LUẬN VĂN: Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:83

0
123
lượt xem
36
download

LUẬN VĂN: Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt Nam hiện nay, Tòa án nhân dân (TAND) có một vị trí đặc biệt quan trọng. Với những đặc trưng của hoạt động xét xử, hệ thống tòa án có khả năng đem đến cho các bên tranh tụng sự công bằng, góp phần thiết lập trật tự xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống tòa án cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu những nguyên tắc sống còn của hoạt động tố tụng không được bảo đảm. Khi đó,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân

  1. LUẬN VĂN: Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
  2. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung ở Việt Nam hiện nay, Tòa án nhân dân (TAND) có một vị trí đặc biệt quan trọng. Với những đặc trưng của hoạt động xét xử, hệ thống tòa án có khả năng đem đến cho các bên tranh tụng sự công bằng, góp phần thiết lập trật tự xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống tòa án cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ nếu những nguyên tắc sống còn của hoạt động tố tụng không được bảo đảm. Khi đó, không những quyền lợi chính đáng của các đương sự không được bảo đảm, mà uy tín của Nhà nước cũng bị giảm sút. Trước tình hình trên, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba (khóa VIII), Đảng đã đặt vấn đề tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, trong đó có giám sát hoạt động xét xử của TAND. Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XI năm 2003, Quốc hội đã thông qua Luật hoạt động giám sát. Đây là đạo luật rất quan trọng, thể chế hóa đường lối của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về trình tự, thủ tục thẩm quyền giám sát của Quốc hội nói chung và hoạt động xét xử của hệ thống tòa án nói riêng. Trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà n ước, những năm qua công tác giám sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của Tòa án đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Thông qua hoạt động giám sát giúp cho hoạt động xét xử của Tòa án, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hơn, tránh được những oan, sai trong xét xử... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của TAND cũng còn nhiều bất cập như: hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này còn thiếu tính cụ thể. Công tác giám sát còn mang tính thời điểm, không thường xuyên. Kiến thức pháp luật nói chung và kiến thức pháp luật tố tụng nói riêng của các đại biểu đi giám sát còn hạn chế và không đồng đều… Tất cả những điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng đối với công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Vì lẽ đó việc nghiên cứu một cách tương đối toàn diện có hệ thống về
  3. giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam là yêu cầu bức xúc, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa của các hoạt động của Quốc hội, trong những năm gần đây, về hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà luật học, chính trị học, xã hội học. Qua nghiên cứu tài liệu hiện hành và công trình khoa học đã được công bố cho thấy hoạt động giám sát của Quốc hội được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Điều đó được thể hiện qua các nhóm vấn đề: Nhóm thứ nhất, là nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung. Nhóm này đề cập tới những vấn đề lý luận chung của giám sát, như khái niệm, bản chất, hình thức, nội dung…được thể hiện qua các công trình nghiên cứu sau: tác phẩm: "Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội" của Tiến sĩ Phạm Văn Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, trong tác phẩm này, tác giả Phạm Văn Kỳ đã tập trung làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm quyền giám sát tối cao của Quốc hội, đối tượng của quyền giám sát tối cao, các phương thức giám sát của hoạt động giám sát, cũng như thực trạng của hoạt động giám sát này, trên cơ sở đó, tác giả đã có những đề xuất tương đối sát hợp… Bên cạnh đó phải kể đến nhiều công trình khác như: Đề tài "Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những khía cạnh pháp lý theo hiến pháp và luật tổ chức Quốc hội" PGS,TS Nguyễn Đăng Dung chủ trì; Đề tài "Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay" do Viện Nhà nước và Pháp luật, thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đáng chú ý như "Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở nước ta" của TS. Lê Minh Thông, đặt vấn đề Quốc hội cần thiết phải thành lập một ủy ban chuyên trách; GS.TSKH Đào Trí úc: "Về chức năng kinh tế, xã hội của nhà nước ta và những cơ sở hiến định của cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước", đã đề cập vấn đề nghiên cứu, xem xét việc thành lập cơ quan giám sát chuyên trách thuộc Quốc hội; bài viết "Giám sát thực hiện quyền lực nhà nước" của tác giả Võ Khánh Vinh...
  4. Nhóm thứ hai, nghiên cứu hoạt động giám sát trên một số lĩnh vực cụ thể được thể hiện qua các công trình nghiên cứu sau: đề tài "Quyền giám sát của Quốc hội với Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân" do TS. Phạm Văn Hùng chủ trì; Luận văn thạc sĩ luật học: "Nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của ủy ban pháp luật Quốc hội ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn thị Dung. Bài của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt " Một vài suy nghĩ về hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội" đã kiến nghị tăng cường mối quan hệ phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện chức năng giám sát. Liên quan tới vấn đề quyền giám sát của Quốc hội đối với tòa án trong nhà nước tư sản đã có một số công trình nghiên cứu như "Luật Hiến pháp đối chiếu" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung; "Hệ thống chính trị Mỹ" của TS. Vũ Đăng Hinh và các đồng tác giả... Các công trình khoa học nói trên đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung cũng như TAND thời gian qua nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND. Mặc dù vậy, các công trình nói trên là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này. 3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn - Về nội dung nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản liên quan tới giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND trong giai đoạn hiện nay. trên cơ sở đó đề ra nhưng giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét sử của TAND. - Đây là một đề tài có phạm vi rộng, trong khuôn khổ một luận văn cao học, chỉ đề cập nghiên cứu những nét khái quát chung nhất về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND trên một số lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Thời gian từ năm 2003 đến nay. 4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn * Mục đích:
  5. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND ở nước ta hiện nay, luận văn nêu ra những giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND trong thời gian tới. *Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau: - Phân tích cơ sở lý luận về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND thông qua thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội. - Phân tích đánh giá thực trạng về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND từ năm 2003 đến nay. - Nêu một số giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND hiện nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chung nhà nước và pháp luật nói chung và hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước nói riêng. - Phương pháp nghiên cứu, để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng như: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, kết hợp các phương pháp khác như: So sánh, thống kê, điều tra xã hội ... 6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn "Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân" là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện có hệ thống cả lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND. Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa học mới cụ thể như sau: Đưa ra khái niệm, đặc điểm, giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND.
  6. Phân tích chỉ ra được thực trạng, nguyên nhân của hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND từ năm 2003 đến nay, trên cơ sở đó đưa ra hệ giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với TAND trong thời gian tới. 7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn * ý nghĩa lý luận: Với kết quả đạt được, luận văn làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND qua đó nâng cao hơn nữa nhận thức của nhân dân nói chung, của cán bộ công chức nhà nước nói riêng về vị trí pháp lý, vai trò tầm quan trọng của Quốc hội - là một thiết quyền lực nhà nước. * ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
  7. Chương 1 Cơ sở lý luận về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 1.1. Khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc, vai trò hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân 1.1.1. Khái niệm Hoạt động xét xử của TAND là biểu hiện tập trung cao nhất của cả quá trình giải quyết một vụ án. Tại phiên tòa mọi hoạt động của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều thể hiện một cách công khai. Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đều được công khai tranh tụng, đưa ra những lý lẽ bảo vệ mình hoặc bác bỏ lý lẽ của người khác… Và cuối cùng là những phán quyết của Hội đồng xét xử. Có thể nói rằng, một vụ án dù lớn hay nhỏ, điều mà xã hội quan tâm là Tòa án xét xử như thế nào, phán quyết cuối cùng ra sao? Thật vậy, xét xử là hoạt động đặc trưng của Tòa án, ngay trong Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập - mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử nhưng trên tinh thần Hiến pháp, chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét xử, Điều 46 Hiến pháp năm 1946 quy định: "Trong khi xét xử các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp". Đến các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án, Điều 127 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự và các tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [12, tr. 71]. Trên cơ sở của Hiến pháp, Luật tổ chức TAND cũng đã quy định về thẩm quyền xét xử của TAND. Pháp luật tố tụng nước ta quy định nguyên tắc xét xử hai cấp, sơ thẩm và phúc thẩm. Xét xử sơ thẩm vụ án là xét xử lần thứ nhất, là giai đoạn tố tụng mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử. Trong giai đoạn này, Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng, căn cứ vào các tình tiết vụ án cụ thể, vào quy
