BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Nguyễn Quang Học
PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Nguyễn Quang Học
PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340120
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐỒNG XUÂN NINH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài "Phát triển chuỗi giá trị
du lịch tỉnh Ninh Bình" được bảo vệ tại Trường Đại học Thăng Long là kết
quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Các số liệu, biểu mẫu được sử dụng
trong Luận văn này là trung thực, được thu thập qua quá trình nghiên cứu
thực tế và tham khảo các tài liệu chuyên khảo có liên quan.
Một lần nữa, Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về những nội dung
trong luận văn trên.
Tác giả
Nguyễn Quang Học
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Tổng quan nghiên cứu ............................................................................... 1
3. Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu ............................................ 3
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu ..................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học của luận văn ................................................................. 4
6. Bố cục và nội dung chủ yếu của luận văn ................................................. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH ................................................................. 5
1.1. Khái niệm cơ bản về du lịch .................................................................. 5
1.1.1. Khái niệm du lịch ............................................................................ 5
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch ....................................................... 7
1.1.3. Các loại hình du lịch ....................................................................... 9
1.1.4. Khái niệm về ngành du lịch .......................................................... 13
1.1.5. Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội ................... 14
1.2. Khái niệm chuỗi giá trị du lịch............................................................. 15
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị ................................................................. 15
1.2.2. Chuỗi giá trị du lịch ...................................................................... 18
1.2.3. Phân biệt chuỗi giá trị du lịch với chuỗi cung ứng ....................... 20
1.3. Nội dung cơ bản trong phân tích chuỗi giá trị du lịch ......................... 21
1.3.1. Lập sơ đồ chuỗi giá trị .................................................................. 21
1.3.2. Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị ................................................. 24
1.3.3. Quản trị chuỗi giá trị ..................................................................... 26
1.3.4. Nâng cấp chuỗi giá trị ................................................................... 27
1.3.5. Liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị................................................ 29
1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu chuỗi giá trị trong ngành du lịch ........... 30
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị du lịch ................. 31
1.5.1. Môi trường vĩ mô .......................................................................... 31
1.5.2. Môi trường vi mô .......................................................................... 36
1.5.3. Môi trường nội bộ ......................................................................... 37
1.6. Những kinh nghiệm của nước ngoài và bài học cho du lịch Việt
Nam ..................................................................................................... 38
1.6.1. Singapore ...................................................................................... 38
1.6.2. Thái Lan ........................................................................................ 39
1.6.3. Bài học đối với du lịch Việt Nam ................................................. 40
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 .................................................................................. 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2012 - 2014 ..................................................................... 43
2.1. Tiềm năng, các nguồn lực và tình hình phát triển du lịch tỉnh Ninh
Bình ..................................................................................................... 43
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ......................................................................... 43
2.1.2. Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội ................................................. 46
2.1.3. Tài nguyên du lịch tự nhiên ........................................................... 48
2.1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn ......................................................... 52
2.2. Phân tích chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình ..................................... 56
2.2.1. Đánh giá mô hình chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình ................ 56
2.2.2. Phân tích chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình .............................. 57
2.3. Tổ chức vận hành thị trường ................................................................ 79
2.3.1. Phương thức giao dịch .................................................................. 79
2.3.2. Phương thức thanh toán ................................................................ 80
2.3.3. Kết quả hoạt động kinh doanh ...................................................... 80
2.4. Những kết quả và hạn chế của hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình ....... 82
2.4.1. Kết quả .......................................................................................... 82
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................... 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 .............................................................................. 91
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH NINH BÌNH ..................................................................................................... 93
3.1. Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình ................. 93
3.1.1. Định hướng quốc gia về phát triển ngành du lịch của tỉnh Ninh Bình ................................................................................................ 93
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình .............................. 94
3.2. Giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình ........................... 97
3.2.1. Tăng cường liên kết và phát triển mô hình chuỗi giá trị du lịch ........................................................................................................... 97
3.2.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch ............................. 100
3.2.3. Tăng cường quảng bá, marketing về du lịch Ninh Bình ............. 101
3.3. Một số kiến nghị với các cơ quan nhà nước ...................................... 102
3.3.1. Đối với Chính phủ ....................................................................... 102
3.3.2. Đối với Bộ văn hóa thể thao và du lịch. ..................................... 103
3.3.3. Đối với UBND tỉnh Ninh Bình ................................................... 103
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 ................................................................................ 105
KẾT LUẬN ................................................................................................... 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 108
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình chuỗi giá trị theo Porter .................................................... 16
Hình 1.2: Mối liên hệ trong chuỗi giá trị giản đơn ......................................... 17
Hình 1.3: Phân đoạn chuỗi giá trị (các chức năng) ......................................... 18
Hình 1.4: Sơ đồ chuỗi giá trị theo cách tiếp cận của GTZ .............................. 18
Hình 1.5: Sơ đồ chuỗi giá trị trong ngành du lịch theo cách tiếp cận của GTZ .
......................................................................................................... 19
Hình 2.1: Bản đồ du lịch tỉnh Ninh Bình ........................................................ 43
Hình 2.2: Mô hình chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình ................................. 56
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu để nâng cấp chuỗi ..................................................... 28
Bảng 2.1: Khách du lịch đến tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 - 2014 ............... 57
Bảng 2.2: Biến động khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình, Quảng Ninh, Hà Nội và ngành du lịch Việt Nam từ năm 2012 - 2014 ................... 58
Bảng 2.3: Khách du lịch đến Ninh Bình và Việt Nam .................................. 59
Bảng 2.4: Khách quốc tế đến Ninh Bình từ năm 2012 đến 2014 .................. 60
Bảng 2.5: 10 thị trường có lượt kháchđến Ninh Bình cao nhất từ năm 2012 - 2014 ............................................................................................... 61
Bảng 2.6: Thị trường khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2014 tăng so với năm 2013 ....................................................................................... 62
Bảng 2.7: Cơ sở lưu trú tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014 ........... 64
Bảng 2.8: Số lượng khách lưu trú qua đêm ở Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014 ....................................................................................... 65
Bảng 2.9: Số lượng khách nội địa đến Ninh Bình theo tháng từ năm 2012 đến 2014 ........................................................................................ 66
Bảng 2.10: Số lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm ở Ninh Bình ................. 66
Bảng 2.11: Cơ cấu khách đến các địa điểm du lịch tỉnh Ninh Bình ............... 69
Bảng 2.12: Số lượng lao động DL tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014 ....................................................................................................... 71
Bảng 2.13: Chất lượng lao động DL tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014 ............................................................................................... 72
Bảng 2.14: Danh mục các dự án đang kêu gọi đầu tư ..................................... 79
Bảng 2.15: Cơ cấu doanh thu từ hoạt động du lịch với GDP của Quảng Ninh, Quảng Bình và Ninh Bình năm 2014 ........................................... 80
Bảng 2.16: Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến 2014 ................. 81
Bảng 2.17: Chi tiêu bình quân 1 ngày khách quốc tế ở Ninh Bình ................. 82
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DL : Du lịch
ĐHKTQD Đại học Kinh tế Quốc dân :
QLNN : Quản lý Nhà nước
TNDL : Tài nguyên du lịch
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
CSHT : Cơ sở hạ tầng
CSVCKT : Cơ sở vật chất kỹ thuật
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
ATTP : An toàn thực phẩm
T.Quốc : Trung Quốc
CSHT DL : Cơ sở hạ tầng du lịch
Tr.Đồng : Triệu đồng
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một
trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự
nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… của đất nước.
Với những lợi thế to lớn được thiên nhiên ban tặng, Ninh Bình là một
trong những tỉnh sớm nhìn nhận thấy tiềm năng du lịch của tỉnh và cũng đã có
những định hướng chiến lược, đầu tư, quy hoạch phát triển du lịch trong những
năm qua. Và cho đến thời điểm hiện tại, du lịch Ninh Bình cũng đã gặt hái
được những thành công nhất định đóng góp đáng kể vào sự phát triển du lịch
trong cả nước.
Tuy nhiên, trong thực tế phát triển du lịch Ninh Bình những năm qua
còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Nhận
rõ tình hình đó, Nghị quyết Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XX nhấn mạnh trong
những năm tới phấn đấu Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm du
lịch trọng điểm của cả nước. Xuất phát từ tình hình nói trên, tôi quyết định
chọn đề tài “PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH”
cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu
Thuật ngữ chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu tuy mới được biết đến ở
Việt Nam trong vài năm trở lại đây nhưng cũng có khá nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực nông sản,
dệt may và du lịch có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu dưới đây:
Đề tài luận văn cao học của trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh
“Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và khả năng tham gia của ngành dệt may Việt
Nam” bảo vệ năm 2012 của tác giả Lương Thị Linh, người hướng dẫn khoa
1
học PGS.TS Hà Văn Hội. Việc phân tích thực trạng chuỗi giá trị dệt may cho
thấy những đặc trưng riêng của ngành dệt may để có những giải pháp thích
hợp nhằm giúp ngành dệt may Việt Nam tham gia có hiệu quả hơn vào chuỗi
giá trị toàn cầu. Cụ thể luận văn giải thích sự cần thiết của việc tham gia chuỗi
giá trị dệt may toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới. Đánh giá hiện trạng sự tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
của Việt Nam, rút ra những hạn chế và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp
góp phần cho ngành dệt may Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu một
cách có hiệu quả. Tuy nhiên, luận văn cũng có những hạn chế nhất định đó là
chưa phân tích một cách toàn diện, đầy đủ các khía cạnh về chuỗi giá trị dệt
may toàn cầu. Đồng thời, chưa có sự phân tích, làm rõ chuỗi giá trị dệt may
toàn cầu của Việt Nam
Đề tài nghiên cứu “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm Bò, Cừu và Dê tỉnh
Ninh Thuận” năm 2012 của nhóm tác giả Trường Đại học Cần Thơ do TS
Nguyễn Phú Son làm trưởng nhóm nghiên cứu. Trong đề tài này tác giả đã
phân tích thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm bò, cừu và dê
tỉnh Ninh Thuận, lập bản đồ chuỗi giá trị và phân tích kinh tế 3 chuỗi giá trị:
bò, cừu, dê, phân tích lợi thế cạnh tranh của 3 loại sản phẩm, phân tích ma
trận SWOT của 3 loại sản phẩm, đề xuất các chiến lược nâng cấp các chuỗi
giá trị, xây dựng kế hoạch hành động 2012 - 2015 để nâng cấp các chuỗi giá
trị nêu trên. Đồng thời các tác giả đã nghiên cứu chỉ khảo sát chủ yếu các tác
nhân từ nhà sản xuất đến tác nhân phân phối cuối cùng trong chuỗi (không
khảo sát người tiêu dùng). Ngoài ra, còn tham khảo ý kiến thêm một số người
cung cấp sản phẩm đầu vào (thức ăn, thuốc thú y, con giống). Tuy nhiên đề
tài cũng gặp phải hạn chế do nhà cung cấp đầu vào chưa tạo ra sản phẩm ban
đầu và các khoản chi phí đầu vào này được phản ánh trong chi phí sản xuất
của người chăn nuôi, do vậy giá trị gia tăng, giá trị gia tăng thuần và phân
2
phối lợi ích chi phí của những người cung cấp đầu vào cho việc nuôi bò, cừu,
dê không phản ánh chung trong toàn chuỗi.
3. Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch Ninh Bình thông qua việc tạo ra
chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình. Kiến nghị các giải pháp chiến lược để
thực hiện mục tiêu trên.
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Du lịch Ninh Bình nên chọn hình thức liên kết kinh doanh nào cho phù
hợp? Tại sao phải liên kết kinh doanh? Nội dung và tiến trình đối với
du lịch Ninh Bình?
- Việc hình thành và tạo ra chuỗi giá trị du lịch là cần thiết trong việc
phát triển du lịch, vậy ngành du lịch Ninh Bình cần phải quan tâm đầu
tư và hoạch định chính sách như thế nào cho phù hợp với môi trường
du lịch hiện tại và những năm tiếp theo?
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là môi trường du lịch, Các hình thức và du khách trong chiến lược phát
triển du lịch theo hướng liên kết kinh doanh và chuỗi giá trị ở Ninh Bình
4.2. Phạm vi
Đánh giá tình hình phát triển du lịch Ninh Bình từ năm 2012 – 2014 và
hình thành chiến lược phát triển du lịch Ninh Bình theo hướng liên kết kinh
doanh để tạo ra chuỗi giá trị ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020
3
4.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp phân tích thống kê, hệ thống và so sánh.
- Phương pháp định tính và định lượng.
- Phương pháp chuyên gia.
5. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lí luận cơ bản về phát triển chuỗi
giá trị du lịch.
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch tỉnh Ninh Bình từ đó đề xuất
phương hướng và giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh
Bình.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch
định chính sách phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển chuỗi giá trị du
lịch ở tỉnh Ninh Bình.
6. Bố cục và nội dung chủ yếu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội
dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động du lịch và phát triển chuỗi giá
trị du lịch
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn
2012 - 2014.
Chương 3: Giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình
4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ PHÁT
TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH
1.1. Khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu
không thể thiếu được trong đời sống văn hóa- xã hội và hoạt động du lịch
đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan
trọng ở nhiều nước trên thế giới.
Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng. Trong ngôn ngữ nhiều
nước, thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “tornor” với ý nghĩa đi một
vòng. Thuật ngữ này đã được Latinh hóa thành “Tornus”, và sau đó xuất hiện
trong tiếng Pháp ; “tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi; còn
“toursime” là người đi dạo chơi; trong tiếng Nga là “typuzm”; trong tiếng
Anh có các từ liên quan “tour” là chuyến du lịch; “tourism” để chỉ các tổ chức
du lịch, “tourists” là khách du lịch.
Mặc dù có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ
nhanh như vậy, song cho đến nay lại tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về
khái niệm “du lịch”. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do góc độ
nghiên cứu khác nhau, do sự khác biệt về ngôn ngữ, do tính chất phức tạp của
hoạt động du lịch, do trình độ phát triển của hoạt động du lịch có sự chênh
lệch theo thời gian, không gian…Nhìn chung, cùng với quá trình phát triển
của trình độ khoa học kỹ thuật, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài
người, hoạt động du lịch ngày càng phát triển toàn diện và theo đó nhận thức
về khái niệm du lịch của con người cũng ngày càng thống nhất. Trong lịch sử
phát triển lý thuyết về khoa học du lịch, đã tồn tại khá nhiều quan điểm khác
5
nhau, chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm tiêu biểu về du lịch.
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa, Canada
tháng 6/1991: Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi
trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời
gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục
đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong
phạm vi vùng tới thăm. Định nghĩa này xem xét hoạt động du lịch có góc độ
khách du lịch, do vậy chưa phản ánh đầy đủ nội dung của hoạt động du lịch.
Trong luật du lịch được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua khóa I, kỳ họp thứ 7 tháng 6/2007, tại điều 4 thuật ngữ “du
lịch” và “ hoạt động du lịch” được hiểu như sau:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân
kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan nhà nước có liên quan đến
du lịch”.
Định nghĩa này xem xét du lịch như là một hoạt động, xem xét du lịch
thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các
chuyến đi.
Định nghĩa của Khoa Du lịch và Khách sạn, ĐHKTQD Hà Nội đã đưa
định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du
lịch thế giới và tại Việt Nam.
“Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức
hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ của những doanh
nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lưu trú, tham quan,giải
6
trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại
lợi ích kinh tế chính trị- xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản
thân doanh nghiệp”.
Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ nội dung và bản chất của hoạt động
du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ.
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được sự biến đổi trong nhận thức
về nội dung thuật ngữ du lịch, một số quan điểm cho rằng du lịch là một hiện
tượng xã hội, một số khác lại cho rằng đây phải là một hoạt động kinh tế,
nhiều học giả lồng ghép cả hai nội dung trên, tức du lịch là tổng hòa các mối
quan hệ kinh tế, xã hội phát sinh từ hoạt động di chuyển.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch
vừa có đặc điểm kinh tế, lại vừa có đặc điểm của ngành văn hóa- xã hội.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch
Theo luật Du lịch của Việt Nam (năm 2005) quy định: “Sản phẩm du
lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
trong chuyến đi du lịch. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ
hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và
những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”. Các đặc trưng
cơ bản của sản phẩm du lịch:
- Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể
trong đó yếu tố hữu hình là hàng hóa chỉ chiếm khoảng 10-20%, yếu tố
vô hình là dịch vụ du lịch chiếm khoảng 80-90%. Dịch vụ là kết quả
hoạt động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu
ích của chúng và có giá trị kinh tế. Chất lượng dịch vụ chính là sự phù
hợp với nhu cầu của khách hàng, được xác định bằng việc so sánh giữa
7
dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi. Các chỉ tiêu đánh giá chất
lượng dịch vụ là: Sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự bảo đảm, sự
đồng cảm, và tính hữu hình.
- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố TNDL. TNDL
bao gồm các thành phần và những kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và
thành quả lao động sáng tạo của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu du
lịch. TNDL có thể trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch thường không dịch chuyển được, mà khách du lịch
phải đến địa điểm có các sản phẩm du lịch tiêu dùng các sản phẩm đó,
thỏa mãn nhu cầu của mình.
- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau
về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các
hàng hóa khác. Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là
rất khó khăn. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du
lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch.
- Hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Việc tiêu thụ
sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, có thể chỉ tập trung
vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận
nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần),
trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như: du lịch
biển, núi…)
Có 3 yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du
lịch: khách du lịch, nhà cung ứng và phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật, cụ thể:
- Khách du lịch: Theo khoản 2 điều 4 Luật Du lịch (năm 2005) của Việt
Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ
trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
- Các nhà cung ứng du lịch: Bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức cung
8
cấp dịch vụ cho du khách. Các tổ chức chuyên trách về du lịch thường
được tổ chức theo mục tiêu tài chính hay theo quá trình. Các tổ chức
này có nhiệm vụ tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch(về sinh lý, an toàn,
giao tiếp xã hội) để cung ứng dịch vụ thỏa mãn sự trông đợi của họ(sự
tao nhã, sự sẵn sàng, kiến thức…); chăm lo đến việc đảm bảo đi lại và
phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch và phạm vi hoạt động
bao gồm: kinh doanh khách sạn, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và
các dịch vụ du lịch khác.
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Là toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội bảo
đảm cho điều kiện phát triển cho du lịch và phương tiện vật chất kỹ
thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch,
tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du
khách. Các yếu tố đặc trưng là hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu vui
chơi và giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bổ trợ.
1.1.3. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm tùy thuộc vào tiêu chí
đưa ra. Hiện nay, đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại
hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây:
1.1.3.1. Phân loại theo đặc điểm tự nhiên
- Du lịch văn hóa: Là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường
nhân văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch
nhân văn. Các đối tượng văn hóa- tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở
để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú, tài nguyên nhân văn
bao gồm các di tích, công trình đương đại, lễ hội, phong tục, tập quán,....
- Du lịch thiên nhiên: Là hoạt động du lịch diễn ra nhằm thỏa mãn nhu
cầu về với thiên nhiên của con người. Du lịch thiên nhiên bao gồm các
9
loại hình : du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn. Và nếu như tài
nguyên thiên nhiên hấp dẫn khách bởi sự hoang sơ, độc đáo và hiếm
hoi của nó,tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong
phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương
của nó.
- Du lịch miền biển: Mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên
tham gia các hoạt động du lịch biển như : tắm biển, thể thao biển.
- Du lịch núi: Đặc tính độc đáo và tính tương phản cao, miền núi rất thích
hợp cho việc xây dựng các loại hình tham quan, cắm trại, mạo hiểm...
Các điểm nghỉ mát Tam Đảo, Sapa, Ba vì, Đà Lạt... là những điểm nghỉ
đã xuất hiện khá lâu ở nước ta.
- Du lịch đô thị: Các thành phố, trung tâm có sức hấp dẫn bởi các công
trình kiến trúc lớn có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Mặt khác đô thị cũng
là đầu mối thương mại lớn nhất của đất nước. Vì vậy không chỉ người
dân ở vùng nông thôn bị hấp dẫn mà du khách từ các miền khác, các
thành phố khác cũng có nhu cầu để chiêm ngưỡng phố xá và mua sắm.
- Du lịch thôn quê: Làng quê là nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh
bình và có không gian thoáng đãng, nên nông thôn có thể giúp người dân
các đô thị phục hồi sức khỏe sau những ngày làm việc căng thẳng.
Về phương diện kinh tế, người dân đô thị nhận thấy giá cả nhiều mặt
hàng nông sản, thực phẩm ở nông thôn rẻ hơn, tươi hơn. Dưới góc độ xã hội
người thành thị thấy người dân ở làng quê tình cảm chân thành, mến khách và
trung thực. Tất cả những lý do trên giải thích tại sao du lịch nông thôn ngày
càng phát triển và cần được quan tâm thích đáng. Đây cũng là một trong
những đóng góp thiết thực của du lịch vào việc nâng cao mức sống của nông
dân Việt Nam.
10
1.1.3.2. Phân loại theo mục đích chuyến đi
- Du lịch tham quan: Tham quan là hành vi quan trọng của con người để
nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Đối tượng tham quan có thể
là một tài nguyên du lịch tự nhiên, một phong cảnh kì thú hay tài
nguyên du lịch nhân văn như một di tích hay một công trình đương
đại... Về mặt ý nghĩa hoạt động tham quan là một trong những hoạt
động để một chuyến đi được coi là một chuyến du lịch.
- Du lịch giải trí: Mục đích của chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi
công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe. Du khách
thường chọn một môi trường yên bình không đi lại nhiều. Ở Việt Nam,
tuy các khu vui chơi giải trí còn chưa hiện đại do hoàn cảnh chưa cho
phép song cũng thu hút được khá đông du khách trong và ngoài nước.
Ví dụ điển hình là khu du lịch Thiên đường Bảo Sơn cách thủ đô không
xa. Muốn thúc đẩy sự phát triển du lịch Việt Nam ngay từ bây giờ cần
quan tâm nhiều hơn nữa đến việc kinh doanh loại hình du lịch này (xây
dựng dự án đầu tư, đào tạo cán bộ nhân viên...)
- Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội quan trọng của
du lịch là hồi phục sức khỏe cộng đồng. Địa chỉ cho những chuyến nghỉ
dưỡng là nơi có không khí trong lành, dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục
như các bãi biển, các vùng ven bờ nước, vùng núi... Hiện nay ngành du
lịch Việt Nam chủ yếu kinh doanh loại hình du lịch này.
- Du lịch khám phá: Mục đích là nâng cao hiểu biết về thế giới xung
quanh. Địa chỉ lý thú cho những người ưa mạo hiểm là những con suối
chảy xiết, những ngọn núi chót vót, những hang động bí hiểm... Để
kinh doanh loại hình du lịch này cần có trang bị hỗ trợ cần thiết và đặc
biệt cần có chương trình và đội ngũ ứng cứu hết sức cơ động. Nước ta
có diện tích là đồi núi, nhiều núi cao, vực sâu lại nằm ở vùng nhiệt đới
11
gió mùa nên có nhiều điều kiện tạo ra các vùng phù hợp cho du lịch
khám phá. Tuy nhiên muốn khai thác loại hình này cần một nguồn vốn
không ít để đầu tư, đào tạo nhân viên nên so với các loại hình du lịch
khác trong thời gian trước mắt, du lịch mạo hiểm có ít cơ hội thuận lợi
hơn.
- Du lịch thể thao: Chơi thể thao nhằm mục đích nâng cao thể chất, phục
hồi sức khỏe... Đây là loại hình xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê thể
thao của con người. Để đáp ứng nhu cầu du lịch thể thao, cơ quan cung
ứng du lịch phải có cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, đội ngũ nhân viên phục
vụ phải có hiểu biết về loại hình thể thao cung ứng. Điểm du lịch phải
có các điều kiện thuận lợi và phù hợp.
- Du lịch lễ hội: Tham gia vào lễ hội du khách muốn hòa mình vào không
khí tưng bừng, vào các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn
kết của cộng đồng... Việc khôi phục các lễ hội truyền thống, việc tổ chức
các lễ hội mới không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan đoàn thể,
quần chúng xã hội mà còn là hướng quan trọng của ngành du lịch.
1.1.3.3. Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
- Du lịch quốc tế: Du lịch quốc tế đến là chuyến đi của người nước ngoài
đến tham quan du lịch. Du lịch ra nước ngoài là chuyến đi của người
trong nước ra tham quan du lịch ở nước ngoài. Du lịch quốc tế làm biến
đổi cán cân thu chi của quốc gia có tham gia du lịch quốc tế.
- Du lịch nội địa: Du lịch nội địa là các hoạt động tổ chức phục vụ người
trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch
trên lãnh thổ quốc gia.
1.1.3.4. Phân loại theo phương tiện giao thông
Du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch
12
bằng tàu thủy, du lịch bằng máy bay...
1.1.3.5. Phân loại theo loại hình lưu trú
Lưu trú là một trong những nhu cầu chính của du khách trong chuyến đi
du lịch. Dưới góc độ kinh doanh du lịch, trong giai đoạn hiện nay, lưu trú, vận
chuyển và ăn uống vẫn còn chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá thành của các sản
phẩm du lịch Việt Nam. Mặt khác tùy theo khả năng chi trả, sở thích của du
khách, hiện trạng và khả năng cung ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi du
lịch cụ thể với họ, du khách có thể được bố trí nghỉ lại cơ sở lưu trú phù hợp.
1.1.3.6. Phân loại theo hình thức tổ chức
Theo tiêu chí này người ta phân chia thành du lịch tập thể, du lịch cá
nhân và du lịch gia đình.
1.1.3.7. Phân loại theo độ dài chuyến đi
Có du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày
1.1.3.8. Phân loại theo phương thức hợp đồng
Có du lịch trọn gói và du lịch từng phần
1.1.4. Khái niệm về ngành du lịch
Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho
khách du lịch tiến hành hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục
đích thu phí. Ngành du lịch lấy du khách làm đối tượng, lấy tài nguyên thiên
nhiên làm chỗ dựa, lấy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch làm điều kiện vật chất,
cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho hoạt động du lịch. Ngành du lịch
đóng vai trò thiết lập mối liên hệ giữa du khách với tài nguyên du lịch, đồng
thời thông qua hoạt động kinh doanh của mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế
của địa phương, khu vực.
13
1.1.5. Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội
Du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” hay “ngòi nổ để
phát triển kinh tế” trong vấn đề thu hút ngoại tệ. Không những là ngành kinh
tế mũi nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc,
quốc gia và các miền trong một đất nước. Đồng thời, du lịch còn tạo ra một sự
trải nghiệm cho chính du khách, giúp họ nhìn nhận lại những giá trị quý báu
của dân tộc mà biết bao thế hệ, ngay cả chính họ đã phải đánh đổi bằng xương
máu của mình để tạo dựng nên. Đối với thế hệ trẻ thì du lịch là dịp để họ hiểu
hơn về công lao của cha ông mình, đồng thời cũng hiểu những giá trị nhân
văn, giá trị truyền thống và thiên nhiên mà họ đang được thừa hưởng.
- Về kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành mũi nhọn, chiếm một tỉ
trọng lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân. Theo chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam do Thủ tướng ban hành, tổng thu từ khách du lịch năm 2015 đạt
207 nghìn tỉ đồng (6% tổng GDP); năm 2020 đạt 372 nghìn tỉ đồng (chiếm
7% tổng GDP); năm 2025 đạt 523 nghìn tỉ đồng (7,2% tổng GDP); năm 2030
đạt 708 nghìn tỉ đồng (7,5% tổng GDP).
Doanh thu, tỉ trọng doanh thu, việc làm theo quy hoạch tổng thể phát
TT
Năm
Tỉ trọng doanh thu từ du lịch trong cơ cấu GDP (%)
Doanh thu từ du lịch (nghìn tỉ đồng)
Việc làm (triệu lao động)
1
2015
207
6%
2,1
2
2020
372
7%
2,9
3
2025
523
7,2%
3,5
4
2030
708
7,5%
4,7
triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030)
- Về việc làm: Do đặc tính hoạt động, du lịch còn góp phần không nhỏ
14
trong phát triển kinh tế vùng chậm phát triển, đồng thời giúp xoá đói, giảm
nghèo ở những vùng sâu vùng xa. Theo chiến lược phát triển du lịch Việt
Nam do Thủ tướng ban hành, năm 2015 tạo việc làm cho 2,1 triệu lao động;
năm 2020 là 2,9 triệu lao động; năm 2025 là 3,5 triệu lao động; năm 2030 là
4,7 triệu lao động. Qua đó tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội góp phần nâng
cao đời sống, đảm bảo an sinh và giải quyết các vấn đề xã hội.
- Về văn hóa: Du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn
và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Góp phần phát triển thể chất,
nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, tăng cường đoàn
kết, hữu nghị, tinh thần tự tôn dân tộc
- Về môi trường: Do đặc điểm ngành môi trường là một trong tiêu chí
then chốt để thu hút khách du lịch, quyết định tính yếu tố hấp dẫn, quyết định
chất lượng, giá trị thụ hưởng du lịch và thương hiệu du lịch. Do vậy, du lịch
góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường.
- Về an ninh quốc phòng: Góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ quốc gia, giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội
1.2. Khái niệm chuỗi giá trị du lịch
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị
Khái niệm ‘‘Chuỗi giá trị - Value chain’’ được GS. Michael Porter nêu
ra trong cuốn sách ‘‘Lợi thế cạnh tranh’’ được xuất bản vào năm 1985 là tập
hợp một chuỗi các hoạt động có liên kết theo chiều dọc nhằm tạo lập và làm
gia tăng giá trị.
15
Hình 1.1: Mô hình chuỗi giá trị theo Porter
(Nguồn: Ban nghiên cứu hành động chính sách (2007), Sổ tay thực hành phân tích
chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo, Trung tâm thông tin ADB, Hà Nội)
Mô hình chuỗi giá trị của Porter chia hai mảng hoạt động: hoạt động bổ
trợ và hoạt động chính. Các hoạt động chính: bao gồm đầu vào, sản xuất, đầu
ra, marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng.
Đầu vào: Những hoạt động liên quan đến việc nhận, lưu trữ, dịch
chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi,
kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp,...
Sản xuất: là hoạt động chuyển nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm
hoàn thành.
Đầu ra: gồm những hoạt động kết hợp thu thập, lưu trữ và phân phối
sản phẩm từ nhà sản xuất đến người mua.
Marketing và bán hàng: là những hoạt động liên quan đến việc quảng
cáo, khuyến mại, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ trong kênh
và định giá.
16
Dịch vụ khách hàng (dịch vụ sau bán hàng): liên quan đến việc cung
cấp dịch vụ nhằm gia tăng, duy trì giá trị của sản phẩm.
Các hoạt động hỗ trợ: bao gồm các hoạt động như thu mua, phát triển
công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của công ty.
Thu mua: liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào bao
gồm nguyên vật liệu, các nhà cung cấp, máy móc,…
Phát triển công nghệ: liên quan tới các bí quyết, quy trình, thủ tục, công
nghệ được sử dụng.
Quản trị nguồn nhân lực: bao gồm các hoạt động liên quan tới chiêu
mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho người lao động
trong công ty.
Cơ sở hạ tầng công ty: bao gồm quản lý chung, lập kế hoạch quản lý, tuân
thủ luật pháp, tài chính, kế toán, quản lý chất lượng, quản lý cơ sở vật chất,…
- Theo Kaplinsky R. và Morris M. (2001), khái niệm chuỗi giá trị là nói
đến tất cả những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ
từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi
phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.
Hình 1.2: Mối liên hệ trong chuỗi giá trị giản đơn
(Nguồn: Kaplinsky R. và Morris M. (2001), Chuỗi giá trị du lịch)
17
- Phương pháp liên kết chuỗi giá trị (ValueLinks) (2007). Phương pháp
liên kết chuỗi giá trị của GTZ (Deutsche Gesellschaft für Technische
Zusammenarbeit – Đức) cho rằng chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh
doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu
vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối
cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng. Hay chuỗi giá trị là một loạt
quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng chủ
yếu của mình để sản xuất, chế biến và phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó.
Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch sản xuất và
kinh doanh, trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất, sơ chế ban
đầu đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Hình 1.3: Phân đoạn chuỗi giá trị (các chức năng)
(Nguồn: GTZ (2007), The Methodology of Value Chain Promotion)
Hình 1.4: Sơ đồ chuỗi giá trị theo cách tiếp cận của GTZ
(Nguồn: GTZ (2007), The Methodology of Value Chain Promotion)
1.2.2. Chuỗi giá trị du lịch
Trong tài liệu Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị của dự án MP4,
GTZ: Value links mannual: The methodology of Value chain promotion cho
rằng: Trong ngành du lịch, cần phối hợp nhiều dịch vụ để cung cấp cho khách
18
hàng. Các sản phẩm du lịch thường là một chuỗi các dịch vụ được trình bày
trong hình dưới. Chuỗi giá trị trên thực tế là một cuộc hành trình trong đó
người đi du lịch chuyển động trong một loạt các dịch vụ được kết nối với
nhau. Hệ thống này chỉ vận hành khi tất cả các dịch vụ nếu đã sẵn sàng, vào
những thời điểm và với chất lượng phù hợp. Ở đây, các dịch vụ được cung
cấp bởi nhiều nhà cung cấp đơn lẻ nên đòi hỏi phải có một nhà cung cấp dịch
vụ có chức năng điều phối – hãng du lịch hay nhà vận hành tour du lịch.
Sự khác biệt dễ nhận thấy nhất so với chuỗi giá trị của sản phẩm hữu
hình là: chính khách hàng - người du lịch – được “chế biến” chứ không phải
là hàng hoá. Đối với mỗi dịch vụ khách du lịch tiêu thụ trong hành trình của
mình thì cần có một nhà cung cấp dịch vụ thứ cấp. Ví dụ như các trường quản
lý khách sạn, dịch vụ giải trí, dịch vụ bảo dưỡng,…Như vậy, việc lập bản đồ
toàn bộ chuỗi (Ví dụ như du lịch sinh thái tại một vùng núi cụ thể nào đó) có
thể trở nên rất phức tạp. Tuy nhiên, nếu như tất cả mọi yếu tố đều chưa sẵn
sàng thì sẽ không có được sức hút trong dịch vụ này. Ít nhất là một bản đồ
chuỗi giá trị du lịch cũng có thể được dùng như một bản danh sách những
Hãng du lịch
Khách sạn
Công ty xe bus
Công ty xe bus
Nhà vận hành, nhóm văn hóa
Nhà vận hành tour du lịch
Nhà vận hành tour (chương trình) du lịch
mục cần kiểm tra.
Hình 1.5: Sơ đồ chuỗi giá trị trong ngành du lịch theo cách tiếp cận của GTZ
(Nguồn: GTZ (2007), Value Links Mannual: The Methodology of
Value Chain Promotion)
19
Trong báo cáo đề tài: “Phát triển chuỗi giá trị du lịch bền vững cho tỉnh
Đắk Lắk (2007)” được soạn bởi Nguyễn Đức Hoa Cương cho rằng: Du lịch là
một sản phẩm phức hợp bao gồm sự cung cấp của rất nhiều công ty du lịch
cũng như các tổ chức chính phủ, lợi nhuận và phi lợi nhuận. Cùng với nhau
họ tạo thành các chuỗi du lịch - một chuỗi các hoạt động tuần tự, diễn viên,
phim và các vật liệu cần thiết để sản xuất một chuyến đi nghỉ.
1.2.3. Phân biệt chuỗi giá trị du lịch với chuỗi cung ứng
Về cơ bản chúng giống nhau vì cả hai bao gồm mạng lưới như nhau
của các thành viên, những người có mối liên hệ với các thành viên khác để
cung cấp hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng cuối cùng. Nếu chúng ta so
sánh định nghĩa của mỗi chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị chúng ta nhận thấy
sự giống và khác nhau của chúng. Chuỗi cung ứng như hàm ý của nó, tập
trung vào hiệu quả và chi phí cung ứng. Chuỗi cung ứng được hiểu là việc
mang nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất và hoàn thiện sản phẩm tới
người tiêu dùng một cách suôn sẻ và tiết kiệm. Mục tiêu đầu tiên của chuỗi
cung ứng là đáp ứng nhu cầu khách hàng thông qua việc sử dụng hiệu quả
nhất các nguồn lực bao gồm: việc phân bổ công suất, tài nguyên và lao động.
Một chuỗi cung ứng cố gắng tìm kiếm để làm cho phù hợp nhu cầu với khả
năng cung ứng của tài nguyên khoáng sản. Khía cạnh khác của việc đánh giá
một cách lạc quan chuỗi cung ứng bao gồm việc giữ liên lạc với nhà cung cấp
để loại trừ những yếu tố làm đình trệ khâu sản xuất; chiến lược nguồn lực để
tạo nên một sự thăng bằng giữa chi phí nguyên vật liệu và vận chuyển thấp
nhất; phương tiện kỹ thuật “Just in time” để đánh giá một cách lạc quan dòng
chảy sản xuất; duy trì sự phối hợp đúng đắn giữa vị trí công ty và kho hàng để
phục vụ thị trường tiêu dùng, và sử dụng vị trí/sự chỉ định vị trí, phân tích
đường vận chuyển, chương trình động lực và dĩ nhiên, sự lạc quan vận chuyển
truyền thống để tối đa hiệu quả của việc phân phối.
20
Ngược lại, chuỗi giá trị bố trí sự tập trung của nó vào tổng giá trị cho
người tiêu dùng. Vì thế, mục tiêu của một chuỗi giá trị là tối đa giá trị tại chi
phí thấp nhất có thể cho người tiêu dùng. Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa
một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị là một sự thay đổi cơ bản trong sự
tập trung từ việc cung cấp dựa vào người tiêu dùng.
Do đó chiến lược giảm giá và cắt giảm chi phí không đủ để đảm đảm
cho lợi thế thị trường có thể chống đỡ được trong thời gian dài, nó cần thiết
cho công ty để cung cấp giá trị, cái mà sẽ biện minh cho giá cả sản phẩm. Vì
vậy, bản thân chuỗi cung ứng đã tiến triển để làm cho khớp nguồn cung và giá
trị. Dấu hiệu có thể được chú ý trong định nghĩa một chuỗi cung ứng từ the
Global Supply Chain Forum (1998): “Sự hợp lại thành một hệ thống nhất của
quá trình kinh tế cơ bản từ người sử dụng cuối cùng cho đến người cung ứng
đầu tiên cung ứng sản phẩm, dịch vụ và thông tin, những thứ làm tăng thêm
giá trị cho người tiêu dùng và khách hàng tiềm năng khác”. Quan điểm một
chuỗi cung ứng phải làm tăng thêm giá trị cho khách hàng đang làm giảm đi
sự khác biệt tương phản giữa một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị.
1.3. Nội dung cơ bản trong phân tích chuỗi giá trị du lịch
1.3.1. Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị bắt đầu với quá trình lập sơ đồ chuỗi giá trị. Lập
sơ đồ một chuỗi có nghĩa là tạo ra một hình ảnh của các kết nối giữa các
doanh nghiệp trong chuỗi giá trị cũng như các tác nhân khác. để hiểu được
chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dùng các mô hình,
bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung
được bản chất của nó. Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm cho những gì
chúng ta nhìn thấy dễ hiểu hơn. Lập sơ đồ chuỗi giá trị có ba mục tiêu chính: -
21
Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác
nhân và quy trình trong một chuỗi giá trị.
- Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong
chuỗi giá trị.
- Cung cấp cho các bên liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của
riêng họ trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên, điều quan trọng là không để nhầm lẫn
giữa lập sơ đồ chuỗi giá trị với phân tích chuỗi giá trị. Lập sơ đồ chuỗi giá trị
có nghĩa là để cung cấp một bức tranh toàn cảnh của chuỗi giá trị phải được
nghiên cứu. Sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để minh họa (hoặc có thể đơn giản
hóa) sự phức tạp của chuỗi giá trị trong thế giới thực. Phân tích chuỗi giá trị là
xác định những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó có các giải pháp
khắc phục để sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền
vững. Xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị không phải là một công việc nhanh chóng.
Thay vào đó, nó được thực hành và phát triển trong suốt quá trình phân tích
chuỗi giá trị "Việc thực hiện lập sơ đồ chuỗi giá trị có thể bao gồm nhiều quy
trình cốt lõi của chuỗi giá trị. Vì vậy, dựa trên nguồn lực có sẵn, phạm vi và
mục tiêu của phân tích chuỗi giá trị và nhiệm vụ của tổ chức để lựa chọn các
quy trình cốt lõi được lập rất quan trọng. Nguyên tắc là phân biệt được quá
trình chuyển đổi sản phẩm trong nhiều giai đoạn để trở thành sản phẩm cuối
cùng cho khách hàng cuối cùng là gì? Điều quan trọng là hạn chế việc phân
tích chuỗi giá trị cho một số lượng nhất định các quy trình cốt lõi. Nếu không,
nó sẽ quá phức tạp và làm tốn quá nhiều thời gian và nguồn lực. để lập được
sơ đồ chuỗi giá trị, nghiên cứu cần tập trung vào những vấn đề sau đây:
- Nhận diện các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị: Bước đầu tiên là
tìm ra các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị. Cần xác định và phân biệt được
các quy trình chính mà nguyên liệu thô luân chuyển qua trước khi đến giai
22
đoạn tiêu dùng cuối cùng. Các quy trình cốt lõi này sẽ khác nhau và tùy thuộc
vào tính chất của chuỗi mà ta lập sơ đồ.
- Xác định những tác nhân trực tiếp tham gia vào quy trình: cần xác
định xem các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị là những đối tượng nào và
chúng làm những công việc cụ thể gì. để phân biệt giữa các tác nhân tham gia
là tùy vào mức độ phức tạp mà việc lập sơ đồ muốn đạt được. Sự khác biệt
đơn giản nhất là để phân loại các tác nhân theo nghề nghiệp chính của họ. Ví
dụ, người thu gom là những người thực hiện thu gom, trong khi sản xuất là
những người tham gia trong sản xuất. Đây là phân loại đơn giản nhưng không
cung cấp nhiều thông tin. Các tiêu chí phân loại khác có thể là: hình thức sở
hữu (nhà nước, doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh, hợp tác xã, hộ gia
đình,...), quy mô (lớn, vừa hoặc nhỏ, quy mô quốc gia hoặc quốc tế,…), phân
loại theo địa điểm (xã, huyện, tỉnh, quốc gia,…).
- Lập sơ đồ dòng sản phẩm: Sau khi các quy trình cốt lõi, các tác nhân
và các hoạt động cụ thể trong chuỗi giá trị đã được vạch ra, dòng sản phẩm sẽ
được xác định. Các dòng sản phẩm sẽ cho biết quá trình trở thành sản phẩm
cuối cùng: sự chuyển đổi của các sản phẩm từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối
cùng sẵn sàng để bán cho khách hàng cuối cùng.
- Lập sơ đồ khối lượng sản phẩm: Khối lượng của sản phẩm khi xác
định sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về quy mô của các kênh khác nhau
trong chuỗi giá trị.
- Theo mô hình phân tích chuỗi giá trị, ngoài các tác nhân nội bộ trực
tiếp tham gia vào các quá trình cốt lõi, vẫn có tồn tại những tác nhân bên
ngoài cung cấp dịch vụ. Mặc dù các tác nhân bên ngoài cung cấp dịch vụ gián
tiếp tham gia nhưng có ảnh hưởng đến hiệu suất của chuỗi trong một cách này
hay cách khác. Do đó, cần được phân tích đầy đủ. Một rủi ro tiềm ẩn của việc
phân tích chuỗi giá trị là các môi trường xung quanh không được xem xét
23
đến. Khi lập sơ đồ dịch vụ kinh doanh kèm theo vào các chuỗi giá trị, chúng
ta cần chú ý dịch vụ có thể được phân loại thành các dịch vụ kinh doanh và
các dịch vụ hỗ trợ. Dịch vụ kinh doanh được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch
vụ chuyên ngành trên cơ sở lệ phí cho dịch vụ từ môi trường xung quanh.
Dịch vụ hỗ trợ được cung cấp như một phần của giao dịch giữa người mua và
nhà cung cấp trong chuỗi.
1.3.2. Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị
Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế
của chuỗi. Các chỉ tiêu kinh tế của chuỗi giá trị như doanh thu, chi phí, lợi
nhuận, giá trị gia tăng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu,…Cần phân tích kỹ để
tìm hiểu sự phân phối lợi ích trong chuỗi như thế nào. Một số chỉ tiêu thường
sử dụng để phân tích chuỗi giá trị như: Doanh thu: Doanh thu tính bằng cách
nhân số lượng hàng bán (Q) với giá bán (P) cộng thêm các nguồn thu nhập
thêm như doanh thu từ việc bán phế phẩm, tư vấn, doanh thu từ các dịch vụ
có liên quan,… Ta có công thức sau
Doanh thu = (Q x P) + những nguồn thu nhập khác
Giá cả khác nhau tùy theo kênh phân phối, đoạn thị trường và tùy theo
loại và chất lượng hàng bán. Giá cả cũng có thể thay đổi theo mùa hoặc có thể
khác nhau theo từng ngày. Chi phí và lợi nhuận: Việc phân tích chi phí và lợi
nhuận có vai trò rất quan trọng đối với người phân tích chuỗi giá trị vì các
thông số về chi phí và lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra các
quyết định có liên quan đến chuỗi. Cụ thể như sau:
- Xác định các chi phí hoạt động và đầu tư đang được phân chia giữa
những người tham gia chuỗi giá trị để đưa ra quyết định có thể tham gia chuỗi
hay không.
24
- Xác định doanh thu và lợi nhuận đang được phân chia giữa những
người tham gia chuỗi giá trị và đưa ra kết luận những người tham gia có thể
tăng lợi nhuận trong chuỗi giá trị được không.
- Xem chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị thay đổi theo thời
gian như thế nào để làm cơ sở dự đoán tăng trưởng hoặc suy giảm trong chuỗi
giá trị trong tương lai.
- So sánh lợi nhuận của một chuỗi giá trị với lợi nhuận của một chuỗi
giá trị khác để đưa ra quyết định nên chuyển từ chuỗi giá trị này sang chuỗi
giá trị khác hay không. - So sánh chuỗi giá trị của mình với thực tiễn tốt nhất
để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chuỗi giá trị của mình. Sự so sánh này
nhằm giúp xác định các nhu cầu và tiềm năng nâng cấp, đồng thời định dạng
các cơ hội thị trường mới. Giá trị gia tăng: là thước đo về giá trị được tạo ra
trong nền kinh tế. Theo McCormick/ Schmictz, giá trị gia tăng là giá trị mà
được cộng thêm vào hàng hóa và dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất
hay tiêu thụ mặt hàng đó. Với cách hiểu đó, ta có thể tính giá trị gia tăng theo
Giá trị gia tăng = Tổng giá trị bản sản phẩm – Giá trị các hàng hóa trung gian
= Giá Số lượng sản phẩm cuối cùng đã bán
Tổng giá trị bán sản phẩm
công thức sau:
Giá trị gia tăng: Hàng hóa trung gian
- Bao gồm tiền lương - Nguyên liệu thô
- lãi suất và cho vay - Đầu vào
- phá giá - Sản phẩm cuối cùng
- thuế thực thu - Các dịch vụ vận hành
- lợi nhuận
25
Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêu
dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng. Người tiêu dùng không tạo ra
giá trị gia tăng.
1.3.3. Quản trị chuỗi giá trị
Quản trị chuỗi giá trị được định nghĩa là các mối quan hệ giữa các bên
tham gia và các cơ chế thể chế, thông qua đó các hoạt động điều phối phi thị
trường được thực hiện. Quản trị chuỗi giá trị dễ dàng được nhận ra trong mối
quan hệ giữa các công ty hàng đầu trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một ví dụ rõ
ràng là các siêu thị hàng đầu của Anh thực hiện kiểm soát trên toàn chuỗi
cung cấp rau quả tươi, không chỉ xác định các loại sản phẩm mà họ muốn
mua (bao gồm giống, chế biến và đóng gói), mà còn các quá trình như hệ
thống chất lượng cần phải được đặt đúng chỗ. Những yêu cầu này được thực
thi thông qua một hệ thống kiểm tra, kiểm soát kỹ lưỡng và thông qua quyết
định cuối cùng giữ hay loại bỏ một nhà cung cấp. Rõ ràng, quản trị trong
chuỗi giá trị là việc thực hiện kiểm soát dọc theo chuỗi. Trong ba yếu tố của
môi trường xung quanh của một chuỗi giá trị là quy tắc và các quy định. Quy
tắc và quy định là một phần không thể tách rời trong việc quản lý chuỗi giá
trị. Quản trị đảm bảo rằng các tương tác giữa các tác nhân cùng một chuỗi giá
trị được phản ánh một cách có tổ chức chứ không phải là ngẫu nhiên. Trong
thực tế, quản trị đề cập đến các quy tắc và quy định được thiết lập bởi các tác
nhân trong chuỗi hoặc bởi những tổ chức nằm ngoài chuỗi như các chính phủ,
các tổ chức phi chính phủ, và tổ chức kiểm soát chất lượng. Trong trường hợp
này đơn giản có thể là yêu cầu đối với sản phẩm bán buôn nông nghiệp được
thu hoạch một cách chính xác để ngăn chặn thiệt hại và suy thoái. Ngược lại,
chúng có thể phức tạp như là sự thực thi đạt tiêu chuẩn quốc tế về mức độ cho
phép của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm nhập khẩu của
một chính phủ nước ngoài. Một ví dụ khác là thủ tục đối với một công ty đa
26
quốc gia như là một điều kiện tham gia cho một nhà thầu phụ trong chuỗi giá
trị toàn cầu của nó. Theo Kaplinsky và Morris (2001), có ba hình thức quản
trị chuỗi giá trị, cụ thể là thiết lập luật quản trị, quản trị điều hành và quản trị
tư pháp. Thiết lập luật quản trị đề cập đến các vấn đề về thiết lập quy tắc và
quy định điều chỉnh hoạt động của chuỗi giá trị. Một khi các quy tắc và các
quy định được sinh ra, việc giám sát thực hiện để đảm bảo việc tuân thủ các
quy tắc là cần thiết. Đây là chức năng quản trị tư pháp. Xử phạt cả hai tiêu
cực và tích cực là chìa khoá quản trị tư pháp. Tuy nhiên, để đáp ứng những
quy tắc và các quy định, các tác nhân trong chuỗi giá trị có thể cần sự trợ giúp
điều hành quản trị về việc hỗ trợ người tham gia trong chuỗi giá trị để thực
hiện các quy tắc và các quy định yêu cầu. Ba hình thức của quản trị có thể
được thực hiện bởi cả những tác nhân bên ngoài và bên trong chuỗi giá trị.
Phần lớn các cuộc thảo luận hiện tại của quản trị không nhận ra sự khác biệt
này của ba loại quản trị này, bởi vì trong một số trường hợp, các bên cùng
được cho là bao gồm tất cả ba loại tác động của ba loại quản trị.
1.3.4. Nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó
khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu
của thị trường và phát triển chuỗi một cách bền vững. Có 4 loại nâng cấp
chuỗi sau:
- Nâng cấp theo quy trình: tức là cải tiến công nghệ sản xuất, tiêu thụ và
hậu cần. Hay nói cách khác đó là việc tăng hiệu quả của quy trình bên
trong hơn so với các đối thủ, kể cả trong một khâu và giữa các khâu
trong chuỗi.
- Nâng cấp sản phẩm: tức là việc đổi mới, đa dạng hóa hay cải tiến sản
phẩm cuối cùng. Hay là đưa ra các sản phẩm mới hoặc cải thiện các sản
27
phẩm hiện có nhanh hơn các đối thủ, kể cả trong một khâu và giữa các
khâu trong chuỗi.
- Nâng cấp chức năng: có nghĩa là việc chuyển các chức năng của chuỗi
giá trị từ một người vận hành này sang một người vận hành khác. Hay
là thêm giá trị gia tăng thông qua thay đổi một số hoạt động trong công
ty hoặc chuyển trọng tâm các hoạt động tới các khâu khác trong chuỗi
giá trị.
- Nâng cấp chuỗi: chuyển đến một chuỗi giá trị mới.
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu để nâng cấp chuỗi
Loại nâng cấp
Thực hiện
Kết quả
Nâng cấp quy trình
- Trong từng khâu
Nghiên cứu và phát triển, thay đổi hệ thống hậu cần và
tăng chất Giảm chi phí, lượng và khả năng giao
quản lý chất lượng, đầu tư máy móc mới
hàng, giảm thời gian đưa hàng tới thị trường, cải thiện
lợi nhuận, thúc đẩy thương hiệu.
- Giữa các khâu
Nghiên cứu và phát triển, cải tiến quản lý chuỗi cung ứng,
Giảm giá thành sản phẩm cuối cùng, tăng chất lượng
khả năng kinh doanh điện tử, hỗ trợ trao đổi trong
của sản phẩm cuối cùng, giảm thời gian đưa hàng đến
chuỗi cung ứng
thiện
trường, cải
lợi thị nhuận cho cả chuỗi, thúc đẩy thương hiệu.
Nâng cấp sản phẩm
- Trong từng khâu
Mở rộng phòng thiết kế và
Tỷ lệ phần trăm sản phẩm
marketing; thiết lập và thúc đẩy các bộ phận chức năng
mới trong tổng doanh thu. Tỷ lệ phần trăm sản phẩm có
phát triển sản phẩm mới.
trong
tổng
thương hiệu doanh thu.
28
- Giữa các khâu
Hợp tác với nhà cung ứng và
Số nhãn hiệu có bản quyền.
khách hàng để phát triển sản phẩm mới - ứng dụng kỹ
Tăng giá sản phẩm ở mức tương đối mà không bị mất
thuật đồng bộ
thị phần
Nâng cấp chức năng
- Trong từng khâu
Đạt được các chức năng tạo
Phân công lao động trong
ra giá trị gia tăng mới cao hơn từ các liên kết khác trong chuỗi hoặc thuê ngoài
chuỗi. Các chức năng cốt lõi được thực hiện trong từng khâu cụ thể của chuỗi
các chức năng có giá trị gia tăng thấp.
- Giữa các khâu
Chuyển đến khâu mới trong
Tăng lợi nhuận, tăng kỹ
năng, tăng tiền lương.
chuỗi hoặc rời bỏ các khâu hiện tại
Nâng cấp chuỗi
Ngừng sản xuất trong chuỗi và chuyển sang chuỗi mới;
Lợi nhuận cao hơn, tỉ lệ doanh thu từ khu vực sản
xuất mới
thêm các hoạt động mới trong chuỗi mới
(Nguồn: Phạm Thị Hoàn Nguyên (2011), Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ
đại dương tại Tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Nha Trang)
Để nâng cấp chuỗi thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò
chủ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò hỗ trợ các
tác nhân trong quá trình nâng cấp. Đồng thời, liên kết ngang và liên kết dọc
phải được củng cố và phát triển
1.3.5. Liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
1.3.5.1 Khái niệm liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các
hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực
hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh
doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
29
theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình
đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và
trong khuôn khổ pháp luật của các nước.
1.3.5.2 Các hình thức liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
- Liên kết ngang: là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu
(Ví dụ: liên kết những người nghèo sản xuất/kinh doanh riêng lẻ
thành lập nhóm cộng đồng/ tổ hợp tác) để giảm chi phí, tăng giá bán
sản phẩm.
- Liên kết dọc: là liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi (Ví dụ: nhóm
cộng đồng liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng tiêu thụ
sản phẩm).
1.3.5.3 Lợi ích của liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
- Đối với liên kết ngang: (1) Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho
từng thành viên của tổ/nhóm qua đó tăng lợi ích kinh tế cho từng
thành viên của tổ; (2) Tổ/nhóm có thể đảm bảo được chất lượng và
số lượng cho khách hàng; (3) Tổ/nhóm có thể ký hợp đồng đầu ra,
sản xuất quy mô lớn; (4) Tổ/nhóm phát triển sản xuất, kinh doanh
một cách bền vững.
- Đối với liên kết dọc: (1) Giảm chi phí chuỗi; (2) Có cùng tiếng nói
của những người trong chuỗi; (3) Hợp đồng bao tiêu sản phẩm được
bảo vệ bởi luật pháp nhà nước; (4) Tất cả thông tin thị trường đều
được các tác nhân biết được để sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường.
(5) Niềm tin phát triển chuỗi rất cao.
1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu chuỗi giá trị trong ngành du lịch
Phân tích chuỗi giá trị được xem như là công cụ đắc lực giúp cho
những nhà quản trị du lịch, người giữ vai trò quản lý trong tổ chức, doanh
30
nghiệp xác định đâu là những hoạt động chính của một công ty, một sản
phẩm, một ngành hàng và xác định xem mỗi hoạt động đã góp phần vào chiến
lược cạnh tranh cũng như sự phát triển của công ty, của ngành hàng đó như
thế nào.
Phương pháp phân tích chuỗi giá trị là một công cụ mô tả nhằm giúp
cho nhà quản trị du lịch kiểm soát được sự tương tác giữa những tác nhân
tham gia khác nhau trong chuỗi. Là một công cụ có tính mô tả nên nó có lợi
thế ở chỗ buộc người phân tích phải xem xét cả các khía cạnh vi mô và vĩ mô
trong các hoạt động sản xuất và trao đổi, nhằm chỉ ra được năng lực cạnh
tranh của một công ty, một ngành hàng… có thể bị ảnh hưởng do tính không
hiệu quả ở một khâu nào đó trong chuỗi giá trị.
Giúp cho nhà quản trị du lịch đo lường được hiệu quả chung của sản
phẩm, của ngành hàng và xác định được mức đóng góp cụ thể của từng tác
nhân tham gia chuỗi để có cơ sở đưa ra những quyết định phù hợp.
Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân
phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi, từ đó khuyến khích sự hợp
tác giữa các yếu tố trong chuỗi để việc phân phối lợi ích vươn tới sự công
bằng, tạo ra nhiều hơn giá trị tăng thêm và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị
trường.
Giúp cho các nhà tạo lập chính sách có nguồn thông tin cần thiết để có
những giải pháp phù hợp và không ngừng hoàn thiện chính sách vĩ mô nhằm
phát triển bền vững chuỗi ngành hàng
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị du lịch
1.5.1. Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố mang tính rộng lớn, chúng có tác
động và ảnh hưởng tới toàn bộ môi trường cạnh tranh và môi trường bên trong
31
của tổ chức. Các tổ chức không thể kiểm soát được những biến đổi của các yếu
tố trong môi trường vĩ mô, nhưng tổ chức có thể vận dụng những thuận lợi và
khó khăn do nó gây ra, biến nó thành cơ hội kinh doanh của mình. Các yếu tố
quan trọng trong môi trường vĩ mô có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của
doanh nghiệp trong ngành du lịch bao gồm: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị
và luật pháp, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ.
1.5.1.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch (TNDL) là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử
cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí
lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên
này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ
du lịch. TNDL có thể chia làm hai nhóm:
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tượng và hiện tượng trong môi
trường tự nhiên bao quanh chúng ta. TNDL tự nhiên chính là môi
trường sống của hoạt động du lịch. Các thành phần của tự nhiên có ý
nghĩa nhất đối với hoạt động du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước,
động, thực vật.
- Tài nguyên du lịch nhân văn : Là các đối tượng và hiện tượng được tạo
ra một cách nhân tạo là các di tích lịch sử- văn hóa- kiến, các lễ hội, các
đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa- thể thao
và hoạt động nhận thức khác
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt.
Quy mô, tính chất, sức hấp dẫn và tính mùa vụ của hoạt động du lịch trên một
vùng lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng, tính chất và mức độ giá trị
của nguồn TNDL. TNDL có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của
ngành du lịch, đến việc hình thành cấu trúc và chuyên môn hóa các vùng du
32
lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch.
1.5.1.2. Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng và quyết định đến hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu nền
kinh tế, tỷ giá hối đoái là những yếu tố kinh tế thường xuyên tác động đến
hoạt động của mọi tổ chức nói chung và ngành du lịch nói riêng. Đối với
ngành du lịch nếu các chỉ số của nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ làm cho thu
nhập của dân cư gia tăng, đời sống được cải thiện, nhu cầu du lịch vì thế cũng
sẽ tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành.
1.5.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng (CSHT) nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy
mạnh du lịch. Bản chất của du lịch là di chuyển, do vậy nó phụ thuộc vào
mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông. Thông tin liên lạc là điều kiện
cần thiết để đảm bảo thông tin giữa khách du lịch, các nhà cung cấp. Trong
CSHT phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống điện, nước phục vụ trực
tiếp cho nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách. Ngày nay, sự hoàn thiện của
CSHT còn được coi là một hướng hoàn thiện chất lượng phục vụ du lịch, là
phương thức cạnh tranh giữa các điểm du lịch, giữa các quốc gia.
Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT): đóng vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức
độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.
Sự đa dạng, phong phú trong nhu cầu của du khách đòi hỏi CSVCKT du lịch
bao gồm nhiều thành phần khác nhau: các cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống; thể
thao, giải trí... Chúng tồn tại một cách độc lập tương đối nhưng lại có một
quan hệ khăng khít: tính đồng bộ của hệ thống phục vụ du lịch góp phần nâng
cao tính đồng bộ của sản phẩm du lịch, tính hấp dẫn của điểm du lịch. Do vậy,
33
việc phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn
thiện CSVCKT du lịch.
1.5.1.4. Hội nhập kinh tế
Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, ngày càng có nhiều nước tham
gia, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là một xu thế phản ánh nguyện vọng
và đòi hỏi của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong bối cảnh đó, nhu cầu du lịch
tăng cao, du lịch thế giới phát triển nhanh với xu thế chuyển dần sang khu vực
Đông Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Đây thực sự là
một cơ hội tạo đà cho du lịch Việt Nam phát triển. Về nhu cầu khách du lịch
vào Việt Nam ngày càng tăng từ các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Đức,
Mỹ, Đông Nam Á. Các thủ tục xuất, nhập cảnh được cải tiến đáng kể, thuận
lợi cho khách vào Việt Nam du lịch. Đặc biệt việc miễn visa hay như cho
phép khách Trung Quốc vào tất cả các tỉnh thành trong cả nước.
Tuy nhiên, cạnh tranh du lịch trong khu vực và thế giới sẽ được đẩy lên
ở mức cao trong điều kiện toàn cầu hóa. Hiện tại, nguồn khách quốc tế do các
công ty lữ hành quốc tế lớn chi phối, các biến động khó lường của khủng
hoảng tài chính, năng lượng thiên tai, của chiến tranh cục bộ xung đột vũ
trang, xung đột dân tộc, tôn giáo chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật
đổ, khủng bố.
Du lịch Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển điểm xuất phát
quá chậm so với du lịch nhiều nước trong khu vực. Cơ sở hạ tầng chưa theo
kịp tốc độ phát triển, chất lượng dịch vụ thấp, giá cả cao, sản phẩm chưa
phong phú... Hệ thống các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến phát
triển du lịch thiếu đồng bộ, cơ chế chưa thật thông thoáng so với yêu cầu phát
triển và hội nhập quốc tế, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản lý và
phát triển. Thực tế này dẫn tới năng lực cạnh tranh thấp.
34
Vốn đầu tư phát triển du lịch còn rất thiếu, trong khi đó đầu tư lại chưa
được đồng bộ, kém hiệu quả là một thách thức không nhỏ đối với sự phát
triển của ngành du lịch. Nhận thức xã hội về du lịch vẫn còn nhiều bất cập,
thiếu thống nhất trong xây dựng, chỉ đạo, quản lý và thực hiện quy hoạch
ngành và lãnh thổ.
1.5.1.5. Yếu tố chính trị - pháp luật
Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở
đảm bảo cho sự thuận lợi, bình đẳng cho các tổ chức trong nền kinh tế. Đặc
biệt, Ngành du lịch là ngành chịu sự tác động trực tiếp toàn diện của môi
trường chính trị, luật pháp và do đó nó rất nhậy cảm với những biến động của
môi trường này. Ngành chịu sự tác động của đường lối phát triển của quốc gia
thể hiện ở hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của
nhà nước và tổ chức bộ máy cơ chế điều hành từ trung ương đến địa phương.
Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, coi trọng
các quốc gia là bạn và là đối tác tin cậy của nhau là cơ hội thuận lợi cho
ngành du lịch phát triển trên các phương diện khai thác thị trường, tránh được
các rủi ro trong kinh doanh do bạo loạn chính trị, đảm bảo được sự an toàn và
an ninh cho khách du lịch quốc tế.
1.5.1.6. Yếu tố văn hóa – xã hội
Đây là nhóm yếu tố quan trọng tạo lập nên nhân cách và lối sống của
người tiêu dung, đồng thời cũng là cơ sở để các ngành kinh doanh trong đó có
ngành du lịch lựa chọn và điều chỉnh các quyết định kinh doanh. Trong ngành
du lịch, trình độ văn hóa và dân trí cao hay thấp quyết định đến thái độ cư xử
đối với du khách trong giao tiếp, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ du khách,
tạo nên sự hấp dẫn thu hút du khách.
35
1.5.1.7. Yếu tố công nghệ - kỹ thuật
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình
đô thị hóa tác động sâu sắc đến toàn bộ cá hoạt động kinh tế và xã hội, trong
đó có du lịch. Một mặt nó tạo điều kiện cần thiết để hình thành các nhu cầu du
lịch, mặt khác các yếu tố này làm cho sự cân bằng nhịp sống bị phá vỡ, buộc
con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại, từ đó nẩy sinh nhu cầu du lịch
dưới nhiều dạng khác nhau. Ngoài ra, việc áp 26 dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật để cải tiến công nghệ trong sản xuất du lịch sẽ góp phần nâng cao
năng suất, giảm chi phí sản xuất và do vậy làm tăng khả năng cạnh tranh của
ngành du lịch.
1.5.2. Môi trường vi mô
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố
ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh
trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Đối với hoạt động kinh doanh của ngành
du lịch thì 2 yếu tố cơ bản ảnh hưởng chủ yếu đến sự cạnh tranh trong ngành
đó là: đối thủ cạnh tranh và khách hàng. Sự phân tích, đánh giá chính xác các
yếu tố này giúp ngành du lịch nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên
quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành đối diện.
1.5.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối
với các tổ chức do nhiều lý do. Các đối thủ cạnh tranh với nhau quyết định
tính chất và mức độ tranh đua, hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ
thuộc vào các đối thủ cạnh tranh. Mưc độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương
tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ
tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản
phẩm. Để cạnh tranh trên thị trường du lịch, ngành du lịch của một địa
36
phương cần xác định được thị trường nục tiêu và phát huy được lợi thế cạnh
tranh của ngành để áp dụng đúng các chiến lược cho phù hợp với lợi thế cạnh
tranh và thị trường mục tiêu.
1.5.2.2. Khách hàng
Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị lớn lao của
doanh nghiệp. Sự tín nhiệm đó có được khi tổ chức thỏa mãn các nhu cầu và
thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp cần
lập bảng phân loại khách hàng hiện tại và tương lai. Các thông tin có được từ
bảng phân loại là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến
lược nhất là các chiến lược liên quan trực tiếp đến marketing.
1.5.3. Môi trường nội bộ
Các yếu tố của môi trường nội bộ cấu thành năng lực cạnh tranh của
ngành du lịch bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như: nguồn nhân lực, nguồn lực
vật chất, hoạt động marketing.
1.5.3.1. Nguồn nhân lực
Phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp các doanh nghiệp
đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ
chức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so
với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí, sử dụng
nguồn nhân lực hiện có. Đánh giá khách quan nguồn nhân lực giúp cho tổ
chức chủ động thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cho các thành viên của tổ
chức nhằm đảm bảo thực hiện chiến lược thành công lâu dài và thích nghi với
những yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong môi trường
cạnh tranh.
1.5.3.2. Nguồn lực vật chất
Phân tích và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất là cơ sở quan
37
trọng để tổ chức hiểu rõ các nguồn lực vật chất tiềm năng, những hạn chế để
có quyết định quản trị thích nghi với thực tế. Tổ chức cần đánh giá và xác
định các điểm mạnh và điểm yếu về từng nguồn lực vật chất so với những đối
thủ cạnh tranh trong ngành và trên thị trường theo khu vực địa lý.
1.5.3.3. Hoạt động marketing
Nghiên cứu môi trường marketing giúp tổ chức nhận diện các cơ hội thị
trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị
trường, đồng thời phân tích khách hàng và các yếu tố liên quan để hình thành
các chiến lược marketing định hướng khách hàng và marketing cạnh tranh.
1.6. Những kinh nghiệm của nước ngoài và bài học cho du lịch Việt Nam
1.6.1. Singapore
Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6
kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore”
(năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển
chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm
2005), “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012).
Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo
tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong
Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển
chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch
mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát
triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập
trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch;
giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện
tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến
lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát
triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô
38
địch du lịch Singapore”.
Trong “Du lịch 2015” (năm 2005), Singapore tập trung phát triển các
thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát
triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch
vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ
tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch
chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2012,
Singapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu
đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển
nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2015, Singapore sẽ đầu tư cho Quỹ phát
triển du lịch là 2 tỉ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu lượt khách du lịch
quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỉ đô Sing.
1.6.2. Thái Lan
a. Liên kết du lịch chặt chẽ
Từ “3S” đến “4S” và liên kết phát triển bền vững: Có thế nói, du lịch
Thái Lan có cú hích mạnh mẽ và trở thành “thỏi nam châm” thu hút du khách
khắp nơi trên thế giới nhờ chủ trương phát triển du lịch theo công thức “3S”,
tức là sun (mặt trời), sea (biển) và sex (tình dục) từ hơn 10 năm trước.
b. “Phần cứng thì giá mềm mà phần mềm thì giá cao”
Phần cứng thì mềm: Thái Lan có chủ trương "số đông trước" do đó họ
đưa ra chính sách thu hút bằng cạnh tranh về giá. Thái Lan bắt buộc phải phối
hợp với các Công ty du lịch của các nước để xây dựng tour với giá rẻ nhất. Để
làm được điều đó, các khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi cùng thống nhất hạ
giá cho khách tour. Ví dụ như hãng máy bay bán vé nhóm giá hạ 30 - 40%,
khách sạn cũng giảm 40 - 50%, nhà hàng và các điểm du lịch thì bán vé đoàn,
tính ra mỗi du khách chỉ mất 20% so với đi lẻ.
Phần mềm thì giá cao: Điểm khác biệt rất lớn giữa người bán hàng ở
Thái Lan và những nơi khác rất khác nhau, người Thái rất hiền, buôn bán
đàng hoàng, thân thiện, không hề thấy cảnh chèo kéo bán hàng. Ví dụ ngành
39
du lịch Thái Lan kết hợp với các cơ sở sản xuất để "móc túi" khách vô cùng
nghệ thuật. Điển hình như du khách sẽ được đi tham quan viện nghiên cứu
nọc độc rắn ở Bangkok. Sau khi xem màn biểu diễn "hôn" rắn rùng rợn của
nghệ nhân Thái, du khách sẽ được đưa vào phòng nghe thuyết trình về các
dược liệu sản xuất từ rắn. Khách nước nào sẽ có người thuyết trình bằng tiếng
nước đó, dược sĩ mà giới thiệu sản phẩm cực kỳ chuyên nghiệp. Tuy giá khá
cao trung bình 100USD/ lọ 80 viên, nhưng không ít du khách sẵn sàng mua.
c. Cơ chế lờ của chính phủ.
Thành phố Pattaya là điển hình cho cơ chế này, nó nổi tiếng với 4S:
sun, sea, sand và sex (lần lượt là nắng, biển, cát và sex). Có trung tâm hành
chính riêng, thành phố gần như một khu tự trị. Được chính phủ cho phép, họ
tổ chức rất nhiều chương trình giải trí có yếu tố sexy để thu hút du khách. Sau
một ngày dài vui chơi sẽ thật sai lầm nếu bạn vùi mình trong khách sạn bởi
cuộc sống về đêm mới là khuôn mặt Pattaya đầy màu sắc. Và tại đây có 3
hoạt động nóng bỏng công khai là: show các diễn viên chuyển giới biểu diễn
(Tiffany Show hay Alcazar Show), Sexy Show với các show người mẫu,
show khí công, show do các diễn viên đến từ Châu Âu và còn lại là các quán
bar vũ trường trên khu phố đi bộ.
1.6.3. Bài học đối với du lịch Việt Nam
Tầm nhìn chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du
lịch. Kinh nghiệm từ Singapore cho thấy họ đã có chiến lược phát triển ngành
du lịch từ nhưng năm 1965 và đã có những bước nhảy thần kỳ. Và đó là bài
học vô cùng quan trọng để Việt Nam học hỏi tích lỹ kinh nghiệm. Trong giai
đoạn trước mắt, Việt Nam cần lưu ý đến những vấn đề sau:
a) Liên kết với các điểm du lịch lân cận và các thành phố lớn
Muốn phát triển du lịch thì không thể đơn lẻ, cần có sự liên kết giữa các
địa phương, các vùng miền để tạo thành các tour du lịch độc đáo thu hút du
khách. Hơn nữa, cũng cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành nghề phục
40
vụ cho du lịch như nông nghiệp, thương mại,… nhằm mục đích giữ chân
được du khách càng lâu càng tốt, có như vậy mới tăng doanh thu cho ngành
du lịch, góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương.
b) Liên kết phân chia lợi ích giữa chuỗi dịch vụ
Để phát triển du lịch, điều quan trọng đầu tiên là cần phải thu hút được du
khách đến với Việt Nam, việc đầu tiên cần làm là tìm cách giảm giá các tour, kết
hợp với thương mại để “móc túi” du khách bù đắp lại phần giảm giá tour.
c) Đưa ra các chính sách quản lý phù hợp nhằm tạo ra được sự thu hút
trong khuôn khổ pháp lý cho phép
Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch đủ mạnh từ trung
ương đến địa phương tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ của ngành kinh tế
mũi nhọn. Thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng về ưu tiên phát triển
du lịch bằng việc hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về du lịch trong điều
kiện mới. Phối hợp với các cấp, các ngành xây dựng các chính sách khuyến
khích phát triển du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách vào Việt Nam, phù
hợp thông lệ quốc tế.
d) Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch
Phát triển nguồn nhân lực và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
trong du lịch, con người là yếu tố hàng đầu của sự nghiệp phát triển du lịch.
Nghiên cứu phát triển công nghệ du lịch, đặc biệt là ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý Nhà nước và kinh doanh du lịch, khuyến khích đầu tư
công nghệ mới trong các lĩnh vực lữ hành, vận chuyển, khách sạn, tuyên
truyền quảng bá nhằm nâng cao vị trí của du lịch Việt Nam trong khu vực và
quốc tế.
41
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn tác giả muốn đề cập và giới thiệu những vấn đề
cơ bản về hoạt động du lịch, qua đây người đọc có thể phần nào tổng quát
được những khái niệm cơ bản về du lịch, các loại hình du lịch và những khái
niệm cơ bản về chuỗi giá trị cũng như tìm hiểu sâu hơn về mô hình chuỗi giá
trị đối với du lịch là như thế nào.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói và là một trong những
ngành mũi nhọn thúc đẩy phát triển kinh tế. Và để ngành này phát triển cũng
đòi hòi nhiều yếu tố và không tránh khỏi những khó khăn, thách thức.
Bên cạnh việc nắm bắt những vấn đề cơ bản về hoạt động du lịch và
những kinh nghiệm quý báu từ các nước phát triển khác, từ đó chúng ta sẽ có
cái nhìn nhận đúng đắn cho việc đóng góp vào sự phát triển chung của du lịch
Ninh Bình nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.
42
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH
GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
2.1. Tiềm năng, các nguồn lực và tình hình phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình
- Vị trí địa lý: Ninh Bình có diện tích 1.390,11 km², nằm ở cực
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
nam Đồng bằng Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 19050’ đến 20027’ vĩ độ Bắc và
105032’ đến 106033 kinh độ Đông. Về mặt hành chính, Ninh Bình có 8 đơn vị
hành chính bao gồm: thành phố Ninh Bình - là trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hóa - xã hội của tỉnh; thị xã Tam Điệp và 6 huyện: Yên Mô, Yên Khánh,
Kim Sơn, Gia Viễn, Hoa Lư và Nho Quan. Ninh Bình cách Hà Nội 93 km về
phía Nam trên trục quốc lộ 1A và đường sắt xuyên suốt Bắc - Nam, cả hai
trục đường ôtô và đường sắt chạy xuyên suốt Bắc - Nam đều qua đây (với
hai nút giao thông chính là thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp).
Hình 2.1: Bản đồ du lịch tỉnh Ninh Bình
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch Ninh Bình)
43
- Địa hình: Ninh Bình có địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, đồi núi,
nửa đồi núi và vùng ven biển. Sự phân hóa về địa hình, đặc biệt là sự xuất
hiện của dạng địa hình đặc biệt là hiện tượng phong hóa đặc trưng của những
miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn đã làm cho địa hình trở thành tài
nguyên quan trọng cho Ninh Bình trong phát triển các loại hình du lịch. Điển
hình trong số đó phải kể đến khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân
- Khí hậu: Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng
Long, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, khu du lịch sinh thái Tràng An...
sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam,
còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng
núi. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 -
12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 - tháng 10. Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 24,20C. Số giờ nắng trung bình mỗi tháng là
117,3 giờ. Tổng nhiệt độ năm đạt tới trị số trên 8.5000C. Độ ẩm trung
bình hàng năm là 83% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong
năm: tháng 2 cao nhất là 89%, tháng 11 thấp nhất là 75%; giữa các vùng
chênh lệch nhau trên dưới 1%. Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh đạt từ
1.860 - 1.950 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của
tỉnh. Trung bình một năm có 125 - 127 ngày mưa. Lượng mưa trung bình
mỗi tháng là 238,8 mm; tháng 9 cao nhất là 816 mm, tháng 1 thấp nhất là
8,5 mm. Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, thường tập trung vào các
tháng từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm từ 86 - 91% tổng lượng mưa trong
năm. Như vậy có thể thấy, thời gian thuận lợi nhất cho hoạt động du lịch trên
địa bàn tỉnh kéo dài từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 8 đến tháng 12 hàng
- Thuỷ văn: Ninh Bình có nhiều sông và đầm hồ. Hàng năm, hệ
năm. Đây là thời gian không quá khô nóng, cũng như không có mưa nhiều.
thống sông ngòi ở Ninh Bình được nuôi dưỡng bằng nguồn nước mưa dồi
44
dào, tạo nên lượng dòng chảy tương đối phong phú (khoảng 30l/s/km2). Mật
- Sinh vật: Thảm thực vật rừng phong phú, tập trung ở Vườn quốc
độ mạng lưới sông ngòi khoảng 0,6-0,9 km/km2.
gia Cúc Phương. Rừng Cúc Phương thuộc loại rừng mưa nhiệt đới điển
hình với cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng (tới 5 tầng, tầng vượt tán có
những cây cao 40-50m), phong phú về thành phần loài. Đây còn là nơi gặp
gỡ của các loài thực vật dễ di thực từ vùng nhiệt đới khô như Ấn Độ, Miến
Điện tới. Một số loài thực vật điển hình là chò xanh (Terminalia
Mgriocarpa), cây lê (brassaiopsis cucphalobgensis thuộc họ Araliacsae),
cây chân chim (Schefflera globulihera thuộc họ Araliacsae). Động vật ở Cúc
Phương cũng rất phong phú. Hiện đã phát hiện được 233 loài động vật có
xương sống, nhiều loài chim và 24 bộ côn trùng trong số 30 bộ côn trùng
thường gặp ở nước ta. Đặc biệt có những loại quý hiếm như Phượng hoàng
- Đất đai: Ninh Bình có tổng diện tích tự nhiên là 139.011 ha,
đất ở Tràng An, Vọoc mông trắng ở Vân Long...
trong đó đất cho sản xuất nông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57% diện tích
tự nhiên), đất lâm nghiệp 27.644 ha (chiếm 19,89% diện tích tự nhiên), đất
chuyên dùng 15.197 ha (chiếm 10,93% diện tích tự nhiên), đất khu dân cư
5.346 ha (chiếm 3,85% diện tích tự nhiên) và đất chưa sử dụng 17.094 ha
- Tài nguyên khoáng sản: Đá vôi với trữ lượng hàng chục tỉ m3,
(chiếm 12,3% diện tích tự nhiên).
chất lượng tốt, đất sét, tài nguyên nước khoáng,... các tài nguyên khác như
cát xây dựng, sét gốm sứ, sét xi măng, gạch ngói trữ lượng nhỏ, phân bố rải
rác ven vùng đồi núi thấp ven thị xã Tam Điệp, Gia Viễn, Yên Mô. Bên cạnh
đó, Ninh Bình còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn của quốc gia ở miền
Bắc như: bể than Quảng Ninh; thuỷ điện Hoà Bình; Nhiệt điện Phả Lại... giúp
cho Ninh Bình thoả mãn các nhu cầu về than, điện phục vụ cho phát triển sản
45
xuất cũng như nhu cầu dân sinh.
- Đặc điểm dân cư, dân tộc: Dân số Ninh Bình hiện có 926.995
2.1.2. Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội
người (năm 2013), chiếm 4,54% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và
1,03% dân số của cả nước. Trong tổng dân số của tỉnh có 49,9% là nam,
50,1% là nữ; dân số thành thị chiếm 19,48%, dân số nông thôn chiếm
80,52%. Mật độ dân số chung toàn tỉnh là 673 người/km2, cao nhất là
TP.Ninh Bình 2.467 người/km2 và huyện Yên Khánh 987 người/km2; thấp
nhấp là huyện Nho Quan 331 người/km2. tỉ lệ tăng dân số tự nhiên những
năm gần đây có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao, năm 2000 là 1,02%
đến năm 2013 giảm xuống còn 0,672% (mức bình quân cả nước là 1,2%).
Cộng đồng các dân tộc đang sống trong tỉnh gồm có: dân tộc Kinh trên
98,2% ; dân tộc Mường chiếm 1,7% ; các dân tộc như Tày, Nùng, Thái, Hoa,
- Điều kiện kinh tế - xã hội : Trong những năm gần đây kinh tế
Hmong, Dao,... mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người.
Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, năm 2012 xếp thứ 11/63,
năm 2013 xếp thứ 21/63, năm 2014 xếp thứ 28/63. Ninh Bình là một trong
những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam; thu ngân sách
năm 2013 đạt 2.825 tỉ đồng, là tỉnh thứ 26/64 đạt mức thu trên 1000 tỷ.
Trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/64 và 43/64.
Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây
dựng với số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều trong đó nổi bật là các
doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu
tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên Hà (công suất
0,6 triệu tấn/năm), xi măng Hướng Dương (công suất 2 triệu tấn/năm).v.v. Sản
phẩm chủ lực của địa phương là xi măng, đá, thép, vôi, gạch,…
46
Tính đến năm 2014, Ninh Bình có 7 khu công nghiệp, gồm: Gián
Khẩu, Ninh Phúc, Tam Điệp, Phúc Sơn, Sơn Hà, Xích Thổ và Khánh Cư,
22 cụm công nghiệp với diện tích 880 ha. Nghề thủ công truyền thống địa
phương có: thêu ren ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim
Sơn, Yên Khánh..., đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, sản xuất đồ đá
mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư). Về thu hút đầu tư, tỉnh hiện có những
dự án công nghiệp với mức đầu tư lớn đang được triển khai xây dựng
như: Nhà máy phân đạm công suất 56 vạn tấn/năm, nhà máy sản xuất
phụ tùng động cơ tàu thuỷ Vinashin với vốn đầu tư 1.200 t ỉ đồng, nhà
máy sản xuất sô đa đầu tư 1.300 tỉ, nhà máy sản xuất phôi thép Ninh
Bình đầu tư 560 tỉ đồng.
Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều
thành phần. Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng
Đồng Giao Tam Điệp chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm;
vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản;
vùng Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch. Lĩnh vực nuôi thuỷ sản
phát triển khá ổn định, nhất là ở khu vực nuôi thả thuỷ sản nước ngọt.
Nguồn lao động của Ninh Bình khá đông đảo, được đào tạo tương đối
cơ bản; ngày càng được bổ sung lực lượng lao động trẻ có kiến thức văn
hoá và trình độ chuyên môn, có khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội trên địa bàn
của tỉnh.
Giáo dục và đào tạo đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục
THCS từ tháng 12/2002; 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh có
trường học cao tầng, kiên cố.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và khối đại đoàn kết
dân tộc được giữ vững và ổn định; hệ thống Đảng, Chính quyền, các Đoàn thể
47
nhân dân tiếp tục được xây dựng và hoạt động có hiệu quả.
2.1.3. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Khó có nơi nào được thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nhiều thắng cảnh
hữu tình như Ninh Bình. Đặc điểm về địa hình kết hợp với các thành phần tự
nhiên khác như hệ thống thủy văn, lớp phủ thực vật... đã tạo cho Ninh Bình
tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng
đất này nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng: Quần
thể danh thắng Tràng An đã được UNESSCO công nhận là Di sản văn
hoá và thiên nhiên thế giới, đây là di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam
và cả Đông nam Á; Vườn quốc gia Cúc Phương với hệ động thực vật
phong phú; Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long với đa
dạng sinh học, nhiều loài động thực vật được ghi vào Sách đỏ Việt Nam;
khu du lịch sinh thái hồ Yên Thắng - Yên Đồng - động Mã Tiên với cảnh
quan đặc sắc; Vùng ven biển Kim Sơn - một bộ phận của Khu dự trữ sinh
quyển châu thổ sông Hồng chứa đựng những hoạt động kiến tạo địa chất
và đa dạng sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu… Đây là tiền đề quan
trọng cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch sinh
thái, du lịch vui chơi giải trí, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch
(1) Quần thể hang động Tràng An: Nằm ở thôn Tràng An, xã
tham quan… Một số tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu như:
Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách cố đô Hoa Lư khoảng 4km về phía Nam,
diện tích trên 1.961 ha, với những dải đá vôi, các thung lũng và những
dòng sông ngòi đan xen vào nhau tạo nên một không gian huyền ảo và thơ
mộng. Với 48 hang xuyên thuỷ động, đây là quần thể hang động có một
(2) Vườn quốc gia Cúc Phương (huyện Nho Quan): Vườn quốc
không hai ở Việt Nam.
48
gia Cúc Phương được thành lập vào 7/7/1962, có diện tích 22.200 ha,
trong đó 1/2 là núi đá vôi cao từ 300 đến 648m so với mặt biển. Đây là
vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Vườn có hệ động thực vật phong
phú, đa dạng. Hiện nay, vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành một trung
tâm cung cấp các loài thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho
các chương trình trồng rừng trong khu vực và trên cả nước. Đến Cúc
Phương đẹp nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Một khu rừng
nguyên sinh với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đa dạng, phong phú được bảo
(3) Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long: Khu bảo tồn
vệ nghiêm ngặt.
thiên nhiên đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ
sinh thái núi đá ngập nước có diện tích lớn nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng
(khoảng 2.643 ha). Đây cũng là nơi khoanh vùng bảo vệ loài Voọc quần đùi
trắng - một loài linh trưởng quý hiếm đã được ghi trong Sách đỏ thế giới. Vân
(4) Tam Cốc: Tam Cốc nghĩa là ba hang: hang Cả, hang Hai và
Long là một vùng đất còn ít được khám phá với cảnh quan đặc biệt hấp dẫn.
hang Ba ở thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Du khách vào thăm
Tam Cốc chỉ có một con đường thủy duy nhất, vào ra mất khoảng hơn 1
giờ đồng hồ. Lúc thuyền luồn vào ba hang, du khách sẽ cảm nhận được làn
không khí trong lành, mát lạnh của hương đồng gió nội. Thạch nhũ từ trần
(5) Động Địch Lộng: Động thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn,
hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo.
được nhân dân phát hiện từ năm 1739. Động Địch Lộng còn có tên khác là
động Nham Sơn. Cảnh đẹp của Địch Lộng được vua Minh Mạng ban tặng
cho 5 chữ khi đến thăm nơi đây - “Nam thiên đệ tam động” (Động đẹp thứ 3
(6) Động Tiên: Động Tiên còn có tên gọi khác là động Móc, ở thôn
trời Nam).
49
Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách Bích Động gần
1km. Động gồm có ba hang lớn, rộng, và cao vời vợi. Đến thăm động
Tiên, du khách sẽ như lạc bước vào chốn bồng lai, tiên cảnh, được khám
(7) Đèo Tam Điệp: Đèo Tam Điệp còn có tên là đèo Ba Dội đã đi vào
phá và hoà mình vào khung cảnh tự nhiên kỳ thú.
trong thơ ca của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Đèo thuộc thị xã Tam
Điệp. Nơi đây có 3 dãy núi đá vôi chạy suốt từ Hòa Bình về, ăn ra biển Đông
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Chỗ núi đá hạ thấp xuống gọi là Đèo. Vì có
ba đèo liền nhau nên gọi là Tam Điệp. Đèo Tam Điệp không chỉ là một thắng
cảnh mà còn là một di tích lịch sử nổi tiếng đã đi vào lịch sử, đi vào thơ văn
(8) Suối nước nóng Kênh Gà: Suối nước nóng mặn Kênh Gà thuộc thôn
của các thi nhân xưa và nay.
Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn. Núi Kênh Gà trông xa như hình một
con lạc đà đang đi, nơi đây có một nguồn nước suối nóng mặn, vì thế suối có
tên là Kênh Gà. Nước khoáng Kênh Gà là một trong số rất ít mỏ nước khoáng
(9) Động Vân Trình: Động Vân Trình rộng gần 3.500m2, là một
lộ thiên ở nước ta có giá trị to lớn trong y học để phòng và chữa bệnh.
động lớn nhất và đẹp nhất của tỉnh Ninh Bình, sánh ngang với động Thiên
Cung ở Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). Động Vân Trình còn giữ nguyên
được nét đẹp trinh nguyên, tinh khiết của đá. Du khách đến đây không cần
phải tưởng tượng về chốn bồng lai tiên cảnh, mà chính hang đã là cảnh thần
(10) Động Sinh Dược (thuộc thôn Xuân Trì, xã Gia Sinh, huyện Gia
tiên hiện giữa cõi trần.
Viễn): Đây là một động xuyên thủy dài gần 2km. Du khách sẽ bị cuốn hút bởi
vẻ đẹp kỳ ảo của động và không thể khám phá hết cái thế giới kỳ thú này
chỉ thông qua một chuyến đi.
50
(11) Động Hoa Lư: Động Hoa Lư còn gọi là Thung Lau, thuộc
thôn Mai Phương xã Gia Hưng huyện Gia Viễn. Đây là căn cứ ban đầu của
Đinh Bộ Lĩnh. Khi theo mẹ về quê, lúc đầu ở cạnh đền Sơn Thần (Gia Thủy,
Nho Quan gần đó) Đinh Bộ Lĩnh đã cùng lũ trẻ chăn trâu lấy hoa lau làm cờ tập
(12) Hồ Đồng Chương: Một hồ nước trong nằm giữa hai xã Phú Lộc
trận cờ lau tại động Hoa Lư.
và Phú Long, huyện Nho Quan có tên gọi là Đồng Chương. Du khách đến đây
sẽ thấy được vẻ đẹp hòa quyện của thiên nhiên và con người nơi đây, vì thế
(13) Hồ Đồng Thái: Hồ Đồng Thái thuộc địa bàn hai xã Đông Sơn
Đồng Chương được ví như “Đà Lạt” của Ninh Bình.
(Thị xã Tam Điệp) và Yên Đồng (huyện Yên Mô) có diện tích rộng hơn
380ha được bao bọc bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ và con đê trải dài hơn 10 km. Hồ có trữ lượng hơn 8.000.000m3 nước với không chỉ phục vụ cho
tưới tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà còn là một điểm du lịch sinh
(14) Núi chùa Bái Đính (xã Gia Sinh, huyện Gia viễn): Núi Bái Đính
thái lý tưởng.
hiện còn giữ được nét nguyên sơ của núi rừng xa xưa, cây cối tươi tốt, có
nhiều cây cao to bao phủ núi non, xanh mướt một màu dịu mát. Hiện nay
khu núi chùa Bái Đính được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch 390 ha. Đây là
ngôi chùa nổi tiếng với nhiều kỷ lục châu Á và khu vực: Tượng Phật bằng
đồng dát vàng lớn nhất châu Á; Tượng Phật Di lặc bằng đồng lớn nhất
Đông Nam Á; Chuông đồng lớn nhất Việt Nam; Khu chùa rộng nhất Việt
Nam; Khu chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á; Khu chùa có nhiều
tượng La Hán nhất Việt Nam; Khu chùa có Giếng Ngọc lớn nhất Việt Nam;
(15) Núi Dục Thúy (núi Non Nước): Núi Dục Thúy (hay còn gọi là
Khu chùa có số cây bồ đề nhiều nhất Việt Nam.
núi Non Nước), tạo nên vẻ huyền diệu, sơn thủy hữu tình ngay tại trung tâm
51
thành phố Ninh Bình. Núi cao khoảng gần 70m, đỉnh tương đối bằng phẳng.
Thế núi như muốn nhô ra để soi trọn mình trên dòng sông Đáy, tạo thành
một mái hiên hình vòm cuốn, đổ bóng che rợp một khoảng sông có chiều
dài gần 50m. Núi còn có một số tên gọi khác như Băng Sơn, Lạc Sơn, Lạc
Thủy, Sơn Thủy, Hộ Thành Sơn, Thanh Hoa Ngoại Trấn Sơn, Trấn Hải Đài,
(16) Hệ sinh thái vùng ven biển Kim Sơn: Với 18 km đường bờ biển
Dục Thúy Sơn Hải Khẩu...
nơi có cửa sông đổ ra với sự hình thành cồn nổi rộng khoảng gần 1.000ha
cách bờ biển khoảng 8km, thảm thực vật ngập mặn đã hình thành tạo thành
nơi cư trú của nhiều loài sinh vật, đặc biệt là một số loài chim di cư quý hiếm
như Cò Thìa… Đây cũng là một dạng tài nguyên du lịch tự nhiên có bãi tắm
(17) Hệ thống sông Ninh Bình: Các sông lớn ở Ninh Bình bao gồm
biển rất có ý nghĩa đối với sự phát triển du lịch biển của Ninh Bình.
sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc, sông Lạng… chảy theo
hướng Tây Bắc- Đông Nam đổ ra biển. Đặc biệt cảnh quan ở ven sông Hoàng
Long có sự thay đổi theo mùa (mùa nước và mùa khô), vì vậy du khách sẽ có
được những cảm xúc khác nhau về cảnh quan, về những sinh hoạt truyền thống
của người dân ở làng quê tiêu biểu cho đồng bằng sông Hồng.
Ngoài ra, Ninh Bình còn có nhiều vùng cảnh quan khác có giá trị, đặc
biệt là hệ thống các hang động karst nằm trải dài dọc theo lãnh thổ của tỉnh
như : Hệ thống hang động Tràng An, động Mã Tiên, động Hang Mát, động
Trà Tu, động Hang Dơi, hang Bụt,.. đều là những tài nguyên du lịch có giá trị.
2.1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị vật chất cũng như tinh
thần do bàn tay và khối óc của sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc anh
em cùng chung sống ở Ninh Bình sáng tạo và gìn giữ trong dòng chảy
52
của cuộc sống. Các tài nguyên này bao gồm những di tích lịch sử - văn hóa,
di tích lịch sử - cách mạng, các làng nghề thủ công truyền thống, những giá
trị văn hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội... thể hiện bản sắc văn
hóa hết sức đa dạng của nhân dân Ninh Bình và là nguồn lực thu hút khách
(1) Nhóm các di tích lịch sử - văn hóa: Ninh Bình có 1.499 di tích,
du lịch trong và ngoài nước. Có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:
trong đó có 79 di tích cấp quốc gia (trong đó có 2 di tích cấp quốc gia đặc biệt
đó là: Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư và Danh lam thắng cảnh
- Cố đô Hoa Lư: Là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền
Tràng An – Tam Cốc – Bích Động) và 235 di tích cấp tỉnh.
đầu tiên ở nước ta, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nằm trên một
- Đền vua Đinh (làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện
diện tích trải rộng khoảng 400ha.
Hoa Lư): Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Đền Đinh Tiên Hoàng là một kiến
trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt
- Đền vua Lê (làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư):
Nam ở thế kỷ 17 - 19.
Đền thờ vua Lê Đại Hành cách đền vua Đinh chừng 300m. Trước mặt đền
là núi Đèn, sau lưng là núi Đìa. Điều đặc biệt ở đền thờ vua Lê Đại Hành là
- Chùa Bích Động (thôn Đam Khê trong, xã Ninh Hải, huyện Hoa
nghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo.
Lư): Chùa Bích Động là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng trên
sườn núi Bích Động. Điều độc đáo là chùa được xây cất ở sườn núi cao, dựa
vào thế núi. Toàn công trình chùa Bích Động bao gồm 3 ngôi chùa: chùa Hạ,
- Đền Thái Vy (thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Đền
chùa Trung và chùa Thượng.
53
thờ Trần Thái Tông, Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và
Trần Thánh Tôn. Đền Thái Vy được xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại
- Đền Vua Đinh Tiên Hoàng (thôn Văn Bòng, xã Gia Phương,
quốc”. Trước đền có giếng Ngọc xây bằng đá xanh.
huyện Gia Viễn): thôn Văn Bòng là quê hương của Đinh Tiên Hoàng đế, vì
vậy người dân nơi đây đã lập đền thờ ông. Đền có quy mô nhỏ, tuy nhiên du
khách đến thăm nơi đây như được trở về thăm quê hương của người anh
hùng thế kỷ thứ X với nhiều huyền thoại về một thời thơ ấu của Đinh Bộ Lĩnh
cùng với những người bạn thủa ấu thơ đã từng chăn trâu cắt cỏ như Đinh
Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ... và nuôi chí lớn dẹp loạn 12 sứ quân
- Chùa Địch Lộng (thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn): Địch Lộng
thống nhất đất nước.
nghĩa là tiếng sáo thổi, khi đứng ở cửa động, gió thổi vào cửa động, nghe có
tiếng vi vu như tiếng sáo. Vì làng có tên là Địch Lộng nên chùa cũng được
- Nhà thờ đá Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn): cách
gọi theo tên làng. Chùa Địch Lộng là một cụm kiến trúc chùa và đình.
Hà Nội 120 km về phía Nam, được xây dựng từ năm 1875 đến năm 1898.
Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp. Đây là một quần thể kiến trúc
gồm có: Ao hồ, Phương Đình, Nhà thờ lớn với bốn nhà thờ cạnh ở hai bên,
ba hang đá nhân tạo, nhà thờ đá. Nhà thờ Phát Diệm, một công trình kiến trúc
độc đáo có một không hai ở Việt Nam. Các công trình kiến trúc nguy nga,
tráng lệ nhưng hài hòa với cảnh vật thiên nhiên, sự hài hòa của nghệ thuật
- Đền đức Thánh Nguyễn (đền Nguyễn Minh Không): tọa lạc tại
kiến trúc á Đông và Âu Châu.
(2) Nhóm các lễ hội: Tính đến hết năm 2013, toàn tỉnh có 242 lễ
xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn, thờ quốc sư Nguyễn Minh Không.
54
hội truyền thống và nhiều hội làng mang đậm yếu tố dân gian, đậm đà văn
- Lễ hội đền Đinh - Lê (lễ hội Trường Yên): Hội được tổ chức vào
hoá vùng đất châu thổ sông Hồng. Những lễ hội lớn như:
ngày mồng 10 đến 13 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Trường Yên, Huyện
Hoa Lư (Cố đô Hoa Lư) để tưởng nhớ công đức vua Đinh Tiên Hoàng và vua
- Lễ hội đền Thái Vi: Hội được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến
Lê Đại Hành, bao gồm hai phần lễ và hội.
ngày 17 tháng 3 âm lịch tại thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Đây
là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao
- Lễ hội chùa Địch Lộng: Lễ hội được tổ chức vào hai ngày: mùng 6
các vua Trần - những người có công lớn với dân với nước.
và mùng 7 tháng 3 (âm lịch) tại chùa Địch Lộng thuộc huyện Gia Thanh,
- Lễ hội chùa Bái Đính: được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng
huyện Gia Viễn.
hàng năm tại thôn Sinh Dược xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn. Cũng như các
- Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng
lễ hội khác, hội gồm có hai phần là phần lễ và phần hội.
- Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: tổ chức vào 3 ngày, từ ngày 13 đến
giêng (âm lịch) hàng năm tại đình làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô.
ngày 15 tháng 11 (âm lịch) tại đền Nguyễn Công Trứ thuộc xã Quang Thiện,
(3) Các làng nghề truyền thống: Những nghề truyền thống tiêu biểu
huyện Kim Sơn.
ở Ninh Bình hiện nay là: Nghề chạm khắc đá (tập trung ở xã Ninh Vân,
huyện Hoa Lư); nghề thêu ren (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư); nghề làm hàng
cói (ở huyện Kim Sơn, Yên Khánh); nghề mộc (tập trung nhiều ở phường
Ninh Phong, thành phố Ninh Bình); nghề đan lát (ở Gia Viễn, Nho Quan)...
55
(4) Ẩm thực Ninh Bình: Về văn hoá ẩm thực, từ lâu, Ninh Bình đã
nổi tiếng với bún mọc Kim Sơn, rượu Lai Thành, tái dê, ngọc dương tửu, cá
rô Tổng Trường (Hoa Lư), nem chua Yên Mạc, mắm tép Gia Viễn, cá chuối
nướng Vân Long, nhất hưởng thiên kim (cơm cháy), rượu cần Nho Quan…
Các món ăn đặc sản trên cũng là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị. Hay nói
một cách hình tượng, thì văn hoá ẩm thực như cái duyên, tô điểm cho môi
trường du lịch hấp dẫn.
2.2. Phân tích chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình
2.2.1. Đánh giá mô hình chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau để phân tích chuỗi
giá trị. Trong để tài nghiên cứu này, tác giả kết hợp từ nhiều nguồn tài liệu
khác nhau như cách tiếp cận của Micheal Porter (1985), Kaplinsky and
Morris (2001), phương pháp phân tích chuỗi giá trị của dự án MP4, GTZ để
Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý sản phẩm dịch vụ
Các hoạt động hỗ trợ
Công nghệ thông tin và viễn thông
Các hoạt động chính
Dịch vụ vận chuyển
Dịch vụ tại điểm đến
Điểm tham quan du lịch
Thị trường khách
Tư vấn khách du lịch
Quản lý Nhà nước về du lịch
Các yếu tố môi trường
Liên kết Nhà nước và tư nhân
lập mô hình chuỗi giá trị du lịch của tỉnh Ninh Bình.
Hình 2.2: Mô hình chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình
Quan sát sơ đồ chuỗi giá trị du lịch này, chúng ta thấy ngoài những
hoạt động chính trong chuỗi có ảnh hưởng đến ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
56
còn có các hoạt động hỗ trợ và các yếu tố bên ngoài có thể làm gia tăng hay
giảm hiệu quả hoạt động của các tác nhân tham gia trong hoạt động chính của
chuỗi. Các thị trường khách nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả, kịp thời cho
du lịch tỉnh Khánh Hòa, chúng ta sẽ tiến hành phân tích chuỗi để hiểu rõ và có
cái nhìn toàn diện hơn về những mặt mạnh và những trở ngại trong chuỗi giá
trị du lịch này.
2.2.2. Phân tích chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình
2.2.2.1. Thị trường khách
Trong lĩnh vực du lịch, Ninh Bình là tỉnh phát triển muộn hơn so với
các tỉnh, thành phố trong cả nước bởi vốn là tỉnh thuần nông. Tuy nhiên, sự
vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền cùng với doanh nghiệp đã tạo nên
các chuyển biến tích cực giúp xây dựng và phát triển "ngành công nghiệp
không khói".
Bảng 2.1: Khách du lịch đến tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 - 2014
2012
2013
2014
TT Khách du lịch
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
2013/2012 (%)
Số lượt (khách)
2014/2013 (%)
1 Trong nước
3,074,430
3,877,219
126.11
3,799,160
97.99
2 Quốc tế
675,570
521,548
77.20
502,409
96.33
3 Tổng lượt khách
3,750,000
4,398,767
117.30
4,301,569
97.79
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Năm 2012, tỉnh đã đón 3,7 triệu lượt khách, trong đó có hơn 675 nghìn
lượt khách quốc tế. Năm 2013 tỉnh đã đón hơn 4,3 triệu lượt khách (tăng
17.30% so với 2012). Trong đó, khách du lịch trong nước đạt hơn 3,8 triệu
lượt khách (tăng 26.11% so với 2012) nhưng số lượt khách quốc tế là 521,548
lượt khách (giảm 22,80% so với 2012). Sang đến năm 2014 số lượt khách đến
Ninh Bình tiếp tục giảm, cụ thể, tổng số lượt khách đến Ninh Bình là 4,3 triệu
57
lượt khách (bằng 97,79% so với năm 2013), trong đó, số lượt khách trong
nước là gần 3,8 triệu lượt khách (bằng 97,99% so với năm 2013), số lượt
khách quốc tế là hơn 502 nghìn lượt khách (bằng 96.33% năm 2013). Để đánh
giá tác động của môi trường kinh doanh đến nỗ lực thu hút khách du lịch của
tỉnh Ninh Bình, tác giả có xem xét sự biến động khách du lịch ở các tỉnh Ninh
Bình, Quảng Ninh, thành phố Hà Nội và tổng thể ngành du lịch thể hiện qua
bảng sau:
Bảng 2.2: Biến động khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình, Quảng Ninh, Hà Nội và
ngành du lịch Việt Nam từ năm 2012 - 2014
Ninh Bình
Quảng Ninh
Hà Nội
Việt Nam
Năm
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
So với năm trước (%)
So với năm trước (%)
So với năm trước (%)
So với năm trước (%)
2012 675,570
-
2,400,000
-
2,100,000
-
6,847,678
-
2013 521,548
77.20
2,601,000
108.38
2,580,000 122.86 7,572,352
111
2014 502,409
96.33
2,550,000
98.04
3,000,000 116.28 7,874,312
104
(Nguồn: Tổng cục du lịch, Sở văn hóa, thể thao và du lịch Ninh Bình,
Quảng Ninh, Hà Nội)
Đối với khách du lịch quốc tế, mặc dù kết quả trên chỉ mang tính tham
chiếu bởi vì Hà Nội là 1 trong 2 cửa ngõ chính để khách quốc tế đến Việt
Nam và Quảng Ninh có đường biên giới dài, rộng cả trên đất liền cũng như
trên biển. Nhưng với số liệu đó tác giả cũng cho rằng, việc thu hút khách du
lịch quốc tế đến với Ninh Bình chưa thực sự tốt, bởi vì tổng số lượt khách
quốc tế đến với Việt Nam vẫn tăng qua các năm (năm 2013 tăng 11% so với
2012, năm 2014 tăng 0,4% so với 2013) nhưng khách quốc tế đến Ninh Bình
lại có xu hướng giảm (năm 2013 chỉ bằng 77.20% năm 2012, năm 2014 chỉ
bằng 96,33% năm 2013).
58
Đối với khách du lịch nội địa đến Ninh Bình, theo bảng 2.1 năm 2013
lượt khách du lịch tăng 26,11% so với năm 2012, tuy nhiên năm 2014 lượng
khách bằng 98% so với năm 2013 trong khi đó tốc độ trong ngành du lịch vẫn
có sự tăng trưởng qua các năm 2013 và 2014.
Bảng 2.3: Khách du lịch đến Ninh Bình và Việt Nam
Khách quốc tế đến
Khách nội địa đến
TT
Năm
(3)/(4) (%)
Việt Nam (lượt khách)
(6)/(7) (%)
Việt Nam (lượt khách)
Ninh Bình (lượt khách)
Ninh Bình (lượt khách)
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
1
2012
675,570
6,847,678
9.87
3,074,430
32,500,000
9.46
2
2013
521,548
7,572,352
6.89
3,877,219
35,000,000
11.08
3
2014
502,409
7,874,312
6.38
3,799,160
38,500,000
9.87
(Nguồn: Tổng cục du lịch, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Như vậy, năm 2012 số lượt khách quốc tế đến Ninh Bình chiếm 9.87% trong tổng số lượt khách đến Việt Nam. Năm 2013 số lượt khách đến Ninh Bình chiếm 6.89% trong tổng số lượt khách đến Việt Nam. Năm 2014 số lượt khách đến Ninh Bình chiếm 6.38% trong tổng số lượt khách đến Việt Nam. Như vậy, chúng ta thấy rằng tỉ lệ khách quốc tế đến Ninh Bình đang có xu hướng giảm. Đối với khách nội địa, tỉ lệ khách nội địa đến Ninh Bình năm 2013 có tăng so với năm 2012 nhưng năm 2014 tỉ lệ này lại giảm. Điều này cho thấy khách du lịch nội địa đến Ninh Bình đang có sự biến động, chưa ổn định.
Xét về cơ cấu thị trường khách du lịch đến Ninh Bình, đối với khách nội địa hiện nay chưa có số liệu thống kê. Đối với khách quốc tế đến Ninh Bình được thể hiện qua bảng sau:
59
Bảng 2.4: Khách quốc tế đến Ninh Bình từ năm 2012 đến 2014
2012
2013
2014
Thị trường
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
So với 2012
Số lượt (khách)
So với 2013
So với tổng lượt khách (%)
So với tổng lượt khách (%)
So với tổng lượt khách (%)
10518
Đức
6728
1.56
1.29 63.97
9082
1.81
135
1320
Hồng Kông
705
0.20
0.14 53.38
932
0.19
132
3088
Tây Ban Nha
2286
0.46
0.44 74.01
2598
0.52
114
17195
Singapore
20536
2.55
3.94 119.44
23280
4.63
113
32748
Canada
23583
4.85
4.52 72.01
25787
5.13
109
3092
Italy
2214
0.46
0.42 71.62
2324
0.46
105
69150
Hàn Quốc
10.24
51576
9.89 74.59
10.77
54103
105
14865
Lào
8461
2.20
1.62 56.92
8718
1.74
103
16806
Anh
12721
2.49
2.44 75.69
12905
2.57
101
1866
Bỉ
1486
0.28
0.28 79.64
1482
0.29
100
1966
Na Uy
1457
0.29
0.28 74.13
1449
0.29
99
56864
Nhật
41610
8.42
7.98 73.17
41342
8.23
99
2626
Niuzilan
2132
0.39
0.41 81.20
2113
0.42
99
2759
Đan Mạch
1767
0.41
0.34 64.03
1725
0.34
98
2835
Thụy Sỹ
1958
0.42
0.38 69.05
1897
0.38
97
4525
Hà Lan
3266
0.67
0.63 72.18
3134
0.62
96
19359
Nga
13485
2.87
2.59 69.66
12916
2.57
96
3525
Thụy Điển
2169
0.52
0.42 61.53
2071
0.41
95
9786
Philippin
6923
1.45
1.33 70.74
6597
1.31
95
43786
Mỹ
29774
6.48
5.71 68.00
28314
5.64
95
95
Trung Quốc
140950
20.86
131419
25.20 93.24
124241
24.73
21677
Pháp
14462
3.21
2.77 66.72
13638
2.71
94
28595
Úc
22018
4.23
4.22 77.00
20487
4.08
93
11204
Campuchia
7231
1.66
1.39 64.54
6654
1.32
92
29502
Malaysia
23387
4.37
4.48 79.27
21246
4.23
91
6004
Indonesia
4849
0.89
0.93 80.76
4379
0.87
90
40389
Đài Loan
27485
5.98
5.27 68.05
24819
4.94
90
1599
Phần Lan
1010
0.24
0.19 63.17
882
0.18
87
22283
Thái Lan
18528
3.30
3.55 83.15
15751
3.14
85
54686
Khác
36321
8.09
6.96 66.42
27542
5.48
76
100
100
96
Tổng cộng
675570
521548
100
77
502409
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
60
Có thể thấy rõ nhất số lượt khách Trung Quốc và một số thị trường
khác đến du lịch Ninh Bình chiếm tỉ trọng áp đảo trong tổng số khách quốc tế.
Để có con số chi tiết, tác giả đã thống kê 10 quốc gia có lượt khách cao nhất
đến Ninh Bình thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.5: 10 thị trường có lượt kháchđến Ninh Bình cao nhất từ năm 2012 - 2014
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
Thị trường
Thị trường
Thị trường
So với (C) (%)
So với (C) (%)
So với (C) (%)
389,916
485,944
379,370
(A) 10 TT cao nhất
(A) 10 TT cao nhất
(A) 10 TT cao nhất
74.76%
71.93%
75.51%
131,419
140,950
124,241
1. T. Quốc
1. T.Quốc
1. T.Quốc
25.20%
20.86%
24.73%
51,576
69,150
54,103
2. Hàn Quốc
2. Hàn Quốc
2. Hàn Quốc
9.89%
10.24%
10.77%
41,610
56,864
41,342
3. Nhật
3. Nhật
3. Nhật
7.98%
8.42%
8.23%
29,774
43,786
28,314
4. Mỹ
4. Mỹ
4. Mỹ
5.71%
6.48%
5.64%
27,485
40,389
25,787
5. Đài Loan
5. Đài Loan
5. Canada
5.27%
5.98%
5.13%
23,583
32,748
24,819
6. Canada
6. Canada
6. Đài Loan
4.52%
4.85%
4.94%
23,387
29,502
23,280
7. Malaysia
7. Malaysia
7. Singapore
4.48%
4.37%
4.63%
22,018
28,595
21,246
8. Úc
8. Úc
8. Malaysia
4.22%
4.23%
4.23%
20,536
22,283
20,487
9. Thái Lan
9. Singapore
9. Úc
3.94%
3.30%
4.08%
18,528
21,677
15,751
10. Pháp
10. Thái Lan
10. Thái Lan
3.55%
3.21%
3.14%
131,632
189,626
123,039
(B) Các TT khác
(B)Các TT khác
(B) Các TT khác
25.24%
28.07%
24.49%
521,548
675,570
502,409
(C) Tổng cộng
(C) Tổng cộng
(C) Tổng cộng
100%
100%
100% (Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
61
Như vậy, hầu hết khách quốc tế đến từ các quốc gia Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nhật, Mỹ, Đài Loan, Canada, Malaysia, Úc, Thái Lan, Pháp,
Singapore. Chỉ tính riêng lượt khách từ 10 quốc gia này đến Ninh Bình đã
chiếm hơn 70% số lượt khách quốc tế đến Ninh Bình (năm 2012 là 71.93%,
năm 2013 là 74.76%, năm 2014 là 5.51% lượt khách). Đặc biệt là khách
Trung Quốc luôn duy trì ở mức độ cao (trên 20% lượt khách), tuy nhiên năm
2014 du khách quốc tế đến Ninh Bình giảm. Theo tác giả nguyên nhân chính
là do hành động Trung Quốc đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trên
vùng biển Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2014 dẫn đến căng thẳng
trong khu vực nói chung và căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói
riêng làm cho khách quốc tế có tâm lý lo ngại khi đến Việt nam.
Căn cứ vào số liệu thống kê cho thấy, năm 2013 chỉ có duy nhất thị
trường Singapore là có sự tăng trưởng. Năm 2014, du lịch Ninh Bình đã có
những tín hiệu tích cực từ các thị trường Đức, Hồng Kông, Tây Ban Nha,
Singapore, Canada, Italy, Hàn quốc, Lào, Anh so với năm 2013 được thể hiện
trong bảng sau:
Bảng 2.6: Thị trường khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2014 tăng so với năm 2013
2012
2013
2014
Thị trường
Số lượt (khách)
Số lượt (khách)
2013/2012 (%)
Số lượt (khách)
2013/2012 (%)
Đức
10,518
6,728
63.97
9,082
135
Hồng Kông
1,320
705
53.38
932
132
Tây Ban Nha
3,088
2,286
74.01
2,598
114
Singapore
17,195
20,536
119.44
23,280
113
Canada
32,748
23,583
72.01
25,787
109
Italy
3,092
2,214
71.62
2,324
105
Hàn Quốc
69,150
51,576
74.59
54,103
105
Lào
14,865
8,461
56.92
8,718
103
Anh
16,806
12,721
75.69
12,905
101
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
62
Tóm lại, từ chỗ năm 2007 mới chỉ có khoảng gần một triệu lượt du
khách, năm 2014, Ninh Bình đã đón được hơn 4,3 triệu lượt du khách đến với
Ninh Bình đây là con số thật đáng ghi nhận cho du lịch tỉnh Ninh Bình. Tuy
nhiên, trái với những năm trước đó, kể từ năm 2012 trở lại đây, khách du lịch
đến với Ninh Bình có xu hướng giảm. Theo tác giả, có một số nguyên nhân
như sau: Thứ nhất, tốc độ thu hút khách du lịch đến với Ninh Bình trong
những năm trước đó (trước năm 2012) cao hơn năng lực dịch vụ du lịch Ninh
Bình tại thời điểm đó. Vì vậy, chất lượng dịch vụ chưa cao dẫn đến sụt giảm
khách du lịch trong những năm gần đây (năm 2013, 2014). Thứ hai, thị
trường khách quốc tế bị ảnh hưởng bởi hành động Trung Quốc đơn phương
hạ đặt giàn khoan 981 trên vùng biển Việt Nam dẫn đến căng thẳng giữa hai
nước cũng như trong khu vực. Điều này làm cho tâm lý khách quốc tế e ngại
khi vào du lịch Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng đặc biệt là từ
thị trường Trung Quốc luôn chiếm 1/4 tổng lượng khách quốc tế.
2.2.2.2. Dịch vụ vận chuyển
Các điểm du lịch Ninh Bình trong thời gian gần đây đã được Sở Giao
thông Vận tải Ninh Bình lắp đặt trong hệ thống trục đường chính. Dịch vụ vận
chuyển có sự đóng góp của các phương tiện vận chuyển cả về chủng loại, về
- Về vận chuyển đường bộ: Phát triển nhanh cả về số lượng, chất
số lượng và chất lượng, đó là:
lượng và chủng loại. Hầu hết các công ty vận chuyển khách du lịch đã đầu
- Về vận chuyển đường sắt: Ninh Bình là địa phương nằm trên tuyến
tư mới hàng loạt xe, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách du lịch.
đường sắt quốc gia Bắc - Nam, đây là tuyến đường sắt đóng góp một phần rất
lớn trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh với các địa phương khác
trong vùng và trên toàn quốc. Toàn tỉnh Ninh Bình có 4 ga là: ga Ghềnh, ga
- Về vận chuyển đường thuỷ: Ninh Bình có 22 sông, kênh có thể khai
Đồng Dao, ga Cầu Yên và ga Ninh Bình.
63
thác vận tải thủy với tổng chiều dài 387,3 km. Mật độ sông là 27,3 km/km2.
Phát triển và đổi mới chậm hơn so với các loại hình vận chuyển khác, do đó
- Về vận chuyển bên trong điểm du lịch: Tính đến hết năm 2014, với
việc vận chuyển khách du lịch bằng đường thuỷ còn rất hạn chế.
khu vực Tràng An - Bái Đính đã đưa vào sử dụng hơn 200 xe điện và hàng
nghìn đò đưa đón khách du lịch do vậy các địa điểm này không bị ảnh hưởng
bởi tình trạng đón trả khách nhốn nháo và không còn dịch vụ xe ôm bắt khách
dọc đường như thời gian trước đây.
Tóm lại, khách du lịch đến Ninh Bình chủ yếu di chuyển theo đường
bộ. Năm 2014 nhìn chung chất lượng dịch vụ vận chuyển đáp ứng được các
yêu cầu của khách du lịch đặc biệt không còn hiện tượng đón trả khách nhốn
nháo. Phương tiện vận chuyển tại các điểm du lịch được tổ chức tốt cơ bản
đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch.
2.2.2.3. Dịch vụ tại điểm đến
a) Cơ sở lưu trú
Trong điều kiện vốn ngân sách còn khó khăn, tỉnh đang thực hiện từng
bước xã hội hóa trong phát triển du lịch, tập trung nâng cấp hạ tầng kỹ thuật
các tuyến giao thông và khu nghỉ dưỡng. Đến nay, cơ sở hạ tầng tại các khu,
điểm du lịch trên địa bàn tỉnh cơ bản được hình thành như sau:
Bảng 2.7: Cơ sở lưu trú tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014
2012
2013
2014
Cơ sở lưu trú
ĐVT
2013/2012
2014/2013
Số lượng
Số lượng
Số lượng
Tổng số cơ sở lưu trú DL trong đó: Cơ sở
235
273
116%
286
105%
+ Khách sạn từ 1-4 sao
33
38
115%
42
111%
Khách sạn
+ Tổng số phòng ngủ
Phòng
3,628
4,102
113%
4,508
110%
+ Tổng số giường ngủ
Giường 5,230
5,787
111%
7,227
125%
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
64
Như vậy, tính đến 31/12/2014, toàn tỉnh có 286 cơ sở lưu trú, trong đó
có 42 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 4 sao, tổng số phòng ngủ là 4,508
phòng, tổng số giường là 7227 giường. Cơ sở lưu trú chủ yếu tập trung ở
thành phố Ninh Bình (127 cơ sở), huyện Hoa Lư (24 cơ sở), thị xã Tam
Điệp, huyện Nho Quan, Gia Viễn (18 cơ sở)... là những khu vực có tiềm năng
và hoạt động du lịch tương đối phát triển.
Bảng 2.8: Số lượng khách lưu trú qua đêm ở Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Thị trường
(2)/(3)
(5)/6)
(8)/(9)
Lượt khách đến Ninh Bình
Lượt khách đến Ninh Bình
Lượt khách đến Ninh Bình
Lượt khách đến Ninh Bình và lưu trú qua đêm
Lượt khách đến Ninh Bình và lưu trú qua đêm
Lượt khách đến Ninh Bình và lưu trú qua đêm
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
Quốc tế
96,490
675,570 14% 132,852
521,548 25% 128,488 502,409 26%
Nội địa 312,388 3,074,430 10% 260,645 3,877,219
7% 306,395 3,799,160 8%
Cộng 408,878 3,750,000
24% 393,497 4,398,767 32% 434,883 4,301,569 34%
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Bảng số liệu trên cho thấy, số lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm ở
Ninh Bình năm 2012 là 96,490 lượt khách (chiếm 14%), năm 2013 là 132,852
lượt khách (chiếm 25%), năm 2014 là 128,488 lượt khách (chiếm 26%) các
con số này là quá bé so với công bố của Tổng cục du lịch về cơ cấu khách du
lịch quốc tế đến Việt Nam có nghỉ qua đêm tại các cơ sở lưu trú du lịch chiếm
95,09%.
Đối với khách nội địa, phần đông khách du lịch đi về trong ngày, tỉ lệ
khách lưu trú qua đêm rất thấp hoặc không đáng kể. Số khách lưu trú qua đêm
phần lớn là khách quốc tế nhưng số lượng này cũng chỉ chiếm 14% (năm
2012), 25% (năm 2013), 26% (năm 2014) tổng lượng khách đến Ninh Bình.
Để đánh giá số lượng phòng có đáp ứng được nhu cầu lưu trú hay không cần
65
phải xem xét đến yếu tố mùa vụ trong du lịch do vậy tác giả có thống kê số
lượng khách du lịch theo tháng tỉnh Ninh Bình như sau:
Bảng 2.9: Số lượng khách nội địa đến Ninh Bình theo tháng từ năm 2012 đến 2014
Tháng
Năm
Tiêu chí
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
2012
Số lượt khách (nghìn) Tỉ lệ (%)
133 4%
878 23%
1,185 32%
630 17%
204 5%
137 4%
127 3%
115 3%
105 3%
91 2%
88 2%
57 2%
2013
Số lượt khách (nghìn) Tỉ lệ (%)
142 3%
874 20%
1,282 29%
653 15%
281 6%
195 4%
181 4%
171 4%
159 4%
165 4%
181 4%
114 3%
2014
Số lượt khách (nghìn) Tỉ lệ (%)
241 6%
891 21%
1,083 25%
732 17%
270 6%
182 4%
170 4%
165 4%
157 4%
154 4%
145 3%
111 3%
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Như vậy, số lượng khách đến Ninh Bình thường rơi vào tháng 2, cao
nhất vào tháng 3 và bắt đầu giảm vào tháng 4. Đây là dịp cuối năm cũ và đón
năm mới theo phong tục người Việt và số khách du lịch này chủ yếu là đi về
trong ngày và thường đến các địa điểm Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động, Cố
Đô Hoa Lư do vậy số lượng khách lưu trú qua đêm là không đáng kể. Số lượng
khách quốc tế lưu trú qua đêm ở Ninh Bình được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.10: Số lượng khách quốc tế lưu trú qua đêm ở Ninh Bình
Tháng (Số lượt khách)
Năm
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
6,651 8,884 11,627 7,823 6,623 6,668 4,975 8,518 8,842 9,430 8,710 8,629
2012 Số khách/phòng
1.83
2.45
3.20
2.16
1.83 1.84 1.37
2.35 2.44
2.60
2.40 2.38
8,743 12,147 14,562 12,748 13,112 9,493 8,836 9,206 9,089 11,101 12,523 8,828
2013 Số khách/phòng
2.13
2.96
3.55
3.11
3.20 2.31 2.15
2.24 2.22
2.71
3.05 2.15
11,941 14,265 14,518 10,445 9,690 6,374 9,113 10,663 8,309 11,103 11,911 7,272
2014 Số khách/phòng
2.65
3.16
3.22
2.32
2.15 1.41 2.02
2.37 1.84
2.46
2.64 1.61
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Nhìn chung, số lượng khách quốc tế đến Ninh Bình trải đều trong năm,
riêng tháng 2 và tháng 3 có sự tăng trưởng hơn những tháng khác trong năm
theo tác giả là do một lượng lớn khách Trung Quốc có nét tương đồng về tín
66
ngưỡng du xuân đầu năm. Vào thời gian cao điểm tháng 2, tháng 3 số phòng
được khai thác tối đa công suất (hơn 3 khách/phòng), các thời điểm còn lại
tháng 1, tháng 4, tháng 5, tháng 7, tháng 8, tháng 11 công suất phòng đạt từ
56% - 70% công suất (2 khách/phòng đến 3 khách/phòng). Các thời điểm còn
lại gồm 3 tháng là tháng 6, tháng 9, tháng 12 công suất khai thác thấp (nhỏ
hơn 2 khách/phòng). Như vậy, tính về số lượng, du lịch Ninh Bình đang có số
lượng phòng hợp lý. Tuy nhiên, xét về chất lượng dịch vụ thì cần phải xem lại
vì thực chất chỉ có chưa đến 15% số cơ sở đã được thẩm định xếp hạng.
Tóm lại, nhìn chung cơ sở lưu trú trên địa bàn còn có quy mô nhỏ, dịch
vụ và chất lượng phục vụ còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ và đa dạng bởi vì
số cơ sở được thẩm định xếp hạng mới chỉ chiếm 14,3%. Nguyên nhân chính ở
đây là do Ninh Bình chưa có những điểm vui chơi giải trí hay các dịch vụ vào
buổi tối, ban đêm để giữ chân khách du lịch trong khi đó chỉ cần 1 giờ đồng
hồ đi ô tô là du khách đã về đến Hà Nội, bởi vậy, rất khó thu hút được khách
du lịch lưu trú qua đêm ở Ninh Bình.
b) Cơ sở ăn uống
Hiện chưa có con số thống nhất về hệ thống các cơ sở kinh doanh ăn
uống phục vụ du lịch. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng nhanh của khách du
lịch cũng như các cơ sở kinh doanh lưu trú, hệ thống các cơ sở ăn uống ở các
địa phương trong cả nước cũng phát triển nhanh. Hầu hết các khách sạn, nhà
nghỉ đều có các phòng ăn không những chỉ phục vụ cho khách nghỉ tại khách
sạn mà còn phục vụ cả khách bên ngoài. Giá cả ở đây thường cao hơn từ 2 -3
lần so với các nơi khác, nên đối tượng khách của các cơ sở này thường là
người có thu nhập cao, hoặc khách đi du lịch theo tour trọn gói. Ngoài các cơ
sở ăn uống nằm trong các khách sạn ra, các cơ sở ăn uống nằm ngoài khách
sạn cũng phát triển mạnh và hầu như các thành phần kinh tế đều tham gia
67
kinh doanh dịch vụ này. Chủng loại đồ ăn - thức uống ở đây cũng phong phú,
chất lượng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu không những cho nhiều loại đối
tượng khách du lịch khác nhau mà còn cho cả nhân dân địa phương.
Về vấn đề an toàn thực phẩm và đồ uống ở các cơ sở ăn uống, từ năm
2012 đến 2014 chưa nghi nhận trường hợp nào liên quan đến mất an toàn thực
phẩm. Tính đến hết 31/12/2014, có 144 cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống do
Chi cục Quản lý và 928 cơ sở do tuyến huyện quản lý. Hàng năm, chi cục đã
phối hợp với các ngành, địa phương chú trọng triển khai công tác đảm bảo
VSATTP, trong đó tập trung vào 3 địa phương có hoạt động du lịch, lễ hội
nhiều là: thành phố Ninh Bình, huyện Hoa Lư và Gia Viễn. Qua công tác
kiểm tra, ưu điểm nổi bật là các cơ sở đã chấp hành tốt các thủ tục hành chính
về ATTP, đáp ứng được các điều kiện về trang thiết bị, lao động tham gia chế
biến thực phẩm, nguyên liệu, phụ gia thực phẩm nằm trong danh mục cho
phép của Bộ Y tế, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đảm bảo không có các chất
độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một số cơ sở kinh doanh, dịch vụ
ăn uống có vùng nuôi trồng nguyên liệu thực phẩm riêng để chế biến như:
Nhà hàng Thiên Nga, nhà hàng Hà Tú, khu du lịch sinh thái Thung Nham,
Nhà hàng Thanh Xuân…
c) Cơ sở vui chơi, giải trí, mua sắm
Ninh Bình là tỉnh có thế mạnh về du lịch tâm linh, văn hóa, cũng như
nhiều địa phương khác, thách thức lớn nhất của du lịch Ninh Bình vẫn là chưa
kéo dài được thời gian lưu trú của du khách, sản phẩm lưu niệm còn đơn điệu
nhàm chán, rẻ tiền, dẫn đến nguồn doanh thu tại các điểm du lịch tâm linh còn
rất khiêm tốn, không đáng kể. Đặc biệt là các dịch vụ về buổi tối và đêm, đây
cũng là nguyên nhân khách du lịch chỉ đến và về Ninh Bình trong ngày và
doanh thu từ du lịch chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Nguyên nhân ở
68
đây một phần là do du lịch Ninh Bình phát triển chậm hơn các tỉnh thành khác
trong cả nước, do vậy mới chỉ tập trung khai thác tài nguyên hiện có, chưa có
nghiên cứu cụ thể để hình thành các sản phẩm đáp ứng yêu cầu vui chơi, giải
trí, mua sắm của khách du lịch
2.2.2.4. Điểm tham quan
Quần thể danh thắng Tràng An có diện tích khoảng 12.000ha, là tổ hợp
của các điểm du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu du lịch sinh thái Tràng An,
Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, Khu tâm linh núi-chùa Bái Đính,
Khu du lịch Tam Cốc- Bích Động. Mỗi khu, điểm du lịch ở đây có những thế
mạnh, sản phẩm du lịch riêng, do đó đã có sức hút rất lớn đối với khách du
lịch trong thời gian qua.
Do đó, Ninh Bình luôn là lựa chọn hàng đầu của những du khách muốn
hành hương trong dịp đầu năm và cuối năm. Hiện nay, hầu hết khách du lịch
Ninh Bình đều tập trung đến chùa Bái Đính, Tràng An, Cố đô Hoa Lư…
không chỉ đông khách vào mùa cao điểm lễ hội mà còn hút khách ở nhiều thời
điểm trong năm.
Bảng 2.11: Cơ cấu khách đến các địa điểm du lịch tỉnh Ninh Bình
Năm
Tiêu chí
Bái Đính
Tràng An
Khác
Tổng cộng
Cố đô Hoa Lư
Số lượt khách
2,132,524
603,200
829,400
204,876
3,770,000
2012
Tỉ lệ (%)
57%
16%
22%
5%
100%
Số lượt khách
2,639,260
615,827
791,778
351,901
4,398,767
2013
Tỉ lệ (%)
60%
14%
18%
8%
100%
Số lượt khách
2,709,988
559,204
731,267
301,110
4,301,569
2014
Tỉ lệ (%)
63%
13%
17%
7%
100%
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Theo bảng trên cho thấy phần lớn du khách đến chùa Bái Đính tăng
đều qua các năm 2012 lần lượt là 2,132,524 lượt khách (chiếm 57% tổng lượt
69
khách). Năm 2013 là 2,639,260 lượt khách (chiếm 60% tổng lượt khách), năm
2014 là 2,709,988 lượt khách (chiếm 63% tổng số lượt khách). Để có được
thành công ngày theo tác giả là do chủ trương xã hội hóa đã kêu gọi các
doanh nghiệp cùng tham gia đầu tư cho hoạt động du lịch. Cụ thể như ở Bái
Đính, tính đến hết năm 2014, doanh nghiệp Xuân Trường đã hoàn thiện, đưa
vào hoạt động hệ thống đường dẫn, bến xe rộng hơn 200 ha, trang bị thêm
100 xe điện phục vụ du khách,...
Công tác bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch, các cơ sở kinh
doanh du lịch được coi trọng. UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành nhiều văn
bản, quy định về bảo vệ, khai thác có hiệu quả, hợp lý các nguồn tài nguyên
du lịch. Vệ sinh môi trường tại các khu, điểm du lịch ngày càng tốt hơn, rác
thải cơ bản được thu gom và xử lý đúng nơi quy định. Hệ thống nhà vệ sinh
công cộng đạt chuẩn được xây dựng ở các khu, điểm du lịch như: Khu di tích
lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, khu du lịch sinh thái Tràng An, Tam Cốc-
Bích Động, khu tâm linh núi chùa Bái Đính, Nhà thờ đá Phát Diệm, Vườn
quốc gia Cúc Phương,... Đến nay, đã có 38 nhà vệ sinh đạt chuẩn phục vụ du
khách trong nước và quốc tế. Tỉnh Ninh Bình được Tổng cục Du lịch đánh giá
là một trong những địa phương có hệ thống nhà vệ sinh công cộng tại các
khu, điểm du lịch tốt nhất trong cả nước.
Tóm lại, đến năm 2014, nhận thức rõ được tầm quan trọng của phát triển
bền vững các điểm du lịch. Do vậy, các cấp chính quyền cũng cùng vào cuộc
và có chuyển biến rõ nét đặc biệt xóa bỏ hoàn toàn nạn chèo kéo, ăn xin, tăng
cường vệ sinh môi trường, an ninh trật tự. Đặc biệt là việc tuyên truyền nâng
cao ý thức người dân sống trong các khu du lịch cũng như các vùng phụ cận.
2.2.2.5. Tư vấn khách du lịch
Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, ngành Du lịch đã tư vấn trực
tuyến và cung cấp thông tin du lịch Ninh Bình cho du khách và các công ty lữ
70
hành. Quý IV - 2014 ước tính có 1.800 lượt khách xin tư vấn du lịch thông
qua điện thoại và hộp thư điện tử. Đặc biệt vừa qua, UBND tỉnh vừa quyết
định thành lập Trung tâm hỗ trợ khách du lịch trực thuộc Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch. Trung tâm có chức năng tham mưu về đầu mối kết nối thông
tin giữa khách du lịch với các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến du lịch,
chính quyền các cấp và đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch tại địa phương nhằm
đảm bảo khách du lịch được hỗ trợ về thông tin, sử dụng dịch vụ du lịch thuận
tiện, có chất lượng tương xứng với nhu cầu và đảm bảo an ninh, an toàn. Các
bộ phận chuyên môn của Trung tâm gồm: Trạm hỗ trợ khách du lịch tại bến
thuyền khu Tam Cốc - Bích Động; Trạm hỗ trợ khách du lịch tại Trung tâm
bến thuyền Tràng An; Trạm hỗ trợ khách du lịch tại khu núi chùa Bái Đính -
Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Hoa Lư.
2.2.2.6. Quản lý nguồn nhân lực
Bảng 2.12: Số lượng lao động DL tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014
Lao động
ĐVT
2012
2013
2014
Lao động trong lĩnh vực du lịch
Người
11,000
12,000
15,500
Tổng số lao động tỉnh Ninh Bình
Người
479,366 485,694 508,221
%
2.29
2.47
3.05
Lao động trong lĩnh vực du lịch Ninh Bình so với tổng số lao động tỉnh Ninh Bình
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Số lượng lao động tham gia hoạt động du lịch nhìn chung phù hợp với
quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định
hướng đến năm 2015. Theo đó, đến năm 2015 có 15.900 lao động, trong đó
có 5.485 lao động qua đào tạo. Hiện nay, số lượng lao động tham gia lĩnh vực
này năm 2012 có 11 nghìn lao động (chiếm 2.29% lao động trong toàn tỉnh),
năm 2013 có 12 nghìn lao động (chiếm 2.47% lao động trong toàn tỉnh), năm
2014 có 15,5 nghìn lao động (chiếm 3.05% lao động trong toàn tỉnh).
71
Bảng 2.13: Chất lượng lao động DL tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2014
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Chất lượng lao động
Số lượng (người)
Tỉ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỉ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỉ lệ (%)
Chưa qua đào tạo
3,740
34
3,360
28
4,030
26
Sơ cấp
4,400
40
4,440
37
5,580
36
Cao Đẳng, Trung cấp
2,750
25
3,960
33
5,270
34
Đại học, trên đại học
110
1
240
2
620
4
Tổng cộng
11,000
15,500
100
100
100 12,000 (Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Như vậy, chất lượng lao động tham gia hoạt động du lịch ở Ninh Bình
vẫn còn yếu kém, chưa tương đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Cụ thể lực
lượng lao động chưa qua đào tạo là 4,030 lao động bằng 73% quy hoạch (theo
quy hoạch là phải có 5.485 lao động qua đào tạo), chất lượng lao động qua
đào tạo có sự cải thiện nhưng tốc độ còn tăng còn rất chậm (tăng khoảng 2 -
3% mỗi năm).
Tóm lại, từ năm 2012 trở lại đây mặc dù du lịch luôn chiếm hơn 30%
tổng thu toàn tỉnh nhưng chất lượng nguồn nhân lực tham gia hoạt động du lịch
của Ninh Bình chưa được quan tâm đúng mức. Theo tác giả, một trong những
vấn đề cấp thiết đối với Ninh Bình cần giành sự quan tâm đặc biệt để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực để tạo nền tảng, lợi thế cạnh tranh du lịch.
2.2.2.7. Quản lý các sản phẩm và dịch vụ du lịch
Với vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch, Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các ngành liên quan, các địa phương
nơi tổ chức lễ hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, kiên
quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm… Do đó, năm 2014
công tác tổ chức và quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến
tích cực.
72
Công tác quản lý lễ hội đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối
hợp với Công an tỉnh, các ngành liên quan, chính quyền địa phương, Doanh
nghiệp Xuân Trường triển khai thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự,
vệ sinh môi trường, nếp sống văn minh tại lễ hội và khu núi chùa Bái Đính.
Về dự lễ hội, nhiều người dân, du khách đã bày tỏ sự hài lòng về công tác tổ
chức và quản lý lễ hội năm nay đã có nhiều tiến bộ, dần đi vào nền nếp. Lễ
hội được tổ chức trang trọng cả phần lễ và phần hội với việc kết hợp hài hòa
các nghi lễ truyền thống và hiện đại, lồng ghép hoạt động tâm linh với hoạt
động văn hóa, văn nghệ, thể thao phong phú, đa dạng, tạo không khí vui tươi,
sôi nổi phục vụ nhu cầu tham quan, chiêm bái của nhân dân trong suốt thời
gian mở hội. Thông qua lễ hội đã góp phần tuyên truyền, giới thiệu cho người
dân và du khách về truyền thống, lịch sử của vùng đất Cố đô Hoa Lư. Qua đó
đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch để giới thiệu về vùng đất, con
người Ninh Bình. Tham dự lễ hội, du khách không phải phiền hà, lo lắng về
công tác an ninh trật tự khi các hoạt động mê tín dị đoan, dịch vụ văn hóa trái
quy định, các vi phạm di tích, ăn xin, chèo kéo khách, trộm cắp… đã được
phát hiện, giải quyết kịp thời, dần hạn chế. Bên cạnh đó, ý thức của du khách
về dự lễ hội cũng có nhiều tiến bộ so với các năm trước khi hiện tượng cài
tiền lẻ vào tay tượng, ném tiền xuống giếng, xả rác bừa bãi… dần được khắc
phục. ấn tượng đẹp từ việc tổ chức lễ hội đầu tiên của năm 2015 trên địa bàn
tỉnh không phải được xây dựng trong “ngày một, ngày hai”, mà là cả quá trình
và sự nỗ lực, kiên quyết của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các địa
phương cùng các ngành liên quan trong việc đưa hoạt động lễ hội vào nền
nếp, xây dựng hình ảnh đẹp cho du khách khi đến tham quan, chiêm bái các di
tích, khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các cấp, các ngành,
các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền việc thực hiện nếp sống văn
73
minh trong hoạt động lễ hội, du lịch để mọi tổ chức, cá nhân biết, tích cực
tham gia thực hiện Luật Di sản văn hóa, các quy định của Nhà nước về văn
hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh, thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội.
Sở còn phối hợp với các đoàn thể, các địa phương có khu, điểm du lịch, lễ hội
tổ chức họp dân và những người trực tiếp làm dịch vụ du lịch để tuyên truyền,
vận động, phổ biến các văn bản, quy định của Nhà nước. Từ đó nâng cao
nhận thức, trách nhiệm của người dân trong thực hiện các quy định về nếp
sống văn minh, nhất là những người trực tiếp tham gia làm công tác du lịch,
dịch vụ như: các hướng dẫn viên, thuyết minh viên, thợ chụp ảnh, chèo đò,
bán hàng… Đồng thời, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch về tăng cường công tác quản lý hoạt động lễ hội, Sở đã chủ trì
thành lập đoàn kiểm tra, phối hợp với các ngành, các địa phương tiến hành
thanh, kiểm tra, chấn chỉnh, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện xâm phạm di
tích, danh lam thắng cảnh như: mê tín dị đoan, đồng bóng, việc đặt hòm công
đức, đặt lễ, đặt tiền giọt dầu tùy tiện, các hành vi lưu hành văn hóa phẩm trái
phép, ăn xin, chèo kéo khách, xe ôm, bán hàng rong, đổi tiền lẻ… để nghiêm
khắc xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, năm
2014 là năm đầu tiên thực hiện Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 13-2-2014
của UBND tỉnh về việc ban hành quy định thực hiện nếp sống văn minh trong
việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh, cùng với nỗ lực của Ngành Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, các địa phương trong việc đưa hoạt động quản lý và
tổ chức lễ hội vào nền nếp, lực lượng công an đã vào cuộc tích cực, thực hiện
quyết liệt các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giảm
thiểu tai nạn và ùn tắc giao thông, đảm bảo an ninh trật tự. Các đối tượng ăn
xin, tâm thần tại các lễ hội, các điểm du lịch đã được đưa về Trung tâm Bảo trợ
xã hội tỉnh chăm sóc theo quy định. Công tác kiểm tra về giá cả, hàng hóa, dịch
vụ trong lễ hội được tăng cường. Đã ngăn chặn kịp thời các hành vi thu phí,
74
nâng giá tùy tiện, bán hàng giả, hàng kém chất lượng tại các khu, điểm du lịch,
các lễ hội. Có sự quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm việc tổ chức các trò chơi dễ
biến tướng sang đánh bạc, kinh doanh văn hóa phẩm đồi trụy. Tại các khu,
điểm du lịch, lễ hội, Ban quản lý còn phối hợp với các ngành chức năng làm tốt
công tác hỗ trợ du khách, kịp thời giải quyết các vụ việc phát sinh. Vì vậy, tình
hình an ninh trật tự, văn minh du lịch được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi, an
toàn cho du khách khi đến tham quan, chiêm bái.
2.2.2.8. Hệ thống bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin
Hệ thống bưu chính viễn thông: Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín
cả tỉnh với hệ thống tổng đài điện tử số hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và
bưu điện của tất cả huyện thị xã, hệ thống thông tin viễn thông vi ba, cáp quang
Bắc - Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh chóng, thuận tiện giữa Ninh
Bình với các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc quốc tế.
Hệ thống công nghệ thông tin : Ninh Bình là một trong những điểm du
lịch đã năng động sáng tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch, đặc
biệt là công tác quảng bá xúc tiến trên Website, phát hành đĩa CD - ROM và
các ấn phẩm quảng bá du lịch khác do Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch
Ninh Bình quản lý được xây dựng một cách khá chuyên nghiệp, cập nhập
thông tin thường xuyên, phát hành rộng rãi, nhanh chóng và đã thực sự trở
thành cầu nối giữa ngành du lịch Ninh Bình với các đối tượng khách du lịch,
các nhà đầu tư và các tổ chức cá nhân quan tâm khác. Các doanh nghiệp du
lịch cũng đã triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tuyên
truyền giới thiệu sản phẩm của mình. Ngoài ra, những ứng dụng mới như hệ
thống đặt buồng trung tâm (CRS) kết nối với các cơ sở dữ liệu của các nhà
cung cấp dịch vụ du lịch tại địa phương và tích hợp với các hệ thống phân
phối toàn cầu (GDS), thương mại điện tử,…cũng đã được các doanh nghiệp
du lịch ứng dụng trong hoạt động kinh doanh của mình.
75
2.2.2.9. Công tác quản lý Nhà nước về du lịch
Quán triệt và thực hiện chủ trương phát triển du lịch của Tỉnh ủy, theo
từng giai đoạn các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh đã từng bước
xây dựng và triển khai thực hiện chương trình hành động, dự án về phát triển
du lịch; quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh
Bình đến năm 2010, định hướng đến năm 2015; xây dựng quy hoạch, kế
hoạch phát triển du lịch đối với các khu du lịch trong tỉnh, đồng thời tiến hành
đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch; xúc tiến, quảng bá
hình ảnh du lịch Ninh Bình. Tranh thủ sự quan tâm của các bộ, ngành T.Ư, đã
có nhiều dự án, công trình văn hóa phục vụ phát triển du lịch được Nhà nước
đầu tư trên địa bàn, như: Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái Tràng An; Dự
án tu bổ, tôn tạo di tích Cố đô Hoa Lư; Dự án xây dựng quảng trường và sân
lễ hội phía trước đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành,... với
tổng kinh phí dự toán trên 9 nghìn tỷ đồng.
Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong thời gian qua luôn được
ngành du lịch Ninh Bình đẩy mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng,
các hội chợ, hội thảo, Internet, phát hành ấn phẩm. Trong đó chú trọng công
tác cập nhật tin, bài giới thiệu tiềm năng du lịch và phản ánh hoạt động của
ngành VHTTDL trên các Website của ngành; xây dựng phiên bản ngôn ngữ
tiếng Nhật trên Website Du lịch Ninh Bình. Duy trì, cập nhật đầy đủ tin, bài
và đăng tải Banner phản ánh các hoạt động của ngành VHTTDL, thông tin
tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp và các thông tin nổi bật khác trên trang
Thông tin điện tử tổng hợp Du lịch Ninh Bình, chuyên trang quảng bá sản
phẩm, dịch vụ du lịch Ninh Bình. Trung tâm Xúc tiến du lịch đã duy trì tốt
hoạt động trang thông tin quảng bá Du lịch Ninh Bình trên mạng xã hội
Facebook ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Tiếp tục hoàn thành xây dựng
76
phiên bản ngôn ngữ tiếng Nhật trên trang Thông tin điện tử tổng hợp
(Website) Du lịch Ninh Bình.
Trong 2014 đã thu hút trên 2.4 triệu lượt truy cập, tăng 31,5% so với
cùng kỳ năm 2013; Biên tập, xuất bản 7.600 ấn phẩm quảng bá du lịch; cung
cấp trên 6.000 tài liệu quảng bá du lịch tại các lễ hội, hội chợ, hội thảo, các sự
kiện du lịch trong và ngoài nước...
Sở đã phối hợp với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tổ chức tham
gia quảng bá, xúc tiến điểm đến du lịch Ninh Bình tại 7 lễ hội, hội chợ, tọa
đàm quảng bá xúc tiến du lịch như: Ngày hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh
năm 2015 với chủ đề “ấn tượng di sản thế giới tại Việt Nam”; Hội chợ du lịch
quốc tế Việt Nam VITM Hà Nội 2015; Hội chợ Triển lãm Du lịch - Lữ hành
Hoa phượng đỏ Hải Phòng 2015,… Đặc biệt, sự kiện Quần thể Danh thắng
Tràng An trở thành Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới đã thúc đẩy ngành
du lịch Ninh Bình có sự tăng trưởng mạnh.
Ngoài ra, ngành du lịch Ninh Bình đang từng bước hoàn thiện nội dung
Album ảnh điện tử (video clip) quảng bá điểm đến Di sản Văn hóa, Thiên
nhiên thế giới Quần thể Danh thắng Tràng An. Hoàn thành maket, biên tập
nội dung tập gấp quảng bá Du lịch Ninh Bình song ngữ Việt - Anh. Phối hợp
với các công ty lữ hành, phóng viên báo, đài về khảo sát xây dựng tour tuyến,
sản phẩm du lịch và các bài viết quảng bá về di sản. Xây dựng kế hoạch tổ
chức lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về du lịch và lớp bồi dưỡng
kiến thức du lịch bền vững năm 2014. Tư vấn trực tuyến và cung cấp thông
tin du lịch Ninh Bình cho 400 lượt khách và công ty lữ hành qua điện thoại và
hộp thư điện tử.
Với việc tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong
những tháng cuối năm, hứa hẹn sẽ đón nhiều lượt khách tham quan du lịch
77
đến từ trong và ngoài nước, góp phần đưa ngành du lịch Ninh Bình ngày càng
phát triển.
2.2.2.10. Liên kết Nhà nước và tư nhân:
Trong điều kiện vốn ngân sách còn khó khăn, tỉnh đang thực hiện từng
bước xã hội hóa trong phát triển du lịch, tập trung nâng cấp hạ tầng kỹ thuật
các tuyến giao thông và khu nghỉ dưỡng. Đến nay, cơ sở hạ tầng tại các khu,
điểm du lịch trên địa bàn tỉnh cơ bản được đầu tư. Từ năm 2009 đến năm
2014, tỉnh thu hút 33 dự án đầu tư vào cơ sở vật chất du lịch với số vốn đăng
ký gần 13 nghìn tỉ đồng.
Đáng kể nhất, là doanh nghiệp Xuân Trường đã tham gia đầu tư hàng
nghìn tỉ vào khu Du lịch Tràng An - chùa Bái Đính cùng với việc xây dựng
khách sạn Hoa Lư Ninh Bình. Năm 2014, doanh nghiệp tiếp tục đầu tư 200 tỉ
trên diện tích 20.000m2 để xây dựng khách sạn hạng sang theo phóng cách Á
Đông cổ điển, với nguyên vật liệu chính là các loại gỗ quý hiếm như trắc, cẩm
lai, gỗ đỏ, phòng họp hội nghị cấp cao và phòng ăn uống có sức chứa 1000
khách, với thiết kế tương đồng nhà khách Tràng An, một công trình nổi tiếng
khác của Ninh Bình. Doanh nghiệp Xuân Trường cũng đã được tỉnh Ninh
Bình tin tưởng cho phép quản lý khu du lịch Bái Đính, khách sạn Hoa Lư.
Thực tế cho thấy, dưới sự quản lý của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm,
dịch vụ đã được tăng lên đáng kể so với thời gian trước đó.
Không chỉ dừng ở đó, tỉnh vẫn đang thực hiện tìm kiếm, kêu gọi các
nhà đầu tư vào các dự án như sau:
78
Bảng 2.14: Danh mục các dự án đang kêu gọi đầu tư
TT Tên dự án
Vốn đầu tư dự kiến Địa điểm
1 Công viên động vật
100 triệu USD
hoang dã quốc gia
Thuộc 03 xã Cúc Phương, Kỳ Phú và Phú Long, huyện Nho Quan ( diện tích khoảng 2.000 ha ) Đá Hàn, Vân Long, huyện Gia Viễn (diện tích khoảng 400 ha)
150 - 200 triệu USD Xã Yên Đồng, huyện Yên Mô và xã Đông Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình
trung
thị,
2 Khu vui chơi giải trí, nhà hàng, khách sạn, siêu tâm thương mại và các dịch vụ khác.
100 triệu USD
Khu du lịch sinh thái hồ Yên Quang
3 Khu du lịch sinh thái tâm linh, văn hoá, khu bảo tồn thiên nhiên
100 triệu USD
Phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
4 Khu du lịch cao cấp nhằm phục vụ khách du lịch Quốc tế và trong nước
(Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Ninh Bình)
Bên cạnh đó, Trung tâm Xúc tiến du lịch đã liên kết các đơn vị kinh
doanh du lịch trên địa bàn tỉnh cùng chung tay góp sức với Nhà nước làm tốt
công tác quảng bá du lịch. Kết quả, nhiều doanh nghiệp đã nhiệt tình cùng
đóng góp kinh phí để mở rộng thuê thêm dung lượng sử dụng trên trang
website, đóng góp kinh phí in ấn thêm nhiều ấn phẩm du lịch, sự cộng tác của
các đơn vị, doanh nghiệp làm du lịch trong việc tiếp đón các đoàn làm phim
tuyên truyền, quảng bá về du lịch. Đặc biệt, các doanh nghiệp làm du lịch trên
địa bàn tỉnh luôn nhiệt tình phối hợp cùng trung tâm tham gia tuyên truyền,
quảng bá tại các hội chợ du lịch tại các địa phương trên toàn quốc.
2.3. Tổ chức vận hành thị trường
2.3.1. Phương thức giao dịch
Mọi giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi diễn ra dưới hình thức: các
79
công ty cung cấp dịch vụ: vận chuyển, khách sạn, nhà hàng,.. sẽ báo giá bằng
miệng hoặc từ các hợp đồng hợp tác dịch vụ du lịch. Các công ty sẽ căn cứ
vào những thông tin đó sẽ gửi bảng hợp đồng kinh tế để đặt dịch vụ theo giá
được cung cấp.
2.3.2. Phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán của các tác nhân như: vận chuyển, khách sạn,
nhà hàng, công ty du lịch sẽ theo quy định từng doanh nghiệp. Thông thường,
khi đặt dịch vụ phải thanh toán trước 50% giá trị của dịch vụ sau khi dịch vụ
được xác nhận và trước ngày thụ hưởng dịch vụ phải thanh toán số tiền còn lại
của dịch vụ đã đặt. Việc thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
2.3.3. Kết quả hoạt động kinh doanh
Năm 2014, hoạt động du lịch đóng góp từ 5,5 - 6% GDP cả nước, tác
giả cũng so sánh cơ cấu tổng thu ngân sách từ hoạt động du lịch của Ninh
Bình, Quảng Bình và Quảng Ninh kết quả như sau:
Bảng 2.15: Cơ cấu doanh thu từ hoạt động du lịch với GDP của Quảng Ninh, Quảng
Bình và Ninh Bình năm 2014
Doanh thu từ du lịch
Tỉnh
GDP (tỉ đồng)
Doanh thu (tỉ đồng)
So với GDP (%)
Ninh Bình
34,577
943
2.72%
Quảng Ninh
91,260
4,510
4.94%
Quảng Bình
21,544
1,300
6.03%
(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội UBND tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Quảng Bình)
Như vậy có thể thấy mặc dù tỉnh Ninh Bình đã xác định du lịch là
ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước (có nêu quy hoạch tổng thể Ninh Bình
đến 2010, định hướng năm 2015 và quy hoạch tổng thể Ninh Bình đến 2020,
định hướng 2030). Tuy nhiên, doanh thu từ du lịch năm 2014 chỉ chiếm
80
2,72% GDP của tỉnh điều này cho thấy doanh thu từ du lịch còn kém xa so
với mặt bằng chung khi mà doanh thu trung bình ngành du lịch đóng góp
khoảng 5,5% - 6% vào GDP cả nước.
Bảng 2.16: Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến 2014
TT Chỉ tiêu
2012
2013
2013/2012
2014
2014/2013
Tổng cộng (lượt khách)
3,750,000 4,398,767
117% 4,301,569
98%
I
- Nội địa (lượt khách)
3,074,430 3,877,219
126% 3,799,160
98%
- Quốc tế (lượt khách)
675,570
521,548
77%
502,409
96%
II Doanh thu (Tr.đồng)
780,000
897,446
115%
942,779
105%
III Nộp ngân sách (Tr.đồng)
78,000
89,745
115%
94,278
105%
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
Căn cứ bảng trên chúng ta thấy tổng lượt khách du lịch đến Ninh Bình
năm 2013 là 4,398,767 lượt khách (tăng 17% so với 2012). Tuy nhiên, du lịch
Ninh Bình không giữ được đà tăng trưởng ngày khi lượt khách du lịch đến
Ninh Bình năm 2014 là 4,301,569 lượt khách (bằng 98% so với năm 2013).
Mặc dù vậy, doanh thu từ hoạt động du lịch vẫn tăng qua các năm điều đó
chứng tỏ chất lượng dịch vụ du lịch Ninh Bình ngày càng được cải thiện.
Chi tiêu bình quân khách du lịch cho một ngày là một trong những chỉ
tiêu chất lượng, phản ánh mức độ thu nhập và khả năng chi tiêu của khách du
lịch. Để phát huy được hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch nhiều quốc gia
đã chú trọng về chỉ tiêu này. Họ không chỉ khai thác về tăng số lượng khách
mà còn tập trung vào các thị trường mà chi tiêu bình quân của một ngày
khách du lịch có ở mức cao.
Tổng số tiền chi tiêu bình quân một lượt khách quốc tế đến Ninh Bình
năm 2012 là 74USD/ngày/khách, năm 2013 là 77.4USD/ngày/khách (tăng
0.5% so với năm 2012), năm 2014 là 82.2USD/ngày/khách (tăng 0.6% so với
năm 2013). Tuy nhiên, chi tiêu bình quân này cũng chỉ bằng 97,3% bình quân
của ngành du lịch cả ngước (năm 2014). Số tiền khách dành nhiều nhất là ăn
81
uống sau đó là mua hàng hóa và đi lại. Chi tiêu bình quân 1 ngày của khách
trong nước năm 2014 cũng chỉ đạt 488.600 đồng/ngày, bằng 69,4% so với
bình quân chung.
Bảng 2.17: Chi tiêu bình quân 1 ngày khách quốc tế ở Ninh Bình
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2012
Chi (USD)
2013/2012 Chi (USD) 2014/2013
Thuê phòng
12.7
10.2
80%
13.8
135%
Ăn uống
18.2
22.3
123%
22.6
101%
Đi lại
14.5
15.9
110%
16.7
105%
Thăm quan
5.9
7.6
129%
8
105%
Mua hàng hóa
12.9
14.1
109%
12.7
90%
Vui chơi giải trí
2
2
100%
2
100%
Y tế
0.6
0.5
83%
0.4
80%
Chi khác
7.2
4.8
67%
6
125%
Tổng cộng
74
106%
77.4
105%
82.2
(Nguồn: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Ninh Bình)
2.4. Những kết quả và hạn chế của hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình
2.4.1. Kết quả
2.4.1.1. Du lịch là ngành kinh tế rất triển vọng
Mặc dù Ninh Bình chưa đạt được kỳ vọng chiếm 5% GDP của tỉnh
(theo như quy hoạch) tuy nhiên tỉnh vẫn xác định du lịch là ngành kinh tế rất
triển vọng không chỉ thể hiện ở trong các nghị quyết. Kết quả thực tế cho thấy
từ năm 2012 đến 2014 doanh thu từ du lịch chiếm khoảng 3% GDP của tỉnh
do vậy doanh thu từ hoạt động du lịch cũng có những đóng góp đáng kể đến
nền kinh tế Ninh Bình.
2.4.1.2. Du lịch góp phần nâng cao đời sống tinh thần và ổn định xã hội
Không thể phủ nhận du lịch đang góp phần giải quyết 15,5 nghìn việc làm
82
cho người lao động (tính đến 31/12/2014). Điều này đã góp phần rõ rệt trong
việc cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Hàng năm, toàn tỉnh luôn duy trì
được 74 lễ hội lớn nhỏ qua đó góp phần tuyên truyền nâng cao nhận thức người
dân về văn hóa Ninh Bình bình nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.
2.4.1.3. Du lịch đã gắn với việc bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, môi trường
Trong thời gian qua các khu di tích lịch sử đã được đầu tư cho việc
khôi phục, tôn tạo, bảo tồn những giá trị văn hóa lịch sử. Các cấp chính quyền
đã thường xuyên cập nhật những quy định về bảo vệ môi trường trong lĩnh
vực du lịch, tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp chấp hành đúng
những quy định bảo vệ môi trường trong kinh doanh, sử dụng tiết kiệm điện,
nước, hạn chế bao bì, chất thải thải ra môi trường. Đặc biệt, các dự án đầu tư
phát triển du lịch đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Xây
dựng đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ du lịch có trình
độ hiểu biết về môi trường, về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh
tế-xã hội, về Luật Bảo vệ Môi trường cũng như các chính sách, quy định của
Nhà nước trong bảo vệ môi trường. Phát triển du lịch hợp lý, vừa tạo công ăn
việc làm cho người dân tại các điểm du lịch, đồng thời khuyến khích họ bảo
vệ, giữ gìn, cải tạo môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp.
2.4.1.4. Du lịch góp phần nâng cao hình ảnh con người Ninh Bình
Kể từ năm 2014 trở lại đây, các cấp chính quyền xây dựng khối dân
vận khối dân vận và Ban quản lý khu du lịch, ký kết chương trình phối hợp
công tác vận động quần chúng thực hiện nếp sống văn minh du lịch. Qua đó
xóa bỏ tình trạng chèo kéo, ăn xin,… tình hình anh ninh trật tự được cải thiện
rõ nét góp phần giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước con người Ninh Bình.
2.4.1.5. Nguyên nhân của những thành công
Tính đa dạng về tài nguyên du lịch: Ninh Bình có tiềm năng du lịch đa
83
dạng và phong phú (các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, vườn
quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn khoáng nước nóng… Sản phẩm DL
không trùng lặp với sản phẩm DL nhiều địa phương khác trong khu vực, đặc
biệt là những địa phương phụ cận như Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa. Điều
này tạo cho du lịch Ninh Bình có được sức hấp dẫn DL riêng, khi mà tình
trạng “trùng lặp” về sản phẩm DL đang là yếu tố cản trở sự phát triển DL
đang phổ biến.
Hạ tầng DL phát triển: Ninh Bình là một địa phương nằm trên trục giao
thông Bắc Nam được Chính Phủ quan tâm đầu tư nâng cấp nên hạ tầng DL
nói riêng của Ninh Bình đã có những bước phát triển vượt bậc. Tam Cốc-Bích
Động là một trong 20 khu DL chuyên đề của QG đã được sự quan tâm rất lớn
của Chính Phủ hỗ trợ đầu tư phát triển CSHT DL, vì vậy hệ thống hạ tầng
giao thông DL của Ninh Bình khá đồng bộ và phát triển, từ quốc lộ 1A du
khách có thể tiếp cận dễ dàng tới các khu DL như cố đô Hoa Lư, Tràng An,
Tam Cốc - Bích Động, Cúc Phương, Vân Long, Tam Điệp.
Hình ảnh về du lịch Ninh Bình được nhiều người biết đến: với nhiều
địa danh nổi tiếng như: thắng cảnh Tam Cốc - Bích Động, quần thể di tích cố
đô Hoa Lư, Cúc Phương vườn Quốc gia đầu tiên ở Việt Nam với hệ sinh thái
rừng mưa nhiệt đới với điển hình còn được bảo tồn khá nguyên vẹn, hình ảnh
khu bảo tồn đất ngập nước với cảnh quan đặc sắc như “Hạ Long trên cạn”...
Ninh Bình cách Thủ đô Hà Nội khoảng 90km, thời gian đi bằng đường
bộ từ Hà Nội đến Ninh Bình chỉ mất trên 1giờ, do vậy có thể khẳng định đây
chính là cũng là mạnh của du lịch Ninh Bình.
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những “điểm mạnh”, du lịch Ninh Bình cũng có những "điểm
yếu" cần phải được xác định nhằm có được những giải pháp và chiến lược
84
khắc phục phù hợp. Qua phân tích các yếu tố có liên quan đến tình trạng hạn
chế trong phát triển du lịch Ninh Bình thời gian qua có thể thấy những “điểm
yếu” chủ yếu của du lịch Ninh Bình bao gồm:
Thứ nhất: hạn chế về đội ngũ lao động (quản lý, tác nghiệp). Trong
một thời gian, du lịch Ninh Bình tương đối phát triển và cộng vào đó là sự
“bung ra” của hệ thống một số nhà khách đã “hình thành” một đội ngũ lao
động tham gia hoạt động du lịch mang tính tự phát với năng lực chưa đáp ứng
được yêu cầu của hoạt động du lịch. Điều này thể hiện rất rõ ở chất lượng
dịch vụ trong nhiều cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu điểm tham quan du lịch của
Ninh Bình, thậm chí ở những điểm du lịch nổi tiếng như Tam Cốc - Bích
Động, Hoa Lư, v.v.
Mặc dù cũng nhận thức được “điểm yếu” này, tuy nhiên thời gian qua
hoạt động quản lý, hướng dẫn các doanh nghiệp và tổ chức các lớp đào tạo
nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động chưa được đẩy mạnh
ngang tầm với yêu cầu phát triển.
Thứ hai: hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt hệ thống
khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên, các dịch vụ về ngân hàng, vui chơi
giải trí. Hiện nay du lịch Ninh Bình đang phải đối mặt với một thực tế là do
thực hiện quy hoạch và đặc biệt là quản lý quy hoạch du lịch, còn nhiều bất cập
nên Ninh Bình hiện đang gặp khó khăn về mặt bằng trong xây dựng phát triển
hệ thống các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nói chung, hệ thống các khu du
lịch, khách sạn tiêu chuẩn 3 sao trở lên nói riêng và các khu vui chơi giải trí
tầm cỡ. Tình trạng này càng trở nên khó khăn đối với khu vực nội đô thị xã và
tại một số trọng điểm du lịch như Tam Cốc – Bích Động, Hoa Lư, Vân Long.
Đây không chỉ đơn thuần là một “điểm yếu” mà còn là thách thức đối
với du lịch Ninh Bình trong quá trình phát triển tới đây với vai trò là một
85
“trung tâm bổ trợ” quan trọng của trung tâm du lịch du lịch Hà Nội và phụ cận.
Thứ ba: hạn chế về sản phẩm du lịch; có sự chồng chéo về sản phẩm
giữa khu, điểm du lịch và có sự hạn chế trong hoạt động marketing xúc tiến
quảng bá du lịch so với yêu cầu phát triển. Hoạt động trong cơ chế thị trường,
việc xây dựng các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm du lịch đặc thù
và hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch đến các thị trường du lịch
trọng điểm là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công
của kinh doanh du lịch. Mặc dù đã ý thức được tầm quan trọng của vấn đề
trên, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, việc đầu tư cho xây dựng phát triển các
sản phẩm du lịch, nhất là các sản phẩm du lịch đặc thù và hoạt động
marketing xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều bất cập.
Việc đầu tư để xây dựng một số sản phẩm đặc trưng của du lịch Ninh
Bình được xác định trong các quy hoạch tổng thể như du lịch làng quê, du
lịch sinh thái với việc khai thác các giá trị của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới
ở Cúc Phương, hệ sinh thái đất ngập nước Vân Long với việc quan sát Voọc
quần đùi trắng; du lịch làng nghề, tham quan nhà thờ đá Phát Diệm ở Kim
Sơn, du lịch mạo hiểm tại Cúc Phương, v.v. vẫn chưa có được sự quan tâm
thỏa đáng.
Hoạt động marketing xúc tiến quảng bá du lịch của Ninh Bình cho đến
nay vẫn chưa có được một chiến lược cụ thể vì vậy các hoạt động trong thời
gian qua chỉ mang tính “tình thế” và dựa vào nguồn ngân sách vốn rất hạn hẹp
của địa phương cũng như từ sự hỗ trợ của Chương trình Hành động Quốc gia
về Du lịch.
Thứ tư: ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch. Trong
những năm trở lại đây phần lớn du khách nội địa đến chùa Bái Đính theo
phong tục tập quán tín ngưỡng người Việt mà chủ yếu du khách tăng dần vào
tháng 2, cao điểm tháng 3 và giảm dần vào tháng 4. Vì vậy tính mùa vụ trong
86
du lịch văn hóa tâm linh là rất rõ nét. Ngoài ra, Ninh Bình còn chịu ảnh hưởng
sâu sắc của đặc điểm khí hậu á nhiệt đới ở khu vực phía Bắc bên cạnh những
ảnh hưởng khác mang tính xã hội như “mùa” lễ hội; “mùa” nghỉ hè của học
sinh, sinh viên; “mùa” du lịch của khách du lịch quốc tế, đặc biệt từ các nước
Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương.
Thứ năm: tính liên kết của Ninh Bình với các địa phương phụ cận, đặc
biệt với Hà Nội trong hoạt động du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát
triển. Ngoài ra chưa chú trọng xây dựng và hình thành được mô hình chuỗi
giá trị du lịch. Với vai trò là một trọng điểm quan trọng trong trung tâm du
lịch của vùng du lịch Hà Nội và phụ cận, việc liên kết giữa du lịch Ninh Bình
với du lịch các địa phương trong vùng, đặc biệt với du lịch Hà Nội là rất quan
trọng. Sự liên kết này không chỉ góp phần thúc đẩy du lịch Ninh Bình phát
triển mà còn có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch các địa phương trong vùng,
làm tăng sức hấp dẫn và tính cạnh tranh của các sản phẩm du lịch mang tính
vùng. Tuy nhiên thời gian qua, du lịch Ninh Bình chưa chủ động tạo ra sự liên
kết này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế các dòng khách
đến Ninh Bình, đặc biệt từ Hà Nội cũng như các tours du lịch trong không
gian du lịch Hà Nội và phụ cận chưa được hình thành một cách rõ nét; chưa
tạo được hình ảnh du lịch chung của vùng, trong đó Ninh Bình là một điểm
đến quan trọng.
Thứ sáu: hạn chế trong quản lý, thực hiện quy hoạch du lịch. Ninh
Bình được xem là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về công
tác quy hoạch phát triển du lịch. Ngay từ năm 1995, Ninh Bình đã thực hiện
quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình thời kỳ 1996 - 2010. Bên
cạnh đó, Ninh Bình cũng đã tham gia thực hiện quy hoạch phát triển du lịch
trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận thời kỳ đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020.
87
Tuy nhiên, việc quản lý thực hiện các quy hoạch phát triển du lịch còn
có nhiều bất cập, chưa được như mong muốn. “Điểm yếu” này của du lịch
Ninh Bình thể hiện ở việc “bê tông hóa” nhiều hạng mục công trình của khu
du lịch quốc gia Tam Cốc-Bích Động - một trọng điểm du lịch của Ninh Bình
với thế mạnh về du lịch sinh thái, nơi cảnh quan và môi trường được xem là
yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhiều du khách, đặc biệt là khách du lịch quốc
tế, rất thất vọng với “cách” đầu tư xây dựng những hạng mục thiếu sự hài hoà
với cảnh quan thiên nhiên ở khu du lịch này.
Tình trạng hạn chế trong thực hiện quy hoạch còn thể hiện trong việc
hình thành một cách thiếu cân nhắc về vị trí, về quy mô và công năng sử dụng
của hệ thống cơ sở lưu trú trong không gian khu du lịch Vân Long, một khu
du lịch sinh thái được đánh giá là có triển vọng nhất không chỉ đối với du lịch
Ninh Bình mà còn đối với trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận cũng như du
lịch Bắc Bộ.
Du lịch Ninh Bình phát triển trong thế cạnh tranh rất lớn, trước hết là
với Hà Nội và một số địa phương như Hà Tây, Vĩnh Phúc, trong điều kiện du
lịch Ninh Bình còn phát triển ở mức thấp: Song hành với những thuận lợi và cơ
hội khi Ninh Bình nằm trong trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận là những
thách thức rất lớn khi sự phát triển của du lịch Ninh Bình phải đối mặt với sự
cạnh tranh của du lịch Hà Nội và một số địa phương có tiềm năng khác trong
vùng như Hà Tây, Vĩnh Phúc. Sự cạnh tranh này là tất yếu đối với mọi hoạt
động phát triển trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên thách thức này đối với du
lịch Ninh Bình càng trở nên to lớn khi hình ảnh du lịch Ninh Bình còn mờ nhạt,
sản phẩm du lịch của Ninh Bình nhìn chung còn đơn điệu, phát triển ở mức
thấp và chưa phát huy được hết những tiềm năng đặc thù của địa phương.
Tác động của hoạt động phát triển đô thị và công nghiệp: Một trong
những định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
88
Ninh Bình là phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với trọng tâm là sản
xuất xi măng và vật liệu đá xây dựng trên cơ sở khai thác tiềm năng tài
nguyên to lớn về đá vôi. Bên cạnh đó, hệ thống đô thị của Ninh Bình cũng sẽ
được đầu tư mở rộng, đặc biệt là việc phát triển thành phố Ninh Bình lên đô
thị loại 1, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
tương xứng với vị trí của Ninh Bình trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội chung của vùng Bắc Bộ.
Để có thể hạn chế được tác động của thách thức này, cần thiết phải có
sự điều chỉnh phương án quy hoạch tổng thể, đặc biệt là về tổ chức các không
gian kinh tế chức năng, phù hợp trên cơ sở những phân tích khoa học khách
quan nhằm hạn chế những tác động đến môi trường du lịch của Ninh Bình.
Sự xuống cấp của tài nguyên, môi trường du lịch mà trong đó tình
trạng “chồng chéo” trong quản lý là một bất cập lớn. Đây là thách thức
không chỉ của Ninh Bình mà còn là thách thức chung của du lịch Việt Nam.
Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở nhiều điểm tài nguyên du lịch có giá trị
của Ninh Bình với sự xuống cấp của nhiều điểm di tích lịch sử văn hoá, suy
giảm đa dạng sinh học ở các khu tự nhiên do hoạt động khai thác không được
quản lý, cảnh quan bị xâm hại do khai thác đá…Có nhiều nguyên nhân của
tình trạng này, tuy nhiên một trong những nguyên nhân cơ bản chính là tình
trạng “chồng chéo” trong quản lý tài nguyên.
Du lịch Ninh Bình phát triển trong bối cảnh chịu sức ép về trách nhiệm
bảo tồn các giá trị văn hoá và tự nhiên: Cúc Phương - được công nhận là
vườn quốc gia đầu tiên ở Việt Nam; Vân Long được công nhận là khu bảo tồn
đất ngập nước lục địa đầu tiên ở khu vực phía Bắc với việc bảo tồn loài Voọc
quần đùi trắng còn tồn tại duy nhất trên thế giới; Hoa Lư, Tràng An với các di
tích lịch sử văn hoá đặc biệt có giá trị cấp quốc gia và tầm thế giới. Với sự
công nhận đó, nhiều địa danh ở Ninh Bình đã và đang là điểm đến du lịch nổi
89
tiếng không chỉ của Ninh Bình mà còn của du lịch Việt Nam và khu vực thu
hút ngày càng đông khách du lịch. Kết quả của sự gia tăng lượng khách đến
những địa điểm này sẽ là sức ép đến cảnh quan, môi trường, đến sự tồn tại của
các công trình di tích, trong khi sự phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội,
trong đó có hoạt động du lịch, ở địa điểm này sẽ phải tuân thủ những quy định
bảo vệ có tính pháp lý theo tinh thần các Luật hiện hành của Việt Nam cũng
như của quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Đây chính là một thách thức không
nhỏ của du lịch Ninh Bình trước mâu thuẫn giữa cơ hội và mong muốn tăng
lượng khách với nhiệm vụ bảo tồn các giá trị văn hoá, tự nhiên cho phát triển
bền vững.
Nhận thức của xã hội về du lịch còn bất cập: Mặc dù thời gian qua đã
có những thay đổi về nhận thức đối với tầm quan trọng của hoạt động phát
triển du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tuy
nhiên thực tế cho thấy nhận thức này của xã hội, đặc biệt của các nhà quản lý,
còn có những bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của du lịch Ninh
Bình tương xứng với vị trí, vai trò. Điều này thể hiện rõ trong sự phát triển
công nghiệp với việc khai thác đá làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường;
trong những chính sách chưa thoả đáng đối với hoạt động đầu tư phát triển hạ
tầng du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch, và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
du lịch. Đặc biệt vai trò quản lý nhà nước về du lịch của Sở Du lịch Ninh
Bình cũng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển.
90
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Có thể nói, trên phạm vi cả nước, ít có địa phương nào có được những
lợi thế về du lịch như Ninh Bình. Rất nhiều những giá trị đặc biệt đang hiện
hữu tại Ninh Bình và nó trở thành những điểm nhấn của du lịch Ninh Bình,
tạo nên một Ninh Bình non nước hữu tình.
Đối với du lịch, tỉnh Ninh Bình là tỉnh phát triển muộn hơn so với các
tỉnh, thành phố trong cả nước bởi vốn là tỉnh thuần nông. Tuy nhiên, Ninh
Bình cùng với Hà Nội và Quảng Ninh được xác định là các trung tâm du lịch
cấp quốc gia ở vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc. Điều này
cho thấy Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển du lịch tỉnh Ninh
Bình. Cùng với sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể
trong tỉnh khá nhanh, tạo nên các chuyển biến, giúp xây dựng và phát triển
"ngành công nghiệp không khói". Năm 2014, ngành du lịch Ninh Bình đón
hơn 4,6 triệu lượt du khách. Điều này không chỉ có ý nghĩa do du lịch mà còn
có ý nghĩa cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội. Những cố gắng đó thật
đáng ghi nhận cho một tỉnh mới phát triển du lịch như Ninh Bình.
Tuy đạt được những thành công trên, thực tế cho thấy việc phát triển du
lịch tỉnh Ninh Bình chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Cụ thể, theo
chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, năm 2015 tỉnh cần đạt
được 4,7 triệu lượt khách (thực tế đạt 4,6 triệu lượt khách), doanh thu từ hoạt
động du lịch so với GDP còn chưa bằng bình quân chung của ngành. Đặt ra
rất nhiều thách thức cho tỉnh Ninh Bình đặc biệt là việc thu hút khách du lịch
đến tỉnh nhà. Một trong những vấn đề cấp bách có thể giải quyết ngay ở thời
điểm này đó là định hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch trên cơ sở tận dụng
thế mạnh sẵn có của mỗi tổ chức qua đó sẽ tạo sức mạnh trong liên minh. Từ
đó mới tăng sức cạnh tranh cả về giá cả cũng như chất lượng ,nâng cao sự hài
lòng ở khách du lịch.
91
Như đã đề cập ở Chương 1, thực tế cho thấy việc định hướng phát triển
chuỗi giá trị du lịch là một tất yếu trong quá trình hội nhập. Ngay trong khu
vực các nước như Thái Lan, Singapore đã rất thành công trong việc phát triển
chuỗi giá trị du lịch tạo nên sức hút rất lớn với du khách trên toàn thế giới.
Việt Nam nói chung, tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng không nằm trong xu
hướng tất yếu đó.
92
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH NINH BÌNH
3.1. Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình
3.1.1. Định hướng quốc gia về phát triển ngành du lịch của tỉnh Ninh Bình
Ngày 30/12/2011, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết
định số 2473/QĐ-TT phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030". Chiến lược đề ra với những nội dung chủ
yếu quan điểm, mục tiêu, giải pháp và chương trình hành động cụ thể.
Theo đó, quan điểm của ngành là phát triển du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động
lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng chuyên nghiệp, có trọng
tâm; phát triển song song du lịch nội địa và du lịch quốc tế, gắn chặt với việc
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời đẩy mạnh xã hội
hóa, tập chung huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho sự phát
triển du lịch.
Mục tiêu tổng quát của ngành du lịch là đến năm 2020, du lịch cơ bản
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng
cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh
được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt
Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển.
Theo quy hoạch đó, đối với Ninh Bình được coi là một trong những địa
bàn trọng điểm có hướng khai thác sản phẩm đặc trưng là: Du lịch văn hóa
gắn với văn minh lúa nước sông Hồng; Du lịch lễ hội, tâm linh; Du lịch cuối
tuần, vui chơi giải trí cao cấp.
93
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình
3.1.2.1. Quan điểm phát triển
Căn cứ quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định
hướng đến năm 2015 như sau:
a. Phát triển du lịch Ninh Bình trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của
tỉnh, từng bước trở thành một trong những trung tâm lớn về du lịch của cả
nước; có cơ sở hạ tầng phát triển, với nhiều loại hình du lịch và các sản phẩm
du lịch hấp dẫn, độc đáo thu hút ngày càng đông khách du lịch đến thăm quan
và nghỉ lại dài ngày ở Ninh Bình;
b. Đảm bảo tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh, bền vững và hiệu quả,
gắn với việc bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự, an
toàn xã hội; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng
cao thu nhập cho nhân dân;
3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể
a. Về khách du lịch: Năm 2015 đạt 3 triệu lượt khách du lịch. Trong đó,
khách du lịch quốc tế 1,3 triệu lượt, khách nội địa 1,7 triệu lượt khách.
b. Về thu nhập từ du lịch: Năm 2015 đạt 1.518 tỉ đồng (138 triệu USD).
Trong đó, từ khách du lịch quốc tế 70 triệu USD, từ khách nội địa 68 triệu
USD;
c. Về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Năm 2015 có 3.700 phòng lưu
trú. Trong đó số phòng đủ tiêu chuẩn đón khách du lịch quốc tế (từ 3÷5 sao)
800 phòng; Đầu tư hoàn thiện một số khu vui chơi giải trí trong tỉnh.
d. Về giải quyết lao động và việc làm Năm 2015 giải quyết việc làm
cho 5,900 lao động trực tiếp và 11,800 lao động gián tiếp làm việc trong
ngành du lịch.
94
3.1.2.3. Các định hướng phát triển chủ yếu
a) Về thị trường khách du lịch.
- Khai thác mạnh thị trường khách du lịch nội địa, trong đó chú trọng
thị trường các đô thị lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà
Nẵng, Cần Thơ) và các tỉnh lân cận;
- Mở rộng thị trường khách du lịch quốc tế, trong đó tập trung vào các
thị trường truyền thống và thị trường có khả năng chi trả cao như: Tây Âu,
Đông Bắc Á – Thái Bình Dương, Bắc Mỹ và ASEAN.
b) Về phát triển các sản phẩm du lịch: Phát triển đa dạng các sản phẩm
du lịch với các loại hình: thăm quan danh thắng và các di tích lịch sử, văn
hoá, tâm linh; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao, mạo hiểm; vui chơi giải
trí, hội thảo, hội nghị, mua sắm, nghỉ cuối tuần…phù hợp với từng khu, điểm
du lịch trên địa bàn tỉnh.
c) Tổ chức không gian phát triển du lịch:
- Quy hoạch thành 7 khu du lịch chính, gồm:
+ Khu Tam Cốc – Bích Động – Sinh thái Tràng An - Cố đô Hoa Lư;
+ Khu trung tâm thành phố Ninh Bình;
+ Khu Vườn quốc gia Cúc Phương - Kỳ Phú - Hồ Đồng Chương;
+ Khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà - động Vân Trình – Khu bảo
tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long – Chùa Địch Lộng - động Hoa Lư;
+ Khu thị xã Tam Điệp – Phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn;
+ Khu hồ Yên Thắng – Yên Đồng - Động Mã Tiên;
+ Khu Nhà thờ đá Phát Diệm và vùng biển Kim Sơn.
- 9 tuyến du lịch nội tỉnh, gồm:
+ TP.Ninh Bình - Tràng An - Cố đô Hoa Lư - Chùa Bái Đính (2 ngày);
95
+ Thành phố Ninh Bình - Cố đô Hoa Lư – Chùa Bái Đính (trong ngày);
+ TP.Ninh Bình - Tam Cốc - Bích Động - Linh Cốc (trong ngày);
+ Thành phố Ninh Bình - Địch Lộng – Vân Long - Động Hoa Lư –
Kênh Gà (3 ngày);
+ Thành phố Ninh Bình – Cúc Phương - Kỳ Phú - hồ Đồng Chương –
căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu - thị xã Tam Điệp (3 ngày);
+ Tham Cốc – Bích động – Nhà thờ đá Phát Diệm – vùng biển Kim
Sơn – các Làng nghệ (03 ngày);
+ Núi chùa Non Nước – Núi chùa Bái Đính – Kênh Gà – Vân Trình
(đường thuỷ 02 ngày);
+ Thành phố Ninh Bình - thị xã Tam Điệp – Phòng tuyến Tam Điệp
Điện Sơn (trong ngày);
+ Thành phố Ninh Bình - hồ Yên Thắng - hồ Yên Đồng - Động Mã
Tiên (02 ngày).
- 10 tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế, gồm:
+ Ninh Bình – Hà Nội (nối tour du lịch 1000 năm Hoa Lư –
Thăng Long – Hà Nội);
+ Ninh Bình – Hải Phòng - Quảng Ninh – Trung Quốc (tuyến
đường QL 10);
+ Ninh Bình – Hà Nội - Lạng Sơn – Trung Quốc;
+ Ninh Bình – Lào Cai – Sa Pa – Trung Quốc;
+ Ninh Bình - Điện Biên – Trung Quốc;
+ Ninh Bình - Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh;
+ Ninh Bình Tuyên Quang – Hà Giang;
+ Ninh Bình – Hà Tây – Hoà Bình
96
+ Ninh Bình – Thanh Hoá – Nghệ An;
+ Ninh Bình – Quảng Bình – Huế– Đà Nẵng.
d) Về đầu tư phát triển du lịch: Thực hiện phân kỳ đầu tư, tập trung đầu
tư dứt điểm các hạng mục công trình chính, công trình dở dang và đầu tư mới
tại một số khu, điểm du lịch trọng điểm. Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản hoàn
thành xây dựng cơ sở hạ tầng tại một số khu, điểm du lịch trọng điểm và có
các cơ sở kinh doanh dịch vụ chất lượng cao, đáp ứng cơ bản nhu cầu khách
tham quan.
f) Về chất lượng nguồn nhân lực: Đến năm 2015, mục tiêu của tỉnh sẽ
đào tạo từ 8.000 - 15.400 lao động trực tiếp và 20.000 lao động gián tiếp hoạt
động dịch vụ, du lịch.
Ninh Bình đẩy mạnh liên kết phát triển du lịch khu vực đồng bằng sông
Hồng, với điểm nhấn là việc đăng cai tổ chức Hội nghị quốc tế về du lịch tâm
linh vì sự phát triển bền vững, dự kiến sẽ tổ chức vào tháng 9/2013, tổ chức lễ
hội truyền thống Cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Thánh Quý Minh
Đại Vương (lễ hội đền Trần)... và phối hợp tham gia nhiều hoạt động khác
của Năm Du lịch quốc gia 2014.
3.2. Giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình
3.2.1. Tăng cường liên kết và phát triển mô hình chuỗi giá trị du lịch
Trong thực tế ngành du lịch bao gồm 4 nhóm đối tác chính: các cơ quan
chính phủ, các doanh nghiệp, các bên thụ hưởng lợi ích ở các điểm du lịch và
khách du lịch. Hiệu quả tổng thể của ngành phụ thuộc vào cách thức phối hợp
của các nhóm đối tác này để đạt được mục tiêu và yêu cầu cụ thể của từng
nhóm. Trong mọi trường hợp cần có sự nỗ lực liên kết, phối hợp giữa các
nhóm đối tác để đạt được hiệu quả cao. Du lịch Việt Nam cần đưa cách tiếp
97
cận mới về chuỗi giá trị du lịch trở thành hành động cụ thể thông qua sự tăng
cường hợp tác giữa Chính phủ và các doanh nghiệp, hỗ trợ lập kế hoạch và
cam kết giữa các bên liên quan, cải thiện đối thoại và sự phối hợp giữa các bộ
ngành. Quyền lợi của người dân tại điểm du lịch cần được quan tâm chú ý và
cam kết trong các chính sách phát triển bền vững.
Du lịch vẫn được đánh giá là một ngành dịch vụ lớn nhất thế giới
chiếm 40% thương mại dịch vụ toàn cầu và sử dụng 1/10 lao động trên toàn
thế giới, đặc biệt là tạo việc làm cho vùng sâu, vùng xa và nông thôn. “Du
lịch là chìa khóa mang lại thịnh vượng cho cả nước giàu và nước nghèo.” Phát
triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường và du lịch có trách nhiệm, du lịch bền
vững vẫn sẽ là mục tiêu phát triển của tất cả nước trên thế giới. Ứng phó với
biến đổi khí hậu, sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cũng như
những dị thường về thời tiết là sự quan tâm hàng đầu trong phát triển du lịch.
Cạnh tranh trong du lịch chủ yếu sẽ dựa trên tính độc đáo và sáng tạo của sản
phẩm, dịch vụ, giá trị độc đáo của bản sắc văn hóa và chất lượng môi trường.
Việc liên kết phát triển du lịch giữa Ninh Bình và các địa phương sẽ
giúp các bên cùng phát huy lợi thế của mình để phát triển du lịch. Các địa
phương có thể sử dụng tài nguyên du lịch của nhau để cùng xây dựng sản
phẩm du lịch và xúc tiến du lịch. Sự liên kết giữa các tuyến, điểm du lịch sẽ
tạo sự đồng bộ trong việc thu hút khách, đồng thời tạo nên những sản phẩm
du lịch hấp dẫn.
Để làm được điều này, Ninh Bình đang tăng cường sự liên kết phát
triển du lịch giữa các địa phương, vùng miền trong cả nước. Theo đó, tăng
cường hoạt động xã hội hoá, đổi mới nội dung hình thức, chất lượng công tác
quảng bá, xúc tiến du lịch. Trên cơ sở phối hợp với các cơ quan chức năng
Trung ương, các doanh nghiệp du lịch v.v. để xây dựng các chương trình
quảng bá, xúc tiến phù hợp. Hàng năm, có kế hoạch mời các cơ quan truyền
thông, hãng lữ hành lớn đến khảo sát, đánh giá và tuyên truyền về các sản
98
phẩm du lịch Ninh Bình; tổ chức các hoạt động liên kết và tập trung quảng bá
tại các trung tâm phân phối khách lớn của Việt Nam như Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh… Ninh Bình cần đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác về phát triển du lịch với
các tỉnh nằm trong khu vực Đồng bằng sông Hồng, như: Quảng Ninh, Hải
Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái
Bình và Vĩnh Phúc. Theo lãnh đạo Tổng cục Du lịch, đây chính là cơ hội để
du lịch Đồng bằng sông Hồng quảng bá hình ảnh, kết nối các tuyến du lịch
liên tỉnh, liên vùng. Đồng thời, cũng là dịp để các địa phương tiến hành khảo
sát, đánh giá lại toàn bộ tài nguyên du lịch sẵn có, từ đó lựa chọn phần hấp
dẫn nhất, độc đáo nhất để quy hoạch thành điểm đến khoa học, bền vững
trong mối quan hệ phát triển du lịch chung với vùng Đồng bằng sông Hồng,
đặc biệt là trung tâm du lịch Hà Nội. Việc phối hợp tổ chức các hoạt động du
lịch trong Năm du lịch quốc gia 2013 có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tính liên
kết vùng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội giữa các tỉnh trong khu vực
Đồng bằng sông Hồng. Bên cạnh việc phát triển liên kết vùng, phát triển
mạnh các thị trường khách nội địa, Ninh Bình tăng cường đẩy mạnh sự liên
kết phát triển du lịch với các nước trong khu vực, trên thế giới như: Trung
Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... Đặc biệt, coi trọng các liên kết vùng trong phát
triển du lịch bao gồm liên kết để hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông; liên kết
trong đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp phục vụ du lịch (nhất là các
ngoại ngữ Anh, Nga, Nhật…) và tăng cường quảng bá rộng rãi các sản phẩm
du lịch đặc trưng của vùng đến du khách trong và ngoài nước. Mở rộng liên
kết với các đối tác nước ngoài, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức các
hoạt động phát triển thị trường.
Trong bối cảnh phát triển du lịch hiện nay, cùng với việc liên kết giữa
các vùng, các địa phương trong và ngoài nước, xu thế liên kết đa phương,
song phương giữa các doanh nghiệp tham gia hoạt động du lịch là hết sức
quan trọng. Sự kết nối giữa các doanh nghiệp thể hiện trên nhiều lĩnh vực,
99
nhiều góc độ: liên kết giữa các doanh nghiệp lữ hành và kinh doanh cơ sở lưu
trú, nhà hàng, cơ sở mua sắm, vui chơi giải trí; liên kết trong xây dựng điểm
đến, xây dựng sản phẩm và quảng bá xúc tiến. Các doanh nghiệp du lịch cần
đa dạng hoá sản phẩm du lịch và kết nối các tour, tuyến, khu du lịch; tập trung
phát triển các sản phẩm du lịch liên quan đến các loại hình du lịch có thế
mạnh của khu vực; xây dựng các sản phẩm cũng như các dịch vụ du lịch phù
hợp để kết nối với các nguồn khách v.v.. Sự gắn bó chặt chẽ của các doanh
nghiệp trong quá trình liên kết sẽ làm tăng thêm sức hấp dẫn và giá trị của
thương hiệu, sản phẩm, hiệu quả kinh doanh. Các mối liên kết này sẽ là nhân
tố đảm bảo hình thành nên yếu tố chất lượng cao, đảm bảo sự phát triển bền
vững của hoạt động du lịch.
Thực tế cho thấy, việc tăng cường sự liên kết phát triển du lịch Ninh
Bình với các vùng miền, địa phương trong và ngoài nước là hướng đi cần
thiết hiện nay của Ninh Bình nói riêng và Việt Nam nói chung. Việc liên kết
phát triển du lịch, ngoài đem lại lợi ích phát triển du lịch cho mỗi địa phương,
còn tạo thêm khả năng cạnh tranh giữa các bên liên quan, nhằm thu hút đầu
tư, thu hút khách du lịch đến mỗi địa phương. Đây là yếu tố quan trọng để
phát triển du lịch trong cơ chế thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của
hoạt động du lịch.
3.2.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
Trước tiên, Ninh Bình cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn nhân
lực tham gia hoạt động du lịch từ đó có nghiên cứu đánh giá dự báo nguồn
nhân lực trong 5 năm tiếp theo. Tiếp đó xây dựng chương trình phát triển
nguồn nhân lực cho phù hợp với đặc thù tỉnh nhà. Trong quá trình xây dựng
chương trình cần đặc biệt chú ý đến việc đào tạo lại lực lao động hiện có.
Nguồn kinh phí trong đào tạo nên huy động từ nguồn xã hội hóa.
Song song với đó, thực trạng cho thấy nguồn nhân lực chưa qua đào tạo
100
đang chiếm 26% lực lượng lao động tham gia hoạt động du lịch, lực lượng
này hầu hết là dân bản địa đang hoạt động tự phát. Do đó, trong năm 2015 cần
nghiên cứu xây dựng các chương trình đào tạo, tập huấn thực sự phù hợp và
thiết thực sát sườn với người dân bản địa. Thời gian đào tạo, tập huấn nên vào
3 tháng rảnh rỗi trong năm (tháng 3, tháng 6, tháng 9).
3.2.3. Tăng cường quảng bá, marketing về du lịch Ninh Bình
Thương hiệu: Cần xây dựng giá trị thương hiệu rất riêng, được áp dụng
nhất quán trong toàn bộ công tác tuyền thông do Sở văn hóa, thể thao và du
lịch thực hiện, được thiết kế chuyên nghiệp bởi một đơn vị thiết kế đồ họa.
Hướng dẫn này không chỉ đề cập đến hình thức của các ấn phẩm mà còn
quảng bá các thông điệp quan trọng và các hình ảnh nhận dạng du lịch Ninh
Bình.
Thư viện ảnh kỹ thuật số: Cần phải có một thư viện ảnh kỹ thuật số có
chất lượng cao để truyền tải các giá trị thương hiệu. Thư viện này sẽ được
thiết lập trực tuyến trên website thương hiệu du lịch Việt Nam trong tương lai
và miễn phí cho người sử dụng. Tối thiểu cần phải có 1000 ảnh có chất lượng
cao, miễn phí bản quyền, với chuyên đề xoay quanh sản phẩm và thông điệp
chính về các sản phẩm dịch vụ của du lịch Ninh Bình.
Thư viện ảnh truyền tải các giá trị thương hiệu: Cần phải có một thư
viện ảnh kỹ thuật số có chất lượng cao để truyền tải các giá trị thương hiệu.
Thư viện này sẽ được thiết lập trực tuyến trên website thương hiệu du lịch
Việt Nam trong tương lại và miễn phí cho người sử dụng. Tối thiểu cần phải
có 1000 ảnh có chất lượng cao, miễn phí bản quyền, với chuyên đề xoay
quanh sản phẩm và thông điệp chính trong marketing.
Chiến lược marketing điện tử: Thực hiện phát triển chiến lược
marketing điện tử như thư điện tử mạng xã hội, mạng viễn thông. Chiến lược
101
này sẽ xem xét cơ sở dữ liệu hiện có của Ninh Bình để phục vụ cho mục đích
marketing, các kênh marketing điện tử tại Việt Nam và các thị trường mục
tiêu theo chiến lược marketing. Năng lực công nghệ thông tin của Sở văn hóa,
thể thao và du lịch Ninh Bình cũng sẽ được xác minh lại và để xuất nhu cầu
đào tạo.
Các công cụ marketing chính – website thương hiệu: Cần có sự tham gia
của các chuyên gia thiết kế trang web tốt nhất hiện có tại Việt Nam trong việc
xây dựng một website tiếp thị điểm đến tin cậy và có thương hiệu. Website này
phải thân thiện với người sử dụng, được thiết kế chuyên nghiệp, đa ngôn ngữ
và được cập nhật liên tục để cạnh tranh với các cổng thông tin điện tử du lịch
tốt nhất trên thế giới. Trên website cần có các video được thực hiện bằng
những tổ chức chuyên nghiệp để quảng bá bao gồm các vấn đề: sự đa dạng văn
hóa và các di sản văn hóa của Việt Nam; trải nghiệm du lịch sinh thái,… Bên
cạnh đó, khách du lịch có thể đặt tour (hoặc các dịch vụ du lịch) trực tiếp trên
website với sự bảo trợ của Sở văn hóa, thể thao và du lịch Ninh Bình.
Các chiến dịch marketing có định hướng: Các chiến dịch marketing có
định hướng rõ rệt, có quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp du lịch, nhằm
mang lại thông tin bổ ích từ các cơ quan chuyên nghiệp, và từ đó sẽ triển khai
nghiên cứu thị trường hiện tại. Các thị trường trọng tâm được xác định sẽ dựa
trên sự thành công về mặt kinh tế tại điểm đến của thị trường khách quốc tế,
mức độ kết nối và phân tích thị trường.
3.3. Một số kiến nghị với các cơ quan nhà nước
3.3.1. Đối với Chính phủ
Điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi hệ thống pháp luật, văn bản pháp quy,
chính sách quản lý liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động du lịch
theo định hướng phát triển du lịch theo hướng tạo thuận lợi cho du khách như
bỏ thị thực cho một số thị trường chiến lược,… chủ trương lựa chọn Ninh
102
Bình như một điểm hẹn văn hóa tâm linh để thực hiện các hoạt động tôn giáo
như Đại lễ Phật Đản, cầu siêu cho các nạn nhân bị tai nạn xem máy,…
3.3.2. Đối với Bộ văn hóa thể thao và du lịch.
Phát triển du lịch theo hướng bền vững cần có sự tham gia của tất cả
các bên liên quan, đặc biệt là trong quy trình hoạch định chính sách và lập kế
hoạch, Để thực hiện được yêu cầu này, một số đề xuất cụ thể sau có thể được
xem xét:
Hình thành tổ chức tư vấn du lịch ở cấp quốc gia để hỗ trợ ngành du
lịch xây dựng, triển khai các chính sách cũng như công tác quản lý phát triển
ngành.
Hình thành hệ thống tổ chức quản lý điểm đến liên vùng nhằm cụ thể
hóa chủ trương tăng cường liên kết, phối hợp trong công tác phát triển sản
phẩm du lịch và triển khai các chiến dịch xúc tiến quảng bá du lịch cho một
vùng địa lý.
Củng cố hoạt động của hiệp hội du lịch và tổ chức nghề nghiệp khác có
liên quan đến du lịch để tăng cường sự gắn bó thống nhất, tính chuyên nghiệp
cao trong kinh doanh, đồng thời đưa cách tiếp cận du lịch có trách nhiệm vào
các hoạt động kinh doanh chung.
Tổng cục Du lịch cần tích cực thực hiện vai trò là đầu mối phối hợp các
bên liên quan trong phát triển du lịch: phối hợp liên ngành, phối hợp liên
vùng và phối hợp các đối tác phát triển, các nhà tài trợ cho du lịch Việt Nam
nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp và toàn diện.
Hình thành và đẩy mạnh các cơ chế hỗ trợ đối thoại công- tư liên quan
đến phát triển du lịch, ví dụ: tổ chức các diễn đàn, hội thảo, các cuộc tọa đàm
trao đổi, thảo luận về những chủ đề có tính thời sự hoặc có tính dài hạn.
3.3.3. Đối với UBND tỉnh Ninh Bình
Cho đến nay Ninh Bình vẫn chưa khai thác hết các tiềm năng và thế
103
mạnh về tài nguyên du lịch của mình. Sản phẩm du lịch còn thiếu sự đa dạng,
bị trùng lặp và chất lượng còn hạn chế. Sản phẩm du lịch cạnh tranh hơn cần
được xây dựng dựa trên lợi thế so sánh của các vùng và các nguyên tắc về
phát triển du lịch có trách nhiệm. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm du lịch, có thể xem xét đến các đề xuất sau:
- Các địa phương cần phối hợp, hợp tác với nhau để lựa chọn phát triển
các loại hình du lịch thể hiện đầy đủ nhất giá trị của các nguồn tài nguyên du
lịch trong vùng.
- Nhấn mạnh sự khác biệt về chất lượng cảu môi trường tự nhiên, nét
đặc sắc về văn hóa, lịch sử hình thành nên sản phẩm du lịch Việt Nam, đặc
biệt chú trọng tới du lịch nghỉ dưỡng biết, du lịch tìm hiểu văn hóa, lịch sử.
- Ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng cao đáp ứng
nhu cầu thị trường khách du lịch có khả năng thanh toán cao.
- Gấp rút xây dựng và triển khai một chiến lược phát triển thị trường du
lịch một cách tổng thể, hướng tới các mục tiêu dài hạn, đi kèm với một
chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch ấn tượng, hiệu quả.
- Nhà nước cần ban hành và giám sát thực hiện các quy định về bảo vệ
người tiêu dùng khách du lịch, bảo vệ môi trường du lịch, các tiêu chuẩn về
chất lượng dịch vụ du lịch, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực du lịch trên cả cấp độ quản lý
và lao động nghề trong phạm vi cả nước.
104
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Với tiềm năng và nhiều lợi thế để xây dựng và phát triển ngành du lịch
Ninh Bình thành một thành phố du lịch trọng điểm của khu vực phía Bắc. Tuy
nhiên với những gì đang và đã diễn ra đối với ngành du lịch Ninh Bình thì
vẫn là một thách thức không hề nhỏ. Để tận dụng được cơ hội và các điểm
mạnh của mình, ngoài những vấn đề đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch,
nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như dịch vụ du lịch.
Để nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng du lịch thì ngành du lịch
Ninh Bình cần có phương án cụ thể xây dựng mô hình chuỗi giá trị du lịch.
Có như vậy du lịch Ninh Bình mới thực sự phát triển. Khả năng cạnh tranh
cao và thu hút nhiều du khách, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội đóng góp lớn
hơn nữa vào nền kinh tế của tỉnh.
Để đạt mục tiêu trên, bên cạnh việc phát huy nội lực, Ninh Bình sẽ
tranh thủ thời cơ hội nhập quốc tế, tăng cường liên kết, hợp tác với các tỉnh
thành, đặc biệt với các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong công tác phát triển du
lịch, qua đó tạo sự liên kết, bổ sung cho nhau, tạo ra những sản phẩm du lịch
độc đáo, chất lượng cao, hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế.
Ngành du lịch phải có những giải pháp kịp thời như: Phát triển sản
phẩm du lịch, đầu tư hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
đi đôi với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; phát triển thị trường xúc tiến
quảng bá thương hiệu, gắn liền với đầu tư và chính sách phát triển đồng thời
tích cực triển khai thực hiện hợp tác, liên kết về du lịch, hoàn thiện thể chế, cơ
chế, chính sách và liên quan đến du lịch.
105
KẾT LUẬN
Ninh Bình là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, là "địa linh" độc đáo.
Toàn tỉnh có 975 di tích, trong đó có 80 di tích đã được xếp hạng quốc gia. Là
nơi có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm đà bản sắc văn hoá làng quê vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng
và những tiềm năng được thiên nhiên ban tặng, Ninh Bình đang khẳng định là
điểm đến hấp dẫn, an toàn, thân thiện, mời gọi du khách muôn phương.
Trong thời gian qua du lịch Ninh Bình đã đạt được những thành tựu
nhất định. Du lịch Ninh Bình đang đứng trước những cơ hội và thách thức,
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhận thức được sự phát triển du lịch
tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua chưa thực sự tương ứng với tiềm năng, nên
tác giả mạnh dạn nghiên cứu thực trạng du lịch Ninh Bình trong giai đoạn
2012 - 2014 để đề ra phương hướng phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh
Bình. Chuỗi giá trị là một mô hình hết sức cần thiết trong bối cảnh kinh tế thị
trường hiện nay, mô hình chuỗi giá trị sẽ luôn là chủ đề nóng trong thời gian
tới. Trong lĩnh vực Du lịch thì chuỗi giá trị sẽ đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy và tạo tiền đề phát triển ngành du lịch. Để du lịch Ninh Bình
thực sự phát triển thì còn nhiều việc phải làm và một trong những việc đó là
thực hiện phát triển mô hình chuỗi giá trị vào việc phát triển du lịch.
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ thì khả năng bao quát toàn diện
các vấn đề lớn liên quan đến lĩnh vực phát triển du lịch không thể tránh khỏi
khiếm khuyết. Hi vọng rằng Luận văn này sẽ có đóng góp nhất định vào việc
phát triển du lịch tại Ninh Bình.
Tác giả rất mong nhận được những góp ý quý báu của các thầy, cô
106
giáo, các nhà khoa học và những người quan tâm đến đề tài này. Hi vọng rằng
tác giả sẽ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện có hiệu quả để có cơ
hội tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này./.
107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Ngọc Bảo (2006), “ Khu Tam Cốc- Bích Động: Thành công nhờ mô hình
mới”, Tạp chí du lịch Việt Nam
2) Ban nghiên cứu hành động chính sách (2007), Sổ tay thực hành phân tích
chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo, Trung tâm thông tin ADB, Hà
Nội
3) Cục thống kê Ninh Bình (2013), Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm
2014.
4) Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit (2007), Value
Links Mannual
5) Nguyễn Văn Đính - Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình Kinh tế du
lịch, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
6) Trịnh Quang Hào (2008), Nghiên cứu quy định tạm thời quản lý khai thác
và bảo vệ tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Đề tài khoa học,
Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch Ninh Bình
7) Nguyễn Thị Nguyên Hồng (2004), Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng
du lịch của Thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch Hà Nội đến năm
2010, Luận án tiến sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
8) Kaplinsky R. và Morris M. (2001), Value Chain
9) Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2006), Giáo trình Tổng quan về
du lịch, Nxb. Hà Nội
10) Rober thanguar (1993), Kinh tế du lịch, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
11) Sở Du lịch Ninh Bình (2006), “Báo cáo tóm tắt dự án bổ sung quy hoạch
khu du lịch Tam Cốc- Bích Động đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020.
12) Tỉnh ủy Ninh Bình (2009), Nghị quyết của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh
108
về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
13) Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2005), Kế hoạch thực hiện nghị quyết
số 15- NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc phát triển du lịch
Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
14) Phạm Thị Hoàn Nguyên (2011), Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ đại dương
tại Tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Nha Trang)
15) Lê Thị Vân (2006), Giáo trình văn hóa Du lịch,Nxb.Hà Nội
16) Website của du lịch Ninh Bình (www.ninhbinhtourism) – CPCC,1999.
Báo cáo Cúc Phương: Bản tin dự án bảo tồn Cúc Phương, tập 2,(5).
17) Website của du lịch Việt Nam (www.dulichvietnam.com.vn).
18) Trang web: www. http://vi.wikipedia.org/
109

