intTypePromotion=3

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong các biểu tượng tôn giáo

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:118

0
61
lượt xem
26
download

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong các biểu tượng tôn giáo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong các biểu tượng tôn giáo nêu lên lý luận chung, phân loại các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo, so sánh hệ thống biểu tượng và giải mã một số biểu tượng tiêu biểu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong các biểu tượng tôn giáo

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Hương Thảo QUAN HỆ GIỮA CÁI BIỂU ĐẠT VÀ CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT TRONG CÁC BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
  2. LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến: Thầy Nguyễn Đức Dân, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Các thầy cô trong khoa Ngữ Văn và các cán bộ Phòng KHCN – SĐH, thư viện trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Cảm ơn linh mục Giuse Nguyễn Thể Hiện (nhà thờ Kỳ Đồng), TS. Thích Phước Đạt (Trưởng khoa Phật giáo Việt Nam tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại tp. HCM) đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về những vấn đề liên quan đến tôn giáo. Cảm ơn vợ chồng em Nguyễn Thành Nhân đã giúp tôi tìm những tài liệu liên quan để thực hiện đề tài này. Cảm ơn bạn Võ Trần Bạch Lê đã cùng tôi đến các nhà thờ và các ngôi chùa lớn tại tp.HCM chụp hình các biểu tượng. Cảm ơn gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và nghiên cứu. Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 Nguyễn Thị Hương Thảo
  3. DẪN NHẬP 1. Lí do chọn đề tài F. De Saussure nói rằng, mỗi kí hiệu gồm có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Quan hệ của chúng được coi là võ đoán. Tuy nhiên, những biểu tượng, một loại kí hiệu trong tôn giáo, thì giữa cái biểu đạt viết là Sa (phương diện hình thức của kí hiệu) và cái được biểu đạt viết là Se (phương diện nội dung của kí hiệu) lại có quan hệ rất mật thiết. Trong luận văn này, chúng tôi thử tìm hiểu, phân tích mối quan hệ đó trong những biểu tượng tôn giáo. Chúng ta đang sống trong một thế giới kí hiệu. Kí hiệu không chỉ là từ. Nó gồm hình ảnh, hình vẽ, màu sắc, âm thanh, cử chỉ, hương vị, các nghi thức lễ hội, cúng bái, các kiểu dệt áo quần…nghĩa là tất cả các phương tiện dùng để thông tin có thể mã hóa và chuyển thành thông điệp mà người khác tiếp nhận được. Ví dụ: Các kí hiệu âm nhạc, biển chỉ dẫn giao thông, các kí hiệu hóa học… Bản thân ngôn ngữ cũng là một hệ thống kí hiệu (ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu biểu hiện những ý niệm). Vì thế việc nghiên cứu kí hiệu đã được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên có nhiều lĩnh vực của bộ môn kí hiệu học chưa được quan tâm thỏa đáng. Thế nên trong luân văn này, chúng tôi chọn một phần nhỏ trong lĩnh vực kí hiệu học để nghiên cứu, cụ thể là: nghiên cứu mối quan hệ giữa hai mặt nội dung và hình thức của hệ thống biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo. Dọc theo lịch sử văn minh nhân loại, con người luôn tìm hiểu và lý giải thế giới xung quanh. Trong quá trình ấy, có những vấn đề rất trừu tượng, khó hiểu. Từ đó, con người đã sáng tạo việc dùng một hình ảnh này để thay thế cho một vật hay hiện tượng khác theo hướng đơn giản, dễ hiểu và gần gũi hơn. Ví dụ: Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình, cây thánh giá là biểu tượng của những người theo Cơ đốc giáo* (PL AII), tiên rồng là biểu tượng của dân tộc Việt, trái tim, hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, lá cờ là biểu tượng của một quốc gia, hai thanh gươm bắt chéo nhau là biểu tượng của chiến tranh, chiên con là biểu tượng chỉ Chúa Jesus, hoa sen là biểu tượng chỉ Đức Phật…Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ chức xã hội, tôn giáo, những phạm trù tinh thần, tâm linh…
  4. Biểu tượng gắn liền với ngành Kí hiệu học (Semiotics), Sémiotique trong tiếng Pháp có lúc được dùng với nghĩa kí hiệu học của những hệ thống kí hiệu phi ngôn ngữ, đặc biệt là kí hiệu học của những biểu tượng. Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các tôn giáo khác nhau, đôi lúc khi biểu đạt một nội dung nào đó cũng có sự trùng hợp trong việc sử dụng các phương tiện hình thức, rồi cùng nội dung nhưng hình thức khác và cũng có trường hợp hình thức giống nhau và nội dung giống nhau. Vì thế trong luận văn này ngoài việc tìm hiểu mối liên hệ giữa mặt nội dung và hình thức của các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu và so sánh hệ thống các biểu tượng chính trong hai tôn giáo trên (có so sánh với các biểu tượng của hai tôn giáo này tại Việt Nam). Việc làm này, nhằm tìm hiểu lịch sử hình thành, ý nghĩa cũng như những nét tương đồng và khác biệt của các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo. Đề tài này không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa mà còn giúp mọi người có cái nhìn chi tiết hơn về kí hiệu học (kí hiệu học không phải chỉ bó hẹp trong lĩnh vực ‘Ngôn ngữ kí hiệu’). 2. Lịch sử vấn đề Kí hiệu học có rất nhiều phân ngành nhỏ, và việc nghiên cứu biểu tượng đã được các học giả rất quan tâm. Tuy nhiên nghiên cứu vấn đề này thật không đơn giản, để có thể hiểu cách thức hình thành, lối xếp đặt, cũng như cách giải thích các biểu tượng không chỉ là nhiệm vụ của ngành kí hiệu học, ngôn ngữ học mà còn có sự đóng góp của các ngành khoa học khác như: khoa lịch sử các nền văn minh và các tôn giáo, khoa văn hóa nhân chủng học, khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm lí học, y học… Các học giả không chỉ nghiên cứu về các biểu tượng trong tôn giáo mà còn nghiên cứu về nhiều lĩnh vực khác của biểu tượng như: biểu tượng của giấc mơ, biểu tượng được dùng trong các ngành nghệ thuật, những biểu tượng y học, biểu tượng thiên văn học (chiêm tinh), biểu tượng chính trị… Thật vậy, biểu tượng luôn có sức hấp dẫn riêng của nó (có lẽ do nguyên nhân hình thành hết sức thú vị và cách giải thích các biểu tượng không bao giờ theo nguyên mẫu chung), vì thế mà nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung đã mất một nửa thế kỉ để nghiên cứu những biểu tượng tự nhiên và ông đi đến kết luận rằng: “Giấc mơ và biểu tượng giấc mơ không phải là nhảm nhí, mà cũng không phải là không có ý nghĩa. Trái lại, giấc mơ đem lại cho ta những sự hiểu biết quí giá, nếu ta chịu khó tìm hiểu những biểu tượng
  5. của nó”. Tác phẩm “Thăm dò tiềm thức” của ông khái quát những nét đại cương về phâm tâm học trong đó ông có dành trọn chương 8 để trình bày về vai trò của biểu tượng. Ở nhiều nước trên thế giới có nhiều bộ sách bách khoa toàn thư có giá trị, và tri thức nhân loại ngày càng phát triển vì vậy mà cần phải tập hợp vốn tri thức phong phú này, song song với các bộ bách khoa toàn thư còn xuất hiện nhiều bộ từ điển tri thức chuyên ngành giúp người đọc dễ dàng tra cứu và tìm hiểu. Cuốn “Từ điển các biểu tượng” (Dictionnaire des symbols) của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã tập hợp và giải thích ý nghĩa các biểu tượng của thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (sách được nhà xuất bản Robert Laffont ấn hành lần đầu năm 1969). Đây là tác phẩm bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện: dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, thần thoại học, tôn giáo học… Ngoài ra còn có thể kể ra nhiều cuốn từ điển khác cũng đề cập đến các biểu tượng chung của thế giới như: - Tom Chetwynd (1982), A dictionary of symbols, NXB Granada (England). Cuốn từ điển này bao gồm 450 trang chủ yếu giải thích những biểu tượng thuộc về giấc mơ. - Eduardo Cirlot (1969), Diccionario de simbolos (Dictionary of symbols) tái bản lần thứ hai, tại nhà xuất bản Labor S.A, Barcelona. Cuốn từ điển dày 500 trang đề cập đến mối quan hệ của biểu tượng đối với văn học. Quyển sách này đã được dịch sang tiếng Anh. - Goblet d’ Alviella (1894), The migration of symbols, London. Nội dung chính của cuốn từ điển này đề cập đến các biểu tượng chính như: biểu tượng cây thập tự giá, biểu tượng chữ Phạn, và biểu tượng về cái đinh ba… trong những nền văn hóa khác nhau. Ngoài ra sức thu hút của biểu tượng cũng được tiểu thuyết gia Dan Brown sáng tác nhiều tác phẩm gây tiếng vang: Mật mã Da Vinci (The Da Vinci code), Pháo đài số (Digital Fortress), Thiên thần và ác quỉ (Angels and demons), Biểu tượng đánh mất (The lost symbol). Trong các tác phẩm này tác giả giúp người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi cùng nhà biểu tượng học người Mỹ Robert Langdon giải mã những điều ẩn giấu đằng sau các biểu tượng tôn giáo (chủ yếu là các biểu tượng Cơ đốc giáo). Chúng ta đã điểm qua những công trình nghiên cứu về biểu tượng nhưng có thể nói hệ thống các biểu tượng trong tôn giáo được các học giả hết sức quan tâm. Có thể kể ra đây các tác phẩm tiêu biểu như:
  6. 1. David Fontana (1993), The serect language of symbols, Pavilion. Nội dung của cuốn sách này đề cập đến vai trò cũng như cách sử dụng biểu tượng trong các lĩnh vực như: nghệ thuật cũng như những ứng dụng của việc nghiên cứu biểu tượng để giải thích ý nghĩa của giấc mơ. Vấn đề quan trong tiếp theo tác giả trình bày thế giới biểu tượng theo từng chủ đề như: màu sắc, hình dáng, con vật, thế giới tự nhiên… 2. Carl G. Liungman (1994), Dictionary of symbols, W.W. Norton & Company. Cuốn từ điển này tác giả trình bày các biểu tượng theo từng nhóm nhỏ (dựa vào quá trình phát triển về hình dáng cấu trúc của các biểu tượng). Bao gồm những biểu tượng có từ thời xa xưa và cả những biểu tượng được sử dụng trong thời hiện đại. 3. Dean Moe (1985), Christian symbols handbook, Augsburg Publishing House. Nội dung của cuốn sách giải thích ý nghĩa của những biểu tượng chủ yếu được dụng trong Cơ đốc giáo (kèm hình vẽ). 4. Dagyab Rinpoche (1995), Buddhist symbols in Tibetan Culture, Wisdom Publications. Trong cuốn sách này tác giả trình bày tất cả những biểu tượng được sử dụng trong Phật giáo Tây Tạng theo hệ thống (có hình vẽ minh họa kèm lời giải thích). 5. Sign and symbols (2003), Pepin. Cuốn sách tập trung tất cả những hình ảnh về biểu tượng và các kí hiệu ở tất cả các lĩnh vực. 6. Carroll E. Whittemore (1987), Symbols of the church, Abingdon. 7. Dahlby, Frithiof (1963), De heliga tecknens hemlighet (The serect of the holy signs), Stockholms. … Ở Việt Nam có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề biểu tượng: - Nguyễn Đức Dân trong công trình “Kí hiệu học – một số vấn đề cơ bản” có đề cập đến vấn đề biểu tượng và tác giả cũng dành hẳn chương III trình bày về biểu tượng và những kí hiệu phi ngôn ngữ. - Hoàng Tuệ trong tác phẩm “Cuộc sống ở trong ngôn ngữ” có bài viết đề cập đến vấn đề “Tín hiệu và biểu trưng”. - Đỗ Thị Hồng Nhung trong khóa luận tốt nghiệp của mình nghiên cứu về vấn đề “Ý nghĩa biểu trưng của các con số trong tiếng Việt”. - Nguyễn Thị Hồng Ngân trong hội thảo khoa học trẻ lần I cũng có bài nghiên cứu về “Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”.
  7. - Nguyễn Thị Ngân Hoa có bài viết đề cập đến vấn đề: “Tìm hiểu những nhân tố tác động đến ý nghĩa của biểu tượng”. Bài viết được đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 10 năm 2006. Ngoài ra trên các trang web tiếng Việt rải rác có nhiều bài viết giải thích về ý nghĩa biểu tượng của Phật giáo và Cơ đốc giáo như: giải thích ý nghĩa của biểu tượng chữ Vạn, ý nghĩa của biểu tượng thánh giá… Có thể nói vấn đề nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam đã được các học giả quan tâm, trong đó ý nghĩa biểu trưng của các con số và màu sắc được quan tâm khá nhiều. Tuy nhiên việc nghiên cứu về các biểu tượng tôn giáo chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ, mang tính chất tôn giáo nhiều hơn. Vì thế người viết chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về hệ thống giao tiếp đặc biệt của con người được hình thành khá lâu (trước khi ra đời chữ viết). Như chúng ta biết, các biểu tượng có lịch sử hình thành tương đối lâu dài và mang đặc trưng văn hóa của từng dân tộc (thánh giá, ngôi sao...là các biểu tượng được tạo nên từ hàng nghìn năm trước). Nếu như văn hóa phương Tây khá quen thuộc với các biểu tượng của Cơ đốc giáo thì phương Đông rất gần gũi với các biểu tượng Phật giáo. Thông qua luận văn này người viết mong muốn đóng góp phần nhỏ vào vấn đề khá lí thú nhưng còn bỏ ngõ ở Việt Nam: “Quan hệ giữa hình thức và nội dung trong các biểu tượng tôn giáo”. 3. Đối tượng nghiên cứu Trong cuộc sống hằng ngày “dẫu ta có nhận biết hay không, đêm ngày trong hành ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi chúng ta đều sử dụng các biểu tượng…Ngày nay tất cả các khoa học về con người cũng như các ngành nghệ thuật và tất cả các ngành kỹ thuật bắt nguồn từ các khoa học ấy…Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong ta” [1;XIII- XIV]. Qua nhận xét trên của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant chúng ta thấy rõ vai trò quan trọng của các biểu tượng. Biểu tượng không chỉ hiện diện trong lĩnh vực tôn giáo mà còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Nhiều biểu tượng cổ xưa đã được các nhà khảo cổ phát hiện và nghiên cứu: các biểu tượng trong tín ngưỡng của Ai Cập, Hi Lạp, Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, Phật giáo… Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biểu tượng riêng, Cơ đốc giáo và Phật giáo cũng vậy: hệ thống các biểu tượng mà hai tôn giáo này sử dụng rất phong phú (Cơ đốc giáo có gần một
  8. trăm biểu tượng, các biểu tượng trong Phật giáo cũng phong phú không kém). Trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những biểu tượng tiêu biểu trong hai tôn giáo trên. 4. Phạm vi nghiên cứu Các biểu tượng trong tôn giáo rất đa dạng, đó là: những mẫu gốc (theo Carl.G.Jung chúng giống như những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu trong vô thức đến nỗi chúng trở thành như một cấu trúc, ví dụ như thần núi Tản Viên (sơn thần trong tứ bất tử)), những hình ảnh minh họa, các hành vi tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên… Trong tôn giáo người ta cũng xem các văn bản tôn giáo, các nghi lễ là các biểu tượng. Thế nên trong phạm vi một luận văn khó có thể đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể của các biểu tượng trong tôn giáo. Vì thế phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu là “các biểu tượng đồ họa” (graphic) (có thể là chữ viết, hình vẽ được viết, vẽ hay chạm khắc). Cơ đốc giáo hình thành nên ba nhánh chính (PL AII), ở đây chúng tôi không khảo sát hệ thống biểu tượng của Tin lành (biểu tượng của đạo Tin lành không nhiều) mà chủ yếu khảo sát hệ thống biểu tượng của Công giáo. Còn đối với Phật giáo chúng tôi chủ yếu nghiên cứu các biểu tượng cơ bản của phái Đại thừa. Ngoài việc tìm hiểu mối quan hệ giữa hai mặt: hình thức và nội dung của hệ thống biểu tượng trong hai tôn giáo trên chúng tôi còn mong muốn tìm hiểu xem khi các biểu tượng của hai tôn giáo này du nhập vào Việt Nam thì chúng chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa Việt như thế nào? 5. Phương pháp nghiên cứu Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp thống kê: Để hoàn thành luận văn chúng tôi cần phải dựa vào nguồn dữ liệu lớn, trước hết cần phải hệ thống lại tất cả các biểu tượng phục vụ cho việc nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi còn phải tập hợp các tài liệu có liên quan để giải quyết phần nội dung của luận văn liên quan đến các lĩnh vực như: ngôn ngữ học, tâm lí học, lịch sử, văn hóa… Về nguồn dữ liệu chúng tôi tập hợp trên các sách báo viết về các biểu tượng tôn giáo, trên mạng internet. Bên cạnh đó chúng tôi trực tiếp đến các nhà thờ và các chùa lớn tại thành phố Hồ Chí Minh để thu thập tư liệu. - Phương pháp phân loại: Sau khi tập hợp được nguồn dữ liệu thô chúng tôi tiến hành phân loại các biểu tượng dựa theo mặt hình thức (cái biểu đạt). Phương pháp này giúp
  9. chúng ta có thể tìm thấy những nét tương đồng trong việc sử dụng các phương tiện hình thức để biểu thị nội dung của biểu tượng giữa các tôn giáo khác nhau. - Phương pháp so sánh – đối chiếu: Sau khi phân loại chúng tôi sẽ tiến hành so sánh và đối chiếu giữa hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt về mặt hình thức cũng như nội dung mà các biểu tượng muốn chuyển tải. Từ đó tìm hiểu xem các biểu tượng đó nói gì, đó cũng là cách để tìm hiểu về mỗi nền văn hóa mà các biểu tượng đại diện (văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây). 6. Ý nghĩa khoa học Như chúng ta biết kí hiệu học là “mảnh đất màu mỡ” cần được quan tâm thỏa đáng. Việc nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo chỉ là một lĩnh vực nhỏ của bộ môn kí hiệu học. Trên thế giới việc tìm hiểu về các biểu tượng tôn giáo đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ khá sớm, nhưng ở Việt Nam lĩnh vực này còn khá mới mẻ. Thông qua luận văn này người viết mong muốn góp một phần nhỏ để mở ra khái niệm rộng về ngôn ngữ nói chung. Để biểu đạt ý nghĩ, chúng ta không chỉ dùng kí hiệu ngôn ngữ mà còn dùng các kí hiệu phi ngôn ngữ. Biểu tượng, nhất là biểu tượng tôn giáo cũng là một loại ngôn ngữ thể hiện ý niệm thông qua hình ảnh. Trong lĩnh vực kí hiệu học thì ngôn ngữ được xem là hệ thống kí hiệu đặc biệt nhất, vì thế việc mở rộng đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực này là vấn đề hết sức lý thú. Thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai mặt: nội dung và hình thức của các biểu tượng trong tôn giáo người viết mong muốn tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thống kí hiệu: biểu tượng và ngôn ngữ. Thêm nữa việc nghiên cứu đề tài này giúp mọi người hiểu thêm về hai nền văn hóa lớn của thế giới: văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Vì ý nghĩa của các biểu tượng tôn giáo biểu thị giá trị tâm linh của mỗi người dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung theo đạo. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính gồm 3 chương:  Chương 1: Lý luận chung, giải quyết những vấn đề liên quan đến lý thuyết và đưa ra khái niệm chung về biểu tượng.
  10.  Chương 2: Chúng tôi tiến hành phân loại các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo thành hệ thống và trình bày những phương thức biểu đạt được sử dụng trong hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo trên.  Chương 3: Chúng tôi tiến hành so sánh hệ thống biểu tượng và giải mã một số biểu tượng tiêu biểu. Tiếp theo chúng tôi tìm hiểu cách thức chuyển tải nội dung của các biểu tượng cũng như mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của các biểu tượng tôn giáo. Cuối cùng chúng tôi sẽ nghiên cứu những tác động của yếu tố văn hóa Việt đối với các biểu tượng Phật giáo và Cơ đốc giáo khi du nhập vào Việt Nam.
  11. Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG 1.1. Nguồn gốc hình thành biểu tượng Thuật ngữ symbol bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp σύμβολον (sýmbolon) với gốc từ συν- (syn-) nghĩa là "cùng nhau" và βολή (bolē) có nghĩa là “ném”, vậy nghĩa của thuật ngữ này là: hợp lại, tập trung lại, tụ họp lại. Ban đầu ý nghĩa của biểu tượng như là dấu hiệu để nhận diện. Nó là một vật được cắt làm đôi. Ý nghĩa của thuật ngữ này có lẽ bắt nguồn từ tập tục của người Hi Lạp cổ đại. Ở thời đó, để có thể nhận ra nhau (cha mẹ và con, chủ và khách, hai người bạn sắp chia tay lâu ngày, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương…) thì người ta dùng một miếng đất sét nung, chia làm hai, mỗi thành viên giữ một mảnh, sau này ráp hai mảnh lại họ sẽ nhận ra nhau. Cách thức này còn được các hội kín sử dụng để kết nạp các thành viên. Người ta sẽ giao cho mỗi thành viên các mảnh vỏ sò có chạm khắc đặc biệt. Mỗi khi hội họp, các thành viên dùng các vỏ sò này làm dấu hiệu để nhận ra nhau.Tác giả cuốn “Từ điển Văn hóa thế giới” nhận xét rằng: “Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân li và tái hợp; nó gợi lên ý nghĩa về một cộng đồng đã bị chia tách và có thể tái hợp, hình thành. Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong những cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [1;XXIII]. Qua ý nghĩa ban đầu của biểu tượng có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Biểu tượng đại diện cho những điều ngoài bản thân nó”. Nếu lấy hoa hồng làm biểu tượng, thì nó không chỉ là hoa hồng mà mang ý nghĩa phong phú hơn nhiều, nó là biểu tượng của tình yêu, của cái đẹp. Qúa trình hình thành của biểu tượng cũng rất khác nhau - Có những biểu tượng được hình thành qua sự liên tưởng: như hoa sen 8 cách ứng với 8 hướng không gian khiến hoa sen là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Hoa Perce (hoa bướm) là biểu tượng của tư duy con người. Ý nghĩa biểu trưng của loài hoa này dựa vào số cánh hoa (hoa bướm có năm cánh) mà con số năm lại biểu trưng cho con người. Vì nếu dang tay ra thì con người được xếp đặt thành năm phần theo hình chữ thập: hai tay, nửa thân trên, phần giữa - chỗ của trái tim – đầu và hai chân. - Có những biểu tượng được hình thành qua qui ước. Hãng xe hơi nổi tiếng thế giới của Đức BMW, trong suốt quá trình phát triển của mình luôn trung thành với biểu tượng
  12. hình cánh quạt trắng xanh. BMW là công ty chuyên sản xuất ôtô xe máy nhưng tiền thân của công ty này là hai công ty sản xuất động cơ máy bay (Raap Motor Works và BMW GmbH). Trên những chiếc máy bay được sản xuất vào thập kỉ 20 các phi công quan sát được hình ảnh chuyển động của hai cánh quạt, khi chạy với tốc độ nhất định thì hai cánh quạt này sẽ chia quĩ đạo của chúng thành bốn phần bằng nhau. Hai phần mang màu trắng đậm, hai phần còn lại mang màu xanh. Vì thế logo của công ty là sự kết hợp của hình khối đơn giản và những màu sắc quen thuộc (hai màu xanh và trắng là màu cờ của xứ Bavaria, màu xanh còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sức sống, cho hi vọng). Biểu tượng của công ty BMW - Có những biểu tượng được hình thành từ kinh nghiệm thực tế. Noel hàng năm, người dân khắp nơi trên thế giới chuẩn bị cho ngày lễ trọng thể này rất chu đáo và việc trang hoàng cây thông vào dịp Noel là một việc làm không thể thiếu. Hình ảnh cây thông Noel được xem là biểu tượng của niềm hi vọng và sức sống mới trong lễ hội đón chào năm mới. Vậy ý nghĩa của biểu tượng này bắt đầu như thế nào? Tương truyền, thánh Martin Luther (người cải chính đạo Tin Lành) khoảng năm 1500, ngài dạo bước qua cánh rừng vào một đêm Noel, trời quang đãng và rất lạnh, đặc biệt có loài cây nhỏ khiến ngài hết sức chú ý. Trên cành cây tuyết trắng phủ đầy lung linh dưới ánh trăng, nhìn xuyên qua kẽ lá là ánh sáng của muôn vàn vì sao. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thật sự rung động. Vì thế khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng của muôn vàn ánh sao ngài treo nến trên
  13. cành cây và thắp sáng những ngọn nến bày tỏ tấm lòng tôn kính Chúa. Từ đó phong tục cây thông giáng sinh trở nên phổ biến vào dịp Noel (Theo wikipedia tiếng Việt). Cây thông được trang hoàng vào đêm Noel - Trong văn học ở những tình huống cụ thể trên cơ sở những ẩn dụ hợp logic mà hình thành những biểu tượng lâm thời của một tác phẩm. Hình ảnh “con hạc đầu đình ” trong câu ca dao xưa là biểu tượng về thân phận người phụ nữ: Em như con hạc đầu đình Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay Hình ảnh “con hạc đầu đình” là biểu tượng lâm thời của tác phẩm chỉ người con gái. Vì đặc điểm cơ bản của “con hạc đầu đình” là được làm bằng đá nên không thể bay được. Trong xã hội phong kiến người phụ nữ cũng vậy, không thể tự quyết định số phận của bản thân mình, họ bị bó buộc, giam hãm giống như cách nói của câu ca dao trên “muốn bay không nhấc nổi mình mà bay”. Như vậy chỉ trong văn cảnh này thì người đọc mới hiểu “con hạc đầu đình” chỉ về số phận của người phụ nữ. 1.2. Qúa trình phát triển và vai trò của biểu tượng 1.2.1. Qúa trình phát triển của biểu tượng Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (Từ 4 đến 6 triệu năm) và sống thành cộng đồng. Khi sống thành cộng đồng thì nhu cầu giao tiếp của con người là không thể thiếu. Từ đó hình thành ngôn ngữ, một công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Chữ viết chỉ mới xuất hiện vào đầu thời kỳ đồ đồng (cuối thiên niên kỷ thứ 4 trước công nguyên). Trước khi có chữ viết thì con người đã dùng những phương tiện nào để truyền tin cho nhau? Trong quá trình truyền nội dung thông tin, người truyền tin có thể quên hoặc lầm lẫn. Vì thế người ta tìm cách tạo ra những kí hiệu giúp cho trí nhớ. Vì thế có nhiều kiểu kí hiệu
  14. truyền tin khác nhau: dùng các thẻ gỗ được khắc vạch để ghi nhớ (mỗi vạch hoặc mỗi nhóm vạch khắc theo một kiểu nhất định như chữ thập, dấu song song, dấu nhân, ô vuông…sẽ ứng với một loại thông tin quan trọng cần nhớ), dùng các chuỗi vỏ sò, vỏ hến được gọi là các wampum của những người Indiens ở Bắc Mỹ (cách xâu các vỏ sò này thành chuỗi theo những kiểu nào đó, theo những màu sắc nào đó còn là một cách để thông tin), dùng dây để thông tin, dùng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, dùng các bộ phận của con vật để thông báo (trong giai đoạn con người sinh sống bằng săn bắn, hái lượm), chẳng hạn cặp sừng hươu thông báo rằng nơi này nhiều hươu nai, cành cây bắt chéo nơi dấu chân cọp sẽ cho người khác biết nơi đó có nhiều thú dữ. Tuy nhiên cách thông báo này có nguy cơ bị mất thông tin. Vì thế mà đã nảy sinh cách dùng hình vẽ để thay cho vật thực. Thay vì để một cặp sừng hươu thật thì người ta vẽ hoặc khắc lên vách đá một cặp sừng hươu, người ta vẽ những mũi tên để thông báo nơi đây có nhiều chim muông. Người dân du mục sống trong hoang mạc ở Ai Cập có thể vẽ một đường tròn có một vạch thẳng đứng ở trên biểu thị cho cái dilu (là cái túi bằng da đeo ở cổ bằng một sợi dây thừng) để chỉ rằng anh ta đã đào đất ở đây và tìm thấy nước. Từ đây hình thành các loại kí hiệu bằng các hình vẽ biểu trưng. Các hình vẽ trở thành kí hiệu chứa đựng thông tin: dùng một sự vật cụ thể để biểu thị một khái niệm trừu tượng. Ngay từ thời tiền sử các loại kí hiệu bằng hình vẽ này đã được sử dụng và tiếp tục phát triển trong suốt thời kì đồ đá mới trong khoảng thời gian từ 10 000 đến 20 000 năm. Ngày nay các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hình vẽ trên các hang đá Lascaux (Pháp), Altamira (Tây Ban Nha) các hình ảnh như: nai, voi ma mút, bò rừng, ngựa… Hình vẽ trên hang Lascaux (Pháp), nghệ thuật thời đồ đá cũ Ở thời kì này, các biểu tượng được vẽ chủ yếu theo hai chủ đề chính: các con vật, và những hình ảnh mang tính hình học (cơ bản gồm năm nhóm chính) như: đường cong , hình xoắn ốc , , dấu chấm • hay đường thẳng ─.
  15. Giai đoạn tiếp theo, cấu trúc các hình vẽ phức tạp hơn, những kí hiệu sau được tìm thấy trong các hang đá và được khắc chạm trên đá: , , , , . Tuy nhiên ở giai đoạn này vẫn còn những kí hiệu chủ yếu mang tính chất miêu tả như hình bàn tay , bàn chân , . Ở Bắc Âu các nhà khảo cổ đã phát hiện hình ảnh dấu chân duy nhất được khắc trên đá có niên đại khoảng 1500 năm trước công nguyên (dấu chân trở thành biểu tượng của đạo Phật, và thường được kết hợp với nhiều biểu tượng khác nữa ). Các biểu tượng không ngừng phát triển, chúng ta có thể minh họa qua các biểu tượng của người Ai Cập cổ đại có lịch sử khoảng 4000 năm trước công nguyên. Trong giai đoạn này có thể kể ra các biểu tượng tiêu biểu như: , , . Khoảng 3000 năm trước công nguyên là kỉ nguyên của nền văn hóa Ấn Độ với biểu tượng tiêu biểu là (swastika) của đạo Hin du, đạo Jain, đạo Phật… Đại biểu tiếp theo là Hi Lạp. Nền văn hóa của họ phát triển rực rỡ vào khoảng 1000 năm trước công nguyên. Biểu tượng tiêu biểu trong giai đoạn này là hình ngôi sao sáu cánh . Trong nhiều thế kỉ tiếp theo thì những biểu tượng như: , bắt đầu được sử dụng. Sau công nguyên có khoảng 1500 nhóm cấu trúc chữ viết ghi ý khác nhau. Chúng chủ yếu tồn tại ở các nền văn hóa phát triển như chữ viết tượng hình của người Ai Cập và hệ thống chữ số của người La Mã, và hệ thống chữ viết của tượng hình của người Maya. Trong thế kỉ 19, ý nghĩa của các biểu tượng không chỉ dựa vào cấu trúc hình thức mà còn tùy thuộc vào các yếu tố khác nữa như: màu sắc, bối cảnh. Sang thế kỉ 20 có sự kết hợp của các mẫu biểu tượng cũ tạo nên những biểu tượng mới phức tạp hơn , , . Vào nửa đầu thế kỉ 20 xuất hiện nhiều biểu tượng mới, chủ yếu được sử dụng trong truyện tranh vui và qua các hình ảnh quảng cáo. Còn lịch sử hình thành của các biểu tượng tôn giáo có thể bắt đầu từ thời kì đồ đá cũ (cách đây khoảng 95 000 đến 35 000 năm), trong thời kì này mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên với những hình thức tôn giáo sơ khai như Đạo vật tổ, ma thuật, tang lễ. Bước sang thời kì đồ đá giữa con người chuyển từ săn bắn, hái lượm sang chăn nuôi và trồng trọt thì các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông…hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…) đây là các vị thần của thị tộc mẫu hệ. Khi đồ
  16. sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy vẫn tồn tại. Theo thời gian, do nội dung của tôn giáo mang tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với các nghi thức cụ thể của một cộng đồng người hay một dân tộc, quốc gia nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác. Sự bành trước của tôn giáo xảy ra trong suốt thời kì văn minh công nghiệp và cho tới tận ngày nay. Những vị thần của người Ai Cập cổ Biểu tượng về những nguyên tố ban đầu (không khí, đất, nước, lửa) Ngày nay có bao nhiêu tôn giáo thì có bấy nhiêu hệ thống biểu tượng phục vụ cho tôn giáo đó. Phật giáo và Cơ đốc giáo cũng vậy, những biểu tượng của hai tôn giáo này ngày càng phổ biến như: biểu tượng thánh giá, chim bồ câu, nhánh cây ô liu, chữ vạn, hoa sen… Nguồn gốc của các biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo chủ yếu dựa vào các kinh sách. Trải qua các thời kì trên thế giới có các hình thức tôn giáo sau: - Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp: Tô tem giáo (thờ vật tổ), Ma thuật giáo, Bái vật giáo và Vật linh giáo.
  17. Hình ảnh totem - Tôn giáo trong xã hội có giai cấp: Tôn giáo bản địa và tôn giáo thế giới, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới như: Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo… Có thể nói các phương tiện giao tiếp của con người rất phong phú: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ kí hiệu của người câm điếc, các nghi lễ tượng trưng, các hình ảnh, cử chỉ, điệu bộ, biểu tượng …trong đó ngôn ngữ chỉ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất trong những hệ thống này (chứ không phải là hệ thống giao tiếp duy nhất). Như vậy biểu tượng hình thành từ khi chưa có chữ viết và không ngừng phát triển cho đến ngày nay. Biểu tượng được xem là hệ thống tiền ký tự, vì chúng khá dễ nhớ, ghi lại ý và truyền đạt thông tin nhanh nhất. Ngày nay do tiết kiệm lời, tránh phải in ấn dịch thuật phức tạp, do thế giới ngày nay là ‘thế giới phẳng’, trong xu thế toàn cầu hóa đó người ta đã hình thành những kí hiệu giao tiếp bằng hình vẽ ghi ý, tạo thành những đơn vị có nghĩa trong giao tiếp. Có những hình vẽ (Sa) có thể nhận thức được. Lại có những hình vẽ (Sa) chỉ hoàn toàn qui ước. Cái biểu đạt (Sa) Cái được biểu đạt (Se) Kiểu nghĩa vị Nội tại (có thể nhận Cấm hút thuốc thức được) Hạnh phúc, buồn, Nội tại giận hờn
  18. Ngoại tại (do qui Biểu tượng của Chúa ước) 1.2.2. Vai trò của biểu tượng Ngày nay, những kí hiệu hình vẽ này mang tính phổ quát, dùng chung cho khắp thế giới hay ít nhất cũng chung cho một khu vực. Biểu tượng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: nghệ thuật, hình thức ẩn dụ, thần thoại, tôn giáo và các nghi lễ tôn giáo... Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình biểu tượng không hề giảm vai trò quan trọng của nó, biểu tượng vẫn tiếp tục xuất hiện trong văn học, phim ảnh. Vì thế mà có nhiều bài viết nghiên cứu hệ thống biểu tượng được sử dụng trong văn học và phim ảnh, như bài viết “Biểu tựơng nước trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngân hay bài viết “Một số biểu tượng trong phim Việt Nam ở nước ngoài” được đăng trên trang web thegioidienanh.vn. Không những thế trong lĩnh vực tâm lí học người ta nhận thấy tầm quan trọng của các biểu tượng, đó là các biểu tượng của giấc mơ (Con người tri giác thế giới không chỉ bằng các giác quan mà còn bằng tiềm thức nữa. Chúng ta phản ứng trước những hiện tượng có thực, trước những khích động thị giác và thính giác và những cảm giác ấy được chuyển từ bên ngoài vào tâm trí ta, những cảm giác trở thành những thực thể tinh thần) nó trở thành liệu pháp để điều trị các căn bệnh liên quan đến tâm lí (khi chúng ta giải thích ý nghĩa các biểu tượng trong giấc mơ, thì chúng ta có thể chữa được bệnh): bệnh suy nhược thần kinh, bệnh mất trí nhớ…Cụ thể trong trường hợp một người Cơ đốc giáo mộ đạo, thì biểu tượng cây thánh giá chỉ có thể suy diễn trong nội dung Cơ đốc giáo mà thôi (Nhưng chúng ta không thể nói rằng bất cứ ở đâu hay lúc nào thì biểu tượng thập tự cũng có cùng một ý nghĩa). “Có biết bao sự kiện vượt khỏi phạm vi hiểu biết của người ta, bởi vậy chúng ta luôn luôn dùng những biểu tượng để hình dung những khái niệm mà chúng ta không thể định nghĩa và hiểu biết đầy đủ. Cũng vì lẽ ấy mà tôn giáo dùng thứ ngôn ngữ đầy biểu tượng và diễn đạt ý tưởng một cách có ý thức như thể chỉ là một phương diện của một sự kiện tâm lí rất quan trọng: vì rằng người ta cần tạo ra biểu tượng một cách ngẫu nhiên và phi ý thức” [11; 19].
  19. Biểu tượng có vai trò nối kết con người ở các thế hệ khác nhau, bởi vì mỗi nhóm người, mỗi thời đại có những biểu tượng của riêng mình: khi chúng ta rung động trước biểu tượng nghĩa là chúng ta đã tham gia vào nhóm người và thời đại ấy. Như vậy biểu tượng còn mang tính xã hội hóa. Thêm nữa, biểu tượng còn là một ngôn ngữ phổ biến, bởi vì không cần thông qua trung gian ngôn ngữ nói hay viết, mọi người đều có thể hiểu được nó. Biểu tượng là công cụ hiệu quả đế các cá nhân, các nhóm người, các dân tộc có thể thấu hiểu lẫn nhau. Khi chúng ta hiểu sâu sắc ý nghĩa các biểu tượng của một cá nhân hay một dân tộc tức là chúng ta đã hiểu được tận cùng con người và dân tộc ấy. Để nhấn mạnh vai trò quan trọng của biểu tượng trong đời sống chúng tôi sử dụng nhận xét sau của các tác giả từ điển Văn hóa thế giới: “Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết; xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết. Một nền văn minh không còn có biểu tượng thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” [1;XXXIII]. 1.3. Những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “biểu tượng” Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “symbol”.“Sự lẫn lộn này khiến biểu tượng bị yếu đi, thoái hóa thành một dạng tu từ, thành kinh viện hay tầm thường” [1;XVII]. Chính điều này dẫn đến nhiều nhầm lẫn đáng tiếc, cụ thể: khi thuật ngữ logo chưa ra đời thì từ symbol trong tiếng Anh và symbole trong tiếng Pháp cũng được dùng để chỉ chung cho cả logo và biểu tượng. Wikipedia Việt Nam khi định nghĩa logo cũng đã dùng từ biểu trưng để chỉ khái niệm này, nó khiến người đọc dễ cho rằng hai khái niệm symbol và logo là một: “Logo tương đương trong tiếng Việt là biểu trưng. Biểu trưng có thể hiểu là biểu tượng cho một công ty, một tổ chức, một hoạt động (như một cuộc thi…) hay một ban nhóm. Biểu trưng mang tính đặc trưng cho đối tượng mà nó đại diện. Trong hoạt động quảng bá, biểu trưng không phải là thương hiệu, tuy rằng nó cũng là ấn tượng bên ngoài đại diện cho thương hiệu, giúp công chúng dễ nhận ra thương hiệu”. Do có nhiều sự nhầm lẫn về hai thuật ngữ này nên Phạm Thị Minh Hải trong luận văn thạc sĩ của mình đã phân biệt rõ Logo và Biểu tượng. Tác giả đã chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt của hai thuật ngữ trên: Tương đồng Khác biệt - Được tạo ra dựa trên tư Logo Biểu tượng
  20. duy về thị giác, hình ảnh - Chỉ được hiện cô đọng mang tính đại thực hóa thông - Ngoài việc biểu hiện diện. qua hình thức đồ ra trên đồ họa còn - Về mặt cấu trúc: cả hai họa trên mặt được hiện thực hóa đều có thể thông qua ba phẳng. thông qua tri nhận của hình thức của: hình ảnh, kí con người hoặc qua tự, màu sắc… những sự vật cụ thể - Trong sử dụng: cả hai có trong đời sống. ngữ cảnh khá tương đồng, - Logo chỉ mang ý - Biểu tượng không nhất đôi khi đồng nhất. nghĩa khi nó tồn thiết hiện thực hóa trên tại rõ ràng trên văn bản. văn bản. - Phạm vi sử dụng - Phạm vi sử dụng của của logo hẹp: chỉ biểu tượng rất rộng. được quen gọi trong lĩnh vực kinh tế. (Logo thương mại dưới góc nhìn kí hiệu học, trang 12, 13) Người ta không chỉ sử dụng nhầm lẫn giữa biểu tượng với logo mà còn nhầm lẫn thuật ngữ này với khái niệm kí hiệu. Nguyên nhân là do các tác giả dùng thuật ngữ symbol theo ý nghĩa như là một kí hiệu. Vì thế Peirce và Saussure dùng thuật ngữ symbol theo hai cách hiểu khác nhau. Đối với Peirce, symbol là một kí hiệu “mọi từ ngữ, mọi câu, mọi quyển sách và tất cả những kí hiệu qui ước đều là các symbols”- “all words, sentences, books and other conventional signs are symbols”. Còn Saussure dùng từ symbole với kí hiệu toán học, đại số học, khoa học là những kí hiệu mang tính chất hoàn toàn võ đoán: mỗi kí hiệu toán học Sa có một Se là một khái niệm, được xác lập hoàn toàn võ đoán. Sở dĩ Saussure dùng từ symbole để chỉ những kí hiệu toán học vì ông muốn nhấn mạnh tính chất võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ. Vì người ta cho rằng ngôn ngữ như là hệ thống kí hiệu mang tính biểu trưng, hay nói đúng hơn là chỉ cái biểu đạt. Trong khi đó Saussure tránh xa quan điểm này vì biểu trưng có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ đoán, nó không phải là trống rỗng mà có mối tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản