới  dạng số tương đối(tỷ suất lợi nhuận bình quân, tỷ suất chi phí bình quân…) So  sánh bằng số bình quân nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ  phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất. Vídụ: Doanh thu năm nay: 5.000.0000.0000 đồng. Doanh thu năm trước:  4.000.000.000 đồng. Phân tích ví dụ: ­ Tiêu chuẩn so sánh: Số kỳ gốc(số kỳ trước): 4.000.000.000 đồng. Trang 14
  15. ­ Điều kiện so sánh: +  Cùng nội dung kinh tế : Doanh thu + Cùng phương pháp tính: Tính doanh thu theo phương pháp Doanh thu = sản lượng tiêu thụ  x giá bán + Cùng đơn vị đo lường : đồng. + Cùng một khoảng thời gian hoạch toán: doanh thu trong 1 năm ­ Kỷ thuật so sánh:  + So sánh bằng số tuyệt đối:  5.000.000.000 – 4.000.000.000 = 1.000.000.000 đ. Như vậy, doanh thu năm nay cao hơn doanh thu năm trước 1 tỷ đồng + So sánh bằng số tương đối: * 100 % = 125% Như  vậy, doanh thu năm nay đạt 125% doanh thu năm trước, hay có thể  nói  doanh thu năm nay vượt mức 25% so với doanh thu năm trước.  2.2 Phương pháp liên hệ cân đối Là phương pháp dùng để  xác định mức độ   ảnh hưởng của từng nhân tố  khi các nhân tố có quan hệ tổng số, hiệu số. Khi xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố nào đó chỉ cần tính phần   chênh lệch của nhân tố đó mà không cần quan tâm đến nhân tố khác. Q       =    a0  +  b0  ­  c0 Qa    =    a1 ­  a0 Qb    =    b1­ b0 Qc    =    c1­ c0 Q   = Qa+  Qb  +  Qc 2.3. Phương pháp phân chia kết quả  kinh tế  (phương pháp phân tích chi  tiết) Trang 15
  16.  Phân chia kết quả kinh tế là việc phân loại kết quả kinh tế thành từng bộ  phận theo một tiêu thức nào đó; việc phân chia   kết quả  kinh tế  giúp ta nắm  được một cách sâu sắc bản chất của sự  vật, hiện tượng; nắm được mối quan  hệ cấu thành, mối quan hệ nhân quả và quy luật phát triển của các sự vật, hiện   tượng đó. Ta có thể phân chia kết quả kinh tế theo những cách sau: ­ Phân chia theo bộ phận cấu thành chỉ tiêu:  Các chỉ tiêu kinh tế thường được chi tiết thành các yếu tố cấu thành. Nghiên cứu   chi tiết này giúp ta có thể đánh giá chính xác sự biến động bên trong của các kế  quả kinh tế (chỉ tiêu phân tích)  Ví dụ: chỉ tiêu giá thành đơn vị  sản phẩm được chi tiết theo các khoản mục chi   phí, chỉ tiêu doanh thu chi tiết theo mặt hàng hoặc chi tiết theo từng phương thức   tiêu thụ … ­ Phân chia theo thời gian:  Các kết quả  của hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ  cũng là một quá trình  tổng hợp của từng khoảng thời gian nhất định.Mỗi khoảng thời gian khác nhau,  có những nguyên nhân tác động sẽ không giống nhau.Việc phân tích chi tiết này   giúp ta đánh giá chính xác và đúng đắn kết quả  hoạt động kinh doanh, từ  đó sẽ  có những biện pháp cho từng khoảng thời gian đó. Ví dụ: phân tích doanh thu theo tháng, quý để  xác định được thời điểm kinh  doanh thuận lợi của doanh nghiệp ­ Phân chia theo bộ phận và phạm vi kinh doanh:  Kết quả kinh doanh thường là  đóng góp của nhiều bộ phận hoạt động trên những địa điểm khác nhau. Chi tiết   theo từng bộ  phận, từng địa điểm kinh doanh sẽ  làm rõ hơn sự  đóng góp của  từng bộ phận đến kết quả chung của toàn doanh nghiệp.  Trang 16
  17. Ví dụ: Doanh thu của Công ty Cổ  phần siêu thị  Coopmart có thể  chi tiết theo   từng chuỗi Siêu thị, theo từng tỉnh. 2.4. Phương pháp loại trừ (phương pháp thay thế liên hoàn) Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố  đến chỉ  tiêu  phân tích khi các chỉ tiêu này có quan hệ tích, thương, hoặc vừa tích vừa thương.  Các nguyên tắc cần tuân thủ của phương pháp này: ­ Phải xác định được số lượng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích. ­ Sắp xếp các nhân tố  theo thứ  tự  : nhân tố  số  lượng đến nhân tố  chất lượng.  Trường hợp chỉ  tiêu có nhân tố  kết cấu thì sắp xếp nhân tố  số  lượng, kết cấu,  rồi đến nhân tố  chất lượng. Trường hợp có nhiều nhân tố  số  lượng, nhân tố  chất lượng thì nhân tố  chủ  yếu xếp trước, nhân tố  thứ  yếu xếp sau.(Nhân tố  chủ yếu là nhân tố ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu phân tích. Để biết nhân tố thứ  yếu hay nhân tố chủ yếu: cố định các nhân tố định mức, thay đổi 1 đơn vị xem ,  nhân tố nào ảnh hưởng lớn đến đối tượng, nhân tố đó là nhân tố chủ yếu.) ­ Lần lượt thay thế các nhân tố theo trình tự đã sắp xếp để xác định ảnh hưởng  của chúng. Khi thay thế nhân tố số lượng thì phải cố định nhân tố chất lượng ở  kỳ  gốc, ngược lại khi thay thế nhân tố  chất lượng thì phải cố  định nhân tố  số  lượng ở kỳ phân tích. ­ Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng phải đúng bằng đối tượng phân tích. Bước 1: Giả sử có 4 nhân tố a, b,c, d đểu có quan hệ tích số với chỉ tiêu Q. Q1: chỉ tiêu kỳ phân tích Q0: chỉ tiêu kỳ gốc Mối quan hệ các nhân tố với chỉ tiêu Q được thiết lập như sau: Kỳ phân tích:  Q1  =  a1   x  b1  x  c1  x  d1 Kỳ gốc: Q0   =  a0  x  b0  x  c0  x  d0 Ta có đối tượng phân tích: Q = Q1  ­  Q0 Trang 17
  18. Bước 2: Xác định ảnh hưởng của các nhân tố: Xác định ảnh hưởng của nhân tố a: Thay thế lần 1:  Qa  =  a1  x  b0  x  c0  x  d0 Mức ảnh hưởng của nhân tố a:     Qa = Qa  ­  Q0 Xác định ảnh hưởng của nhân tố b: Thay thế lần 2:  Qb  =  a1  x  b1  x  c0  x  d0 Mức ảnh hưởng của nhân tố b:     Qb = Qb  ­  Qa Xác định ảnh hưởng của nhân tố c: Thay thế lần 3:  Qc  =  a1  x  b1  x  c1  x  d0 Mức ảnh hưởng của nhân tố c:     Qc = Qc  ­  Qb Xác định ảnh hưởng của nhân tố d: Thay thế lần 4:  Qd  =  a1  x  b1  x  c1  x  d1 Mức ảnh hưởng của nhân tố d:     Qd = Qd  ­  Qc Bước 3: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng: Q  =Qa  + Qb  +  Qc  +Qd  Ưu và nhược điểm của phương pháp liên hoàn: Ưu điểm: Là phương pháp đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán Phương pháp thay thế  liên hoàn có thể  chỉ  rõ mức độ   ảnh hưởng của các nhân  tố, qua đó phản ánh được nội dung bên trong của hiện tượng kinh tế Nhược điểm: Khi xác định ảnh hưởng của nhân tố nào, phải giả định các nhân tố  khác không   đổi, nhưng trong thực tế có trường hợp các nhân tố đểu cùng thay đổi. Khi sắp xếp trình tự  các nhân tố, trong nhiều trường hợp để  phân biệt được  nhân tố nào là số lượng và chất lượng là vấn đề không đơn giản.Nếu phân biệt   Trang 18
  19. sai thì việc sắp xếp và kết quả tính toán các nhân tố cho ta kết quả không chính   xác. Ví dụ : Có tài liệu về giá trị sản xuất tại một doanh nghiệp trong kỳ như sau: Năm trước  Năm nay Chênh lệch Chỉ tiêu Mức % Số  công nhân sản xuất bình quân  100 120 +20 +20 (người) Số  ngày làm việc bình quân/năm  280 276 ­4 ­1,4 của một công nhân (ngày) Năng   suất   lao   động   bình   quân  20 18 ­2 ­10 ngày (1.000 đồng) Yêu cầu: Phân tích các nhân tố   ảnh hưởng đến sự  biến động của giá trị  sản  xuất giữa năm nay so với năm trước, theo phương pháp thay thế liên hoàn. Xây dựng phương trình kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị sản xuất Giá trị sản xuất của năm trước = 100 x 280 x 20 = 560.000 Giá trị sản xuất của năm nay   = 120 x 276 x 18 = 596.160 Bước 1: Xác định đối tượng phân tích: Tổng biến động của giá trị sản xuất = 596.160 – 560.000 = 36.160 Giá trị sản xuất của năm nay tăng 36.160 so với năm trước Bước 2: Xác định nhân tố ảnh hưởng:  Ảnh hưởng của nhân tố số công nhân sản xuất: Trang 19
  20. Giá trị sản xuất          = 120 x 280 x 20 = 672.000 Mức độ ảnh hưởng     = 672.000 ­ 560.000 = 112.000 Số công nhân năm nay tăng so với năm trước là 20 công nhân làm cho giá trị sản   xuất tăng thêm 112.000 Ảnh hưởng của nhân tố số ngày làm việc bình quân 1 công nhân: Giá trị sản xuất          = 120 x 276 x 20 = 662.400 Mức độ ảnh hưởng     = 662.400 ­ 672.000 = ­ 9.600 Số  ngày làm việc bình quân/năm một công nhân của năm nay giảm so với năm  trước 4 ngày làm cho giá trị sản xuất của năm nay giảm 9.600 Ảnh hưởng của nhân tố năng suất lao động bình quân ngày: Giá trị sản xuất          = 120 x 276 x 18 = 596.160 Mức độ ảnh hưởng     = 596.160 – 662.400 = ­ 66.240 Năng suất lao động bình quân ngày của năm nay giảm so với kế  hoạch 2.000  đồng làm cho giá trị sản xuất giám 66.240 Bước 3: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng: 112.000 – 9.600 – 66.240 = 36.160 Như vậy, giá trị sản xuất của năm nay tăng chủ yếu do doanh nghiệp đã tăng số  công nhân sản xuất bình quân, còn số ngày làm việc bình quân năm và năng suất   lao động giảm làm giá trị sản xuất giảm. 3. Tổ chức và phân loại phân tích HĐKD: 3.1. Các loại hình phân tích kinh doanh Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, thời điểm kinh doanh, doanh nghiệp có  thể  tiến hành phân tích theo định kỳ  như: tháng, quý, năm, nhằm đánh giá mức   độ thực hiện so với kế hoạch đề ra. Nhưng có thể khái quát hoạt động phân tích  căn cứ vào thời điểm kinh doanh thành ba loại sau: Trang 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2