intTypePromotion=1

Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:137

0
310
lượt xem
117
download

Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

 Mục đích nghiên cứu của luận văn "Quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ" là: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục đại học và thực tiễn quản lý của Nhà trường, làm rõ và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khi áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học An Giang, góp phân nâng cao nhận thức về công tác quản lý hoạt động tự học trong môi trường đại học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

  1. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI  HỌC AN GIANG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ  TÍN CHỈ  1
  2. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh nhân loại đã và đang bước vào kỷ nguyên của công  nghệ thông tin cùng với nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá mạnh   mẽ, giáo dục và đào tạo đang diễn ra những biến đổi sâu sắ c trên quy mô toàn cầu.  Đại hội  Đảng toàn quốc lần thứ  X  đã  quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh  tế  tri thức, tạo nền tảng  để  đưa nước ta cơ  bản trở  thành một nước  công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trước đó, tại Báo cáo  chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII ­ Đảng Cộng sản Việt  Nam đã khẳng định các nguồn lực tác động đến sự  phát triển của xã hội   ta trong giai đoạn hiện nay gồm: nguồn lực con người Việt Nam; nguồn   tài nguyên thiên nhiên; cơ sở vật chất kỹ thuật; các nguồn lực ngoài nước.  Trong các nguồn lực đó, Đảng ta khẳng định nguồn lực con người  là  nguồn lực quan trọng nhất và đóng vai trò then chốt. Nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất biết tư  duy sáng tạo,  có ý chí và có trí tuệ, biết sử dụng và vận dụng các nguồn lực khác, gắn  kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng góp phần tác   động vào quá trình đổi mới đất nước. Các nguồn lực khác là hữu hạn, có   thể  bị  khai thác cạn kiệt, trong khi đó trí tuệ  con người là nguồn lực vô   tận. Đối   với   nước   ta,   phát   triển   nguồn   nhân   lực   để   thực   hiện   công  nghiệp hoá ­ hiện đại hoá đất nước đang là nhu cầu cấp bách, đòi hỏi   chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá.  Trong xu thế  toàn cầu hoá kinh tế, vấn đề  phát triển nguồn nhân lực  nhằm đáp ứng xu thế chuyển dần sang nền kinh tế tri thức đang được các  2
  3. nước ưu tiên. Trong đó, lao động tri thức là nhân lực đóng vai trò hàng đầu  của sự phát triển kinh tế. Dạy học được xem là con đường giáo dục cơ  bản nhất để  thực  hiện mục đích của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó tự học là phương  thức cơ bản để người học có được những hệ thống tri thức phong phú và  thiết thực. Tự học ­ tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi  người, đó cũng là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, được thể  hiện qua các câu thành ngữ, tục ngữ   "Học một,  biết mười", "Đi một   ngày đàng, học một  sàng khôn", "Học thầy không tày học bạn",... Chất  lượng và hiệu quả giáo dục được nâng lên khi tạo ra được năng lực sáng  tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự  giáo  dục. Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học. Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về việc "lấy tự học làm gốc" đã được  nhân dân ta luôn coi  trọng.  Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy  định  "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư   duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học,   khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"; "… đảm bảo   thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào tự học,   tự đào tạo..."; "… tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh" [9]. Nghị quyết số 14/2005/NQ­CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo  dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực   hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều   kiện thuận lợi để  người học tích luỹ  kiến thức, chuyển đổi ngành nghề,   liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước   ngoài”[10].  Để  đáp  ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước  trong thời kỳ  hội nhập quốc tế, trong đó, vấn đề  đổi mới phương thức  3
  4. đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng hiện đại hoá đã và đang trở thành  một yêu cầu cấp bách. Trường Đại học An Giang  đang trong cơ  chế  chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế  học phần sang phương   thức đào tạo theo học chế tín chỉ, điều này vừa đồng thời tạo ra vừa đòi  hỏi một sự thay đổi lớn về công tác quản lý đào tạo của Nhà trường. Đối   với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu   của sinh viên được coi là nhân tố  quan trọng, quyết định việc đẩy mạnh  chất lượng đào tạo của Trường. Tuy nhiên, thực tế  cho thấy chất lượng  đào tạo của Trường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã  hội, điều này có thể  do nhiều nguyên nhân chủ  quan, khách quan khác   nhau, trong đó, các biện pháp quản lý có thể là một trong những yếu tố tác  động không nhỏ  đến chất lượng đào tạo. Lý luận về  khoa học quản lý  cho thấy, hoạt động có ý thức của con người luôn bao hàm ý nghĩa của  quản lý. Để đạt được mục đích đề  ra, các biện pháp, phương thức quản  lý luôn được xem là một nhân tố  quan trọng. Xuất phát từ  cơ  sở  nhận   thức đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: " Quản lý hoạt động tự học  của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp  ứng yêu cầu đào tạo  theo học chế tín chỉ”. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở  nghiên cứu lý luận giáo dục đại học và thực tiễn quản  lý của Nhà trường, làm rõ và đề  xuất một số  biện pháp quản lý nhằm  nâng cao hiệu quả  hoạt động tự  học của sinh viên khi áp dụng phương  thức đào tạo theo học chế tín chỉ  ở Trường Đại học An Giang, góp phân  nâng cao nhận thức về  công tác quản lý hoạt động tự  học trong môi  trường đại học. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
  5. ­ Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài. ­ Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự học và công tác quản lý  hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang. ­ Đề  xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả  hoạt động tự  học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp  ứng yêu cầu đào tạo  theo học chế tín chỉ. 4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu Khách thể  nghiên cứu. Hoạt động tự  học của sinh viên trường Đại  học. Đối tượng nghiên cứu:  Các biện pháp quản lý hoạt động tự  học  của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp  ứng yêu cầu đào tạo theo  học chế tín chỉ. 5. Giả thuyết khoa học Hiện nay, kết quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học  An Giang  còn hạn chế. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ  quan   và khách quan. Nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học  An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ là điều cấp thiết.   Nếu áp dụng đầy đủ, đồng bộ  các biện pháp quản lý cùng với sự  đảm  bảo điều kiện vật chất cần thiết thì hoạt động tự học của sinh viên trong  điều kiện áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ đạt được   hiệu quả mong muốn, đảm bảo chất lượng đào tạo. 6. Phạm vi nghiên cứu ­ Căn cứ vào mục đích nghiên cứu đã đặt ra, nội dung luận văn tập   trung nghiên cứu thực trạng hoạt động tự  học của sinh viên năm thứ  II,  III, IV Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang (200 phiếu), nơi tác giả  5
  6. đã và đang trực tiếp làm việc; nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động tự  học của sinh viên đáp  ứng đào tạo theo hệ  thống tín chỉ  của Nhà trường   (40 giảng viên và cán bộ quản lý). ­ Trên cơ sở  phân tích đánh giá thực trạng, tác giả  đề  xuất các biện  pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên  Trường Đại  học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ trong giai đoạn  hiện nay.  7. Phương pháp nghiên cứu Để  thực hiện luận văn, tác giả  sử  dụng kết hợp nhiều phương   pháp nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội, trên cơ sở  thế giới quan   khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.  Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng gồm: ­  Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:  Nghiên cứu, phân tích  tổng hợp những tư liệu như: tư liệu về giáo dục học ­ tâm lý học, lý luận  về quản lý giáo dục, các văn bản về sinh viên, về tín chỉ. ­ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát,  phương   pháp   điều   tra   bảng   hỏi,   phương   pháp   tổng   kết   kinh   nghiệm,   phương pháp chuyên gia. ­ Nhóm các phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng các công thức toán  học như trung bình cộng, thống kê và phân tích số liệu,... 8. Giới hạn của đề tài Mục đích nghiên cứu đã xác định và sự  chi phối của các điều kiện   khách quan về nhận thức, về cơ chế đảm bảo, nên luận văn chỉ tập trung  nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên   Khoa Sư  phạm Trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiện nay, với   6
  7. hy vọng qua việc phân tích cho Khoa Sư  phạm sẽ  mở  rộng kết quả  cho   các Khoa khác trong giai đoạn tiếp theo. 9. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở  đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo,  phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chương 2:  Thực  trạng quản lý  hoạt  động tự  học của sinh  viên  Trường Đại học An Giang. Chương 3: Đề  xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự  học của  sinh viên Trường Đại học An Giang đáp  ứng yêu cầu đào tạo theo học  chế tín chỉ. Chương l CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò to  lớn thức đây sự tiến bộ của xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội của một   quốc gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát  triển giáo dục. Ý thức sâu sắc về  vai trò, tầm quan trọng của tri thức,   Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.  Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học  tập với phương hướng, con đường thực hiện là kết hợp đến trường, giáo  7
  8. dục từ  xa và tự  học. Trong đó tự  học để  trưởng thành là vô cùng quan  trọng. Một trong những đặc trưng cơ  bản quan trọng nhất trong xã hội   học tập là tư  tưởng tự  học tập suốt đời. Vì “Việc học không bao giờ  là   muộn" (Ngạn ngữ) hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học" (Đác­ uyn). Quan niệm tự  học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày  nay như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỷ 21 ­ thế giới của nền kinh tế tri thức. Chủ  tịch Hồ  Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề  giáo dục, vấn đề  học tập và rèn luyện. Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời  điểm, hoàn cảnh lịch sử  khác nhau nhưng bao giờ  Bác cũng nhấn mạnh  đến tác dụng và hiệu quả  to lớn của việc học tập và rèn luyện. Bác cho   rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu   biết, làm thay đổi hiệu quả  lao động. Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến  tác dụng của tự  học. Tại Hội nghị  toàn quốc lần thứ  nhất về  công tác  huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6 tháng 5 năm 1950, Bác đã khuyên  học viên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết   tự  động học tập”. Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về  công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập: "Lấy tự  học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo góp vào”[13, Tr.57]. Như vậy, theo  Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết   quả học tập. Việc tự học phải xuất phát từ động lực của chính bản thân   người học, nhưng vẫn cần sự  hỗ  trợ, tác động từ  môi trường học tập,   cần sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy. Nhằm đổi mới phương thức tổ chức đào tạo  ở  đại học trong điều  kiện Việt Nam chuyển đổi từ  nền kinh tế  kế  hoạch hoá tập trung sang   8
  9. nền kinh tế  thị  trường định hướng xã hội chủ  nghĩa, sau Hội nghị  Hiệu   trưởng  ở  Vũng Tàu năm 1988, Bộ  Đại học và Trung học chuyên nghiệp  (nay là Bộ  Giáo dục và Đào tạo) đã ban hành Quy chế tạm thời về quản   lý đào tạo làm cơ sở cho việc triển khai “quy trình đào tạo mới” theo học   phần và sau một vài năm áp dụng, quy chế  này được chính thức hoá vào  tháng 12 năm 1990. Học chế tín chỉ được khai sinh năm 1872, tại Viện Đại học Harvard  (Hoa Kỳ) dưới sự điều hành của Charles Eliot, xuất phát từ yêu cầu là quá  trình đào tạo được tổ  chức sao cho người học lựa chọn được cách học  phù hợp nhất với khả  năng, điều kiện của mình và cơ  sở  đào tạo phải  thích ứng dễ dàng trước nhu cầu biến động nhanh chóng, đa dạng của đời  sống xã hội. Với ý nghĩa đó, đào tạo theo học chế tín chỉ phát triển nhanh   và lan rộng ra toàn nước Mỹ. Từ  đầu thế  kỷ  XX, học chế  tín chỉ  phát   triển ra nhiều nước trên thế  giới, đặc biệt là ở  các nước đang phát triển  như: Nhật, Philippines, Indonesia, Malaysia,  Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan,   Đài Loan, Trung Quốc, Senegal, Mozambic, Nigieria, Uganda,… Tr ước sự  lớn mạnh đó, 29 Bộ  trưởng đặc cách giáo dục đại học  ở  các nước Liên  minh Châu Âu ký “Tuyên ngôn Boglona” với mục đích hình thành “Không   gian giáo dục đại học Châu Âu” (European Higher Education Area) nhằm   triển khai học chế tín chỉ trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học. Ở  Việt Nam, trước năm 1975, học chế  tín chỉ  được triển khai  ở  Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức. Sau năm 1975, tư tưởng  về  học phần xuất hiện năm 1987, quy chế  đào tạo theo học phần tạm   thời ra đời năm 1988 và hoàn chỉnh vào năm 1990 với khái niệm HỌC   PHẦN và ĐƠN VỊ HỌC TRÌNH, đào tạo theo 2 khối kiến thức và 3 học   phần, điểm trung bình chung. Học chế học phần được xây dựng với mục  9
  10. đích tạo điều kiện cho người học tích luỹ dần kiến thức theo các mô­đun.  Như vậy, học chế học phần có điểm giống nhau cơ  bản với học chế tín   chỉ, nhưng nó chưa phải hoàn toàn là tín chỉ  mà thực chất là sự  kết hợp  giữa niên chế và tín chỉ. Trường Đại học tiên phong áp dụng học chế học   phần triệt để ­ học chế tín chỉ là Trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí   Minh, năm học 1993 – 1994. Sau đó, các Đại học khác như  Đà Lạt, Cần   Thơ, Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, Thuỷ sản Nha Trang, Dân lập   Thăng Long – Hà Nội, Hải Phòng, Thương Mại, Nông Nghiệp Hà Nội,  Hoa Sen TP. Hồ  Chí Minh, Dân lập Phương Đông,… cũng đã triển khai  học chế  tín chỉ. Trong "Chương trình hành động của Chính phủ” thực  hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khoá XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội  về  giáo dục đã chỉ  rõ: "Mở  rộng, áp dụng học chế  tín chỉ  trong đào tạo   đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,...". Năm học 2009 – 2010, có  nhiều trường Đại học, Cao đẳng đang tích cực chuẩn bị đào tạo theo học  chế  tín chỉ  theo chủ  trương của Bộ  Giáo dục và Đào tạo. Sự  phát triển   này đánh dấu bước đổi mới đúng đắn của giáo dục đại học Việt Nam  [5,  tr.7]. Triết lý cơ  bản của hệ  thống tín chỉ  là "Tôn trọng người học, xem   người học là trung tâm của quá trình đào tạo". Nói cách khác, đào tạo  theo học chế  tín chỉ  là hình thức đào tạo hướng về  người học, tất cả  vì  người học. Chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế  tín chỉ  tạo ra sự  thay đổi lớn về  phương cách, thói quen dạy ­ học của người dạy lẫn   người học. Đối với hình thức đào tạo này thì khối lượng giờ  giảng trên  lớp sẽ giảm đi, mà sẽ tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.  Vì vậy, khi áp dụng đào tạo theo học chế  tín chỉ, việc tự  học, tự  nghiên  10
  11. cứu của sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu   quả  chất lượng đào tạo. Trường Đại học An Giang cũng đang tổ  chức  thực hiện chuyển đổi hình thức đào tạo từ  niên chế  học phần sang hình  thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Có thể thấy, trong nhiều tài liệu nghiên   cứu về  hoạt động tự  học, các nhà nghiên cứu đều khẳng định tự  học  không phải là một đề tài mới lạ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạt động tự  học trong học chế tín chỉ  vẫn còn là vấn đề  mới. Vì vậy, trong luận văn  này tác giả tập trung vào việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động  tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang nhằm nâng cao hiệu quả  hoạt động tự học, nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường theo học  chế tín chỉ. 1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài Để  xác định rõ cơ  sở  lý luận của vấn đề  nghiên cứu, chúng ta sẽ  tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài. 1.2.1. Hoạt động tự học 1.2.1.1. Khái niệm hoạt động học Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ  năng, kỹ  xảo và những phương thức hành vi mới, do vậy, ta thấy học chính là hoạt  động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền  vững. Để  lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều   cách thức chiếm lĩnh khác nhau. Đó có thể là do được người khác truyền  thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao động, môi trường sống,... Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày  và nó diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Cách học này diễn ra khi tiến hành công   việc qua lao động sản xuất, hoạt động vui chơi,. .. không có chủ định dẫn  đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ  rời rạc và không có hệ  11
  12. thống.  Ở  người  học chỉ  hình thành những năng lực thực tiễn do kinh  nghiệm mang lại. Nhưng thực tiễn để  có thể tự  cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân  con người  thì  đòi  hỏi con người  phải nắm  được  các quy luật của tự  nhiên, xã hội và quy luật về sự hình thành, phát triển con người. Nói một  cách khác, ngoài việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần   phải nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn   mới mà cách học ngẫu nhiên không tạo ra được. Để có được những năng  lực đó, người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để  thực hiện mục   tiêu đó là hoạt động học (học có chủ định). 1.2.1.2. Khái niệm tự học Tự  học (self­learning) là quá trình nỗ  lực chiếm lĩnh tri thức của  bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những   mục đích nhất định. Đã có nhiều nghiên cứu về  vấn đề  tự  học  ở  nhiều góc độ  khác   nhau. Dưới đây là một số  quan điểm của các nhà nghiên cứu về  vấn đề  này: Thông thường khái niệm "Tự  học" được hiểu là "Tự  học lấy một   mình trong sách chứ  không có thầy dạy"  (Theo Thanh Nghị, trong Việt  Nam tân từ điển) cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là   tự học". Tuy nhiên, theo tác giả  Nguyễn Hiến Lê, trong quyển  "Tự  học ­  một nhu cầu thời đại”  ông lại cho rằng khái niệm "Tự  học" nếu được  hiểu là "… không ai bắt buộc mà mình tự  tìm tòi, học hỏi để  hiểu biết   12
  13. thêm và có thầy hay không, ta không cần biết. Người tự  học hoàn toàn   làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó   mới là điều kiện quan trọng", ông cũng trích dẫn để  làm rõ hơn về  khái  niệm và tầm quan trọng của tự  học " Mỗi người đều nhận hai thứ  giáo   dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều,   do mình tự kiếm lấy". [26, Tr.39]. Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng   các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa   học nhất định" [15, Tr.3]. Quan điểm này, tác giả cho rằng tự học là việc học của chính bản   thân người học, chính họ  phải huy động các năng lực trí tuệ, các phẩm  chất tâm lý để chiếm lĩnh những tri thức khoa học của loài người và biến   những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy   nghĩ, sử  dụng các năng lực trí tuệ  và có cả  cơ  bắp cùng các phẩm chất   của mình, cả động cơ  tình cảm, nhân sinh quan, thế  giới quan để  chiếm   một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở   hữu của mình. Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu   muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ  lực của bản thân cố   gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [34, Tr.59]. Như vậy, tự  học là hình thức hoạt động nhận thức của người học  nhằm chiếm lĩnh tri thức, tự  mình luyện tập các thao tác, hành động để  hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Tự học giúp người học tự tìm ra tri thức mới,   cách thức hành động mới bằng chính nỗ  lực của bản thân mình. Tự  học  hình thành nên những con người năng động, sáng tạo. 13
  14. Các đề  tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây  thuộc ngành quản lý giáo dục cũng đã đề  cập đến vấn đề  tự  học, tự  nghiên cứu của sinh viên trong từng hoàn cảnh nhà trường cụ  thể, của   từng môi trường đào tạo ngành nghề chuyên biệt. Những luận văn này đã  đóng góp một phần tích cực trong các công tác quản lý của nhà trường với  hoạt động tự học nói riêng và của giáo dục nói chung. 1.2.2. Sinh viên Thuật ngữ  "sinh viên" có nguồn gốc từ  tiếng La­tinh "Student" có  nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác  tri thức. Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ  "Student" trong   tiếng Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Cmgenm"  trong tiếng Nga.   "Sinh viên" là để  chỉ  những người theo học  ở  bậc đại học và phân biệt   với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông. Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người  bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ  điển tiếng Việt, khái niệm  "sinh viên" được dùng để  chỉ  người học  ở  bậc đại học  [12]. Theo Quy  chế  công tác Học sinh Sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ  Giáo  dục và Đào tạo thì: " sinh viên" là người đang theo học hệ đại học và cao  đẳng.  Từ  đó ta có thể  hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang  học tập tại các trường đại học, cao đẳng ­ nơi đào tạo nguồn nhân lực  chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội. 1.2.3. Quản lý 1.2.3.1. Khái niệm quản lý Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo   từng nhóm đòi hỏi có sự  tổ  chức, điều khiển và phối hợp hành động.  14
  15. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành  khoa học nghiên cứu quản lý từ  góc độ  riêng của mình và đưa ra những  định nghĩa khác nhau. Chúng tôi sẽ  trình bày dưới đây một số định nghĩa,  quan niệm về "Quản lý" của các nhà triết học, nhà khoa học quản lý như  sau: Theo Harold Koontz: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm   bảo sự  phối hợp những nỗ  lực của cá nhân nhằm đạt được các mục   đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằn hình thành một   môi trường mà trong đó con người có thể  đạt được các mục đích của   nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất  và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với   tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ  thuật, còn kiến thức có   thể tổ chức về quản lý là một khoa học" [25, Tr.33]. Theo quan điểm của lý thuyết hệ  thống: “Quản lý là phương thức   tác động có chủ  đích của chủ  thể  quản lý lên hệ  thống bao gồm hệ  các   quy tắc ràng buộc về  hành vi đối với mọi đối tượng  ở  các cấp trong hệ   thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ  cấu và đưa hệ  sớm đạt tới   mục tiêu” [24]. "Quản lý (cai trị) là công việc của các bậc đại nhân. Đó là biết tập   hợp quanh mình những người hiền" (Mặc Tử, Trung Hoa). Theo H.Fayol (l841 ­ 1925), nhà tư tưởng Pháp: "Quản lý tức là lập   kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra".  F.W.Taylor (1856 ­ 1915), người được coi là "cha đẻ  của thuyết  quản lý khoa học" đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: "Mỗi loại   công việc dù nhỏ  nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt   chẽ". Theo ông: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần   làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất". 15
  16. Peter Drucker quan niệm: "Quản lý là một chức năng xã hội nhằm   để phát triển con người và xã hội với những hệ giá trị, nội dung, phương   pháp biến đổi không ngừng". Qua các định nghĩa và quan niệm về  “Quản lý” như  đã trình bày  ở  trên, ta thấy rằng trong hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố  đó là   chủ  thể quản lý và khách thể  quản lý. Chủ  thể  quản lý có thể  là một cá  nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ  chức để  tổ  chức vận hành và đạt được mục tiêu. Khách thể  quản lý là những  người chịu sự tác động, chỉ  đạo của chủ  thể quản lý nhằm đạt mục tiêu  chung. Quản lý có nhiều loại khác nhau, trong đó quản lý xã hội là phức  tạp nhất. Bởi vì, xã hội một mặt là hệ  thống trên của kinh tế, bao gồm  toàn bộ các hoạt động về kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, tinh thần, … nên nó chứa đựng tất cả  những sự  phức tạp của các đối tượng phải  quản lý; mặt khác trong quá trình quản lý xã hội còn có những quan hệ phi  kết cấu như quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan hệ xã hội nằm ngoài   phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các  đối tượng, các quan hệ  làm cho việc quản lý càng phức tạp và khó khăn   hơn. Do vậy, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ  thuật trong việc điều  khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô. 1.2.3.2. Chức năng quản lý Tiến trình quản lý là một phức hợp những kỹ năng có tính hệ thống  rất sinh động và phức tạp. Để  quản lý, chủ  thể  quản lý phải thực hiện   nhiều loại công việc khác nhau. Những loại công việc quản lý này gọi là  các chức năng quản lý. Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những  nhiệm vụ  quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình  16
  17. thành trong quá trình chuyên môn hoá hoạt động quản lý. Có 4 chức năng  cơ bản nhất là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. + Chức năng lập kế hoạch: Lập kế  hoạch là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ  chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về  cách thức để  đạt   được những mục tiêu, nhiệm vụ đó. Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên   và cơ bản nhất trong hệ thống chức năng quản lý theo giai đoạn, là cơ sở  của các chức năng còn lại. Để lập kế hoạch bao gồm có ba giai đoạn: . Xác định các mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức . Nhận diện các nguồn lực của tổ chức để  thực hiện các mục tiêu   đó . Quyết định về  những hoạt động cần thiết để  đạt được các mục  tiêu đã đề ra. + Chức năng tổ chức: Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng  liên kết với nhau trong một cơ  cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ  thống thống nhất như một cơ thể sống. Đó là sự  liên kết những cá nhân,  những quá trình, những hoạt động trong hệ  thống, thông qua đó để  thực  hiện các mục tiêu chung của hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc quản lý.  Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có  thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực. Tiến trình tổ  chức bao gồm việc thiết lập các bộ  phận, phòng ban  và xây dựng các bản mô tả  công việc. Vấn đề  nhân sự  cũng xuất phát  trực tiếp từ các chức năng lập kế hoạch và tổ chức. + Chức năng chỉ đạo: 17
  18. Chỉ  đạo là quá trình chủ  thể  quản lý sử  dụng quyền lực quản lý  của mình để  điều hành, tác động đến hành vi của các cá nhân, bộ  phận  trong hệ thống một cách có chủ đích để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn   đấu đạt được các mục tiêu chung của tổ chức. Nội dung cơ  bản của chức năng chỉ  đạo là chủ  thể  quản lý phải  thực hiện nhiệm vụ  ra quyết định và tổ  chức thực hiện quyết định đó.  Quá trình này bao gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc,   động viên, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ. + Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo  lường và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót,   tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục. Đồng thời, kiểm tra cũng   nhằm tìm kiếm các cơ  hội, các nguồn lực có thể  khai thác để  thúc đẩy  hoạt động của tổ chức. Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức   quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc  một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt   động   không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý sẽ  tiến hành  những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Vì vậy, để  đánh giá được hiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức   năng kiểm tra. Kiểm tra theo lý thuyết hệ  thống chính là thiết lập mối liên hệ  ngược trong quản lý. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: . Xây dựng chuẩn để thực hiện. . Đánh giá việc thực hiện dựa trên chính sách so với chuẩn. 18
  19. . Nếu kết quả  hoạt động có sự  chênh lệch so với chuẩn thì cần  điều chỉnh hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn. Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ  mật thiết  với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn  giai đoạn với sự  tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông  tin và quyết định. Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt   động quản lý đồng thời cũng là tiền đề  của một quá trình quản lý tiếp   theo. Hình 1.1. Sơ đồ chức năng của quản lý Kế  hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo 1.2.3.3. Vai trò quản lý Quản lý có vai trò quan trọng đối với sự  phát triển của xã hội. Từ  xa xưa, vai trò của quản lý đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói  dân gian: "Một người biết lo bằng cả kho người làm". Về  sau, Các­Mác  đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi   thực hiện trên một quy mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần   đến quản lý”, và ông hình dung quản lý giống như  công việc của người  nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng. Các nhà lý luận về  khoa học quản lý như  Taylor (l856 ­ 1915) của   Mỹ, Fayol (1841 ­ 1925) của Pháp và Max Weber (1864 ­ 1920) của Đức   19
  20. đều khẳng định rằng quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ  thuật thúc  đẩy sự phát triển xã hội. Trong xã hội, mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống đều có hoạt  động quản lý, ví dụ  như: quản lý giáo dục, quản lý kinh tế, quản lý văn  hoá, quản lý khoa học và công nghệ,... Mỗi lĩnh vực quản lý sẽ có nét đặc   thù riêng, song tựu trung lại đều có những nét về  bản chất và đặc trưng  chung của hoạt động quản lý và nó góp phần rất lớn vào việc nâng cao   chất lượng, hiệu quả nói chung của mỗi tổ chức cũng như công việc của  từng con người nói riêng trong một hệ thống nhất định. Trong chiến lược phát triển giáo dục, các nhà chuyên môn đã đưa ra  giải pháp tăng cường công tác quản lý giáo dục như một biện pháp chiến   lược mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ­  đào tạo. Hiện nay, cùng với sự bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật, việc  nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học mới vào hoạt động  quản lý sẽ  làm tăng hiệu quả  quản lý. Vì thế,  ở  khía cạnh này có thể  khẳng định rằng trong thực tại "Quản lý còn được xem là công nghệ  ­   công nghệ điều hành, phối hợp và sử  dụng các nguồn nhân lực, vật lực,   tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra" [20]. Ngày nay, mọi người đều thừa nhận tính tất yếu của quản lý. Đây  là một trong những hoạt động vừa khó khăn, phức tạp, vừa có ý nghĩa hết   sức quan trọng đối với sự  tồn tại, diệt vong, suy thoái hay thịnh vượng   của một tổ chức, một quốc gia, một châu lục hay toàn cầu. Thật vậy, năm học 2009 – 2010, ngoài các chương trình hành động  do Bộ  Giáo dục và Đào tạo phát động, còn có chủ  đề  tiêu biểu của năm   học là: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”. 1.2.4. Học chế tín chỉ 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2