intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm: Phát triển năng lực tư duy cho học sinh qua việc sử dụng hệ thống câu hỏi tích hợp trong giảng văn trung học cơ sở

Chia sẻ: NGUYỄN VIẾT THÀNH | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:11

0
123
lượt xem
14
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Phát triển năng lực tư duy cho học sinh qua việc sử dụng hệ thống câu hỏi tích hợp trong giảng văn trung học cơ sở

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sau khi áp dụng hệ thống câu hỏi học sinh rèn luyện cho mình tư duy "Tích hợp", khả năng liên hệ giữa ba phân môn Văn-Tiếng việt-Tập làm văn. Liên hệ giữa Ngữ văn với các môn học khác (tích hợp ngang). Nắm chắc rõ toàn bộ phần Văn-Tiếng việt-Tập làm văn đã học từ lớp 6 đến lớp 9 (tích hợp dọc).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Phát triển năng lực tư duy cho học sinh qua việc sử dụng hệ thống câu hỏi tích hợp trong giảng văn trung học cơ sở

  1. Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ. Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ Văn nói riêng  thì việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề cần thiết và quan trọng, phát  huy một cách có hiệu quả khả năng học tập của học sinh.  Việc đổi mới dạy học đã trở thành vấn đề cấp thiết và điểm mấu chốt  của ngữ  văn tập chung trong hai chữ  “Tích” : tích hợp và tích cực. Có “tích  cực” mới phát huy tốt tính chất tích hợp, qua tích hợp học sinh càng tích cực  hơn. Trong cả  ba phân môn của ngữ  văn: Văn­ Tiếng Việt – Tập làm văn.  Tích hợp không phải là vấn đề  khó, nhưng cũng không hề  đơn giản. Nếu  người thầy giáo không thực sự  chú ý đến hệ  thống câu hỏi tích hợp và hệ  thống câu hỏi lại đặc biệt cần thiết với phần giảng văn. Bởi cái cốt lõi để  người giáo viên có thể hướng dẫn, cùng học sinh tìm hiểu văn bản, cảm nhận   được văn bản một phần chủ yếu là thông qua hệ thống câu hỏi. Để hệ thống  câu hỏi phát huy được tính tích cực, chủ  động của học sinh lại cần có tính  tích hợp. Học sinh khi học văn còn phải liên hệ với Tiếng việt, với Tập làm văn,  không chỉ có thế còn phải liên hệ chính phần giảng văn trong toàn bộ chương  trình đã học với nhau mà rộng hơn là liên hệ giữa văn với kiến thức của các  môn học khác như : Sinh, Sử, Địa, GDCD,Ngoại ngữ và tất nhiên để có thể  trả lời tốt những câu hỏi tích hợp của thầy, học sinh không thể không “động  não”, không thể không nghiên cứu kỹ càng khi soạn bài, luôn chú ý tới mối  quan hệ giữa bài học này với bài học kia, môn học này với môn học khác.  Nhờ vậy cũng hình thành cho các em khả năng tư duy tích hợp trong tình  huống, trong cuộc sống hàng ngày. Từ những quan trọng của hệ thống câu hỏi “Tích hợp” trong giảng dạy  Ngữ Văn, ngay từ đầu năm học được phân công giảng dạy Ngữ văn 9, tôi đã  chú đến hệ  thống câu hỏi “Tích hợp”  ở  cả  3 phần: Văn – Tiếng việt – Tập  1
  2. làm văn, đặc biệt chú ý đến hệ thống câu hỏi tích hợp ở phần giảng văn. Bản  thân tôi xin đưa ra đề  tài: “Phát triển năng lực tư duy cho học sinh qua việc   sử dụng hệ thống câu hỏi tích hợp trong giảng văn trung học cơ sở” Phần thứ hai:  CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN. 1. Mục tiêu. Sau khi áp dụng hệ  thống câu hỏi học sinh rèn luyện cho mình tư  duy  “Tích hợp”, khả năng liên hệ giữa ba phân môn Văn­Tiếng việt­Tập làm văn.  Liên hệ  giữa Ngữ  văn với các môn học khác (tích hợp ngang). Nắm chắc rõ  toàn bộ phần Văn­Tiếng việt­Tập làm văn đã học từ lớp 6 đến lớp 9 (tích hợp  dọc) Đối với hệ thống câu hỏi “Tích hợp” tôi luôn chú ý cho mọi đối tượng :  Giỏi­Khá­Trung bình­Yếu­Kém và luôn đặt ra câu hỏi cho mỗi tiết dạy văn  Tích hợp cái gì? Tích hợp như thế nào để học sinh nắm được bài, thuộc ngay  tại lớp làm được điều đó với lớp tôi (đối tượng đại trà­lớp 9) quả thật không   phải là dễ. 2. Quá trình và thời gian thực hiện. Áp dụng hệ thống câu hỏi tích hợp trong tất cả các bài giảng văn trong  ngữ văn từ đầu năm đến hết năm học. ­ Giai đoạn 1: Từ  đầu năm đến hết học kỳ  I  rút ra kinh nghiệm và  phương pháp thực hiện ở giai đoạn 2. ­ Giai đoạn 2:Từ đầu học kỳ II    cuối học kỳ II  rút ra kinh nghiệm  cả thời gian dài thực hiện. 3. Hình thức thực hiện. 3.1.  Xác định nội dung kiến thức bài học với phần giảng văn đi theo các   bước: Bước 1: Kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới. Bước 2: Đọc tìm hiểu bố cục, chú thích. 2
  3. Bước 3: Đọc tìm hiểu văn bản. Bước 4: Tổng kết. Bước 5: Hướng dẫn về nhà. 3.2.  Áp dụng hệ thống câu hỏi với từng phần trong mỗi bài cụ thể. 3.3. Ở phần kiểm tra bài cũ và giới thiệu bài mới. 3.3.1. Tích hợp ngang. Kiểm tra kiến thức  ở  bài cũ của phần văn bản có kết hợp với Tiếng việt,   Tập làm văn trong toàn bộ chương trình. ­Ví dụ: Hãy tìm các hình ảnh trong bài thơ “Viếng lăng Bác” và phân tích tác  dụng những hình ảnh đó . Ở câu này học sinh vận dụng kiến thức về “ẩn dụ”trong Tiếng việt để trả  lời . 3.3.2.Tích hợp dọc. ­Ví dụ  :Kết hợp kiểm tra bài cũ với giới thiệu bài mới,trả  lời nhanh các câu  hỏi ? 1.Một bài thơ nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan mà em đã học ở lớp   8?          2.Tìm từ thích hợp điền vào chỗ trống trong câu thơ sau ? “Mỗi năm hoa đào nở    Lại thấy …………..” (Ngữ văn 8) 3. Một tên gọi khác của truyện Kiều ? 4. Thuý Kiều có sắc đẹp như thế nào ? 5. Nguyễn Đình Chiểu còn có tên gọi khác là? 6. Người lợi dụng đêm tối đẩy Lục Vân Tiên xuống sông là ? 7.   Một   bài   thơ   nổi   tiếng   của   Phạm   Tiến   Duật   viết   về   người   lính   Trường Sơn là ai? Q U A Đ E O N G A N G Ô N G Đ Ô G I A 3
  4. Đ O A N T R Ư Ơ N G T Â N T H A N H N G H I Ê N G N Ư Ơ C N G H I Ê N G T H A N H Đ Ô C H I Ê U T R I N H H Â M T I Ê U Đ Ô I X E K H Ô N G K I N H Mỗi đáp án của câu hỏi tương  ứng với hàng ngang ,tìm ra đáp án của 7 câu  hỏi trên ta tìm ra hàng dọc có tên Đồng chí trên cơ sở đó giáo viên dẫn vào bài   mới. 3.4. Ở phần đọc tìm hiểu chú thích, bố cục. Đây là phần dễ  dàng nhất cho tích hợp ngang, liên hệ  kiến thức Văn­ Tiếng việt­Tập làm văn thông qua các dạng câu hỏi.  ?H1­ Xác định giọng văn bản. ?H2­ Xác định thể  loại văn bản của văn bản, xác định ngôi kể, thứ  tự  kể (Tích hợp Tập làm văn) ?H3­ Giải thích từ khó (Tích hợp Tiếng việt) ­ Câu hỏi về tác giả và những tác phẩm có liên quan (Tích hợp ngang, dọc)  ­Tóm tắt văn bản (Tích hợp Tập làm văn) 3. 5. Phần đọc tìm hiểu văn bản.       Trong phần này có thể áp dụng, sử dụng hệ thống câu hỏi tích hợp tương   đối hiệu quả  khi khai thác văn bản, tích hợp ngang với 3 phân môn văn, các  tác phẩm trong chương trình hoặc tích hợp mở rộng với các văn bản khác. *Ví dụ : Ví dụ cụ thể khi tìm hiểu văn bản “Mùa xuân nho nhỏ”  trong phần tìm hiểu văn bản.  1/Hình ảnh mùa xuân thiên nhiên . STT Câu hỏi Hướng trả lời Hướng tích  hợp 1 Tác giả  đã phác hoạ  ­Tả   cảnh   thiên   nhiên   mùa  hình ảnh thiên nhiên  xuân   với   những   hình   ảnh  4
  5. Mùa   xuân   như   thế  quen   thuộc,   dòng   sông  nào? xanh   ,bông   hoa   tím   biếc  ,tiếng chim chiền chiện … 2 ­Cấu   tạo   ngữ   pháp  ­Đảo   vị   ngữ   trong   hai   câu  trong 2 câu đầu có gì  đầu  đặc   biệt   ?Có   tác  “Mọc giữa dòng sông xanh  ­Tích   hợp  dụng gì khi xây dựng  Một bông hoa tím biếc” ngang cấu   tạo   đặc   biệt  Động   từ   “mọc”làm   vị   ngữ  (phầnTiếng  đó ? đặt   trước   bộ   phận   chủ  việt)   ngữ   ,ở   đầu   khổ   thơ   ,đầu  đoạn thơ là một dụng ý nghệ  thuật của tác giả. Nó không  chỉ   tạo   cho   người   đọc   ấn  tượng đột ngột bất ngờ, mới  lạ, mà còn làm cho hình  ảnh  sự   vật   trở   nên   sống   đông  như   đang   diễn   trước   mắt.  Tưởng   như   bông   hoa   tím  biếc   kia   đang   từ   từ,   lồ   lộ  3 mọc   lên,   vươn   lên,   xoè   nở  Ngoài   ra   ở   những  trên   mặt   nước   xanh   sông  câu tiếp theo, tác giả  xuân. sử dụng kiểu câu gì?  ­Kiểu câu cảm. Thể   hiện   cảm   xúc  “ơi con chim chiền chiện gì?  Hót chi mà vang trời” Tiếng chim chiền chiện hót  ríu   ra   trong   bầu   trời   xuân,  càng   làm   cho   không   khí   trở  Tích   hợp  nên vui tươi, rộn ràng, ấm áp  ngang 5
  6. (GV bình chuyển) và náo nức. (phần   Tiếng  4 Thể hiện cảm xúc say sưa  Việt) trước   cảnh   vật   mùa   xuân  Thử   phỏng   đoán  thiên nhiên của tác giả… trong hai câu thơ tiếp  ­Không   rõ   là   giọt   gì.   Giọt  theo “giọt long lanh”  sương  sớm,  giọt mưa xuân,  là giọtgì? giọt   long   lanh   hay   là   giọt  nước   trong   suốt   phản   ánh  bình minh… Tích   hợp  ­Nếu liên hệ với hai câu trên  ngang thì có thể  là giọt sương long  (phần   Tiếng  lanh   của   tiếng   chim   chiền  Việt) chiện   đang   hót   vang   trời… Hay   rộng   hơn   là   giọt   cảm  5 xúc của nhà thơ  trước thiên  nhiên tươi đẹp, trong sáng… Hãy   xác   định   biện  ­ Nghệ  thuật  ẩn dụ  chuyển  pháp   nghệ   thuật  đổi   cảm   giác   tiếng   chim  được  sử  dụng trong  thông   thường   được   cảm  hai câu thơ? nhận  bằng  thính  giác  ,  giọt  sương   có   thể   cảm   nhận  bằng   thính   giác,   giọt   cảm  xúc bằng cảm giác …nhưng  lại được cảm nhận bằng xúc  6 giác… nhưng lại được cảm  nhạn bằng xúc giác “đưa tay  Nói rõ điều gì? hướng về” Cảm   hứng   say   sưa   đến  bất tận của con người trước   6
  7. 7 mùa xuân, sử  dụng mọi giác  quan   để   thâu   tóm,   để   đón  Em   có   liên   hệ   với  nhận mùa xuân. bức   tranh   mùa   xuân  ­Mùa   xuân   trong   “Truyện  thiên nhiên nào trong  Kiều”­đoạn   trích   “Cảnh  quá   trình   tìm   hiểu  ngày xuân”: các văn bản đã học?   “Cỏ non xanh rợn chân trời Cành Lê trắng điểm một vài   GV bình chú thêm. bông hoa” Cảnh   đẹp   kiêu   sa,   trong  sáng   với   những   hình   ảnh  ước lệ tuyệt đẹp. Khác với mùa xuân nho nhỏ  với   những   hình   ảnh   mùa  xuân   thiên   nhiên   thật   gần  gũi,   bình   dị   mà   đáng   trân  trong biết bao. ­Cảm xúc của tác giả  trước  mùa   xuân   dễ   dàng   liên   hệ  với  những cảm xúc của nhà  thơ   Xuân   Diệu   trước   mùa  xuân “Hỡi   xuân   hồng   ta   muốn căn vào ngươi” Thể   hiện   sự   khát   khao  tưởng   như   muốn   ngấu  nghiến, muốn “nuốt chửng”  lấy mùa xuân của đất trời…     Còn   với   Thanh   Hải,   một  động   tác   nhẹ   nhàng   nhưng  7
  8. cũng rất trân trọng mùa xuân.  “Đưa   tay   hứng   về”   cũng   là  tình yêu với mùa xuân nhưng  đó   là   một   tình   yêu   dịu   nhẹ  Tích hợp dọc mà   sâu   sắc   biết   nhường  nào… Thông qua hệ  thống câu hỏi tích hợp, giáo viên đã cùng học sinh cảm   nhận được bức tranh  mùa xuân thiên nhiên của bài thơ, đảm bảo đặc trưng  của một văn bản nghệ thuật qua những biểu hiện nghệ thuật để thể hiện nội  dung của văn bản, hơn nữa còn góp phần mở  rộng cho học sinh những kiến   thức văn học có liên quan khi các em cảm nhận thơ văn. 3.6. Tích hợp trong phần tổng kết. Từ  những nội dung học sinh  đã được tìm hiểu qua các phần trước,  hướng tích hợp chủ yếu ở phần này là để học sinh liên hệ  văn bản với cuộc  sống, với các môn học khác hoặc liên hệ về tư tưởng, tình camr của bản thân  học sinh… VD: Tổng kết ý nghĩa văn bản “ánh trăng”của Nguyễn Duy: Hướng  STT Câu hỏi Hướng trả lời tích hợp 1 Qua tìm hiểu toàn bộ  ­Kết hợp hài hoà giữa tự  sự  với  Tích  bài   thơ   “ánh   trăng”  trữ tình. hợp  nhận   xét   kết   cấu  ­Giọng   điệu   tâm   tình   của   thể  ngang giọng điệu bài thơ? thơ năm chữ. (Tập  ­Nhịp   thơ   khi   thì   trôi   chảy,   tự  làm văn) nhiên,   nhịp   nhàng,   lúc   thì   ngân  nga   thiết   tha   cảm   xúc,   lúc   lại  trầm lắng biểu hiện suy tư. 2 Kết   cấu,   giọng   điệu  ­Kết   cấu,   giọng   điệu   có   tác  đó có tác dụng gì? dụng   làm   nổi   bật   chủ   đè,   lời  8
  9. giản   dị   nhưng   gợi   nhiều   cảm  nghĩ,   tạo   tính   chân   thực,   chân  thành, gây  ấn tượng mạnh cho  3 Đọc   bài   thơ   “ánh  người đọc. Tích  Trăng”   em   cảm   nhận  ­Từ   một   câu   chuyện   riêng,   bài  hợp  được điều gì? thơ   cất   lên   lời   tự   nhắc   nhở  ngang thấm thía về  thái độ, tình cảm  đối   với   những   năm   tháng   quá  khứ  gian lao, tình nghĩa với đất  nước… Liên   hệ  ­Ánh   Trăng   nằm   trong   mạch  thực   tế  cảm xúc cuộc  “Uống nước nhớ nguồn” gợi lên  sống đạo   lí   sống   thuỷ   chung   đã   trở  4 Tìm   trong   văn   học  thành truyền thống tốt đẹp của  Tích  Việt   Nam   những   bài  dân tộc Việt Nam. hợp  thơ   về   Trăng   chứa  VD:­Thơ Trăng của chủ tịch Hồ  ngang­ hàm ý khác? Chí   Minh:  Ngắm   trăng,   Rằm   dọc tháng giêng, Tin thắng trận…  ­Thơ Trăng của Hàn Mặc Tử. 3.7. Bài tập về nhà.  *  Ở  phần hướng dẫn về  nhà, với hệ  thống câu hỏi tích hợp giúp học sinh   chuẩn bị  bài tốt hơn, có điều kiện ôn lại những kiến thức đã học dễ  dàng,  đồng thời mở rộng hơn những kiến thức có liên quan. VD: Sau khi học xong văn bản “Chó Sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của  La­Phông­Ten”, giáo viên hướng dẫn chuẩn bị bài sau: 1/ Sưu tầm thêm thơ ngụ ngôn của La­Phông­Ten. 9
  10. 2/ Tự  rút kinh nghiệm khi làm bài nghị  luận về  một tác giả­tác phẩm   qua bài viết của Buy­Phông “Chó Sói và Cừu trong thơ  ngụ  ngôn của La­ Phông­Ten” ghi rõ những điều em học được sau khi đọc văn bản này. * Chuẩn bị bài sau: “Con Cò”: 1/ Tìm hiểu về  tác giả  Chế  Lan Viên ( Tìm trong sách văn học lớp 12,   cuốn Thi nhân Việt Nam hoặc các báo, tạp chí…). Sưu tầm ít nhất một bài  thơ của Chế Lan Viên. 2/ Tìm những bài thơ, ca dao có hình  ảnh Con Cò. Suy nghĩ xem “Con   Cò” đó ẩn dụ cho ai…? 3/ Trả lời các câu hỏi Phần đọc – hiểu văn bản (Sgk): PHẦN THỨ BA: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.           Cùng với việc tự rút kinh nghiệm cho bản thân, tôi còn mời các đồng  nghiệp trong tổ  dự  giờ, góp ý về  cách áp dụng hệ  thống câu hỏi tích hợp  trong giờ giảng văn thông qua các đợt thao giảng:    Sau khi thực hiện áp dụng hệ thống câu hỏi tích hợp trong giờ giảng  văn trong cả  năm học, kết quả  cụ  thể  như  sau: Tổng số  học sinh lớp 9: 29   em. ­Trả lời tốt câu hỏi: 15 em (học sinh khá ­giỏi)­chiếm 52%. ­Trả lời chưa đầy đủ: 10em (học sinh Trung bình­khá)­chiếm 34%. ­Chưa trả lời đúng câu hỏi : 4 em (học sinh trung bình)­chiếm 14%.     Kết quả như trên chưa thực sự cao nhưng bản thân tôí tự nhận thấy với   việc áp dụng hệ  thống câu hỏi này có tác dụng lớn trong học tập môn Ngữ  văn, giúp học sinh củng cố, ôn luyện, mở rộng, liên hệ  kiến thức tốt. Thông   qua việc trả lời câu hỏi tích hợp, học sinh có điều kiện rèn kuyện tư duy, rèn  luyện bản thân tốt hơn.        Đưa hệ thống câu hỏi tích hợp vào bài giảng văn là cần thiết. Điều này  đã được chứng minh rất rõ ràng qua cả lý thuyết và thực tiễn. Là người trực  tiếp giảng dạy, bản thân tôi đã tự rút ra được một số kinh nghiệm: 10
  11. Người thầy giáo không ngừng tích luỹ, trau dồi kiến thức không chỉ của  một bộ môn giảng văn, mà cả ở lĩnh vực kiến thức đời sống khác.   Trên đây là một kinh nghiệm thực tế mà tôi đã áp dụng đối với lớp tôi  đang giảng dạy. Tôi thấy việc giảng dạy theo hệ thống câu hỏi tích hợp tạo  được niềm tin cho các em học tập và nâng cao hiệu quả  giờ  dạy phát huy   được tính tích cực – sáng tạo của học sinh đồng thời rèn được nhiều kỹ năng  khác. Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp cho đề tài này ngày càng  hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cám ơn! Ia Pa, ngày 24 tháng 02 năm 2016.    Người viết Nguyễn Viết Thành 11
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2