  8. định của pháp luật lần đầu tiên nhân danh Nhà nước ra bản án hoặc quyết định để giải quyết vụ án đó. Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng, Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án do Tòa án cấp dưới xét xử những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, nhằm sửa chữa sai lầm của bản án hoặc quyết định sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử vụ án được nghiêm minh, khách quan, đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Vậy xét xử là gì? Theo Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998: "Xét xử; xét và xử các vụ án nói chung" [45, tr. 1859]. Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng: "Xét xử; hoạt động do tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó tòa án sau khi nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết, xử lý vụ án bằng cách việc ra bản án và quyết định cần thiết có liên quan" [29, tr. 418]. Với quan niệm xét xử như trên, có thể hiểu hoạt động xét xử của TAND là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực của nhà nước, được thực hiện thông qua thẩm phán và Hội đồng xét xử nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự góp phần làm ổn định trật tự xã hội. 1.1.2. Đặc trưng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Một là, hoạt động xét xử của TAND là quá trình áp dụng pháp luật vào việc giải quyết vụ án cụ thể. áp dụng pháp luật là một hoạt động phổ biến, hoạt động của rất nhiều chủ thể trong xã hội. Đó là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan hành pháp, hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, khi nói áp dụng pháp luật đối với hoạt động xét xử thì chúng ta chỉ liên hệ đến hoạt động của cơ quan tư pháp. Để giải quyết một vụ án. có sự tham gia của rất nhiều cơ quan, tổ chức có chức danh đại diện riêng như: cơ quan điều tra với chức danh điều tra viên; cơ quan kiểm sát với chức danh kiểm sát viên; cơ quan tòa án vói chức danh thẩm phán, hội thẩm nhân dân, luật sư... mỗi chức danh đều đại diện cho từng cơ quan tư pháp đều thực hiện áp dụng pháp luật. Nếu
  9. như hoạt động áp dụng pháp luật của luật sư là đưa ra lý lẽ để thuyết phục hội đồng xét xử, để bảo vệ thân chủ, nếu như hoạt động áp dụng pháp luật của kiểm sát viên để buộc tội, để đề xuất một chế tài nhất định với bị cáo… thì hoạt động áp dụng pháp luật của thẩm phán để đưa ra phán quyết. có nghĩa là kết quả công việc của chức danh khác không có tính quyết định, tất cả các hoạt động đó đều phụ thuộc vào tòa án có lựa chọn hay không lựa chọn đề nghị của cơ quan tổ chức đó và đây là đặc trưng trong hoạt động xét xử của tòa án. Hai là, hoạt động xét xử của TAND là hoạt động giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Một trong những nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) là ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật. Các văn bản này được đặt dưới tên gọi Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC hay Thông tư liên tịch. Đây là hoạt động hết sức đặc trưng của hoạt động xét xử. Bởi vì, TAND không phải là cơ quan lập pháp nhưng bằng thực tiễn công tác của mình, TAND đã chỉ ra những quy định pháp luật còn mơ hồ, không rõ ràng, hoặc khó hiểu, hoặc có quá nhiều cách hiểu khác nhau. Từ đó Tòa án đưa ra cách hiểu và cách áp dụng thống nhất. Sự giải thích này, rõ ràng, có ảnh hưởng tới quyền lợi ích của các đương sự, thậm chí, còn ảnh hưởng đến quyết định của các cơ quan tổ chức có liên quan. Ba là, hoạt động xét xử của TAND là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Nói đến đặc trưng trong hoạt động xét xử không thể không nói đến hoạt động ra bản án, quyết định của thẩm phán, đây là một hoạt động mang tính quyền lực cao, nhân danh nhà nước và chỉ tuân theo pháp luật. Bản án, quyết định của Hội đồng xét xử có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và mọi công dân. Trong đó có những quyền chỉ Tòa án mới phán quyết được. Ví dụ, đó là quyền sống, quyền tự do của con người. Tính quyền lực này được thể hiện ngay phần mở đầu của bản án, quyết định, đó là "nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Tính quyền lực này còn thể hiện trong các quy định của pháp luật buộc "bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ
  10. quan tổ chức tôn trọng. cá nhân, cơ quan tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của tòa án". 1.1.3. Nguyên tắc hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Nguyên tắc hoạt động xét xử của TAND là những quan điểm, tư tưởng cơ bản chỉ đạo toàn bộ quá trình tổ chức, thực hiện xét xử tại phiên tòa nhằm đưa ra những bản án đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành, nguyên tắc xét xử của TAND bao gồm những điểm sau. 1.1.3.1. Nguyên tắc xét xử của Tòa án nhân dân có hội thẩm tham gia Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và từ tính quyền lực của Nhà nước là quyền lực của nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) đã khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vì vậy, các hoạt động quyền lực của Nhà nước đều phải có sự tham gia của nhân dân. Trong hoạt động tư pháp mà chủ yếu là hoạt động xét xử của Tòa án phải đảm bảo cho nhân dân trực tiếp tham gia. Nguyên tắc này được thể hiện ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946. Điều 65: "Trong khi xét xử việc hình thì có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình". Điều này tiếp tục được khẳng định tại Điều 99 Hiến pháp năm 1959 và quy định rõ thẩm quyền của Hội thẩm nhân dân là: "Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật khi xét xử thì hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán". Đến Hiến pháp năm 1992, nguyên tắc này còn quy định rõ thêm chế độ Hội thẩm nhân dân như sau: "Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán"[12]. Như vậy, trong hoạt động xét xử gồm có thẩm phán là người có nghiệp vụ chuyên môn do nhà nước bổ nhiệm và các Hội thẩm nhân dân và Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia vào hoạt động xét xử. Cơ cấu thành phần như vậy giúp cho
  11. TAND đưa ra những phán quyết đúng đắn, khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. 1.1.3.2. Nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây là nguyên tắc quan trọng mang tính nền tảng đối với hoạt động xét xử của TAND. Nguyên tắc này xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của xã hội dân chủ đồng thời. chống lại sự can thiệp của các cá nhân và cơ quan nhà nước khác vào hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng. ở Việt Nam, nguyên tắc này được thừa nhận ngay từ khi thành lập Tòa án cách mạng. Tại Điều 47 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946 quy định "Tòa án tư pháp sẽ độc lập với cơ quan hành chính". Điều 69 Hiến pháp năm 1946 cũng quy định: "Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp". Các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 cũng khẳng định nguyên tắc này. Điều 130 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: "khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật". Thực chất của nguyên tắc này là đảm bảo cho hoạt động xét xử được độc lập không bị lệ thuộc bởi tác động của cơ quan nào và cá nhân nào. Từ đó hoạt động xét xử mới đưa ra được phán quyết đúng đắn kết quả chính xác. Nội dung của nguyên tắc này là khi xét xử thẩm phán và Hội thẩm độc lập đánh giá chứng cứ thu thập được, độc lập xem xét tình tiết vụ án, độc lập trong nhận định và vận dụng đúng quy định pháp luật để đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Tòa án cấp trên cũng không được dùng mệnh lệnh hành chính buộc Tòa án cấp dưới xử theo ý mình. Đảng đối với Tòa án chủ yếu là bằng chủ trương, đường lối chính sách, chứ không nhất thiết can thiệp vào các vụ án cụ thể. Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi các thẩm phán phải có trình độ chuyên môn cao, tinh thông về pháp luật: Hội thẩm nhân dân phải có hiểu biết về pháp luật về lĩnh vực được đề cập trong từng vụ án cụ thể. 1.1.3.3. Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số Trên thế giới hiện nay có nhiều nước áp dụng một thẩm phán xét xử đối với những vụ án đơn giản. Tuy nhiên, các vụ án phức tạp liên quan tới lợi ích nhiều chủ thể
  12. khác nhau, đến quyền công dân và sinh mạng của con người thì đều tiến hành xét xử tập thể. Việc xét xử tập thể phát huy được trí tuệ tập thể thẩm phán, hội thẩm nhân dân, từ đó có những cân nhắc kỹ lưỡng thận trọng để đưa ra được những phán quyết đứng đắn. Đối với Việt Nam, nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các vụ án. là nguyên tắc nhất quán được ghi trong Hiến pháp và Luật tổ chức TAND. Điều 131 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: "Tòa án nhân dân là xét xử độc lập và quyết định theo đa số". Theo nguyên tắc này thì thì hoạt động xét xử phải là tập thể gồm các thẩm phán hoặc thẩm phán và hội thẩm nhân dân, ít nhất ba thành viên trở lên. Hiện nay, nhiều nhà khoa học pháp lý cũng cho rằng, để đáp ứng yêu cầu xét xử nhanh, có hiệu quả các vụ án cũng có thể áp dụng nguyên tắc xét xử một thẩm phán đối với vụ án đơn giản như một số nước trên thế giới. 1.1.3.4. Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai Nguyên tắc này xuất phát từ phát huy dân chủ đối với nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và TAND nói riêng. Nguyên tắc này đảm bảo cho nhân dân tham gia phiên tòa xét xử, giám sát việc xét xử của Tòa án, đồng thời góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Trong một số trường hợp đặc biệt có những vụ án không xét xử công khai theo luật định. Điều 131 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Điều 7 Luật tổ chức TAND quy định: "Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định". Nguyên tắc này đòi hỏi các TAND phải có lịch xét xử các vụ án, công khai lịch xét xử hàng tuần tại trụ sở Tòa án. Thông báo cho những người liên quan đến vụ án về thời gian địa điểm xét xử. Riêng các vụ án xét xử kín thì khi tuyên án phải công khai cho mọi người biết. 1.1.3.5. Nguyên tắc xét xử bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đây là nguyên tắc phán ánh bản chất của nền dân chủ trong hoạt động tư pháp. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Luật tổ chức TAND năm 2002: "Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật". Với nguyên tắc này, tính công bằng trước pháp luật và niềm tin vào công lý xã hội được thông qua Tòa án.
  13. Nội dung của nguyên tắc này khẳng định: mọi hành vi phạm tội, mọi tranh chấp pháp lý dù người đó là ai thì đều bị Tòa án xét xử nghiêm minh, công bằng. Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên trong hoạt động xét xử của Tòa án còn phải tuân theo các nguyên tắc. Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho những người tham gia tố tụng dùng chữ viết tiếng nói của dân tộc mình, đảm bảo xét xử hai cấp. 1.1.4. Vai trò hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Hệ thống TAND là một bộ phận của cơ quan tư pháp Việt Nam. Các cơ quan tư pháp có chức năng bảo vệ và gìn giữ pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, giải quyết các tranh chấp xẩy ra trong đời sống xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Tòa án là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà các kết quả của hoạt động điều tra truy tố, bào chữa, giám định tư pháp... được kiểm tra, đánh giá, xem xét một cách công khai và thông qua thủ tục tố tụng để đưa ra phán xét cuối cùng mang tính quyền lực nhà nước. Các cơ quan xét xử nhà nước ta chủ yếu là các TAND và Tòa án quân sự. Còn các tòa án đặc biệt chỉ được thành lập trong những trường hợp đặc biệt. Việc xác định các TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có nghĩa là ngoài TAND, bất cứ cơ quan nhà nước nào khác cũng không có quyền xét xử. Như vậy, Tòa án là cơ quan thay mặt nhà nước xử lý các vi phạm pháp luật nhằm duy trì nền công lý, bảo đảm pháp luật đã ban hành được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cá nhân. Tòa án cũng là phương tiện hữu hiệu để tổ chức, công dân bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Vai trò to lớn đối với hoạt động xét xử của TAND thể hiện qua các phương diện sau: Một là, thông qua hoạt động xét xử đảm bảo quyền lực nhà nước đi vào đời sống xã hội, góp phần bảo đảm an ninh chính trị xã hội. Thông qua hoạt động xét xử để TAND giải quyết các vi phạm pháp luật, các tội phạm và các tranh chấp xẩy ra trong đời sống xã hội. Do đó, có thể coi hoạt động xét xử như là một bộ phận chuyền tải quyền lực nhà nước được thể hiện trong pháp luật đi vào đời sống xã hội thông qua việc giải quyết các vụ việc cụ thể.
  14. Người ta chưa ý thức đầy đủ rằng, Tòa án chính là một cơ quan có trách nhiệm làm cho tất cả những người nghèo khổ, không trừ một ai, đều có thể tham gia việc quản lý nhà nước; rằng Tòa án là một cơ quan chính quyền của giai cấp vô sản và của nông dân nghèo; rằng Tòa án là một công cụ để giáo dục kỷ luật [10, tr. 124]. Nếu hoạt động xét xử của Tòa án không tốt thì bộ máy nhà nước ấy hoạt động kém hiệu lực hiệu quả, chính thông qua hoạt động xét xử đảm bảo quyền lực nhà nước đi vào đời sống xã hội. và là chất kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển tiến bộ của pháp luật XHCN. Do vậy, công tác đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm của hoạt động xét xử là cần thiết nhằm duy trì trật tự, kỷ cương của đất nước, các quyết định của Tòa án không chỉ buộc người vi phạm pháp luật phải hành sử theo đúng pháp luật, mà tạo nên một môi trường an toàn cho cộng đồng xã hội. Trong xã hội, các mâu thuẫn, tranh chấp nẩy sinh là một hiện t ượng tự nhiên và việc giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội là việc làm cần thiết nhằm ổn định xã hội. Thông qua hoạt động xét xử góp phần củng cố sự đoàn kết, gắn bó, thương yêu, đùm bọc ở từng gia đình trong cộng đồng xã hội. Hai là, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là một công cụ quan trọng trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Vai trò tích cực của TAND đối với tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật được thể hiện ở chỗ: Thông qua việc xét xử các vụ án đúng pháp luật đã tác động vào ý thức các tầng lớp nhân, qua đó nâng cao ý thức pháp luật, góp phần định hướng dư luận xã hội nâng cao ý thức lên án những hành vi tội ác, đồng thời khuyến khích hành vi tôn trọng pháp luật và răn đe các tư tưởng coi thường pháp luật. Nếu Tòa án xét xử nghiêm minh, khách quan đúng người đúng tội, đúng pháp luật sẽ góp phần to lớn vào đấu tranh phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Ngược lại, nếu xét xử không nghiêm minh, thiếu khách quan thì dẫn đến tư tưởng xem thường pháp luật. Mặt khác, vai trò tuyên truyền giáo dục pháp luật của Tòa án còn được thể hiện ngay trong mục đích những hình phạt mà Tòa áp dụng. Ví dụ: Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta quy định: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà còn giáo dục họ trở
  15. thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn chặn họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa chống tội phạm. Luật tổ chức TAND cũng khẳng định: "Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống xã hội, có ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi pham pháp luật khác". Ngoài ra, thông qua hoạt động xét xử, Tòa án phát hiện ra những sơ hở yếu kém trong quản lý nhà nước, những vi phạm trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và điều kiện dẫn đến tội phạm. Tòa án cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét khắc phục những yếu kém đó góp phần ngăn ngừa tội phạm. Ba là, hoạt động xét xử của Tòa án đóng vai trò quan trọng đảm bảo công bằng trước pháp luật và duy trì công lý. Theo quy định của pháp luật, những người vi pham pháp luật đều được xem xét, xử lý tùy theo tính chất mức độ vi phạm. Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân đều có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền hợp pháp của mình. Khi xét xử các vụ án về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt người đó là ai, giữ chức vụ gì trong xã hội. Mặt khác, các công dân tổ chức và các cơ quan nhà nước đặt niềm tin vào Tòa án người thay mặt nhà nước bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý. Bởi lẽ, Tòa án bao giờ cũng là nơi biểu hiện rõ nhất bản chất của pháp luật ở đó con người luôn hi vọng và tìm thấy được lẽ công bằng xã hội. Vì vậy, từ xa xưa đã mô hình hóa biểu tượng của Tòa án là "Nữ thần bịt mắt bằng vải đen, một tay cầm kiếm, một tay cầm cân công lý", đã thể hiện giữa sức mạnh và quyền lực của pháp luật. Thể hiện tính nghiêm minh của nhà nước và sự công bằng trước pháp luật. Vì lẽ đó Tòa án xét xử không đúng, không công bằng, bóp méo pháp luật, bẻ cong công lý thì lòng tin của nhân dân đối với nhà nước và chế độ sẽ bị mất đi. Bốn là, hoạt động xét xử của Tòa án góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động áp dụng pháp luật vào các sự kiện pháp lý cụ thể. Thông qua hoạt động này, Tòa án phát hiện những yếu kém của pháp luật và sự mâu thuẫn giữa ý thức pháp luật của người xét xử với tính "lạc hậu" của các
  16. "khuôn mẫu" của pháp luật hiện hành. Để từ đó đề xuất với các cơ qua có thẩm quyền xây dựng pháp luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ kinh tế, xã hội mói phát sinh. Đồng thời, xóa bỏ những quy phạm pháp luật lỗi thời. Thực tế trong nhiều năm qua Tòa án đã đóng vai trò to lớn trong việc góp phần sửa đổi, bổ sung, nhiều quy phạm pháp luật, đặc biệt các quy phạm có liên quan đến lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự… Tóm lại, hoạt động xét xử của TAND là hoạt động pháp lý nhân danh nhà nước nhằm bảo vệ nền pháp chế XHCN, có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, là công cụ chuyên chính đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh và thống nhất. 1.2. Khái niệm, Mục Đích, nội dung, hình thức giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của tòa án nhân dân 1.2.1. Khái niệm và mục đích giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Để hiểu rõ khái niệm giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát của Quốc hội. Quan niệm giám sát của Quốc hội đến nay vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền giám sát của Quốc hội đối với TAND, Viện kiểm sát nhân dân là quyền của Quốc hội tiến hành các biện pháp giám sát tối cao do Hiến pháp, luật quy định đối với đối tượng này nhằm đảm bảo cho quyền lực của Quốc hội được thi hành có hiệu lực, hiệu quả [13, tr. 80]. Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì: "Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không" [43]. Quan điểm thứ hai cho rằng: Giám sát phải là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống độc lập với hệ thống bị giám sát, nghĩa là chủ thể giám sát và chủ thể bị giám sát không nằm trong cùng hệ thống, không phụ thuộc lẫn nhau [11]. ý kiến khác lại cho rằng: "Ngoài việc giám sát của chủ thể khác ngoài hệ thống thì việc kiểm tra và tự kiể m tra trong hệ thống cũng là một hình thức giám sát" [11].
  17. Quan điểm thứ ba cho rằng: Giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội xem xét các cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội trong việc tuân theo Hiến pháp, luật nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH [15]. Quan điểm thứ tư cho rằng: Giám sát tối cao là việc Quốc hội xem xét tại kỳ họp các hoạt động của Chủ tịch nước, TANDTC… trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội [24, tr. 181]. Các quan điểm giám sát của Quốc hội nêu trên ở chừng mực nhất định có những nhân tố hợp lý của nó, nhưng chưa có quan điểm nào đưa ra được khái niệm đầy đủ và khoa học. Từ các quan điểm nêu trên có thể hiểu: Giám sát tối cao của Quốc hội là quyền của Quốc hội thực hiện việc theo dõi, kiểm tra tính hợp hiến tính hợp pháp đối với các văn bản, hoạt động của các chủ thể do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Đồng thời xử lý những vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội do những chủ thể đó gây ra nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội được thực hiện nghiêm chỉnh. Với quan niệm giám sát như vậy, có thể hiểu: Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là quyền của Quốc hội tiến hành các hoạt động giám sát tối cao tại kỳ họp Quốc hội đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân thông qua hoạt động giám sát của ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội [13, tr. 59]. Để góp phần hiểu rõ về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND, cần phân biệt giữa giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND với những hoạt động khác. Giám sát khác với kiểm tra: Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét". Do đó, so với giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND thì kiểm tra là khái niệm có tính bao hàm những thao tác có tính xác định và tính cụ thể rõ hơn kiểm tra thường được dùng xem lại sự việc, những sai phạm đã xảy ra. Kiểm tra có thể là tự
  18. bản thân tự kiểm tra, cũng có thể là cấp trên cùng hệ thống kiểm tra, cũng có thể là cơ quan tổ chức có thẩm quyền đến kiểm tra. Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND khác với thanh tra Thanh tra, theo Từ điển tiếng Việt là "kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan xí nghiệp". Trong khoa học pháp lý, thanh tra là khái niệm chủ yếu được dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền được xác định theo Luật thanh tra năm 2004. Điều 4 Luật thanh tra quy định: "Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật..." [27]. Như vậy, về mặt khách quan của hành vi có thể thấy thanh tra và giám sát giống nhau ở chỗ cùng có hoạt động xem xét, đánh giá, nhưng khác nhau ở chỗ giám sát là chủ động theo dõi còn thanh tra là chỉ xem xét khi có dấu hiệu vi phạm xảy ra, còn thanh tra là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước đặc trưng trong hệ thống hành pháp với vai trò của các cơ quan thanh tra chính phủ và thanh tra chuyên ngành, có đối tượng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý, là một chức năng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND khác với kiểm sát, bởi vì kiểm sát là khái niệm dùng để chỉ hoạt động mang tính đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đối với việc đảm bảo tính pháp chế, tính hợp pháp trong các hành vi, văn bản pháp quy của cơ quan nhà nước, sự tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh của các cán bộ công chức và các công dân. Theo pháp luật hiện hành, hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân đã được bỏ, vì vậy, kiểm sát chỉ có ý nghĩa là kiểm sát đối với quyền lực nhà nước khi Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND khác với giám sát, kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các thành viên Mặt trận. Về tính chất của hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được quy định tại Điều 12 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhưng quy định trong luật cho thấy những sự khác nhau
  19. cơ bản giữa hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND đó là sự khác nhau về hình thức kiểm tra giám sát và phương thức thực hiện kiểm tra giám sát. Tóm lại, giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát là những khái niệm gần nghĩa, dùng để chỉ những hoạt động có phạm vi gần nhau, thậm chí có những biểu hiện khách quan khá giống nhau như xem xét, đánh giá, tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau và phân biệt với nhau bởi đặc thù trong quan hệ pháp lý, đối tượng chủ thể, phạm vi phương pháp thực hiện và biện pháp xử lý. Giám sát mang tính quyền lực nhà nước là hình thức giám sát do cơ quan quyền lực nhà nước có thẩm quyền tiến hành đối với hoạt động xét xử của tòa án theo những nguyên tắc phân công quyền lực nhà nước do Hiến pháp và pháp luật quy định. Chủ thể tiến hành hoạt động giám sát theo hình thức này là Quốc hội. Để có thể xem xét giám sát của Quốc hội đối hoạt động xét xử của TAND có đạt được hiệu quả không đòi hỏi ta phải xem xét mục đích của giám sát. Mục đích của giám sát là phạm vi cho việc đánh giá các kết quả đã đạt được, còn mức độ gần với mục đích là mức độ của hiệu quả. Bởi vì, về mặt thực hiện mục đích của giám sát là tiêu chuẩn, thước đo trong việc đánh giá hiệu quả của nó, vì rằng mục đích bao giờ cũng xem xét việc đạt được kết quả thực tế nhất định; việc thu nhận thông tin cần thiết về chất lượng hoạt động của TAND, về chất lượng của quyết định của tòa án, về việc thi hành, chấp hành các quyết định đó. Việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật v.v... ở đây, mục đích chung của việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND là việc đảm bảo cho sự hoạt động đứng đắn, minh bạch, liên tục của từng cơ quan nhà nước, của từng người có chức vụ quyền hạn nói chung trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật quy định nhiệm vụ chức năng thẩm quyền của họ. Kết quả cuối cùng, tức là tổng thể các hậu quả khách quan của giám sát; là tiêu chuẩn chính của việc xác định hiệu quả của giám sát. giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND bao giờ cũng nhằm củng cố kỷ luật trong hoạt động xét xử,
  20. kỷ luật công tác, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ thẩm phán cũng như đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Hiệu quả của giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử, trước hết cần phải được đánh giá theo các kết quả cuối cùng của nó. Để đạt được kết quả như vậy, đòi hỏi Quốc hội phải có sự hiểu biết về nội dung cụ thể trong hoạt động của TAND. Chúng ta không thể suy xét được về các kết quả của giám sát, nếu thiếu việc làm sáng tỏ các hậu quả thực tế do sự giám sát đưa đến đối với nội dung hoạt động của khách thể hoặc của vụ việc bị giám sát. Việc cân nhắc hậu quả thực tế là rất cần thiết đối với hoạt động giám sát của Quốc hội, bởi vì hiệu quả của giám sát được hiểu là việc đạt được kết quả tích cực của giám sát, chứ không phải là việc đạt được mọi kết quả tích cực. Nếu như giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND phát hiện được thiếu sót hoặc vi phạm, làm rõ ai có lỗi trong các thiếu sót, vi phạm đó, thì cơ quan giám sát không chỉ có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định, mà còn phải chỉ ra phương thức và biện pháp cải tiến công việc cũng như ra nghị quyết hủy bỏ những văn bản sai, và sau đó kiểm tra điều đó đã được thực hiện trên thực tiễn hay chưa. Mục đích của giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử không phải là phát hiện và ghi nhận các thiếu sót, không phải thu thập các thông tin khác nhau để xử lý từng vụ việc, mà thông qua đó để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và sự đúng đắn cho hoạt động thi hành pháp luật. Các kết quả giám sát sẽ không chính xác, nếu nh ư khi đánh giá chúng không cân nhắc các chi phí đi kèm theo việc thực hiện giám sát; độ dài về mặt thời gian giám sát, số lượng người tham gia giám sát, các loại chi phí khác... Các chi phí cho việc tiến hành sự giám sát có thể lớn hoặc nhỏ và chúng cần phải được đo lường với các kết quả của giám sát. Mức độ hiệu quả của giám sát càng cao nếu việc đạt được kết quả tốt đòi hỏi sự chi phí thấp. 1.2.2. Nội dung quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Với tư cách là một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có quyền quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan; Chủ tịch nước. UBTVQH, Chính phủ, TAND. Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan chính quyền địa phương và giám sát hoạt động của cơ quan đó, Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước. Chủ tịch Quốc hội, UBTVQH,

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản