Luận văn: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Chia sẻ: Van Hai | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:107

0
72
lượt xem
23
download

Luận văn: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam được thực hiện nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vai trò của Nhà nước trong việc ban hành khung pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ tín dụng; về hệ thống pháp luật; về tín dụng NHTM, từ đó đề xuất phương hướng, quan điểm và các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng các NHTM.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

  1. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.    Lý do chọn đề tài: Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới và chuyển đổi sang cơ chế  kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.  Cho dù xây dựng kinh tế  thị  trường theo mô hình nào trong lịch sử  thì Nhà nước   cũng phải thực hiện nhiệm vụ có tầm quan trọng bậc nhất là cung cấp khung khổ  pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ  chế  thị  trường. Trong đó có khung luật pháp cho việc xây dựng và vận hành thị trường các  yếu tố  sản xuất quan trọng nhất như  lao động, vốn, đất đai, tài sản, khoa học   công nghệ…Về vấn đề này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành  Nghị  quyết số 48/NQ­TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về  chiến lược xây dựng và   hoàn thiện hệ  thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm   2020. Nghị quyết đã đánh giá thực trạng của hệ thống pháp luật nước ta, nguyên  nhân, định hướng và các giải pháp thực hiện chiến lược . Tín dụng nói chung và tín dụng NHTM nói riêng là chiếc cầu nối giữa cung và  cầu về  vốn trong nền kinh tế.Tín dụng NHTM có vai trò quan trọng trong việc  phát triển kinh tế đối với nước ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế  còn phát triển chủ yếu dựa vào vốn. Tín dụng NHTM là một mối quan hệ kinh tế  nên cần phải có một hành lang pháp lý.  Hành lang pháp lý cho hoạt động tín  dụng NHTM là toàn bộ  các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh  hành vi của các chủ  thể  tham gia vào mối quan hệ  tín dụng NHTM  …. Tín  dụng là mối quan hệ  dựa trên sự  chuyển giao tài sản, mục đích sử  dụng tài sản,  thế chấp, cầm cố, xử lý thu hồi nợ. Do đó đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý  đầy đủ  , thống nhất, minh bạch để  tín dụng NHTM có thể  vận hành một cách  thông suốt, mang lại lơi ích cho nền kinh tế.  Nhà nước ta trong gần ba mươi năm đổi mới đã đạt nhiều thành công trong việc  tạo lập hệ  thống pháp luật cho nền kinh tế  thị  trường vận hành và phát triển.  
  2. 2 Trong đó hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM cũng từng bước được  hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tiễn cũng chỉ ra hành lang pháp lý cho hoạt động tín  dụng của NHTM  ở Việt Nam hiện nay còn thiếu nhiều quy định cần thiết,   các quy định còn chưa đồng bộ, chồng chéo, thiếu tính thống nhất, có quy   định còn chưa khả thi, chưa theo kịp thực tiễn  như về điều kiện cho vay, thế  chấp, cầm cố tài sản, xử lý tài sản để thu hồi nợ….   Một khi hành lang pháp lý còn nhiều vấn đề như trên, các NHTM sẽ lúng túng  trong áp dụng luật pháp khi thẩm định các khoản tín dụng, việc thu hồi nợ  khi có rủi ro xảy ra gặp nhiều khó khăn…ảnh hưởng đến sự phát triển của  hoạt động tín dụng của NHTM.  Nếu những quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, có nhiều kẽ  hở thì sẽ rất khó khăn cho Ngân hàng trong các hoạt động nói chung và hoạt động  tín dụng  nói riêng. Với những văn bản pháp luật đầy đủ  rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo   điều kiện cho Ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực  này. Đây là cơ  sở  pháp lý để  Ngân hàng xử  lý các khiếu nại, tố  cáo khi có tranh  chấp xảy ra. Điều đó giúp Ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay .  Do đó nếu  chậm được hoàn thiện, hành lang pháp lý sẽ  không còn là con đường bằng  phẳng mà ngược lại sẽ là rào cản trong việc phát triển tín dụng NHTM, gây   ra nhiều vấn đề pháp lý cần phải giải quyết, gây ách tắc trong hoạt động tín  dụng NHTM, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của đất nước.  Từ  những lý do trên đây, tôi chọn đề  tài “Hoàn thiện hành lang pháp lý cho  hoạt động tín dụng của NHTM trong nền kinh tế  thị  trường định hướng   XHCN ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ – chuyên ngành Kinh tế chính trị. 2.   Tình hình nghiên cứu Vấn đề  tín dụng các NHTM đã được nghiên cứu trong rất nhiều công trình   khoa học của các tác giả trong nước. Một số công trình nghiên cứu cơ bản như: 
  3. 3 ­ Giải pháp hoàn thiện quan hệ tín dụng giữa NHTM với các doanh nghiệp ở  Việt Nam ­ Lê Thị Thanh Hà. Trường Đại Học Kinh Tế, 2003 . Trong công trình  này, tác giả  trình bày những lý luận cơ bản, nêu một số thực trạng về hoạt đông  tín dụng   tại các NHTM tại Việt Nam cũng như  đưa ra các giải pháp để  hoàn  thiện quan hệ tín dụng giữa NHTM với các doanh nghiệp ở Việt Nam ­ Giải Pháp Mở Rộng và Phát Triển Hình Thức Tín Dụng Ngân Hàng trong  Sự  nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ­ Lê Minh Vũ. ­ TP.HCM :  Trường Đại Học Kinh Tế, 2001. Với công trình này, ngoài  những lý luận cơ bản,  một số  thực trạng về  hoạt đông tín dụng  tại các NHTM tại Việt Nam, tác giả  đưa ra các giải pháp mở  rộng và phát triển các hình thức tín dụng Ngân hàng  ở  Việt Nam. ­ Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM  Việt Nam : Luận văn thạc sĩ ­ Trần Thị  Ngọc Hạnh ; người hướng dẫn: TS  Nguyễn Thị Loan. ­ TP.HCM : Trường Đại Học Kinh Tế, 2012. Trong nghiên cứu  này tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cũng như đề ra các  giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam ­ Hoàn thiện hệ  thống pháp luật đáp  ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp  quyền XHCN ­ PGS, TS Hà Hùng Cường, 2008, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.  Trong nghiên cứu này, tác giả  phân tích thực trạng chung và các giải pháp hoàn   thiện hệ thống pháp luật nói chung của nước ta ­  Thực trạng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã   hội chủ  nghĩa  ở  Việt nam­ TS Đinh Văn Ân, 2006, Cổng thông tin Viện nghiên   cứu quản lý kinh tế Trung ương. Một số vấn đề  về  xây dựng pháp luật cho kinh  tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được tác giả phân tích .      Tuy nhiên các công trình trên chưa đi sâu phân tích thực trạng  cũng như đề ra   các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động  tín dụng  của các NHTM.
  4. 4 Trong luận văn của này, tác giả  kế  thừa những thành quả  của những nghiên  cứu trước, đồng thời cố  gắng làm rõ những lý luận cơ  bản , hệ  thống hóa các  vấn đề  về  thực trạng hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng NHTM tại   Việt Nam cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện. 3.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1.  Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là những vấn đề  cơ  bản   thuộc về khung pháp lý mà Nhà nước đã ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ tín  dụng giữa các NHTM và khách hàng. 3.2. Phạm vi nghiên cứu và giới hạn Luận văn nghiên cứu thực trạng hệ thống các văn bản pháp luật dưới góc độ tín   dụng của các NHTM . Tín dụng ngân hàng là hoạt động trung gian tài chính huy động  vốn của xã hội để cho vay đối với nền kinh tế . Cấp tín dụng của NHTM bao gồm   nhiều nghiệp vụ  như : cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có   giá... nhưng thực tiễn khi nói đến tín dụng ngân hàng là nói đến hoạt động cho vay.   Do đó luận văn này chỉ  nghiên cứu dưới góc độ  huy động vốn và cho vay của các  NHTM. 4.     Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về vai trò của Nhà  nước trong việc ban hành khung pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ tín dụng; về  hệ thống pháp luật; về tín dụng NHTM, từ đó đề xuất phương hướng, quan điểm  và các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng   các NHTM. 5.    Nhiệm vụ nghiên cứu :
  5. 5 ­ Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản như vai trò của Nhà nước trong việc   ban hành hệ  thống pháp luật trong nền kinh tế  thị  trường ; hành lang pháp lý  ở  nước ta cho  tín dụng NHTM. ­ Phân tích thực trạng hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta điều chỉnh mối  quan hệ tín dụng NHTM ở nước ta từ năm 1986 đến nay tức là giai đoạn xây dựng   kinh tế thị trường. Trên  cơ  sở   những  phân  tích về   lý  luận,   thực  tiễn  có  những đề   xuất phương   hướng, quan điểm và các giải pháp chủ  yếu để  hoàn thiện hành lang pháp lý cho   hoạt động tín dụng các NHTM ở nước ta. 6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6.1  Phương pháp luận Luận văn dựa trên nền tảng thế  giới quan, phương pháp luận duy vật biện   chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học của chủ  nghĩa   Mác­Lênin và tư  tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,   các nguyên lý của kinh tế chính trị Mác ­ Lênin 6.2 Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp phân tích so sánh và suy luận logic để  tổng hợp các dữ  liệu,  sự kiện nhằm xác định kết quả phù hợp. ­ Phương pháp tổng hợp các phần nghiên cứu để đưa luận điểm khoa học. ­ Phương pháp thống kê mô tả  7. Kết cấu của luận văn Chương 1: Lý luận chung về NHTM và hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng   NHTM.trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
  6. 6 Chương 2:  Thực trạng hệ  thống hành lang pháp lý điều chỉnh mối quan hệ  tín  dụng NHTM ở nước ta Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hành lang pháp lý cho   hoạt động tín dụng NHTM ở nước ta.
  7. 7 CHƯƠNG   I   :   LÝ   LUẬN   CHUNG   VỀ   NGÂN   HÀNG   THƯƠNG   MẠI   VÀ   HÀNH   LANG   PHÁP   LÝ   CHO   HOẠT   ĐỘNG   TÍN   DỤNG   NGÂN   HÀNG  THƯƠNG   MẠI   TRONG   NỀN   KINH   TẾ   THỊ   TRƯỜNG   ĐỊNH   HƯỚNG  XHCN 1.1 Tổng quan về NHTM : 1.1.1 Khái niệm  Ngân hàng là một loại hình trung gian tài chính của nền kinh tế  mà hoạt   động cốt lõi, mang bản chất ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và thanh   toán Từ khi ra đời từ thế kỷ thứ 15 cho đến nay, thuật ngữ ngân hàng không cố định   mà có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Khi mới hình thành khái niệm  ngân hàng dùng để chỉ các tổ chức chuyên nhận tiền gửi và sử dụng tiền đó để  cho vay. Sự  phát triển của nền kinh tế đã cho ra đời nhiều loại hình tổ  chức   khác nhau có phương thức kinh doanh tiền tệ đa dạng phong phú nên thuật ngữ 
  8. 8 “Ngân hàng” trở nên hạn hẹp, không bao trùm hết được, vì vậy xu hướng trên  thế  giới sử  dụng thuật ngữ  “ Định Chế  tài chính”  có phạm vi rộng hơn, bao   quát hơn Định Chế tài chính được hiểu là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó  là các tài sản tài chính, các hình thức trái quyền như  cổ  phiếu, trái phiếu các  khoản vay… Có thể khái quát về ngân hàng thông qua các điểm sau : Thứ  nhất : Ngân hàng là một loại hình trung gian tài chính của nền kinh tế  (cần phân biệt các khái niệm định chế tài chính­trung gian tài chính) Tuy nhiên  là loại trung gian tài chính quan trọng nhất ( so sánh về số lượng cũng như quy   mô phát triển) Thứ hai : Hoạt động cốt lõi, mang bản chất ngân hàng là nhận tiền gửi, cấp tín  dụng và thanh toán. Đây là hoạt động có tính truyền thống hình thành lâu đời,  thể hiện đặc trưng riêng biệt của ngân hàng Theo thời gian , hoạt động của các ngân hàng ngày càng mở  rộng hơn so với   các hoạt động cốt lõi mang tính truyền thống của nó trở  thành loại hình ngân  hàng đa năng, cung cấp những sản phẩm đa dạng, từ việc nhận tiền gửi, cung  cấp dịch vụ thanh toán, cho vay thương mại, cho vay xuất nhập khẩu..cho đến  tài trợ các vụ mua bán, sát nhập công ty , tư vấn đầu tư giám hộ, mua bán kinh   doanh chứng khoán (tự doanh), bảo hiểm.   Luật về  ngân hàng tại Việt nam không sử  dụng thuật ngữ  Định chế  tài chính  mà thay thế  bằng thuật ngữ  Tổ  chức tín dụng. Theo đó các loại hình tổ  chức   tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng   tài chính vi mô và quỹ  tín dụng nhân dân. Trong số  đó ngân hàng là loại hình  phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ đông đảo nhất. Luật quy định Ngân hàng là tổ chức  tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng bao gồm : ngân hàng  thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
  9. 9 1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng trong nền kinh tế hiện đại Với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa rủi ro, kinh doanh ngân hàng  có những đặc trưng cơ bản sau đây :  Thứ nhất kinh doanh ngân hàng là kinh doanh có điều kiện So với những hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực khác, có thể  nói kinh  doanh ngân hàng phải tuân thủ những điều kiện khắt khe về vốn pháp định, về  bộ máy tổ  chức hoạt động, về  phạm vi các nghiệp vụ  kinh doanh được phép,  không được phép thực hiện…Có thể  lý giải điều này là vì lĩnh vực tài chính   tiền tệ  là một lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến hầu hết các ngành nghề  trong nền kinh tế . Ngân hàng được ví như  hệ  thần kinh của nền kinh tế, bởi  bất kỳ một biến động nào của hệ thống ngân hàng cũng có ảnh hưởng theo hai  chiều ngược lại đối với toàn bộ  nền kinh tế. Mặt khác hoạt động ngân hàng  có tính lan truyền rất cao. Vì vậy những quy định khắt khe trong kinh doanh  ngân hàng là cần thiết nhằm tạo ra một môi trường lành mạnh, không chỉ  có  lợi cho từng tổ chức tín dụng/ ngân hàng mà còn cho sự ổn định chung của hệ  thống và nền kinh tế Những điều kiện cơ  bản quy định trong kinh doanh ngân hàng gồm có  :Quy  định về  mức   vốn pháp định khi thành lập ngân hàng; Quy định về  các mức   đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng; Quy định về phạm vi hoạt động   được phép của ngân hàng...  Thứ hai: đối tượng kinh doanh của ngân hàng là các tài sản tài chính Thực chất kinh doanh ngân hàng là việc sản xuất, buôn bán, quản lý , lưu  thông và sử dụng tiền cùng các tài sản tài chính Tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp vào quá trình sản  xuất hàng hóa dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các giấy tờ có giá…Các loại   tài sản này chỉ  là những chứng chỉ  bằng giấy hoặc có thể  là những dữ  liệu  
  10. 10 trong máy tính sổ sách. Cụ thể hơn, tài sản tài chính là những tài sản có giá trị  không dựa vào nội dung vật chất của nó (giống như  bất động sản gồm nhà   cửa, đất đai) mà dựa vào các quan hệ trên thị trường, chẳng hạn như cổ phiếu,  trái phiếu, các giấy tờ có giá khác Thứ ba : Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính chất trung gian Tính chất trung gian (intermediaries)  trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ  việc ngân hàng làm trung gian giữa người gửi tiền (Depositor) và người vay   tiền (Borrowers) . Có thể  phân tích tính chất này trên nhiều khía cạnh khác  nhau cụ thể, Đó là : Trung gian về mệnh giá : ngân hàng là tổ chức tín dụng thu thập nhiều khoản   tiền tiết kiệm nhỏ  lẻ…của nhiều tầng lớp, chủ  thể trong nền kinh tế , hình   thành nên quỹ  cho vay và có thể  cung cấp những khoản tín dụng quy mô lớn  cho các chủ thể như công ty, chính quyền… Trung gian về kỳ hạn : quỹ cho vay của ngân hàng được hình thành từ  những  khoản tiền gửi có các loại kỳ  hạn khác nhau, thậm chí không có kỳ  hạn, đã  được ngân hàng chuyển thành những khoản cho vay ra với các kỳ  hạn khác  nhau thỏa mãn nhu cầu người sử dụng, đặc biệt là những khoản vay  trung dài  hạn mà thời hạn có thể lên tới vài chục năm. Điều này dĩ nhiên tiềm ẩn nhiều   rủi ro ngân hàng.Tuy nhiên bằng nhiều kỹ  thuật quản trị  hiện đại, các ngân   hàng có hóa giải được mâu thuẫn này để  thực hiện vai trò trung gian kỳ  hạn   của mình. Với tính chất này, ngân hàng đã hóa giải được mâu thuẫn tồn tại tất  yếu từ  hai phía khách hàng: người gửi tiền thì hầu hết muốn gửi tiền có kỳ  hạn ngắn, trong khi người vay tiền thì muốn sử dụng trong thời gian dài. Trung gian lãi suất:Ngân hàng được xem là các tổ chức kinh doanh chênh lệch  lãi suất. Lãi suất ngân hàng trả  cho người gửi tiền là lãi suất đầu vào còn lãi  suất ngân hàng là lãi suất đầu ra.Những chi phí hoạt động ngân hàng bỏ ra, phí   bù đắp cho rủi ro khi cho vay và lợi nhuận của ngân hàng nằm trong khoản  
  11. 11 chênh lệch giữa lãi suất ngân hàng thu được và lãi suất ngân hàng phải trả cho  người gửi tiền.  Trung gian thanh khoản: thanh khoản là yêu cầu của con người đối với hầu   hết các loại tài sản đang nắm giữ.Tuy nhiên nhu cầu thanh khoản của mọi   người lại không giống nhau. Với người gửi tiền, có thể  thỏa thuận gửi tiền   theo kỳ  hạn, nhưng có thể  thay đổi theo thời gian bởi các biến cố  không dự  kiến được từ nền kinh tế, từ  xã hội họ  vẫn muốn rút ra bất kỳ  lúc nào, thậm  chí chấp nhận chịu phạt hoặc không được hưởng lãi. Người đi vay do đầu tư  vào các dự án, phương án kinh doanh nên chỉ muốn hoàn trả khi dự án, phương   án kinh doanh kết thúc và có lợi nhuận, thậm chí nhiều khi muốn tiếp tục xoay  vòng vốn, trì hoãn việc trả nợ…   Ngoài các nội dung trên, ngân hàng còn thực hiện các hoạt động trung gian  thông tin, trung gian rủi ro… Thứ tư : Hoạt động ngân hàng chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường Hoạt động của các ngân hàng liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ  trong phạm vi một nước mà liên quan đến nhiều nước để  hỗ  trợ  cho hoạt   động kinh tế  đối ngoại; do vậy kinh doanh trong hệ thống ngân hàng chịu sự  chi phối của nhiều yếu tố trong nước như : môi trường pháp luật, môi trường  kinh tế… đặc biệt là chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở  tài chính, trong đó có công nghệ  thông tin đóng vai trò cực kỳ  quan trọng, có  tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Mặt  khác , xu thế  hội nhập quốc tế buộc các ngân hàng phải hiểu rõ về  tập quán  kinh doanh của các nước, thông lệ  quốc tế, trong đó các quy định của  ủy ban  Basel (Ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng) là không thể thiếu được Thứ năm: hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh đặc biệt có rủi ro hệ  thống cao
  12. 12 Mặc dù ngân hàng là một doanh nghiệp , nên mục đích sau cùng là hướng tới   lợi nhuận, tuy nhiên hoạt động của ngân hàng có ý nghĩa to lớn đối với nền   kinh tế , đặc biệt, hoạt động  cấp tín dụng không chỉ đơn thuần vì túi tiền của  riêng ngân hàng mà quan trọng hơn nó được xem là đòn bẩy phát triển kinh tế,  chính vì thế chịu sự chi phối rất mạnh mẽ của pháp luật So với các ngành kinh doanh khác, kinh doanh ngân hàng có mức độ  tập trung   rất cao.Đặc trưng này thể hiện tất cả các quốc gia trên thế giới, không loại trừ  Việt nam. Mỗi một ngân hàng thường có một tổ  chức rộng rãi với hội sở  và  mạng lưới nhiều chi nhánh lan tỏa khắp nơi. Điều này vừa tạo thuận lợi vừa   gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình quản trị  mạng lưới hoạt động của  mình sao cho hiệu quả nhất Như  mọi ngành dịch vụ  khác, sản phẩm của ngân hàng là sản phẩm vô hình,  khách hàng không thể cân đọng đo đếm mà chỉ  “cảm nhận” được chất lượng  của nó. Vì vậy, sự thành công trong kinh doanh ngân hàng phụ thuộc rất nhiều   vào long tin dân chúng. Do tài chính, tiền tệ  là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy  cảm, chịu tác động bới rất nhiều nhân tố  về  kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý  truyền thống văn hóa … vì vậy , sự thay đổi dù nhỏ nhất của bất kỳ một nhân  tố nào cũng đều ảnh hưởng rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh  doanh chung của ngân hàng, gây đổ  vỡ  luôn chính ngân hàng này do tác động   dây chuyền 1.1.3 Chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường : 1.1.3.1  Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của  NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là   cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này,  NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và   hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho  
  13. 13 vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả  các bên tham gia: người gửi tiền và  người đi vay... 1.1.3.2   Chức năng trung gian thanh toán Ở  đây NHTM đóng vai trò là thủ  quỹ  cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực  hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như  trích tiền từ  tài khoản   tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản   tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của   họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi  như  séc,  ủy nhiệm chi,  ủy nhiệm thu, thẻ  rút tiền, thẻ  thanh toán, thẻ  tín  dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh  toán phù hợp. Các chủ  thể  kinh tế  sẽ  tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời   gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy  lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó   góp phần phát triển kinh tế. 1.1.3.3   Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với   mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát  triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ  kinh doanh mang tính đặc thù của   mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là   chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian  tín dụng, ngân hàng sử  dụng số  vốn huy động được để  cho vay, số  tiền cho   vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong  khi số  dư  trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là  một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán   dịch vụ… Với chức năng này, hệ  thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện  
  14. 14 thanh toán trong nền kinh tế, đáp  ứng nhu cầu thanh toán, chi trả  của xã hội.  NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương  đã áp dụng đối với NHTM. do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này   khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. 1.1.4 Các nghiệp vụ NHTM    Nghiệp vụ  nội bảng là những nghiệp vụ  trực tiếp tác động đến hai phía  (nợ và có) trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Bất kỳ một nghiệp vụ nào   trong số  các nghiệp vụ  này xuất hiện đều làm cho cân đối kế  toán của ngân  hàng thay đổi. Hầu hết các nghiệp vụ  truyền thống của ngân hàng nằm trong   số này  Nghiệp vụ  ngoại bảng thông thường bao gồm các hoạt động không dung  đến nguồn vốn, vì vậy khi những nghiệp vụ  thuộc dạng này phát sinh, chúng  không ảnh hưởng đến bảng cân đối của ngân hàng nhưng vẫn có thể mang lại   những nguồn thu nhập cho ngân hàng, như  các dịch vụ  thu hoa hồng phí, tư  vấn kinh doanh ngoại tệ, bảo quản vật có giá, bảo lãnh, chấp nhận…. Phần dưới đây chúng ta sẽ đi sâu vào cách phân loại phổ biến nhất, đó là phân  loại theo cách hạch toán trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng 1.1.4.1 Nghiệp vụ nội bảng Bảng 1 : Bảng cân đối kế toán (tóm lược) của một NHTM Tài sản Tài sản nợ và vốn 1.Dự trữ tiền 1. Tiền gửi khách hàng Tiền mặt Tiền gửi giao dịch Tiền gửi tại ngân hàng trung ương Tiền gửi phi giao dịch Tiền gửi tại các TCTD 2. Vay thị trường tài chính 2. Cho vay khách hàng 3.Vốn chủ sở hữu 3. Đầu tư Vốn điều lệ
  15. 15 4. Tài sản cố định Quĩ và lãi không chia 5. Tài sản khác 4. Tài sản nợ khác Tổng tài sản Tổng tài sản nợ và vốn 1.1.4.2  Nghiệp vụ tài sản có 1.1.4.2.1 Dự trữ bằng tiền :     Vai trò của dự  trữ  bằng tiền là đảm bảo khả  năng thanh toán. Đặc điểm   của nghiệp vụ  này là không hoặc ít sinh lời, nên các ngân hàng luôn tìm cách  duy trì chúng  ở  mức tối thiểu. Dự  trữ  của ngân hàng thường được lưu giũ  dưới dạng tiền mặt tại quỹ hoặc tiền gửi tại ngân hàng trung ương và các tổ  chức tài chính khác. Qui mô nguồn vốn, tính chất các nguồn, tính chất khách   hàng và qui định về đảm bảo thanh khoản là  những yếu tố ảnh hưởng đến qui  mô và  tỷ trọng của loại tài sản này 1.1.4.2.2 Tín dụng Đây là nghiệp vụ  sinh lời chủ yếu của các ngân hàng nên chiếm tỷ  trọng lớn   nhất trong các nghiệp vụ  về  sử dụng nguồn vốn . Về phương diện quản trị,   khoản mục tín dụng được xem là những tài sản có rủi ro sinh lời của NHTM ,   nhất là các ngân hàng qui mô nhỏ, tỷ  trọng tài sản được lưu giữ  dưới khoản   mục tín dụng vẫn còn khá cao. Tuy nhiên xu hướng của các ngân hàng hiện đại  là sẽ  giảm dần tỷ  trọng của khoản mục này, nhằm hạn chế  những hậu quả  xấu bởi các rủi ro tất yếu do tín dụng mang lại. các yếu tố   ảnh hưởng đến   nghiệp vụ này là: đặc điểm thị  trường, nguồn vốn, qui định của Nhà nước về  hạot động tín dụng ngân hàng, vị  thế  cạnh tranh và lãi suất mà ngân hàng áp  dụng Ở đây cần dành ít thời gian để làm rõ khái niệm Tín dụng và Tín dụng ngân   hàng . Tín dụng trong tiếng Anh là Credit. Theo nhiều cuốn Từ điển tiếng Việt  thì   hầu   hết     được   giải   thích   là   việc   cho   vay   và   mượn   tiền.   Theo   trang 
  16. 16 vi.wikipedia.org thì ”Tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn   tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ  hoàn trả  tài  chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi  suất”. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì : ”Về mặt tài chính, tín dụng là quan   hệ  chuyển nhượng quyền sử  dụng vốn từ  người sở  hữu sang cho người sử  dụng trong một thời hạn nhất định với một chi phí nhất định ”  và  ” Tín dụng  ngân hàng là quan hệ tín dụng  phát sinh giữa ngân hàng và khách hàng, theo đó  có thể  là quan hệ  cho vay của ngân hàng đối với hoặc quan hệ  gởi tiền của   khách hàng vào ngân hàng ”. Một số sách chỉ cho rằng tín dụng ngân hàng  tập   trung vào quan hệ cho vay của ngân hàng  đối với khách hàng. Còn theo Luật các TCTD 2010 thì không có giải thích từ  tín dụng mà chỉ  giải thích cụm từ cấp tín dụng: ” Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ  chức,   cá nhân sử  dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử  dụng một khoản   tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê  tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ  cấp tín dụng  khác.” Thông thường trong các giáo trình , các nhà soạn sách thường đồng nhât  tín dụng với cho vay, còn các nghiệp vụ  chiết khấu, cho thuê tài chính, bao   thanh toán, bảo lãnh ngân hàng sẽ  được giảng  ở  các phần khác không thuộc   phần tín dụng. Tín dụng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội, được thể  hiện trên các phưong diện: ­Tín dụng ngân hàng đáp ứng vốn để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng   thời đầu tư phát triển kinh tế. Do quá trình tái sản xuất xã hội là thưòng xuyên và liên tục nên nhu cầu về  vốn thường xuyên  ở  mức độ  cao. Trong khi đó lại có tổ  chức, cá nhân có   nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời trong một thời gian nhất định.  Bên cần vốn thì  có thể vay được vốn với chi phí thấp và kịp thời để hoàn thành công việc của  mình, bên có vốn thì thu được khoản lợi trong thời gian mình không dùng tới  
  17. 17 khoản vốn đó. Hoạt động tín dụng ra đời biến các nguồn vốn tiền tệ tạm thời   nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh có  hiệu quả  cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng  như phục vụ cho mọi tầng lớp dân cư khi cần vốn. Thông qua tín dụng ngân hàng các nguồn vốn được tập trung và các nguồn vốn  đó được đưa vào quá trính sản xuất kinh doanh. Điều này khiến đầu tư  cho  nền kinh tế được mở rộng góp phần thúc đẩy, kích thích tăng trưởng kinh tế. ­Tín dụng ngân hàng là công cụ  thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập  trung sản xuất. Tín dụng ngân hàng là hoạt động đi vay để cho vay, làm nhiệm vụ đưa vốn từ  nơi thừa đến nơi thiếu. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho ngân hàng đầu tư  vào các  ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Trong quá trình đầu tư, tín dụng ngân hàng không chia đều cho mọi chủ thể có  nhu cầu mà việc  đầu tư  được  thực hiện một cách tập trung chủ  yếu vào  những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Đầu tư  tập trung là quá trình tất  yếu vừa đảm bảo tránh rủi ro, vừa thúc đẩy được quá trình tăng trưởng kinh   tế. ­Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá, tiền tệ,  điều tiết trong lưu thông và kiểm soát lạm phát. Tín dụng ngân hàng sẽ  làm cho hàng hóa , dịch vụ  được tiêu thụ  nhanh hơn,   nhiều hơn. Qua đó thúc đẩy luân chuyển hàng hóa , tiền tệ. Việc điều hoà vốn  tín dụng trong nền kinh tế  không chỉ  là giải quyết mối quan hệ cung cầu về  vốn trong nền kinh tế  mà còn tạo điều kiện để  mở  rộng phạm vi thanh toán  không dùng tiền mặt và hạn chế việc sử dụng tiền mặt, từ đó tiết kiệm được 
  18. 18 chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần vào việc điều hoà và ổn định lưu thông  tiền tệ, đồng thời kiểm soát được lạm phát. ­Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với   nước ngoài. Quá trình phát triển kinh tế  của mỗi nước đều gắn liền với thị  trường thế  giới.  Tín dụng ngân hàng được mở rộng sẽ kéo theo quan hệ đầu tư trong nền   kinh tế tăng khiến cho các quan hệ thương mại khác cũng tăng theo. Thông qua  quá trình nhận và cho vay, tài trợ, xuất nhập khẩu của các nước cấp tín dụng   cũng như các tổ chức tín dụng khác cũng tham gia trực tiếp vào quan hệ thanh  toán quốc tế. Đồng thời tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt động xuất nhập   khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và làm mối quan hệ  giữa các   nước trở nên tốt đẹp. 1.1.4.2.3 Đầu tư Đầu tư  có vị  trí quan trọng thứ  hai sau tín dụng bởi nó mang lại khoản thu  nhập lớn và đáng kể  của ngân hàng. Tuy nhiên cũng như  tín dụng, đầu tư  là  nghiệp vụ sinh lời nhưng hoạt động bị giới hạn do có độ rủi ro tiềm tàng cao.   Các ngân hàng có thể  tham gia góp vốn, mua cổ  phần của các doanh nghiệp,  các tổ chức tín dụng khác, kể cả việc góp vốn vào các công ty con, công ty liên  kết, quỹ đầu tư  hoặc mua các loại chứng khoán vốn, chứng khoán nợ  trên thị  trường như mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công  ty, cổ phiếu, các loại tín phiếu, của các tổ chức tài chính khác…. 1.1.4.3 Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn 1.1.4.3.1 Tiền gởi Đây là các khoản tiền của các tổ  chức, của dân cư  gửi vào ngân hàng với  những mục tiêu an toàn, hưởng lãi, hoặc hưởng các tiện ích của dịch vụ thanh   toán qua ngân hàng. Nguồn tiền gửi được xem là nguồn vốn chủ  yếu của các 
  19. 19 ngân hàng nhất là NHTM nên  tính ổn định của nguồn tiền gửi có ý nghĩa hết   sức quan trọng với các NH. 1.1.4.3.2 Vay trên thị trường tài chính và liên ngân hàng Đây là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng trong thị trường liên ngân hàng,  thông qua các hoạt động như  tái chiết khấu, vay qua đêm, với mục tiêu chủ  yếu là tăng khả  năng thanh toán cho các ngân hàng.Trên thực tế  một số  ngân  hàng nhỏ do thiếu khả năng huy động nguồn tiền gửi có thể dung vốn vay để  sử  dụng  vào hoạt  động  tín dụng.  Trong  khi  các  ngân  hàng  qui  mô  lớn,  có  thương hiệu lâu đời dùng nguồn huy động của mình để  cho vay lại các ngân  hàng nhỏ. Đây là một hạn chế trong hoạt động đi vay và cho vay của các ngân   hàng cần được quản lý. 1.1.4.3.3 Vốn tự có  Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất vừa cho thấy   qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảo bảo các khoản nợ của ngân   hàng đối với khách hàng. Mặc dù chiếm tỉ trọng tương đối nhỏ  trong tổng số  hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhưng vốn tự  có là một bộ  phận không  thể thiếu của NHTM để xây dựng trụ sở, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động   kinh doanh của NH, bảo đảm thanh toán cho người ký gửi   khi vỡ  nợ, góp   phần duy trì chức năng trả  nợ, là căn cứ  để  cơ  quan quản lý xem xét để  cấp  giấy phép hoạt động, thiết lập các chi nhánh, giới hạn tín dụng đầu tư … 1.1.4.4  Nghiệp vụ ngoại bảng  Các nghiệp vụ  này không thể  hiện trên bảng cân đối kế  toán của ngân hàng.   Phổ biến nhất trong số nghiệp vụ ngoại bảng là những cam kết của ngân hàng   đối với khách hàng Một số nghiếp vụ ngoại bảng phổ biến sau :  ­Nghiệp vụ thanh toán và quản lý ngân quỹ
  20. 20 ­Nghiệp vụ môi giới, trung gian chứng khoán, ngoại hối ­Nghiệp vụ bảo lãnh, cam kết ­Nghiệp vụ ủy thác ­Nghiệp vụ tư vấn ­Nghiệp vụ két sắt, bảo quản vật có giá Trong số  các nghiệp vụ  nêu trên, có một số  nghiệp vụ  ngân hàng chỉ  được  phép thực hiện khi thành lập các công ty con, công ty liên kết như  nghiệp vụ  môi   giới   chứng   khoán,   bảo   hiểm,   quản   lý   danh   mục   đầu   tư,   mua   bán   cổ  phiếu…Quy định này tùy thuộc vào luật ngân hàng của mỗi quốc gia  Hệ thống NHTM Việt Nam : Hệ thống NHTM Việt Nam được thành lập từ  sau nghị  định 53 của hội đồng   bộ  trưởng  ngày 26/3/1988, Trải qua hơn  35 năm hoạt động, các NHTM ngày  càng trưởng thành và phát triển. Hiện nay có các loại hình NHTM nhà nước ,   cổ phần , vốn nước ngoài và liên doanh. Nhìn chung các NHTM của Việt Nam  có hệ thống quản trị rủi ro còn chưa đáp ứng được yêu cầu thể  hiện qua tình   trạng nợ xấu trầm trọng hiện nay trong nền kinh tế. Các NHTM chưa phát huy  vai trò trung tâm thanh toán  vì tình trạng thanh toán không dùng tiền mặt vẫn  chưa phát triển. Các NHTM chưa phát huy tốt vai trò điều phối, cung ứng vốn   cho nền kinh tế thể hiện qua hiện tượng lúc thiếu vốn ( cách đây vài năm ) lúc   thừa vốn ( hiện nay ).  Theo trang vi.wikipedia.org  ngày 15/3/2014 thì danh sách các NHTM Việt Nam  ( Bao gồm cả các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, chi nhánh NH Liên doanh )  như tại Phụ lục 1 1.2     Hành lang pháp lý cho tín dụng NHTM trong nền kinh tế thị  trường : 1.2.1 Khái niệm hành lang pháp lý :

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản