intTypePromotion=3

Luận án Tiến sĩ: Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:213

0
35
lượt xem
8
download

Luận án Tiến sĩ: Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp cơ bản phát triển tư duy lý luận của họ, đáp ứng yêu cầu, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đánh giá thực trạng và luận giải một số vấn đề đặt ra cần giải quyết trong phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ: Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

  1.                                           LỜI CAM ĐOAN             Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu   của riêng tôi. Các số  liệu, trích dẫn trong luận án là   trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.               TÁC GIẢ LUẬN ÁN Đỗ Ngọc Hanh
  2. MỤC LỤC             Trang TRANG PHỤ BÌA  LỜI CAM ĐOAN  MỤC LỤC  MỞ ĐẦU  5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9 Chương 1 THỰC   CHẤT   VÀ   ĐẶC   ĐIỂM   PHÁT   TRIỂN   TƯ  DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ  VIÊN  QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 28 1.1 Thực chất phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị  viên Quân đội nhân dân Việt Nam  28 1.2 Đặc điểm phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị  viên Quân đội nhân dân Việt Nam  51 Chương 2 THỰC TRẠNG, NHỮNG YẾU TỐ  TÁC ĐỘNG VÀ  VẤN ĐỀ  ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN TƯ  DUY  LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN QUÂN  ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY  68 2.1 Thực trạng phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị  viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 68 2.2 Những yếu tố tác động và vấn đề đặt ra đối với phát triển  tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân  Việt Nam hiện nay 90 Chương 3 MỘT   SỐ   GIẢI   PHÁP   CƠ   BẢN   PHÁT   TRIỂN   TƯ  DUY   LÝ   LUẬN   CỦA  ĐỘI   NGŨ   CHÍNH   TRỊ   VIÊN  QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 111 3.1 Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng tư duy  lý luận của đội ngũ chính trị viên 111 3.2 Xây dựng môi trường văn hóa quân sự, tổ  chức tốt các  hoạt động thực tiễn nhằm phát triển tư  duy lý luận của   đội ngũ chính trị viên 125 3.3 Tích cực hóa vai trò nhân tố  chủ quan của đội ngũ chính  trị  viên trong tự  học tập, tự  rèn luyện, tu dưỡng nhằm  phát triển tư duy lý luận 142 KẾT LUẬN  152 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ Đà CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 154 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  155 PHỤ LỤC 169
  3. 5 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về luận án Đề tài “Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội   nhân dân Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của  tác giả, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của tập thể các nhà khoa học, tư  vấn của các chuyên gia trong và ngoài quân đội. Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân  Việt Nam trong điều kiện hiện nay là một vấn đề lớn và khó. Để thực hiện  đề tài này, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học  của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh, quan điểm của Đảng  Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ, về bản chất, vai trò của tư duy lý  luận; dựa trên kết quả điều tra, khảo sát thực tế ở một số đơn vị  chủ  lực;   đồng thời, kế  thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số  công trình  khoa học trong và ngoài nước có liên quan.  Nội dung của luận án thể hiện qua 3 chương. Chương thứ nhất, tác  giả trình bày thực chất và đặc điểm phát triển tư  duy lý luận của đội ngũ   chính trị viên. Chương thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng, phân tích, làm   rõ những yếu tố tác động và vấn đề đặt ra đối với việc phát triển tư duy lý  luận của đội ngũ này. Từ  kết quả  nghiên cứu của chương 1, chương 2;  trong chương 3, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản phát triển tư duy   lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. 2. Lý do lựa chọn đề tài luận án Tư  duy lý luận có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự  phát triển   phẩm chất, nhân cách và quyết định hiệu quả  hoạt động thực tiễn của con  người. Khẳng định giá trị  và ý nghĩa to lớn của tư duy lý luận, Ph.Ăngghen   cho rằng: “…Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì   không thể không có tư duy lý luận” [1, tr. 489].
  4. 6 Nghị  quyết  số  769­NQ/QUTW  của Quân  ủy Trung  ương  về  “Xây  dựng   đội   ngũ   cán   bộ   giai   đoạn   2013   ­   2020   và   những   năm   tiếp   theo”   khẳng định, để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, bên cạnh yêu  cầu về phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, mỗi cán bộ phải có trình  độ  tư  duy lý luận, phương pháp, tác phong công tác tốt, năng lực hoạt   động thực tiễn, tự lực, chủ động, sáng tạo và hiệu quả; có khả năng xử lý   những vấn đề phức tạp nảy sinh trong thực tiễn.  Đội ngũ chính trị  viên  là những người chủ  trì về  chính trị, trực tiếp  tiến hành công tác đảng, công tác chính trị  ở phân đội; giữ vai trò chủ  chốt  trong lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng phân đội vững mạnh về chính trị, góp  phần quan trọng vào sự  nghiệp xây dựng quân đội  nhân dân cách mạng,  chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt  Nam xã hội chủ  nghĩa. Nhiệm vụ  đó đòi hỏi đội ngũ chính trị  viên không  những phải kiên định, vững vàng, nhạy bén về  chính trị, mà còn phải có tư  duy lý luận khoa học, phát hiện nhanh những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn,  đưa ra quyết định kịp thời, chính xác, định hướng mọi hoạt động của đơn vị  đạt chất lượng, hiệu quả cao.  Thực tiễn hơn 70 năm xây dựng quân đội, nhất là   kết quả  10 năm  thực hiện Nghị quyết số 51 của Bộ Chính trị  đã chỉ  ra rằng, tư duy lý luận  của đội ngũ chính trị viên đã có bước phát triển, đội ngũ này ngày càng tiến   bộ, trưởng thành. Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ  xây dựng quân đội,  bảo vệ  Tổ  quốc trong tình hình mới thì tư  duy lý luận của một bộ  phận   chính trị viên còn có những hạn chế, bất cập, cần khắc phục. Đó là sự thiếu  hụt về hệ thống tri thức khoa học; sự vận dụng lý luận vào thực tiễn và ứng  xử  chưa hiệu quả  trước những tình huống phức tạp về  chính trị, quân sự,  chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của người chủ trì về chính trị ở phân đội. Ở 
  5. 7 một số đơn vị, việc bồi dưỡng, phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính  trị viên chưa được coi trọng đúng mức. Nhận thức, trách nhiệm của một bộ  phận cán bộ lãnh đạo, chỉ huy về sự cần thiết phải phát triển tư duy lý luận   của đội ngũ chính trị viên chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Nội dung, hình thức,   phương pháp, biện pháp phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên   chưa phù hợp; ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo hoạt  động công tác đảng, công tác chính trị   ở  các đơn vị  và mức độ  hoàn thành  nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ hiện nay.  Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu một cách cơ  bản, có hệ  thống việc“Phát triển tư  duy lý luận của đội ngũ chính trị  viên Quân đội   nhân dân Việt Nam hiện nay”. Đây là vấn đề  có ý nghĩa lý luận, thực tiễn  thiết thực, vừa cấp bách vừa cơ bản, lâu dài. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  * Mục đích: Làm rõ những vấn đề  lý luận và thực tiễn phát triển tư  duy lý luận  của đội ngũ chính trị  viên Quân đội nhân dân Việt Nam; trên cơ  sở  đó, đề  xuất các giải pháp cơ bản phát triển tư duy lý luận của họ, đáp ứng yêu cầu,  chức trách, nhiệm vụ được giao. * Nhiệm vụ: Làm rõ quan niệm và đặc điểm phát triển tư duy lý luận của đội ngũ  chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam. Đánh giá thực trạng và luận giải một số  vấn  đề  đặt ra cần giải  quyết trong phát triển tư  duy lý luận của đội ngũ chính trị  viên Quân đội  nhân dân Việt Nam hiện nay. Đề  xuất một số  giải pháp cơ  bản phát triển tư  duy lý luận của đội   ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
  6. 8 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  * Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển tư duy lý luận của đội  ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam. * Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển  tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam đang   công tác ở một số đơn vị chủ lực, trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn   sàng chiến đấu ở khu vực phía Bắc; thời gian sử dụng tài liệu, tư liệu phục  vụ công tác nghiên cứu có liên quan đến luận án chủ yếu từ năm 2009 đến   nay. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu  Luận án được thực hiện trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản   Việt Nam về công tác cán bộ, về vai trò của tư duy lý luận trong việc nâng  cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Luận án sử dụng các tài liệu, số liệu điều tra, khảo sát qua tổng hợp,   thống kê, báo cáo tổng kết hằng năm của một số cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở  phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và  duy vật lịch sử, luận án sử  dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu  như: phân tích và tổng hợp, hệ thống và cấu trúc, lôgíc và lịch sử, phương  pháp chuyên gia, điều tra xã hội học… 6. Những đóng góp mới của luận án Góp phần làm rõ quan niệm và đặc điểm phát triển tư  duy lý luận  của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam.  Đề  xuất các giải pháp cơ  bản phát triển tư  duy lý luận của đội ngũ   chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. 7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
  7. 9 Kết quả  nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp luận cứ  khoa   học cho việc phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị  viên Quân đội  nhân dân Việt Nam hiện nay. Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng  dạy và học tập ở các học viện, nhà trường và các đơn vị trong toàn quân. 8. Kết cấu của đề tài luận án  Luận án gồm: Mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, 3 chương   (7 tiết), kết luận, danh m ục công trình khoa học của tác giả  đã công bố  có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.  TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Nhóm công trình nghiên cứu về tư duy lý luận và phát triển tư  duy lý luận của người cán bộ 1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về tư duy lý luận Trong công trình  “Tư  duy hoàn hảo và tự  học cách tư  duy”  của  Edward De Bono [33], tác giả  cho rằng, tư  duy có vai trò đặc biệt quan  trọng và cần thiết, nhưng điều đó là chưa đủ. Chúng ta chú ý nhiều đến   quá trình tư duy, tuy nhiên lại ít chú ý đến nguồn gốc của các yếu tố  cấu  thành và nó được lựa chọn như thế nào.  Tác giả  cho rằng, các thành phần của quá trình tư  duy được hình  thành từ nhận thức. Khi chúng ta quan sát thế giới thì phương pháp tư duy  truyền thống thường thiếu tính xây dựng, ít sáng tạo, chỉ miêu tả  và phân   tích. Để  tìm ra chân lý, việc suy đoán giữ  một vai trò quan trọng trong tư 
  8. 10 duy. Edward De Bono kết lu ận: ph ương pháp tư duy truyền thống mặc dù  rất tốt nhưng chưa đầy đủ. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng, phương pháp   tư  duy truyền thống còn có giá trị  và chỗ  đứng nhất định. Do đó, để  giúp  con người  tự  học cách tư  duy và có một tư  duy hoàn hảo, ông  đi sâu   nghiên cứu và đưa ra năm phương pháp tư  duy để  mỗi người tự  trả  lời,   giúp họ  hoàn thiện phương pháp tư  duy:  thứ  nhất, tôi muốn đi đâu;  thứ  hai, bước thông tin;  thứ  ba, các khả  năng gì;  thứ  tư, kết quả  là gì;  thứ  năm, thực hiện phương pháp. Tác giả  Lý Tiểu Quân và Vương Vĩnh Bình trong công trình   “Tư  duy triết học về  nghiên cứu lý luận quân sự” [97] khẳng định, trong lĩnh  vực quân sự, tư duy lý luận có vai trò rất quan trọng,  ảnh hưởng đến tiến   trình và kết cục của chiến tranh. Theo đó, nắm vững lý luận là một trong  những nguyên tắc cần chú trọng của những người chỉ  đạo chiến tranh.   Trong thực tế, tư duy lý luận quân sự không ngừng phát triển, vì khoa học  quân sự  phát triển không ngừng. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong hệ  thống tri thức khoa học quân sự, triết học, đặc biệt là triết học mácxít ­   phương pháp luận duy vật biện chứng có ý nghĩa rất quan trọng. Theo các tác giả, nghiên cứu lý luận quân sự là một trong những lĩnh   vực rất phức tạp, nếu nghiên cứu chỉ giới hạn ở tư duy lôgíc trạng thái tĩnh  thì hoàn toàn không đủ  mà cần phải hướng vào những nội dung cụ  thể  đang vận động, thay đổi của chiến tranh. Trong nghiên cứu đòi hỏi phải  nắm vững quá trình, quy trình triển khai công trình, từ  đó khẳng định lập   trường, quan điểm và phương pháp quan sát, phân tích vấn đề  quân sự của  tiền nhân và lấy đó làm cơ  sở  để  nâng cao chất lượng nghiên cứu của   mình. Do đó, cần kết hợp sự  phát triển cách mạng quân sự  thế  giới với   thực tiễn xây dựng quân đội, tạo ra lý luận mới phù hợp với thực tiễn, yêu  cầu đó đòi hỏi phải có phương pháp nghiên cứu khoa học . Vì phương pháp 
  9. 11 khoa học là công cụ và phương tiện của tư duy lý luận. Các tác giả khẳng  định, lối thoát có tính khoa học và đem lại hiệu quả  trong nghiên cứu lý  luận quân sự là phải nhằm thẳng vào sự  khác nhau của đối tượng nghiên   cứu và mục đích nhận thức, sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa học,  bao gồm phương pháp triết học mácxít, kết hợp cả vĩ mô với cụ thể, định  tính với định lượng, kết hợp sự phát triển của lý luận quân sự với sự vận   động, biến hoá của chiến tranh; từ đó chỉ  đạo chiến tranh một cách khoa  học. Nghiên cứu về  tư  duy lý luận trong công trình “Tư  duy lý luận của  Đảng ta về  đổi mới công tác giáo dục quốc phòng trong tình hình hiện   nay” [16], tác giả Nguyễn Bá Dương cho rằng: Sự phát triển tư duy lý luận  về quốc phòng của dân tộc ta dựa chắc trên nền tảng lý luận ­ thực tiễn và  là kết quả đúc kết kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh giữ  nước. Đồng   thời, tác giả  quan niệm, “chính sự  nghiệp quốc phòng, bảo vệ  Tổ  quốc,   dựng nước và giữ  nước đã nâng tầm tư  duy lý luận của dân tộc ta, hình  thành và phát triển tư duy lý luận về quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc   để định hướng chính trị, quân sự” [16, tr. 23]. Thông qua nhiều lần tổng kết  lịch sử  xây dựng, củng cố  quốc phòng, đấu tranh dựng nước và giữ  nước  đã giúp cha ông ta đúc kết, khái quát thành những quan niệm, khái niệm,  phạm trù tư duy lý luận và chắt lọc, thu nhận cái tiến bộ, hạt nhân tinh túy  từ di sản lý luận của nhân loại nhằm phát triển tư duy lý luận quân sự Việt  Nam. Theo tác giả Nguyễn Bá Dương, tư duy dựa vào dân, đoàn kết toàn dân,  đoàn kết nội bộ giai cấp thống trị để tạo ra sức mạnh tổng hợp chống quân  xâm lược, cứu nước, cứu nhà đã trở  thành vấn đề  trung tâm trong suy nghĩ  của mọi người dân, mọi thời đại... Từ đó, tác giả kết luận: “Tư duy lý luận  quân sự, quốc phòng của dân tộc ta phát triển và đã trả lời được các vấn đề 
  10. 12 cấp bách do thời cuộc đặt ra, những đòi hỏi thường xuyên của đất nước là  bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, bảo vệ nòi giống và Tổ quốc  Việt Nam” [16, tr. 24]. Quan niệm về tư duy lý luận, trong công trình “Phát triển năng lực tư   duy lý luận của chính uỷ  trung đoàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam   hiện nay”, tác giả Nguyễn Văn Dũng cho rằng: “Tư duy lý luận là tư duy ở  cấp độ  cao, dựa trên các phương tiện là khái niệm, phạm trù, quy luật,  hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để  tìm ra bản chất, quy luật của  hiện thực khách quan; từ  đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn  của con người ngày càng có kết quả  cao hơn” [13, tr. 23]. Tư  duy lý luận  được bàn luận ở đây là tư duy biện chứng duy vật, có tính khái quát và trừu  tượng cao, tư duy bằng khái niệm, phạm trù, quy luật; là công cụ nhận thức  sắc bén, giúp con người nhận thức đúng bản chất sự  vật, hiện tượng và   hoạt động thực tiễn đạt chất lượng, hiệu quả cao.  Tác giả cho rằng, tư  duy  lý luận có hai mặt:  nội dung tư  duy và phương pháp tư  duy  gắn chặt với  nhau.  Nội dung tư  duy bao gồm hệ  thống tri thức tồn tại dưới dạng khái  niệm, phạm trù, quy luật về những đối tượng xác định. Phương pháp tư duy  là cách thức vận hành hay lôgíc của các khái niệm đó. Sức sống bền vững  của tư duy lý luận không chỉ ở chỗ xác lập những khái niệm, quan điểm mới  mà trước hết và chủ  yếu là  ở  sự  chuyển biến của phương pháp tư  duy, từ  chỗ  chưa khoa học đến khoa học. Theo đó, phương pháp tư  duy trở  thành  một bộ phận, một yếu tố không thể thiếu của tư duy lý luận. Tác giả  Nguyễn Đình Trãi cho rằng: “Tư  duy lý luận là quá trình  phản ánh hiện thực một cách gián tiếp mà  ở  đó chủ  thể  tư  duy sử  dụng   ngôn ngữ  và các hình thức tư duy để  phân tích, tổng hợp, khái quát các tài  liệu cảm tính nhằm phản ánh các thuộc tính, các mối liên hệ  có tính bản   chất, quy luật của các sự  vật, hiện tượng” [124, tr. 23]. Về thực chất, tác 
  11. 13 giả  luận giải, tư  duy lý luận là hoạt động trí tuệ  của con người theo các  quy luật của nhận thức để  nắm được những thuộc tính và mối liên hệ  cơ  bản của sự vật, hiện tượng, ngày càng hiểu sâu hơn bản chất của sự  vật,  hiện tượng, thấy được những mâu thuẫn và chiều hướng phát triển khách  quan của chúng. Do vậy, tư duy lý luận là trình độ phát triển cao của năng  lực tư duy con người. Theo tác giả, tư  duy lý luận có những đặc trưng cơ  bản là: tư  duy  lôgíc khoa học và sáng tạo; tư duy về  phương pháp và phương pháp luận;  có hai mặt gắn liền với nhau là nội dung tư  duy và phương pháp tư  duy;   gắn liền với khả  năng phê phán và tự  phê phán…Với tư  cách là một công  cụ  nhận thức khoa học, tư  duy lý luận có khả  năng khám phá, tìm ra bản   chất sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan; nó có thể vạch  ra tính quy luật còn  ẩn giấu đằng sau các sự  vật, hiện tượng để  nắm bắt   và vận dụng theo nhu cầu của con người. Tác giả  kết luận: “Thực tế  chứng tỏ  rằng, tư  duy lý luận ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự  phát triển của các khoa học cũng như thực tiễn xã hội” [124, tr. 25]. Nghiên cứu tư duy lý luận, tác giả  Nguyễn Đức Quyền quan niệm:  “Tư duy lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng hệ thống khái niệm,   phạm trù, quy luật; vì thế, nó đem lại những hiểu biết sâu sắc về  bản  chất, những quy luật vận động và phát triển của sự  vật và hiện tượng   khách quan” [102, tr. 22]. T ư duy lý luận xét về bản chất, là quá trình sáng   tạo lại hiện thực khách quan dưới dạng tinh thần, theo con  đường trừu   tượng hóa, khái quát hóa, đi sâu vào nhận thức những mối quan hệ nội tại,   bản chất, quy luật của sự vật, hiện t ượng. Theo tác giả, tư duy lý luận có  khả năng dự báo khoa học về xu hướng vận động, phát triển của sự  vật,  hiện tượng. Vì vậy, tư  duy lý luận đóng vai trò rất quan trọng trong sự 
  12. 14 phát triển của khoa học cũng như  trong chỉ  đạo hoạt động thực tiễn của  con người. Theo tác giả, tư duy lý luận có sự khác biệt với tư duy kinh nghiệm.  Tư  duy kinh nghiệm hướng vào mô tả  các yếu tố, mối liên hệ  bên ngoài,  còn tư  duy lý luận hướng vào phân tích, tổng hợp, khái quát, tìm ra mối  liên hệ bên trong, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng.   Đỉnh  cao  của   tư   duy   lý   luận   là   tư   duy   biện   chứng   duy   vật;   trong   đó,  phương pháp tư duy biện chứng duy vật nh ư là điều kiện không thể thiếu  để  hình thành tư  duy lý luận.  Ở  đó, chủ  thể  tư  duy lý luận sử  dụng nó  như  một phương pháp để  phát hiện mâu thuẫn và những tình huống cần  giải quyết. Phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tổng  kết thực tiễn, khái quát kinh nghiệm thành lý luận mới.  Tiếp cận năng lực tư duy lý luận và trình độ  tư duy lý luận, tác giả  Trần Văn Phòng cho rằng, năng lực tư  duy lý luận là tổng hợp những  phẩm chất trí tuệ  ­ (chẳng hạn như  sự  thông minh, khả  năng suy luận,   phán đoán, phân tích, năng khiếu nhạy cảm, v.v.) ­ của con ng ười nh ằm   đáp  ứng yêu cầu nhận thức đúng đắn bản chất thế  giới tự  nhiên, xã hội,   con người, bảo đảm cho hoạt động thực tiễn và hoạt động sáng tạo của  con người phù hợp với quy luật, đạt hiệu quả [92]. Theo tác giả, năng lực   tư  duy lý luận là tổng hợp các phẩm chất trí tuệ  để  thoả  mãn nhu cầu   nhận thức thế giới, xã hội, con người của chủ thể. Sự nhận thức đó đem   lại hiệu quả  trong hoạt động thực tiễn, nhờ sự  vận dụng đúng đắn, sáng   tạo quy luật nhận thức. Tác giả Bùi Thanh Quất cho rằng: “tư duy lý luận là hệ tri thức ­ hệ  tri thức này gắn bó chặt chẽ  với nhau về  mặt lôgíc, tạo thành quan niệm  hoàn chỉnh phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động và phát triển của  
  13. 15 khách thể  nghiên cứu đang hoạt động sản sinh ra tri thức mới, có khả  năng chỉ  đạo hoạt động thực tiễn” [98, tr. 47]. Theo tác giả, tư  duy lý  luận có những đặc trưng cơ  bản: thứ  nhất là tính khoa học; thứ  hai tính  sáng tạo; thứ  ba biết sử  dụng tự  giác bộ  công cụ  của lý tính, như  khái   niệm, phạm trù, phán đoán, suy lý, các lý thuyết khoa học và vận hành  dưới dạng các phương pháp, biện pháp cụ  thể  dựa trên các căn cứ  khoa   học; thứ tư gắn liền với thực tiễn, ch ỉ đạo hoạt động thực tiễn.  Tác giả  kết luận: Người có tư  duy lý luận khoa học là người có ý  thức rèn luyện thường xuyên những phương pháp tư duy khoa học, có tính  độc lập, sáng tạo trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.  Kết quả  nghiên cứu của các công trình trên  là cơ  sở  lý luận quan  trọng để tác giả luận án kế thừa, tiếp thu; trên cơ sở đó đưa ra quan niệm   về tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam   theo cách tiếp cận và luận giải của mình. 1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển tư duy lý luận của   người cán bộ Nghiên cứu về  tầm quan trọng của phát triển tư duy lý luận  đối với  người cán bộ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta, tác giả Phạm Văn Nhuận   phân tích: “Sự  nghiệp đổi mới  ở  nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề  mới,   phát triển tư duy lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ  Chí Minh. Đổi mới, phát triển tư duy lý luận là mệnh lệnh của cuộc sống”   [84]. Để phát triển tư duy lý luận, tác giả cho rằng: Đổi mới tư duy, tăng  cường  tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, làm sáng tỏ  những vấn đề  mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề  ra   đường lối và chủ  trương, đáp  ứng yêu cầu phát triển đất nước; kịp thời  
  14. 16 khắc phục mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận. Sự phát  triển của tư duy lý luận không tách rời cuộc đấu tranh chống quan điểm sai  trái, phản động, xuyên tạc, phủ  nhận chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh, đường lối của Đảng; đồng thời, chống mọi biểu hiện giáo điều,  máy móc, ngại thay đổi, không dám chịu trách nhiệm, thiếu dũng khí trong  luận chiến, làm triệt tiêu động lực trong nghiên cứu, phát triển tư  duy lý  luận khoa học. Nghiên cứu làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn và đề xuất   các giải pháp đấu tranh, góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa  bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa,   phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta;   khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một   bộ phận cán bộ, đảng viên. Chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu  lý luận có đủ  phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị  vững vàng, được đào  tạo cơ  bản, có tài năng, tâm huyết với nghề  nghiệp, có vốn sống phong   phú, đủ  năng lực nghiên cứu, tham mưu, tư  vấn, tham gia tổng kết thực   tiễn, phát triển tư duy lý luận, kịp thời giải đáp những vấn đề lý luận, thực   tiễn mà cuộc sống đặt ra trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay. Trong bài viết,  “Muốn phát triển, hoàn thiện tư  duy lý luận cần   đánh giá đúng tinh hoa tinh thần của các thời đại trước”   [110], tác giả  Đinh Ngọc Thạch đã phân tích đặc điểm tư  duy, lối sống của con người   Việt Nam. Tác giả  nhấn mạnh  ý nghĩa lịch sử, thời  đại tư  tưởng  của  Ph.Ăngghen và cho rằng, tư  duy lý luận chỉ  là một đặc điểm bẩm sinh   dưới dạng năng lực người mà có. Năng lực  ấy cần được phát triển, hoàn  thiện và muốn hoàn thiện nó thì cho đến nay, không có cách nào khác là   nghiên cứu toàn bộ  triết học thời trước. Tác giả  còn chỉ  rõ, tư  tưởng Hồ  Chí Minh là điển hình về  học tập, kế  thừa tinh hoa di sản t ư t ưởng văn 
  15. 17 hóa nhân loại mà các thế  hệ  người Việt Nam cần trân trọng và phát huy:  1. Chúa Giê­su: Đạo đức là bác ái; 2. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi;  3. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa. Tiếp cận tư  duy lý luận từ  thực tiễn   công tác của đội ngũ cán bộ  nghiên cứu ở Học viện Chính trị, các tác giả của công trình “Tích cực hóa tư   duy khoa học của đội ngũ cán bộ nghiên cứu ở Học viện Chính trị hiện nay”  [142], cho rằng: Tư duy khoa học của đội ngũ cán bộ nghiên cứu ở Học viện  Chính trị là loại hình tư duy lý luận, phản ánh có hệ thống tri thức khoa học   xã hội và nhân văn quân sự, phục vụ  cho hoạt động giáo dục, đào tạo và  nghiên cứu khoa học, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị,  xây dựng Học viện ngang tầm nhiệm vụ. Tích cực hóa tư  duy khoa học là   tổng thể các hoạt động tự giác, chủ động, sáng tạo của các chủ thể liên quan   tới quá trình nhận thức lý tính, tư duy khoa học có định hướng, mục đích rõ  ràng, chương trình, kế hoạch, tổ chức chặt chẽ, khơi dậy những tiềm năng,  phẩm chất, năng lực, tạo ra những bước chuyển biến căn bản về  nội dung  tri thức và phương pháp tư  duy khoa học của người nghiên cứu nhằm đạt  chất lượng, hiệu quả cao. Có thể nói, điểm tương đồng của các công trình trên đây là các tác giả  đã phân tích, luận giải, đánh giá một cách đúng đắn về vị trí, vai trò của tư  duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước, xây dựng, củng cố nền quốc   phòng toàn dân. Hiện nay, thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ  Tổ quốc đang có những chuyển biến mạnh mẽ với những yêu cầu, nội dung  mới thì vai trò của việc phát triển tư duy lý luận, trong đó có phát triển tư duy   lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam có ý nghĩa rất  quan trọng. 2. Nhóm công trình nghiên cứu về đội ngũ chính trị viên và phát triển  tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam
  16. 18 2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về đội ngũ chính trị viên  Nghiên cứu về  phẩm chất, năng lực, vị  trí, vai trò của chính trị viên,   tác giả  Phạm Đình Nhịn quan niệm: “Chính trị  viên phải có phẩm chất và  năng lực toàn diện, cả đức và tài, nhưng trước hết phải có phẩm chất tinh  thần, đạo đức của người đảng viên cộng sản  ưu tú, đặc biệt là sự  kiên  định, lòng trung thành, ý chí, trách nhiệm và năng lực hiểu thấu đáo công   việc, năng lực thực hiện nhiệm vụ với hiệu suất, chất lượng cao” [83, tr.   44]. Người chính trị viên phải có “đức”, có “tài” mới hoàn thành chức trách,   nhiệm vụ được phân công. Do đó, chính trị viên cần chủ động, tích cực học  tập, rèn luyện để  có kiến thức, tích lũy kinh nghiệm, kỹ  năng hoạt động  vững   vàng,  bảo  đảm  chất  lượng,   hiệu  quả  trong  thực   hiện  nhiệm  vụ.   Chính trị  viên giữ  vững vai trò lãnh đạo không phải bằng uy quyền, mà  bằng uy tín, sự  thuyết phục, kinh nghiệm phong phú, kiến thức về  nhiều   mặt và bằng tài năng của mình. Theo đó, chính trị  viên vừa phải có tư duy  lý luận phát triển vừa phải có khả  năng tổ  chức hoạt động thực tiễn để  hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tác giả luận giải: “chính trị viên phải   tích cực học tập một cách toàn diện cả chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học  kỹ thuật…, phải rèn luyện cả ý chí quyết tâm, bản lĩnh chiến đấu, cả  thể  lực, sức khoẻ và các phẩm chất tâm lý cần thiết; phải học tập, rèn luyện ở  mọi lúc, mọi nơi, học trong sách vở, trong thực tiễn và học ở quần chúng,  học lẫn nhau để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu   nhiệm vụ, thực sự  xứng đáng là “linh hồn”, là “đại biểu của Đảng” trong   đơn vị” [83, tr. 46]. Khẳng định vị  trí, vai trò, nhiệm vụ  quan trọng của chính  ủy, chính  trị  viên, tác giả  Phan Trọng Hào viết: “Chính  ủy, chính trị  viên là những   đảng viên, cán bộ  được Đảng, Nhà nước và Quân đội lực chọn, đào tạo,  bồi dưỡng, để  đảm nhiệm nhiệm vụ  chủ  trì về  chính trị  và trực tiếp tổ 
  17. 19 chức thực hiện hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị  quân đội. Do chức năng, nhiệm vụ  của chính  ủy, chính trị  viên nên phong  cách làm việc của họ  là phong cách công tác của cán bộ  lãnh đạo, người   chủ  trì về  chính trị  trong các đơn vị  quân đội” [36, tr. 42]. Theo tác giả,  phong cách làm việc của chính ủy, chính trị  viên trong quân đội được hình   thành, trau dồi, rèn luyện suốt mấy chục năm qua đã góp phần quan trọng  vào việc nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị, hoàn thành  nhiệm vụ phát huy nhân tố con người trong từng đơn vị.  Tác giả  Phùng Văn Thiết quan niệm: “Tư  cách của chính trị  viên có  tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến bộ đội, bởi lẽ chính trị viên trước   hết và vô luận trong mọi giai đoạn lịch sử đều phải làm tròn trọng trách của  người chủ  trì về  công tác tuyên truyền, chủ  trì về  công tác đảng, công tác  chính trị. Nói cách khác, họ là người chủ trì về việc chuẩn bị lăng kính chính   trị cho người cầm súng, trang bị nhãn quan chính trị cho hoạt động quân sự”  [114, tr. 75]. Tác giả luận giải, tư cách của người chính trị viên có ảnh hưởng rất  quan trọng đến bộ đội, nhưng nó không phải là sản phẩm tự nhiên của cơ  chế  và càng không phải là giá trị vốn có của người chính trị  viên. Trái lại,   tư cách của người chính trị viên chỉ được thể hiện, được hiện thực hóa bởi  hoạt động thực tiễn, được quyết định chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của  họ. Mặt khác, cùng với sự  lớn mạnh  của quân đội, đội ngũ chính trị  viên  cũng có sự  phát triển tương  ứng cả  về  số  lượng, chất lượng và cơ  cấu.  Tác giả cho rằng, nhiệm vụ của người chính trị viên cũng là trọng trách của  người chỉ huy. Tuy nhiên, điều đó không phải lúc nào cũng được nhận thức  và thực hiện một cách đầy đủ, ngay cả khi thực hiện chế độ một người chỉ  huy gắn liền với chế độ chính ủy, chính trị viên hiện nay.
  18. 20 Nghiên cứu vị trí, vai trò của chính trị viên, tác giả Nguyễn Minh Khải  quan niệm: Chính trị  viên là người chủ  trì về  chính trị, chịu trách nhiệm về  toàn bộ hoạt động của đơn vị và trên tất cả các mặt công tác. Đối với bộ đội,   chính trị viên là người lãnh đạo, chỉ huy; là người anh, người chị và người bạn  thân thiết. Đối với nhân dân, chính trị viên phải làm tốt công tác dân vận, làm  cho dân tin, dân yêu bộ đội, giúp đỡ bộ đội, chấp hành đúng đường lối, chủ  trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; giáo dục bộ  đội  chấp hành tốt công tác dân vận, chăm lo xây dựng mối đoàn kết quân dân.   Đối với quân địch, chính trị  viên phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận  động, đấu tranh làm họ thức tỉnh, hiểu rõ lẽ phải và chính nghĩa; trên cơ sở  đó, làm tan rã hàng ngũ địch. Tác giả  cho rằng: “Chính trị  viên là đại biểu   của Đảng bên cạnh người chỉ  huy, phải làm tốt chức trách, nhiệm vụ  của  mình, đồng thời, tôn trọng, giúp đỡ người chỉ huy hoàn thành nhiệm vụ theo   sự  phân công của tổ  chức và quy định về  chế  độ  công tác. Người chính trị  viên phải là tấm gương mẫu mực, trong sáng, thật sự  tiêu biểu của người  cán bộ Đảng trong quân đội” [50, tr. 55]. Trong công trình “Bồi dưỡng nhân cách chính trị  viên cho đội ngũ   cán bộ chính trị cấp phân đội hiện nay” [138], các tác giả khẳng định: Vai  trò của chính trị  viên được thể  hiện  ở  các mặt cơ  bản, trực tiếp chỉ  đạo  xây dựng chi bộ, cấp  ủy, tổ  chức đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao  sức mạnh chiến đấu của cấp  ủy, tổ  chức đảng, góp phần củng cố, tăng   cường sự  lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về  mọi mặt của  Đảng đối với  quân đội, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về  chính trị, nâng cao  chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Các tác giả  còn chỉ  rõ: Khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ  và thể  hiện vai trò của mình, chính trị  viên cần có những phẩm chất, nhân cách  của người quân nhân cách mạng nói chung và những phẩm chất đặc trưng 
  19. 21 khẳng định phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong  công tác của người chính trị  viên nói riêng. Do vậy, chính trị  viên cần có   những kiến thức, kinh nghiệm tiến hành công tác đảng, công tác chính trị,  cũng như uy tín để quy tụ, tập hợp cán bộ, chiến sĩ, tăng cường sức mạnh  lãnh đạo cấp ủy đảng và sức mạnh chiến đấu của toàn đơn vị. Phân tích vị  thế, vai trò của chính trị  viên, các tác giả  của công trình  “Vị thế của đội ngũ chính trị  viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện   nay”  luận giải: “Cán bộ  chính trị  trong Quân đội nhân dân Việt Nam nói  chung và chính trị  viên nói riêng có vị  trí, vai trò quan trọng trong việc tăng   cường, giữ vững sự  lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân   đội nhân dân Việt Nam; trong xây dựng quân đội vững mạnh về  chính trị;   trong việc thực hiện và nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị ­   nguyên tắc trong xây dựng quân đội kiểu mới. Chính vị trí, vai trò của chính   trị viên đã xác lập trên nguyên tắc vị thế của họ trong quân đội, trong xã hội”  [140]. Từ  đó, các tác giả  kết luận: Trong thời kỳ  mới, trước tác động của  những biến đổi kinh tế ­ xã hội, trước yêu cầu của sự  nghiệp xây dựng và   bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, yêu cầu xây dựng và nhiệm vụ của quân  đội, đòi hỏi đội ngũ cán bộ chính trị nói chung, chính trị viên nói riêng phải ra  sức tu dưỡng, rèn luyện về  phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong  công tác để tiếp tục khẳng định, phát huy vị thế của mình trong đơn vị, trong  quân đội và trong toàn xã hội. Đây là một yếu tố  bảo đảm cho việc thực   hiện chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên được  thiết lập trên thực tế vững chắc, vận hành nhuần nhuyễn, hiệu quả. 2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về phát triển tư  duy lý luận của   đội ngũ chính trị viên Quân đội nhân dân Việt Nam
  20. 22 Nghiên cứu vấn đề  phát triển tư  duy lý luận của học viên đào tạo  chính  ủy, chính trị  viên, trong bài viết “Phát triển tư  duy lý luận của học   viên đào tạo chính  ủy, chính trị  viên”, tác giả  Lê Hồng Quang quan niệm:  “Tư duy lý luận của người chính ủy, chính trị viên là tư duy khoa học, giúp   họ  thực hiện vai trò chủ  trì về  chính trị; luôn có khả  năng thâm nhập sâu  vào bản chất các sự kiện, vận dụng đường lối, quan điểm, nguyên tắc của  Đảng, chỉ đạo hoạt động thực tiễn cụ thể, tạo chuyển biến mạnh mẽ tiềm   lực chính trị ­ tinh thần của đơn vị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện,   đáp ứng nhu cầu thực tiễn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ” [94, tr. 58].  Phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ  chính trị  là không ngừng phát  triển tư  duy lý luận, giúp họ  nắm vững và vận dụng lập trường, quan  điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ  trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách   sáng tạo, giải quyết khoa học, hiệu quả mọi vấn đề bảo đảm cho quân đội  hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tác giả kết luận: Người chính ủy, chính trị viên cần phát triển tư duy  lý luận sắc sảo để  thực sự  có bản lĩnh chính trị  vững vàng; cùng tổ  chức  đảng, cấp ủy, người chỉ huy chỉ đạo mọi mặt hoạt động của đơn vị “đi đúng   con đường chínhh trị” của Đảng, đạt chất lượng, hiệu quả cao, không chệch  hướng, sai lầm. Hơn lúc nào hết, người chính  ủy, chính trị  viên phải chủ  động, sáng tạo, giỏi vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ  nghĩa  Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ  Chí Minh, đường lối của Đảng để  nhận thức và  giải quyết đúng đắn, kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra trong điều kiện  lịch sử mới. Trong công trình  “Nâng cao chất lượng đào tạo chính  ủy, chính trị   viên đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới”,  tác  giả Lê Minh Vụ luận giải: “Với tư cách là người chủ trì công tác đảng, công 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản