intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

Chia sẻ: Codon_05 Codon_05 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

135
lượt xem
19
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc với mục đích phân tích tác động cụ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, vạch ra những mặt được, chưa được, đề xuất những định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả của FDI để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng bền vững trong thời gian tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HÀ QUANG TIẾN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành : Kinh tế chính trị Mã số : 62.31.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Đoàn Xuân Thủy 2. TS Vũ Thị Thoa HÀ NỘI - 2014
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, những kết luận nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Tác giả luận án Hà Quang Tiến
  3. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 7 ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.1. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến 7 đề tài luận án 1.2. Khái quát về kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề 28 tài luận án Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG 32 CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 2.1. Bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 32 2.2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát 37 triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một tỉnh và các nhân tố ảnh hưởng 2.3. Kinh nghiệm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác 53 động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh trong nước và quốc gia trên thế giới Chương 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC 75 TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 3.1. Những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng 75 tới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 3.2. Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 80 tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến nay 3.3. Đánh giá chung về tác động của đầu tư trực tiếp nước 113 ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc và những vấn đề đặt ra
  4. Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC TÁC 121 ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC 4.1. Dự báo về bối cảnh và nhu cầu thu hút vốn đầu tư trực 121 tiếp nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 4.2. Quan điểm và phương hướng cơ bản về nâng cao tác 127 động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc 4.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của đầu tư 130 trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc KẾT LUẬN 150 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 152 TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
  5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN ASEAN - Tổ chức Hợp tác các quốc gia Đông Nam Á BTGPMB - Bồi thường giải phóng mặt bằng BHXH, BHYT - Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế. CCN - Cụm công nghiệp CNH, HĐH - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNĐT - Chứng nhận đầu tư CTNH - Chất thải nguy hại DN - Doanh nghiệp DN FDI - Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài DDI - Đầu tư trực tiếp trong nước FDI - Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP - Tổng sản phẩm quốc nội GNP - Tổng sản phẩm quốc gia GTSXCN - Giá trị sản xuất công nghiệp GTKNNK - Giá trị kim ngạch nhập khẩu GTKNXK - Giá trị kim ngạch xuất khẩu GTSX - Giá trị sản xuất KCN - Khu công nghiệp KCX - Khu chế xuất LATS - Luận án tiến sĩ Nxb - Nhà xuất bản ODA - vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức" OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế TNCs - Công ty xuyên quốc gia TNHH - Trách nhiệm hữu hạn R&D - Nghiên cứu và phát triển UBND - Ủy ban nhân dân UNCTAD - Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc WTO - Tổ chức Thương mại thế giới SXKD - Sản xuất kinh doanh
  6. DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 3.1. Giá trị vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 85 Bảng 3.2. Tăng trưởng của tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh 86 Phúc theo giá so sánh Bảng 3.3. Đóng góp của FDI vào GDP của tỉnh Vĩnh Phúc theo giá 87 thực tế Bảng 3.4. Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh 88 nghiệp FDI trong công nghiệp Vĩnh Phúc giai đoạn 1998- 2012 (giá cố định 1994) Bảng 3.5. Đóng góp của FDI vào giá trị sản xuất công nghiệp của 89 tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1998 -2012 Bảng 3.6. Đóng góp của các doanh nghiệp FDI vào ngân sách tỉnh 95 Vĩnh Phúc theo giá thực tế Bảng 3.7. Tình hình đình công trong các doanh nghiệp FDI trên 105 địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008-2014 Bảng 3.8. Tình hình nợ bảo hiểm xã hội của các DN FDI trên địa 107 bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997-2014
  7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nội dung hoạt động trong kinh tế đối ngoại của một quốc gia, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được khuyến khích phát triển, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Đại hội X tiếp tục khẳng định thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng. Trong điều kiện hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rất cần thiết phải tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó FDI là nguồn lực quan trọng để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp. Đại hội XI nhấn mạnh thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường nhằm phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế; ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, chế biến, công nghiệp năng lượng, luyện kim, hoá chất, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông; phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn; gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, mở rộng xuất khẩu. Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ IX, Quốc hội khoá X, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập từ ngày 01-01-1997. Với khởi điểm là một tỉnh nghèo, thuần nông (nông nghiệp chiếm 56% GDP), Vĩnh Phúc có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn để
  8. 2 thực hiện CNH, HĐH trên địa bàn. Trên cơ sở chính sách đầu tư cởi mở thông thoáng của Việt Nam và sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chính sách đó của Vĩnh Phúc, sau 17 năm tái lập, bằng sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, bằng các cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều kết quả, trở thành một tỉnh thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài với lượng lớn và đã mang lại hiệu quả tích cực. Đến hết năm 2013 cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực (tỷ trọng công nghiệp chiếm 60,39% trong GDP), kinh tế xã hội có bước phát triển vượt bậc, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt 17,4%/năm giai đoạn 2006 - 2010, năm 2011 - 14,62%; năm 2012 - 2,52%; năm 2013 - 7,89%. GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt trên 54 triệu đồng, tương đương khoảng 2500 USD, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội, FDI ở Vĩnh Phúc cũng có những tác động không mong muốn, hoạt động của các doanh nghiệp FDI ở Vĩnh Phúc đã và đang đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn cần được kiến giải về lý luận, tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định những giải pháp chính sách, cơ chế cụ thể, thích hợp từng thời kỳ để FDI có tác dụng mạnh hơn đến phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường trong thời gian tới. Với lý do trên, việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao tác động tích cực, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Vì vậy, vấn đề “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc” được tác giả lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế chính trị, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc đang diễn ra trong thu hút, sử dụng FDI để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thời gian tới. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, thực hiện
  9. 3 phân tích những tác động cụ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, vạch ra những mặt được, chưa được, đề xuất những định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả của FDI để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng bền vững trong thời gian tới. 2.2. Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra của luận án là: - Luận giải rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trên các phương diện tác động tích cực và tác động tiêu cực. - Phân tích thực trạng tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, trong đó đặc biệt đi sâu làm rõ những tác động tích cực và những tác động tiêu cực, những vấn đề cấp bách đặt ra cần giải quyết để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. - Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả FDI cho phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc đến 2020 và tầm nhìn 2030. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án có đối tượng nghiên cứu là những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội thể hiện thông qua những thay đổi của các mặt đời sống kinh tế - xã hội như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc làm, môi trường… dưới ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, trong luận án sẽ tiến hành luận giải những vấn đề có liên quan chặt chẽ tới tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội như bản chất, đặc điểm, vai trò của FDI, mối quan hệ giữa FDI với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh và những quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan.
  10. 4 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó có tính tới việc điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 “Về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan”. - Thời gian nghiên cứu: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc từ 1997 đến năm 2014 theo các phương diện kinh tế, xã hội, môi trường, nhằm đề xuất phương hướng và giải pháp phát huy hiệu quả tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, các văn kiện của Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI và các hội nghị Trung ương; Luật Đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài; đồng thời tham khảo, kề thừa những kết quả nghiên cứu của các tổ chức, học giả trong nước và quốc tế về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu: trừu tượng hóa khoa học; đi từ trừu tượng tới cụ thể; phương pháp nghiên cứu hệ thống; tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp tổng kết, phân tích và thực tiễn để tìm ra những đặc trưng của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đồng thời cụ thể qua các chương: Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích để đánh giá về quan điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, từ đó
  11. 5 rút ra những vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ và các vấn đề cần nghiên cứu bổ sung và nghiên cứu mới. Chương 2: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra những khái niệm cơ bản và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh ở Việt Nam. Đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá thực tiễn thu hút, sử dụng, phát huy tác động tích cực của FDI tại một số quốc gia và địa phương trong nước để rút ra bài học cho tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, nhằm làm rõ thực trạng tác động cụ thể của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực và nguyên nhân. Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã nghiên cứu ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối cảnh và nhu cầu về vốn FDI cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc để rút ra những quan điểm định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc. 5. Những đóng góp mới của luận án - Luận giải khái niệm tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội; bổ sung làm rõ thêm về tác động hai mặt của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh theo các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. - Phân tích, đánh giá và luận giải rõ thêm những tác động cụ thể của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2014, bao gồm các tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghệ sản xuất, kết cấu hạ tầng, mở rộng kinh tế đối ngoại, nguồn thu ngân sách, việc làm, môi trường cùng một số tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội, môi trường các nguyên nhân của những tác động đó. - Đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy có hiệu quả tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Những giải pháp đã đề xuất bao gồm:
  12. 6 Định kỳ đánh giá hiệu quả của từng dự án và hiệu quả của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc để có chương trình điều chỉnh kịp thời; Tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế, quy hoạch các khu, cụm công nghiệp đến năm 2020 với tầm nhìn 2030; Phối hợp giữa địa phương với nhà đầu tư trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư, lựa chọn dự án đầu tư với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thu hút và sử dụng hiệu quả FDI để phát triển kinh tế - xã hội bền vững; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong việc tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả của FDI trong phát triển kinh tế - xã hội. 6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án Luận án góp phần vào việc nâng cao nhận thức về vai trò to lớn, lâu dài của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, Vĩnh Phúc nói riêng. Đề xuất triển khai các giải pháp để đẩy mạnh thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn FDI phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đơn vị cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách về FDI, có thể sử dụng tham khảo để giảng dạy các chuyên đề kinh tế về FDI trong các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết.
  13. 7 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả và tổ chức nước ngoài về vấn đề FDI và tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, địa phương nhập khẩu FDI. Những công trình tiêu biểu trong thời gian gần đây bao gồm: Tác phẩm của David O.Dapice, “Nền kinh tế Việt Nam: Câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường? Một phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ” [24], bên cạnh trình bày về những tác động tích cực, đã đề cập tới một số những ảnh hưởng khác của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, biểu hiện thông qua xu thế tập trung đầu tư vào các ngành tạo ít việc làm, được bảo hộ cao. Trong bài phân tích của Institute of International economics “FDI in Developing Countries and Economies in Transition: Opportunities, Dangers, and New Changes”, (Đầu tư nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới) [103], khi phân tích về FDI đối với các nước đang phát triển đã chỉ ra những tác động trái chiều của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận. Từ phân tích một số điểm nổi bật của đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi như FDI có được sự tăng trưởng vượt bậc từ những năm 1990, vốn đầu tư nước ngoài FDI chiếm tỉ lệ lớn nhất và là nguồn vốn ổn định nhất trong các dòng vốn tư nhân như dòng nợ, dòng vốn vay ngân hàng thương mại, trái phiếu và các dòng vốn khác, sự phân phối của vốn đầu tư nước ngoài tới các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế
  14. 8 đang chuyển đổi là không đồng đều, đã đề cập đến vấn đề tác động của FDI tới phát triển, bao gồm: Thứ nhất, tạo ra dòng tài chính phụ thêm của các nhà đầu tư nước ngoài từ đó tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ tại nước nhập khẩu FDI. Thứ hai, có ảnh hưởng không tốt tới thị trường của nước nhập khẩu FDI do các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các thị trường quốc tế, nơi đang diễn ra cạnh tranh không hoàn hảo, từ đó gây ra những khó khăn, thách đố đối với doanh nghiệp (DN) của nước nhập khẩu FDI. Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài FDI góp phần thúc đẩy tiết kiệm nội địa và cung cấp thêm hiệu quả trong quản lý, marketing, và công nghệ để nâng cao năng suất lao động. Thứ tư, sử dụng hiệu quả FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn đối với nước nhập khẩu. Mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Mô hình Maign của FDI và phát triển) được thể hiện thông qua sự gia tăng đầu tư sản xuất kinh doanh (SXKD) của các DN nước ngoài. Mặc dù FDI có thể có một tác động rõ ràng, tích cực tới sự phát triển của nước tiếp nhận, song cũng có thể tạo ra một số tác động tiêu cực như trở thành nhân tố thúc đẩy sự hình thành tình trạng độc quyền nhóm thông qua thiết lập và mở rộng DN kiểu gia đình, từ đó thu hẹp khả năng gia nhập thị trường của một số DN của nước tiếp nhận. Từ đó để phát huy vai trò tích cực của FDI, nước nhập khẩu FDI không những cần có chính sách tăng cường thu hút FDI, mà còn phải có chính sách chủ động định hướng FDI theo hướng hiệu quả. Lợi ích và cơ hội của các doanh nghiệp nước ngoài là kiểm soát công nghệ, quyền sở hữu thương hiệu, đạt được qui mô kinh tế nhờ hoạt động hợp tác trong đầu tư và một số tài sản vô hình khác nhận được từ các DN nước ngoài chuyên nghiệp trong quản lý và tổ chức. Tuy nhiên các DN nước ngoài cũng phải đối mặt với những rủi ro, bất lợi trong sử dụng lao động nội địa, chịu ảnh hưởng không nhỏ từ phía các mối quan hệ cộng đồng tại địa phương, thị hiếu và văn hóa truyền thống tại nước tiếp nhận.
  15. 9 Bài phân tích của ROBERT E. LIPSEY and FREDRIK SJOHOLM, The Impact of Inward FDI on Host Countries: Why Such Different Answers? (Tác động của FDI lên nước chủ nhà: Tại sao có những tác động khác biệt?) [117], đã đề cập tới nhiều tác động của FDI tới nước chủ nhà. Theo tác giả, nhìn chung thì các DN có vốn đầu tư nước ngoài có thể được tiếp cận với công nghệ cao hơn, từ đó nâng cao được chất lượng sản phẩm và dịch vụ mà có giá thành thấp hơn, với năng suất cao hơn và kết quả là phúc lợi tiêu dùng cao hơn. Một khả năng khác có thể là đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng vốn cổ phần của nước chủ nhà, đồng thời thúc đẩy mức sản lượng đầu ra. Với những tác động nhất định tất yếu tới sự tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà, Carkovic và Levine [116] đã chỉ ra rằng không một tác động cụ thể nào của FDI được thể hiện rõ trong thời gian dài, ví dụ như khảo sát trong giai đoạn 1960 - 1995 và chỉ có một số tác động nổi bật nhưng mang tính nhất thời trong khoảng thời gian 5 năm liên tiếp. Không có một tài liệu cụ thể nào chỉ ra được những biến số phù hợp hàm chứa tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Todo và Miyamoto khác biệt so với các nghiên cứu khác ở chỗ miêu tả được các biến số của FDI như một con số tuyệt đối của FDI trong một lĩnh vực. Họ đã chứng minh được rằng phương pháp này liên quan chặt chẽ tới thị trường chứng khoán nước ngoài và như vậy nó được ưu tiên hơn cổ phần của họ trong ngành. Kết quả đã chỉ ra một tác động tích cực của FDI lên năng suất lao động tại các DN nội địa sau khi thực hiện quản lý nghiên cứu thị trường và đào tạo lực lượng lao động. Báo cáo tại hội thảo của OECD: OECD-ILO Conference On Corporate Social Responsibility, Report: The Impact of Foreign Direct Investment On Wages And Working Conditions (Tác động của đầu tư nước ngoài lên tiền lương và điều kiện làm việc) [107], đã khẳng định rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một lĩnh vực năng động nhất của nền kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ gần đây. Cổ phiếu toàn cầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng từ 8% trong năm 1990 lên tới 24% trong năm 2006. Sự tăng trưởng mạnh
  16. 10 mẽ này đã được cấu thành bởi nhiều thay đổi về chất. Mặc dù một số lượng lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào các nước khối OECD, nhưng tầm quan trọng của mối liên hệ giữa các quốc gia ngoài OECD với đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn gia tăng không ngừng. Báo cáo đã chỉ ra tác động tích cực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội các nước đang phát triển, bao gồm: Thứ nhất, FDI đã trở thành nguồn tài chính chủ yếu từ bên ngoài cho các quốc gia đang phát triển. Nhiều nước ngoài khối OECD cũng trở thành các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hiệu quả và điều này được chứng minh bởi con số tăng lên gần gấp đôi của cố phiếu của họ tại thị trường chứng khoán toàn cầu từ năm 1990 tới năm 2005. Thứ hai, vai trò ngày càng quan trọng của FDI tại các quốc gia đang phát triển đã mở ra những kỳ vọng mới về tiềm năng nhằm xây dựng một quy trình phát triển tại các quốc gia này, ví dụ như, các nền kinh tế nội địa có thể hưởng lợi từ FDI thông qua việc tạo ra những công việc chất lượng cao, từ đó trả lương cao hơn và điều kiện làm việc cũng tốt hơn các DN trong nước. Tuy nhiên, có một điều không chắc chắn rất đáng lưu tâm và hiện đang tranh cãi là trong thực tế có nên coi các DN nước ngoài có là một nhân tố có tác động điều tiết sự gia tăng của tiền lương và cải thiện điều kiện làm việc hay không. Báo cáo này tổng kết một số vấn đề liên quan tới vấn đề trên, đó là nghiên cứu khảo sát đầu tiên về những tác động của thị trường lao động của đầu tư trực tiếp nước ngoài và đưa ra những kết quả từ nghiên cứu này của OECD. Nhìn chung, nghiên cứu này chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia (MNEs) có xu hướng tăng tiền lương tại các quốc gia mà họ hợp tác đầu tư. Tác động tích cực của tiền lương có xu hướng tập trung vào các lao động được tuyển trực tiếp bởi các DN nước ngoài. Bên cạnh đó cũng có một ảnh hưởng tích cực nhỏ tới tiền lương của lao động nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng của các DN này. Những tác động tới gia tăng tiền lương được thể mạnh mẽ hơn ở các quốc gia đang phát triển so với các quốc gia phát triển, có thể do nguyên nhân khoảng cách về công nghệ giữa DN nước ngoài và DN trong nước là lớn hơn so với trong cùng một nước.
  17. 11 Mặc dù các điều kiện làm việc tại các DN nước ngoài có xu hướng khác biệt so với các DN nội địa, tuy nhiên các DN nội địa không nhất thiết phải theo đuổi dập khuân cách tiếp cận của các DN nước ngoài. Báo cáo khẳng định rằng, có nhiều nghiên cứu về những ảnh hưởng lên thị trường lao động của các MNEs, có bằng chứng để xác định rằng FDI là một kênh tiềm năng để nâng cao mức sống cơ bản cho người lao động. Từ đó nêu ra gợi ý cho các Chính phủ nên nỗ lực tạo ra một sân chơi cho các nhà đầu tư nước ngoài để trợ giúp về mặt kinh tế cũng như xã hội cho các hình thức đầu tư tiềm năng. Một thực tế cho thấy tác động của các MNEs lên tiền lương và điều kiện làm việc là không giống nhau theo những cách không giản đơn trong các loại hình đầu tư, giữa các nhóm lao động và môi trường làm việc nội địa cũng chỉ ra rằng các Chính phủ và nhà đầu tư có thể đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả của FDI tới sự phát triển kinh tế và xã hội. Có nhiều sáng kiến hữu ích về những phương pháp đánh giá của Chính phủ nhằm chuẩn hóa lực lượng lao động và những sáng kiến của tư nhân cũng như cộng đồng nhằm nâng cao trách nhiệm hành vi trong kinh doanh. Tác giả Tulus Tambunan trong tác phẩm The Impact Of Foreign Direct Investment On Poverty Reduction. A Survey Of Literature And A Temporary Finding From Indonesia, (Tác động của FDI lên xóa đói giảm nghèo ở Indonesia) khi phân tích kinh nghiệm lâu đời tại Indonesia trong suốt giai đoạn Chính phủ thể chế mới ( the New Order government) đã khẳng định rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tạo ra những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, tác động của FDI là tích cực hay tiêu cực tới đói nghèo tại nước chủ nhà tùy thuộc rất lớn vào bối cảnh mà hoạt động đầu tư đó nhằm vào và kết quả của các hoạt động kinh tế. Điều này đặc biệt đúng với các chính sách mà mang lại hiệu quả cho người nghèo từ FDI, dù trực tiếp hay gián tiếp. Trong quá trình thực hiện các chính sách mở cửa của Indonesia đối với FDI, Chính phủ nước này đã đưa ra những ưu đãi đáng kể. Tuy nhiên, ở cũng thời điểm đó, Chính phủ Indonesia cũng thiết lập các chính sách và điều lệ nhằm tối ưu hóa lợi ích từ FDI cho người nghèo, hoặc ít
  18. 12 nhất có thể bảo vệ họ khỏi những tác động tiêu cực từ các DN nước ngoài. Các chính sách đó bao gồm cả sự đóng cửa một số lĩnh vực nhất định, một số ngành công nghiệp, và một số hoạt động của FDI, cũng như những rào cản gia nhập thị trường. Chính phủ nước này ưu tiên các chính sách nhằm đảm bảo thu nhập cho lao động địa phương cũng như phát triển tại cộng đồng mà có sự hợp tác với các DN nước ngoài. Cho đến nay vẫn chưa đủ bằng chứng chứng về tính hiệu quả của chính sách và quy định mở cửa của Chính phủ Indonesia về nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cũng như tác động tiêu cực của FDI đối với các hoạt động kinh tế trong nước. Một trong số các tác động tiêu cực của FDI thường biểu hiện ra thông qua sự thay thế các DN trong nước bởi các DN nước ngoài và hậu quả của những ưu đãi dành cho FDI thường tạo ra những méo mó, bất ổn trong thị trường nội địa đầu ra và vào. Từ đó, cần phải nghiên cứu bao quát bổ sung, đặc biệt ở tầm vi mô, để trả lời các câu hỏi về chiến lược phát triển lâu dài nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, những tác động tích cực cũng như tiêu cực của FDI lên sự phát triển kinh tế bền vững của nước chủ nhà, hay vai trò của FDI trong xóa đói giảm nghèo tại nước nhận đầu tư [109]. Luận án tiến sĩ của Faramarz AKARAM, Foreign Direct Investment in Developing Countries: Impact on Distribution and Employment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển: Tác động vào phân phối và việc làm) [105], được thực hiện tại Khoa kinh tế và khoa học xã hội tại Đại học Fribourg, Switzerland. Trong luận án đã chứng minh rằng, lý thuyết tân cổ điển truyền thống không cho phép hiểu được những tác động của đầu tư nước ngoài tới nước chủ nhà trong bối cảnh toàn cầu hiện đại đã và đang định hình kể từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Nguyên nhân chính là thị trường, dù là thị trường cạnh tranh, cũng không thể tự điều chỉnh. Do đó, lý thuyết tân cổ điển cho thấy sự thiếu sót để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội cơ bản. Kinh tế học hiện đại về cơ bản là lý luận về kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.
  19. 13 Những tác động của FDI tới nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển được thực hiện dựa trên các chi phí và lợi ích của nó. FDI có xu hướng đẩy mức lương tăng lên. FDI cũng đóng vai trò tháo gỡ những nút thắt do những nguyên nhân về công nghệ tại nước chủ nhà. FDI cũng đóng góp hoàn toàn vào nguồn đầu tư nội địa. FDI đồng thời chiếm một vai trò không nhỏ trong nguồn tài chính nước ngoài. Thị trường với các chính sách tự do và cởi mở là điều kiện để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. FDI được xem như một nguồn thay thế nếu chủ sở hữu của các phần vốn chủ sở hữu có quyền quản lý hoạt động của một doanh nghiệp. Như vậy FDI có thể cung cấp những nguồn vốn phụ thêm và góp phần giải quyết vấn đề thâm hụt vốn nội địa. Từ đó, FDI đóng vai trò bổ sung cho nguồn vốn nội địa. Một nguyên nhân cần thu hút FDI là mối liên hệ giữa nhu cầu về kết cấu hạ tầng xã hội và sự phát triển của NNL. FDI gắn liền với tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa. Một vấn đề trong quản lý tài chính nước ngoài và cụ thể là làm thế nào FDI có thể được phối hợp với các chính sách phát triển tại nước chủ nhà. Một nỗ lực đáng quan tâm được tạo ra nhằm chỉ ra những vấn đề cơ bản và cụ thể liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài và để tìm ra những tác động của FDI tạo lợi ích cho các nhà đầu tư cũng như sự phát triển bền vững của nước chủ nhà. Các nhà kinh tế học tân cổ điển nhấn mạnh rằng sự giàu có của nước chủ nhà luôn luôn có thể được gia tăng nhờ FDI, khi mà sự giàu có của chủ sở hữu có thể giảm đi trong nước, thì có thể tăng lên khi đầu tư ra nước ngoài. Các xu hướng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các hoạt động kinh tế quốc tế, đó là: các nước với một nền kinh tế phát triển cũng như các nền kinh tế đang phát triển tại Châu Á, Bắc Mĩ, Châu Mĩ Latin, Châu Phi và Châu Âu đã và đang khuyến khích tự do hóa các dòng chảy của FDI. FDI có thể chảy vào các lĩnh vực lao động chuyên sâu hoặc vốn chuyên sâu. Tính chất
  20. 14 địa lý của FDI là một vấn đề khác nữa. Mức độ FDI cao hơn được thu hút bởi các thế lực chính trị và kinh tế phát triển. Xu hướng FDI trên toàn cầu đó là, theo lý thuyết kinh tế thực sự làm chủ, thì FDI trở thành công cụ chính của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Theo Phonesay Vilaysack [26] trong luận án tiến sỹ, Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, FDI có tác động tích cực tới kinh tế - xã hội nước nhập khẩu như bổ sung nguồn vốn, cân bằng cán cân thanh toán, kích thích chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển nhân lực, tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tác động tiêu cực như gây thiệt hại cho nước nhận đầu tư với nhiều yêu sách ưu đãi, gây ra tình trạng chảy máu chất xám từ các DN trong nước đến các DN FDI, chuyển giao công nghệ cũ năng suất thấp, gây ra sự phát triển không đồng đều giữa các vùng và có thể tác động xấu tới môi trường sinh thái. Bài viết Policy Brief: The Social Impact of Foreign Direct Investment, (Chính sách tóm lược: Tác động xã hội của đầu tư nước ngoài) [108], đã nhấn mạnh vai trò to lớn của FDI tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, từ đó đã không ngừng gợi mở những kỳ vọng về đóng góp tiềm năng tới sự phát triển đó. FDI có thể mang tới những lợi ích đáng kể bằng việc tạo ra những công việc có chất lượng cao và bằng việc giới thiệu dây chuyền sản xuất cùng với các phương thức quản lý hiện đại. Nhiều Chính phủ đã và đang hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Mặc dù một số lượng lớn các hợp đồng đầu tư nước ngoài tập trung tại các nước thuộc khối OECD, nhưng vốn đầu tư nước ngoài cũng gia tăng tại các quốc gia đang phát triển, lan ra rộng rãi tại các nền kinh tế mới nổi như nhóm các nước BRICs (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi). Sự gia tăng của vốn đầu tư ra nước ngoài tại các nền kinh tế mới nổi phản ánh mức tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn này trong khối các nước OECD. Vốn đầu tư ra nước ngoài từ các nền kinh tế mới nổi vào khối OECD duy trì ở mức tương đối thấp, mặc dù có nhiều phản hồi không mới trên các
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2