intTypePromotion=1
ADSENSE

Khóa luận tốt nghiệp: Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới

Chia sẻ: Mhvghbn Mhvghbn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:96

146
lượt xem
32
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới nêu lý luận chung về tập đoàn kinh tế đồng thời làm rõ tính tất yếu khách quan, điều kiện con đường hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam. Vai trò của tập đoàn kinh tế trong phạm vi nền kinh tế quốc dân và trên bình diện thế giới. Thực trạng phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt nam và đề xuất một số biện pháp để phát triển mô hình này trong thời gian tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI -----  ----- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM - HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI Sinh viên thực hiện : Lê Quang Huy Lớp : Pháp 1 Khóa : 44 Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Phạm Duy Liên Hà Nội, 5 - 2009
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 3 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ .................. 7 1.1. KHÁI NIỆM VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ .......................................... 7 1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ ......................................... 9 1.3. PHÂN LOẠI TĐKT ......................................................................... 14 1.3.1. CĂN CỨ THEO BIỂU HIỆN CỦA LIÊN KẾT : ......................... 14 1.3.2. CĂN CỨ THEO TÍNH CHẤT SỞ HỮU :.................................... 16 1.3.3. CĂN CỨ THEO TÊN GỌI CỦA TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN ... 16 1.4. ĐIỀU KIỆN VÀ CON ĐƢỜNG HÌNH THÀNH CÁC TĐKT....... 19 1.5. VAI TRÒ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ ................................. 23 1.6. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ ............................................................................ 27 1.6.1. KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC ....................................... 27 1.6.2. KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN ............................................. 31 1.6.3. BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM.................................................. 34 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM ............................................................................ 37 2.1. SỰ CẦN THIẾT VÀ TẤT YẾU HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY .......................... 37 2.2. QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƢƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC VỀ THÍ ĐIỂM HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ ............................................................................................................. 38 2.3. ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐIỀU KIỆN BAN ĐẦU HÌNH THÀNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM ................................................... 42 2.4. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY THEO HƢỚNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ. ........................................... 46 2.4.1. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY 91 ................................................................ 46
  3. 2.4.2. MỐI QUAN HỆ NỘI BỘ ............................................................. 49 2.4.3. CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ............................................................. 53 2.4.4. QUAN HỆ GIỮA CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƢỚC VỚI CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP. .......... 53 2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG ........................................................................ 56 2.5.1. NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ TỪ CÁC TỔNG CÔNG TY 91 ......................... 56 2.5.2. MỘT SỐ HẠN CHẾ .................................................................... 58 2.5.3. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ .............................. 62 CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ ........................................... 65 3.1. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƢỚNG CHO VIỆC HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI ...... 65 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM ............................................................... 68 3.2.1. LỰA CHỌN CON ĐƢỜNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ .......................................................................................................... 68 3.2.2. XÁC ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ ...... 70 3.2.3. LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ HOÀN THIỆN CẤU TRÚC NỘI BỘ ............................................................................................................... 71 3.2.4. CƠ CẤU LẠI CÁC TỔNG CÔNG TY ĐƢỢC XÂY DỰNG THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN VÀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC TẬP ĐOÀN ĐANG THÍ ĐIỂM ..................................................................... 74 3.2.5. NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM TẠO LẬP MÔI TRƢỜNG, ĐIỀU KIỆN CHO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN .. 81 3.2.6. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH ...................................... 85 3.2.7. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC TẬP ĐOÀN KINH TẾ .......................................................................................................... 87 3.2.8. GIẢI PHÁP VỀ CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG TẬP ĐOÀN ............................................................................. 88 1
  4. KẾT LUẬN ................................................................................................. 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 92 2
  5. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Tập đoàn kinh tế (TĐKT) luôn có vị trí, vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, ngành và của cả nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, khi mà cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt thì vai trò của các TĐKT càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tập đoàn (TĐ) không chỉ là đầu tầu của nền kinh tế mà còn trở thành biểu tƣợng cho sức mạnh của một quốc gia, bảo vệ nền kinh tế trong nƣớc trƣớc sự thâm nhập của các nền kinh tế khác. Cũng nhƣ nhiều nƣớc đang phát triển trên thế giới, Chính phủ Việt Nam nhận thức rõ đƣợc tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển các TĐKT nếu muốn cạnh tranh bình đẳng với các nƣớc phát triển. Vì vậy thời gian qua, Đảng và Nhà nƣớc ta khẳng định quyết tâm xây dựng các TĐKT bằng nhiều chủ trƣơng, chính sách nhằm tạo ra những “trụ cột” kinh tế. Với đặc điểm là nền kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã chọn cho mình hƣớng đi là thiết lập các TĐKT của Nhà nƣớc - một dạng đặc biệt của mô hình TĐKT - thông qua quá trình cải cách toàn diện các doanh nghiệp Nhà nƣớc (DNNN). Tuy nhiên ngay cả khi các tập đoàn thí điểm đã đi vào hoạt động, giới nghiên cứu và những ngƣời làm thực tiễn vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về nhiều nội dung xung quanh mô hình này. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XII (tháng 10/2007), lần đầu tiên Quốc hội lên tiếng về “phong trào” thành lập TĐKT cho thấy tầm quan trọng cũng nhƣ những khó khăn, phức tạp của vấn đề này. Nhƣ vậy hình thành và phát triển các TĐKT ở Việt Nam là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn, đồng thời cả lý luận và thực tiễn đang đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Nhằm đem lại một cái nhìn tổng quát về quá trình hình thành, hiện trạng cũng nhƣ xu hƣớng phát triển mô hình này ở Việt Nam, em chọn đề tài “ Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện trạng và xu hƣớng phát triển trong thời gian tới” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. 3
  6. 2. Tình hình nghiên cứu Đã có nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu vấn đề này. Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài tập trung vào lý giải những nội dung về xây dựng và phát triển các TĐKT theo dạng đƣa ra các mô hình lý thuyết. Những tài liệu thực tiễn thƣờng là những bản báo cáo thƣờng niên của các TĐ riêng lẻ. Hơn nữa, các tác giả thƣờng căn cứ vào thực tiễn các TĐ ở nƣớc họ để tổng kết luận giải. Điển hình là các công trình sau: cuốn sách Bàn về cải cách toàn diện DNNN của tác giả Trƣơng Văn Bân (1999), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; các bài viết, thông tin trên trang thông tin điện tử của các TĐKT cụ thể và trên trang chính thức của hai tạp chí nổi tiếng FORTUNE (http://www.fortune.com) và Businessweek (http://www.businessweek.com) cung cấp khá đầy đủ, cập nhật các thông tin liên quan đến những TĐKT hàng đầu thế giới trên các mặt nhƣ doanh thu, lợi nhuận, lĩnh vực kinh doanh...cùng với những bài phân tích của các chuyên gia trên từng lĩnh vực cụ thể. Các công trình trong nƣớc cũng đề cập nhiều vấn đề xung quanh TĐKT. Đáng chú ý là các công trình: cuốn sách Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2002) của tác giả Vũ Huy Từ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; cuốn Thành lập và quản lý các TĐKT ở Việt Nam (1996) của tác giả Nguyễn Đình Phan, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội hay cuốn sách Tập đoàn kinh tế - lý luận và khả năng ứng dụng vào Việt Nam (2005) của tác giả Trần Tiến Cƣờng (chủ biên). Ngoài ra cũng cần phải kể đến các bài báo, các tạp chí chuyên nghành trên các trang web của các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học, các bài dịch theo chủ đề cũng hết sức phong phú, đa dạng. Về số lƣợng đây là mảng có số bài viết đồ sộ. Về nội dung, mảng nghiên cứu này đề cập đến nhiều vấn đề nhiều khía cạnh liên quan, phân tích thực trạng các TCTNN và các giải pháp phát triển chúng thành các TĐKT...Có thể nói đây là những tài liệu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu bởi thông tin đƣợc cập nhật, có nhiều ý tƣởng mới. Tuy nhiên do giới hạn phạm vi đăng tải, các công trình chỉ tiếp cận, phân tích một mặt, một khía cạnh nào đó của vấn đề, không thể giải quyết đƣợc nhiều nội dung trong một bài báo khoa học. 4
  7. Nhƣ vậy các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc có đề cập đến sự hình thành và phát triển các TĐKT nhƣng không thể áp dụng nhƣ một công thức trong điều kiện Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc đề cập đến nhiều khía cạnh với nhiều cách thức tiếp cận nhƣng chƣa có công trình nào hệ thống đầy đủ về sự hình thành và xu hƣớng phát triển các TĐKT đƣợc nhìn nhận từ thực trạng hoạt động và sự vận động nội tại phù hợp với điều kiện Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Nhằm góp phần làm rõ một số nội dung lý luận và thực tiễn về TĐKT , đánh giá thực trạng hoạt động, các quan hệ nội tại, mối liên kết kinh tế...trong các TCT đƣợc thành lập theo quyết định 91/TTg ngày 7/3/94 của Thủ tƣớng Chính phủ (gọi tắt là TCT 91); đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp để góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các TĐKT mạnh trên cơ sở các TCTNN, trong đó trọng tâm là các TCT 91. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu *Đối tƣợng: Đối tƣợng của đề tài đƣợc xác định là những nội dung chủ yếu liên quan đến sự hình thành, thực trạng và xu hƣớng phát triển các TĐKT ở Việt Nam, bao gồm: con đƣờng, điều kiện hình thành, mô hình, cơ chế chính sách, liên kết nội bộ, quan hệ sở hữu...một số nội dung đƣợc đề cập nhằm làm rõ mối quan hệ với những nội dung chủ yếu trong quá trình nghiên cứu. *Phạm vi: Phạm vi của đề tài là các TCT 91 (bao gồm cả các tập đoàn đang thí điểm) trên những nội dung chủ yếu liên quan đến hình thành, thực trạng và xu hƣớng phát triển trong thời gian tới. Các TCTNN đƣợc thành lập theo Quyết định 90/TTg (gọi tắt là TCT 90) và các TCT thành lập sau này đƣợc nghiên cứu, đề cập nhằm đảm bảo tính khoa học, logic của nội dung. Về thời gian: Tính từ khi có chủ trƣơng hình thành các TĐKT ở Việt Nam năm 1994, đƣợc đánh dấu bằng sự ra đời của Quyết định 91/TTg của Chính phủ, trong đó trọng tâm đƣợc giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến nay. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
  8. - Phƣơng pháp phân tích tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hoá những vấn đề chung về TĐKT, những căn cứ lý thuyết và thực tiễn hình thành và phát triển các TĐKT trong nền kinh tế thị trƣờng. - Phƣơng pháp thống kê, so sánh: sử sụng các số liệu thống kê để phân tích, so sánh, rút ra những kết luận làm cơ sở đề xuất quan điểm và giải pháp thúc đẩy quá trình phát triển các TĐKT, dần hoàn thiện mô hình này trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam. 6. Kết quả dự kiến đạt đƣợc - Làm rõ 3 điều kiện và 2 con đƣờng hình thành và phát triển các TĐKT. - Rút ra 6 bài học với Việt Nam qua phân tích kinh nghiệm hình thành và phát triển các TĐKT Trung Quốc, Nhật Bản. - Nêu rõ 4 kết quả bƣớc đầu, 4 nhóm hạn chế và 3 nhóm nguyên nhân thông qua phân tích thực trạng hoạt động các TCT theo mô hình tập đoàn. - Đối với các TĐKT thí điểm: hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, để chúng thực sƣ trở thành những TĐKT đủ mạnh, có khả năng cạnh tranh...nhằm đạt mục tiêu kì vọng khi thành lập. - Định hƣớng phát triển trong tƣơng lai nhằm phát huy sức mạnh nội tại của các tập đoàn. 7. Kết cấu Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Lý luận chung về tập đoàn kinh tế Chƣơng 2: Thực trạng phát triển mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp phát triển, nâng cao vai trò của các tập đoàn kinh tế Do kiến thức và thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót. Em rất mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn cùng quan tâm để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Duy Liên đã tận tình hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận này. 6
  9. CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1.1. Khái niệm về tập đoàn kinh tế Mặc dù xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX nhƣng khái niệm tập đoàn kinh tế cho đến nay vẫn là nội dung gây nhiều tranh luận. Xét từ góc độ pháp lý: Tập đoàn là tên gọi để chỉ một nhóm công ty kết nối với nhau bằng vốn hay bằng quyền biểu quyết. Mỗi công ty trong tập đoàn là một pháp nhân độc lập, tức là có quyền đi kiện và bị kiện, có tài sản để đƣợc thực hiện quyền đó. Tập đoàn không phải là một khái niệm pháp lý vì trong luật không có khái niệm trách nhiệm tập thể. Giả sử khởi tố một tập đoàn ra toà thì sẽ không có ai trong nhóm công ty kia đứng ra nhận giấy triệu tập [3, tr11-12]. Có thể khẳng định TĐKT không phải là thuật ngữ pháp lý mà chỉ là thuật ngữ dùng để nhận diện một tổ hợp kinh doanh, vì chƣa có doanh nghiệp nào đăng ký địa vị pháp lý của mình với tƣ cách là một tập đoàn. Hiện nay cũng chƣa có một nghiên cứu chính thức những doanh nghiệp nào đƣợc coi là TĐKT, tiêu chí chủ yếu là dựa vào đặc điểm của chúng. Cũng vì thế mà trên thế giới hiện nay vẫn chƣa có số liệu thống kê hiện có bao nhiêu TĐKT. Bản thân các nhà kinh tế trong nhiều trƣờng hợp xem xét một công ty có phải TĐKT hay không cũng còn nhiều ý kiến chƣa thống nhất. Trong một văn bản chung của Uỷ ban kinh tế và mậu dịch Nhà nƣớc và Uỷ ban cải cách cơ cấu Nhà nƣớc với tiêu đề “Quy định tạm thời về việc thành lập và quản lý các TĐDN” đƣợc đƣa ra vào tháng 4 năm 1995, Trung Quốc lại cho rằng TĐDN đƣợc xem nhƣ một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp có liên quan với nhau bởi công ty mẹ (CTM). Công ty mẹ nhƣ một hạt nhân trong tập đoàn, các công ty mẹ và các doanh nghiệp có liên quan khác đều là pháp nhân. Đối với những công ty trực thuộc hoặc những đơn vị không phải là pháp nhân sẽ không phải là các thành viên độc lập của tập đoàn. Cho đến nay, dù còn nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng quan niệm chung về tập đoàn của Trung Quốc có thể đƣợc hiểu đây là một tổ chức kinh tế bao gồm các pháp nhân có quan hệ với nhau theo cách này hoặc cách khác. Các 7
  10. quan hệ đó có thể là quan hệ đầu tƣ, quan hệ hợp tác hay quan hệ nhân sự với các cấp độ khác nhau nhƣ chặt chẽ, lỏng lẻo hay nửa chặt chẽ. Theo một công trình nghiên cứu của Công ty Ernst& Young (4, tr15) không có khái niệm duy nhất cho TĐKT. Mỗi quốc gia có một định nghĩa khác nhau dẫn đến có nhiều cách gọi khác nhau đối với thực thể kinh doanh này. Chẳng hạn ở các quốc gia Mỹ Latinh đƣợc gọi là Grupes, ở ấn Độ là Business house, ở Hàn Quốc là Chaebol, Nhật là Zaibatsu, phƣơng tây là conglomerate. Ơ Việt Nam, hiện vẫn chƣa có định nghĩa chính xác về TĐKT mà thực chất xung quanh vấn đề này vẫn còn rất nhiều tranh cãi. Từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam định nghĩa: TĐKT là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hoặc những ngành khác nhau trong phạm vi một nƣớc hoặc nhiều nƣớc, tiềm lực kinh tế - tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp vừa kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cƣờng tích tụ, tập trung tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận. Nó trở thành hình thức phổ biến, có vai trò chi phối và tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế ở nhiều nƣớc trong giai đoạn hiện nay [30]. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế đƣợc xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể nhƣ sau: "Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trƣờng và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con. Tập đoàn kinh tế. Các hình thức khác." [24, tr.218] Nhƣ vậy, mặc dù chƣa có một định nghĩa thống nhất về tập đoàn kinh tế nhƣng tựu chung lại có thể thấy TĐKT là một hình thức tổ chức chứa đựng trong nó những pháp nhân độc lập. Theo quy định pháp lý của nhiều quốc gia và xuất phát từ khái niệm có thể thấy, bản thân TĐKT không có tƣ cách pháp nhân mà chỉ là một thuật ngữ, một khái niệm dùng để nhận diện một mô hình kinh doanh chứa đựng trong đó các pháp nhân độc lập có mối quan hệ, liên kết đa dạng. Trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn, quan hệ sở hữu đầu tƣ vốn là chủ yếu. Tuy vậy, quan hệ chi phối trong tập đoàn không 8
  11. chỉ giới hạn ở vốn mà còn bao hàm cả công nghệ, thị trƣờng, thƣơng hiệu...Ngoài các quan hệ này, các thành viên còn quan hệ với nhau trên cơ sở hợp đồng, về thị trƣờng, về khoa học công nghệ...Liên kết công ty mẹ - công ty con (CTM-CTC) trong các tập đoàn là tƣơng đối bởi các quan hệ đầu tƣ đan xen (đầu tƣ ngang, chéo, ngƣợc) qua đó chúng có thể chi phối lẫn nhau. Theo nghĩa hẹp, quan niệm về TĐKT có thể là: TĐKT là tổ hợp các pháp nhân với liên kết vốn là chủ yếu. 1.2. Đặc điểm của tập đoàn kinh tế Thực tế cho thấy, khái niệm, mô hình của các TĐKT rất đa dạng, do đó khó có thể lƣợng hoá các tiêu chí của tập đoàn. Để làm rõ mô hình TĐKT, có thể khái quát thông qua các đặc điểm của chúng. Những đặc điểm vừa phải chỉ rõ những biểu hiện bên ngoài, vừa phải khắc hoạ những liên kết cơ bản bên trong các TĐKT. Thứ nhất, tập đoàn không có tư cách pháp nhân, cơ cấu tổ chức phức tạp: Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam quan niệm TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn. Trên thế giới, luật công ty của các quốc gia cũng không sử dụng thuật ngữ “firm”, “enterprise group”, “business group” hay “group” mà chỉ đăng ký là “công ty - company”. Nhƣ vậy, TĐKT không có tƣ cách pháp nhân mà nó là một tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó nhiều công ty có tƣ cách pháp nhân. Do đó, ngoài những quan hệ về vốn, thị trƣờng, công nghệ...các công ty thành viên trong tập đoàn bình đẳng trƣớc pháp luật, đƣợc thành lập và đăng ký theo quy định của pháp luật, đƣợc điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật có liên quan. Cơ cấu tổ chức của TĐKT khá đa dạng, không có khuôn mẫu thống nhất. Cơ cấu tổ chức đƣợc xây dựng trên nền tảng văn hoá, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, phong cách quản lý, chiến lƣợc xây dựng và phát triển của mỗi tập đoàn. Nhìn chung, cơ cấu tập đoàn thƣờng có một CTM và các CTC, trong đó CTM thƣờng đảm nhiệm các chức năng nhƣ phát triển thị trƣờng, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn vận động đến mục tiêu đã định sẵn thông qua chiến lƣợc chung, qua tỷ lệ góp vốn hay những quan hệ khác. Các CTC hoạt động độc lập với CTM, quan hệ với CTM thông qua đầu tƣ vốn, công nghệ, thị trƣờng. Các CTC hoạt động độc lập trƣớc pháp luật, có 9
  12. thể đầu tƣ vào nhau, thậm chí CTC có thể đầu tƣ ngƣợc vào CTM. Mối quan hệ giữa CTM và CTC tùy thuộc từng mô hình tập đoàn. Thông thƣờng, các TĐKT thƣờng đƣợc tổ chức theo 3 dạng cơ cấu: (1) Cơ cấu tổ chức hình tháp: đỉnh tháp là trung tâm quyền lực, điều hành mọi hoạt động của tập đoàn, sự phát triển kéo dài theo nhánh (mở rộng đáy hình tháp) nhƣng đảm bảo trật tự từ trên xuống; (2) Cơ cấu tổ chức phân cấp: Các quan hệ thƣờng đƣợc phân định và giới hạn theo cấp quản lý nhƣ cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản lý cấp 3, cấp 1 không can thiệp, quản lý cấp 3; (3) Cơ cấu tổ chức mạng lƣới: Các quan hệ đan xen, ban đầu là một trung tâm, phát triển theo sơ đồ mạng lƣới, sau đó mỗi nhân tố trong mạng lƣới này có thể phát triển thành một trung tâm độc lập với đầy đủ các quan hệ nhƣ trong mạng lƣới ban đầu. Cơ cấu điển hình của một tập đoàn bao gồm: CTM nằm ở trung tâm, đóng vai trò điều hành chung, có ảnh hƣởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển mỗi tập đoàn. Các thành viên trong tập đoàn gồm 3 loại: Chặt chẽ, lỏng lẻo và liên kết. Thành viên chặt chẽ là những doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với CTM về vốn, lợi ích, sản xuất kinh doanh...; thành viên bán chặt chẽ là những doanh nghiệp có quan hệ lợi ích nhất định, tham gia một phần vào hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn; thành viên lỏng lẻo là các doanh nghiệp có quan hệ hợp đồng ổn định, lâu dài với CTM. Thứ hai, quan hệ sở hữu hỗn hợp, phức tạp và mang tính xã hội hoá cao: Tập đoàn kinh tế tồn tại ở nhiều hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu Nhà nƣớc (SHNN), gia đình, cổ phần...Nhìn chung, hầu hết các TĐKT trên thế giới là sở hữu hỗn hợp. Sở hữu hỗn hợp cho phép các TĐKT phát huy khả năng huy động vốn, linh hoạt trong đầu tƣ, phân tán rủi ro, tăng năng lực cạnh tranh. Mặc dù trong cơ cấu tập đoàn có nhiều chủ sở hữu nhƣng thƣờng tồn tại một chủ sở hữu lớn, đóng vai trò CTM, có quyền lực chi phối các công ty thành viên. Tính chất đa sở hữu của các tập đoàn phản ánh quá trình phát triển của mô hình kinh doanh này khi mà quy mô sản xuất lớn đòi hỏi lƣợng vốn khổng lồ. Chế độ cổ phần ra đời khắc phục đƣợc những hạn chế về quy mô vốn thông qua việc huy động trên thị trƣờng chứng khoán. Ngày nay, sở hữu nhiều chủ diễn ra theo xu hƣớng tăng số ngƣời có cổ phần trong tập đoàn và giảm tỷ trọng sở hữu của từng thành viên trên tổng giá trị, do đó tập đoàn 10
  13. không còn là sở hữu của một cá nhân hay một quốc gia nữa mà là sở hữu quốc tế, có quốc tịch ở một quốc gia nhất định. Cùng với quá trình đó, các quan hệ pháp lý của các chủ sở hữu cũng thay đổi. Ngƣời công nhân với tƣ cách ngƣời làm thuê, giờ đây đã trở thành những cổ đông đồng sở hữu. Dƣới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và sức ép cạnh tranh trên thị trƣờng, các công ty không ngừng mở rộng quy mô hoạt động, tăng quy mô vốn bằng nhiều cách, trong đó chủ yếu là thu hút thêm vốn xã hội. Nhƣ vậy, sở hữu hỗn hợp trong các tập đoàn kéo theo sự thay đổi địa vị pháp lý của ngƣời lao động về sở hữu. Tuy vậy, sự tham gia của ngƣời lao động - những ngƣời trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của mỗi tập đoàn thƣờng chiếm tỷ trọng sở hữu cổ phần không lớn trong tổng vốn kinh doanh. Song song với việc thay đổi địa vị pháp lý về sở hữu của ngƣời lao động là việc sở hữu hỗn hợp đƣợc xã hội hoá, quốc tế hoá thông qua việc phát hành cổ phiếu ra thị trƣờng. Thứ ba,liên kết vốn mang tính phổ biến, chi phối các liên kết khác: Đặc trƣng nổi bật của các TĐKT là bao gồm nhiều hình thức liên kết, trong đó liên kết về vốn mang tính phổ biến. Các bên tham gia liên kết do nhu cầu tự thân là chính. Các bên tham gia chỉ thực hiện liên kết khi nào mối quan hệ đó mang lại lợi ích cho chính mình. Quyền hạn của các bên tham gia liên kết tuỳ thuộc vào tính chất của chính các mối quan hệ liên kết hoặc mức độ đóng góp của mỗi bên. Trƣờng hợp công ty mẹ (CTM) đầu tƣ, góp vốn ở các công ty con (CTC) hoặc giữa các công ty với nhau thì quyền hạn và trách nhiệm đƣợc quy định bởi tỷ lệ góp vốn. Mối quan hệ đó có thể là chi phối, góp vốn với tƣ cách cổ đông thông thƣờng và mối liên kết đƣợc duy trì hay chấm dứt bằng việc công ty thực hiện đầu tƣ tiếp tục duy trì hay rút vốn. Trong quan hệ CTM - CTC, quyền và mức độ chi phối của CTM với CTC nhận đầu tƣ vốn đƣợc quy định trong điều lệ của CTC nhƣng hầu hết các CTM nắm giữ quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của CTC. Quyền lợi của CTM đƣợc đảm bảo bằng phần lợi nhuận thu đƣợc thông qua tỷ lệ vốn góp. Ngoài ra, các tập đoàn còn có mối liên kết với các doanh nghiệp khác thông qua vốn góp của CTM với tỷ lệ chƣa đủ mức chi phối (cổ đông thông thƣờng) 11
  14. hoặc tạo những liên kết ngoài vốn với các doanh nghiệp độc lập, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ gia công sản phẩm, phân phối, đại lý... Thứ tư, vốn, doanh thu, lao động thường có quy mô lớn: Quy mô của TĐKT có nhiều khác biệt tuỳ thuộc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thời điểm khác nhau và quốc gia khác nhau. Tuy chƣa thống nhất tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao động nhƣng nói đến TĐKT là ám chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí lớn hơn cả tổng sản phẩm quốc dân của một quốc gia. Một điểm đáng lƣu ý khi xác định quy mô vốn của một doanh nghiệp lớn, của một TĐKT là cơ cấu hợp thành giá trị. Ngoài vốn cố định, vốn lƣu động, vốn nhân lực...còn một bộ phận quan trọng là giá trị thƣơng hiệu; ở một số tập đoàn, giá trị thƣơng hiệu chiếm trên 50% tổng giá trị thị trƣờng nhƣng lại không nằm trong sổ sách của tập đoàn. Năm 2005, giá trị thị trƣờng của 5 TĐKT tiêu biểu đạt 1.060,35 tỷ USD, trong đó Coca - Cola có giá trị 105,5 tỷ USD, Microsoft là 272,46 tỷ USD, IBM là 121,3 tỷ USD, con số này với General Electric (GE) và Intel lần lƣợt là 391,6 tỷ USD và 169,46 tỷ USD [17]. Năm 2006, tổng giá trị của Coca - Cola đạt 103 tỷ USD, của Pepsi đạt 105,4 tỷ USD. Giai đoạn 2001 - 2005, doanh thu của PepsiCo tăng 70%, riêng quý II năm 2006, tập đoàn này tăng trƣởng 13% so với cùng kỳ năm trƣớc và đạt lợi nhuận ở mức kỷ lục với gần 1,36 tỷ USD [22, tr.3]. Một số đặc điểm dễ nhận thấy của TĐKT là doanh thu lớn. Nhiều tập đoàn với quy mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên doanh thu khổng lồ, chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil, doanh thu năm 2006 lên tới 339,983 tỷ USD, tập đoàn Wal-Mart Stores có tổng doanh thu năm 2006 đặt 315,654 tỷ USD, tập đoàn PepsiCo chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006, doanh thu đạt gần 16 tỷ USD, trong đó lợi nhuận lên đến 2,4 tỷ USD...Trong tốp 500 công ty hàng đầu dựa trên doanh thu năm 2006 đƣợc tạp chí Fortune bình chọn, tập đoàn Nike có doanh thu thấp nhất, đứng thứ 500 cũng đạt doanh thu lên tới 13,739 tỷ USD [25]. Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành, có mặt ở nhiều quốc gia với rất nhiều sản phẩm hàng hoá khác nhau. Chính điều này đã đem lại doanh thu khổng lồ cho các TĐKT. 12
  15. Riêng về tiêu chí lợi nhuận, một số nghiên cứu cho rằng tiêu chí lợi nhuận lớn là một đặc điểm cơ bản của tập đoàn bởi quy mô hoạt động rộng, tiềm lực vốn lớn, kinh doanh đa ngành...Tuy nhiên không nên dùng tiêu chí lợi nhuận trong ngắn hạn (1-3 năm) bởi trong nền kinh tế thị trƣờng, chuyện thua lỗ là bình thƣờng và một tập đoàn có lợi nhuận âm trong vài ba năm cũng chƣa nói lên điều gì, thậm chí đó còn có thể là chiến lƣợc trong kinh doanh. Chẳng hạn tập đoàn hùng mạnh Pemex và tập đoàn Vodafone năm 2006 cũng thua lỗ với các con số tƣơng ứng là 7 triệu USD và 39,092 triệu USD nhƣng vẫn xếp hạng khá cao với thứ tự tƣơng ứng là 40 và 66 trong tổng số 500 công ty hàng đầu thế giới [25]. Thậm chí có tập đoàn hai năm liên tiếp thua lỗ nhƣ Vodafone: năm 2005 thua lỗ 13,910 triệu USD, năm 2006 tiếp tục lỗ 39,092 triệu USD nhƣng có tên trong danh sách. Mặc dù lợi nhuận không phải là tiêu chí đặc trƣng của các tập đoàn nhƣng ngoài những con số cá biệt, hầu hết các tập đoàn đều có lợi nhuận rất lớn với tốc độ tăng trƣởng ngoạn mục, đồng thời nó làm nên sức mạnh, vị thế của mỗi tập đoàn trong một môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu. Lực lƣợng lao động đông đảo về số lƣợng, trình độ cao cũng là một đặc điểm của tập đoàn. Về số lƣợng, theo công bố của Fortune (2006), tập đoàn FedEx có 212.241 lao động, tập đoàn Intel có 48.655 lao động, tập đoàn Starbucks có 91.056 lao động [25] hay tập đoàn P&G với nhiều sản phẩm nổi tiếng ở Việt Nam có trên 100.00 lao động [21, tr.15]. Lực lƣợng lao động của các tập đoàn không giới hạn trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà phân bố ở khắp nơi trên thế giới. Thông thƣờng, các tập đoàn đầu tƣ ở đâu sẽ tuyển dụng nhân lực ở đó, đồng thời có chính sách thu hút chất xám khắp nơi trên thế giới. Microsoft, Coca-Cola, PepsiCo...là ví dụ tiêu biểu về tính đa sắc tộc, đa quốc tịch, đa ngôn ngữ, nhiều màu da của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý trong cơ cấu tập đoàn. Về chất lƣợng, mặc dù đội ngũ lao động phân bố khắp nơi nhƣng nhìn chung, trình độ khá đồng đều thông qua quy trình tuyển dụng chặt chẽ, đào tạo và đào tạo lại rất chặt chẽ của mỗi tập đoàn. Tính chất quốc tế hoá lao động là một điểm đáng chú ý trong tất cả các tập đoàn hiện nay. Đội ngũ cán bộ quản lý trong các tập đoàn là những nhân vật xuất sắc, có ảnh 13
  16. hƣởng to lớn không chỉ đến sự lớn mạnh của bản thân mỗi tập đoàn mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Thứ năm, các tập đoàn kinh tế đều kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực: Trƣớc đòi hỏi của thị trƣờng và sự phát triển của nền kinh tế, các loại hình kinh doanh trong tập đoàn ngày càng trở nên phong phú, đa dạng. Chiến lƣợc sản phẩm và hƣớng đầu tƣ của tập đoàn cũng dần đƣợc mở rộng. Tập đoàn kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực nhƣng không tuỳ tiện mà dựa trên mối quan hệ kinh tế - kỹ thuật giữa các ngành. ở mỗi ngành đều có định hƣớng ngành chủ đạo, lĩnh vực đầu tƣ mũi nhọn với những sản phẩm đặc trƣng của tập đoàn. Hiện nay, hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực xoay quanh một hoặc một số ít các công nghệ chủ chốt là để phân tán rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo đảm cho hoạt động của tập đoàn luôn đƣợc an toàn và hiệu quả, đồng thời tận dụng đƣợc cơ sở vật chất và khả năng của tập đoàn. Xu hƣớng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày càng đƣợc chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn. Nhƣ vậy, ngoài các công ty sản xuất, một số đơn vị hợp thành tồn tại khá phổ biến trong các tập đoàn là các đơn vị kinh doanh vốn (cho thuê tài chính hoặc các hình thức khác), doanh nghiệp bảo hiểm, các cơ sở nghiên cứu (có tập đoàn có tới một trung tâm nghiên cứu, trong đó có cả cơ sở nghiên cứu chiến lƣợc), các công ty thƣơng mại. Một số tập đoàn có nhu cầu vận tải đã xây dựng cho mình một năng lực vận tải khá lớn vừa phục vụ cho mình vừa phục vụ thị trƣờng. 1.3. Phân loại TĐKT Để phân loại các TĐKT ngƣời ta thƣờng dựa vào các căn cứ sau: 1.3.1. Căn cứ theo biểu hiện của liên kết : a. Tập đoàn liên kết những công ty cùng ngành: Ví dụ nhƣ Cartel, Syndicate, Trust, Keiretsu...hay còn gọi là liên kết ngang - sự kết hợp các công ty hoạt động trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh, nhất là trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao và những doanh nghiệp có ƣu thế sẽ nắm vai trò chủ đạo. Các doanh nghiệp thoả hiệp với nhau để ấn định giá cả, chia sẻ thị trƣờng hoặc định mức sản lƣợng để hạn chế cạnh tranh và tăng lợi 14
  17. nhuận, ở mức cao hơn các doanh nghiệp sẽ mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác đang là đối thủ cạnh tranh. Hiện nay, hình thức này không còn phổ biến trong các nƣớc tƣ bản phát triển. Một mặt, vì nhu cầu của thị trƣờng hết sức đa dạng, phong phú và biến đổi nhanh chóng nên với hình thức này khó đem lại hiệu quả cao. Mặt khác, do nguồn vốn tập trung vào một ngành hàng nên thƣờng có rủi ro lớn. Cuối cùng, do sự ngăn cấm, hạn chế của Chính phủ các nƣớc vì nó tạo độc quyền, ngăn cản cạnh tranh. b. Tập đoàn liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng ngành: Đó là liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất mà ở đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó. Trong tập đoàn dạng này sự liên kết đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau nhƣng có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Sự liên kết này thƣờng dẫn đến sự phát triển ngành nghề theo chiều sâu, tạo điều kiện để các tập đoàn củng cố vị thế cạnh tranh, nâng cao chất lƣợng quản lý, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp hữu hiệu hơn. Hiện nay, loại hình tập đoàn này vẫn còn phổ biến với tên gọi nhƣ Concern, Conglomerate, Chaebol... Các tập đoàn này chỉ phát triển và hoạt động có hiệu quả khi có đủ các điều kiện cần thiết về môi trƣờng, khoa học-công nghệ và trình độ quản lý, đặc biệt phải có thị trƣờng chứng khoán phát triển, có hệ thống thông tin toàn cầu và khả năng xử lý tổng hợp các thông tin về thị trƣờng, đầu tƣ. Do vậy, các nƣớc mới phát triển chỉ có thể phát triển các tập đoàn chủ yếu ở lĩnh vực sản xuất về thƣơng mại. c. Tập đoàn liên kết hỗn hợp: Liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, không có mối liên hệ với nhau về quy trình sản xuất hay cung ứng sản phẩm nhằm bổ sung lợi thế cho nhau. Trên thực tế hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều sự kết hợp của các kiểu liên kết ngang và dọc, nó bao gồm nhiều thực thể kinh doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau. Từ đó hình thành các kiểu liên kết đa ngành, đa lĩnh vực hết sức phong phú. Ngày nay, một TĐKT mạnh thƣờng có cơ cấu kinh doanh gồm nhiều ngành nghề, kể cả các ngành không liên quan với nhau. Có thể thấy mô hình tập đoàn này đang đƣợc ƣa chuộng và trở thành xu hƣớng chính hiện nay. Cơ cấu của nó thƣờng gồm một 15
  18. ngân hàng hoặc một công ty tài chính lớn, một công ty thƣơng mại và các công ty sản xuất công nghiệp. 1.3.2. Căn cứ theo tính chất sở hữu : Nhiều tập đoàn tƣ bản lớn ngày nay có nguồn gốc từ những công ty sở hữu gia đình. Từ sở hữu của từng tƣ bản cá biệt chúng chuyển dần thành sở hữu tập thể các nhà tƣ bản độc quyền. Nói chung chúng vẫn mang sắc thái của sở hữu tƣ nhân nhƣng lại gắn bó rất chặt chẽ với Chính phủ tƣ bản. Thứ hai, sự phát triển của chúng phụ thuộc chặt chẽ vào các chính sách kinh tế của các Chính phủ này. Thứ ba, các Chính phủ cũng phải dựa vào các TĐKT này nhƣ những lực lƣợng vật chất quan trọng, đảm bảo khả năng cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của nƣớc đó. Hiện nay, hình thức hỗn hợp dƣới dạng công ty cổ phần là một hình thức đƣợc ƣa chuộng vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời nó cũng phản ánh đƣợc lợi ích của nhiều bên tham gia trong tập đoàn đó. 1.3.3. Căn cứ theo tên gọi của tiến trình phát triển Trong quá trình phát triển các TĐKT có các hình thức gắn với tên gọi chủ yếu sau: Một là, Cartel: Đây là loại hình tập đoàn của các công ty trong một ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các công ty này có mức độ sản xuất hoặc thƣơng mại dịch vụ giống nhau thƣờng xuyên cạnh tranh với nhau nhƣng không thắng nổi nhau, cuối cùng đi đến ký kết hợp đồng với nhau hoặc thoả thuận kinh kế nhằm thống nhất về giá cả, phân chia thị trƣờng tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, kiểu loại, kích cỡ sản phẩm, dịch vụ nhằm mục đích hạn chế cạnh tranh giữa các thành viên. Trong Cartel, các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ tính độc lập về mặt pháp lý, về kinh tế đƣợc điều hành bằng hợp đồng kinh tế. Hai là, Syndicate : Thực chất đây là dạng đặc biệt của Cartel. Điểm khác biệt căn bản so với Cartel là trong tập đoàn dạng Syndicate có một văn phòng thƣơng mại chung đƣợc thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các công ty phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của văn phòng này. Nhƣ vậy các 16
  19. công ty trong Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhƣng hoàn toàn mất tính độc lập về thƣơng mại. Tính liên kết của dạng tập đoàn này đƣợc thực hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm. Ba là, Trust : Là một hình thức TĐKT không chỉ có liên kết ở khâu tiêu thụ nhƣ Syndictate mà còn liên kết ở khâu sản xuất. Trust bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất điều khiển. Khác với Cartel và Syndicate, các doanh nghiệp thành viên trong Trust đều bị mất quyền độc lập về sản xuất và thƣơng mại. Các nhà đầu tƣ tham gia trong Trust đều là các cổ đông .Việc thành lập Trust nhằm chiếm nguồn nguyên liệu và khu vực đầu tƣ để thu lợi nhuận độc quyền cao. Bốn là, Consortium: Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng, đƣợc thành lập nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài nƣớc hoặc tiến hành công việc buôn bán nào đó. Đứng đầu Consortium thƣờng là ngân hàng lớn có vai trò điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức này. Consortium gắn bó rất chặt chẽ với các Concern. Năm là, Concern: Đây là hình thức tập đoàn phổ biến nhất hiện nay. Concern không có tƣ cách pháp nhân, các công ty thành viên trong Concern vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý. Mối quan hệ giữa các công ty thành viên trong Concern dựa trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung. Đó là những thoả thuận về phát minh sáng chế, nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác sản xuất kinh doanh chặt chẽ và có hệ thống tài chính chung. Trong loại hình này ngƣời ta thành lập công ty mẹ điều hành hoạt động của tập đoàn. Công ty này điều hành các hoạt động tài chính, không quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực chất đây là công ty cổ phần nắm giữ phần vốn đóng góp của các công ty thành viên. Thế mạnh của loại hình tập đoàn này là tạo ra một thế lực tài chính lớn, phát triển kinh doanh và gây ảnh hƣởng lớn đến chính trị-xã hội nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh của tập đoàn. 17
  20. Sáu là, Conglomerate: Đây là loại tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực. Các công ty thành viên ít có mối quan hệ công nghệ sản xuất gần gũi với nhau, thậm chí không có mối quan hệ nào về mặt công nghệ sản xuất. Loại hình này hình thành bằng cách thu hút cổ phần của những doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất, đặc biệt là các doanh nghiệp đang có tốc độ phát triển cao, nhƣng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt tài chính. Trong Conglomerate không có ngành nghề nào là chủ chốt, chúng đƣợc hình thành bằng cách thu hút cổ phần của những công ty đang ở vào giai đoạn phát triển cao. Thông qua hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trƣờng, cơ cấu sản xuất của Conglomerate thƣờng chuyển hƣớng tập trung vào những ngành nghề có lợi nhuận cao. Việc thôn tính dần các công ty có lãi suất cao làm cho cơ cấu ngành nghề của tập đoàn thay đổi nhanh chóng. Đặc điểm cơ bản của hình thức Tập đoàn kinh tế này là huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán và hoạt động của nó chủ yếu nhằm mở rộng phạm vi kiểm soát tài chính. Do đó, Conglomerate có mối quan hệ rất chặt chẽ với ngân hàng. Bảy là, Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia: Trong những thập kỷ gần đây, thời đại tƣ bản tài chính, thế lực tƣ bản độc quyền tăng lên, xu hƣớng thừa tƣ bản trở lên phổ biến, tất yếu hình thành con đƣờng xuất khẩu tƣ bản ra nƣớc ngoài tìm kiếm lợi nhuân. Việc hợp nhất các doanh nghiệp đã vƣợt ra ngoài biên giới quốc gia, dẫn đến hình thành các Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Đó là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà tƣ bản có thế lực nhất, các tập đoàn này có quy mô mang tầm cỡ quốc tế, có một hệ thống chi nhánh dày đặc ở nƣớc ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua bành trƣớng quốc tế. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ, xu hƣớng toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, tác động của cạnh tranh toàn cầu, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là nguyên nhân dẫn đến hình thành các Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đƣợc hiểu là những công ty hoạt động trong một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, trên lãnh thổ nhiều quốc gia. Do đó, cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản đó là “Công ty mẹ” thuộc sở hữu của các nhà tƣ bản nƣớc có công ty mẹ và một hệ thống các công ty 18
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=146

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2