intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Tổ chức giờ sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh

Chia sẻ: Chubongungoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:50

35
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm là giúp các em thấy được vị trí, vai trò của người phụ nữ, những đóng góp to lớn của họ trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Rèn cho HS kỹ năng giao tiếp, tự tin, biết quan sát, tư duy, phân tích, nhận định, giải quyết vấn đề. Giáo dục HS biết kế thừa, phát huy những vẻ đẹp của người phụ nữ, từ đó có tình cảm, thái độ, việc làm thể hiện sự trân trọng, biết ơn người phụ nữ đặc biệt là người mẹ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Tổ chức giờ sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến tỉnh Ninh Bình Chúng tôi gồm: Tỉ lệ (%) Trình độ Đóng góp Ngày tháng Stt Họ tên tác giả Nơi công tác Chức danh chuyên vào việc năm sinh môn tạo ra sáng kiến Trường THCS Tổ trưởng 1 Lê Thị Hồng Thơ 19/6/1979 Cử nhân 30 Lê Hồng Phong CM Chuyên 2 Lê Thị Hồng Vân 24/6/1972 Phòng GD & ĐT Cử nhân 30 viên Trường THCS Hiệu 3 Trịnh Thị Vân Khánh 30/9/1972 Cử nhân 20 Lê Hồng Phong trưởng Trường THCS 4 Lê Thị Bình 16/11/1982 Giáo viên Thạc sỹ 20 Lê Hồng Phong Là đồng tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Tổ chức giờ sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh” A. Lĩnh vực áp dụng: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS. B. Thời gian áp dụng: Từ năm học 2016-2017; 2017-2018. C. Mô tả bản chất của sáng kiến Thực hiện Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW về "đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” với mục tiêu là giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc có hiệu quả; triển khai có hiệu quả Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án"Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”; thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, tăng cường giáo dục toàn diện; giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm với cộng đồng, xã hội cho học sinh. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc dạy học mà còn khơi gợi những giá trị tốt đẹp sẵn có ở mỗi học sinh. Trang 1
  2. Lứa tuổi học sinh đang dần hình thành những giá trị nhân cách. Các em giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo kích động. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực tiêu cực. Nếu không được giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Vì vậy, việc giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh là vô cùng cần thiết, giúp các em rèn luyện, điều chỉnh hành vi, sống có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh. Mặt khác giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh còn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục toàn diện. Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện. Vì vậy chúng ta cần giáo dục cho các em giá trị sống, kỹ năng sống ngay từ khi các em còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Những giá trị sống và kỹ năng sống của mỗi học sinh có thể được hình thành và phát triển thông qua nhiều hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động tổ chức tiết sinh hoạt lớp. Tuy nhiên thực trạng hiện nay về giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường và trong giờ sinh hoạt cho học sinh chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Giáo viên còn đang chú trọng việc “dạy chữ” mà coi nhẹ việc “dạy người”. Cách thức và phương pháp giáo dục mặc dù đã thực hiện nhưng tính thực tiễn và hiệu quả chưa cao. Đôi khi giáo viên chú trọng đến nội dung bài học mà quên mất phần giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống hoặc cảm thấy khó khăn trong việc lồng ghép giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh trong giờ học. Nhiều học sinh chưa nhận thức đúng, chưa hiểu, chưa biết về những giá trị sống như: “Hoà bình, Tôn trọng, Yêu thương, Trách nhiệm, Hạnh phúc, Trung thực, Bao dung, Hợp tác, Khiêm tốn, Giản dị, Đoàn kết, Tự do”. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn sáng kiến: “Tổ chức giờ sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh”. I. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Giải pháp cũ 1.1. Nội dung giải pháp cũ Trước đây mỗi tiết sinh hoạt giáo viên chủ nhiệm là người chủ đạo thực hiện các hoạt động và thường thực hiện như sau: Trang 2
  3. - Tổ trưởng báo cáo tình hình của tổ tuần qua về các mặt như: thực hiện quy định của Đội, học tập, nền nếp, vệ sinh... Nêu rõ tên các bạn thực hiện tốt, các bạn vi phạm. - Lớp trưởng tổng kết, xếp loại thi đua các tổ. - Giáo viên nhận xét, khen ngợi học sinh, nhắc nhở, phê bình, khiển trách học sinh còn vi phạm sau đó giáo viên phổ biến các công việc trong tuần kế tiếp và yêu cầu học sinh nghiêm túc thực hiện. - Kết thúc tiết sinh hoạt, nếu còn thời gian, giáo viên cho một vài em lên hát hoặc hát tập thể. - Đôi khi có tiết sinh hoạt do học sinh vi phạm nhiều trong tuần nên giáo viên chủ nhiệm phê bình đến quá giờ vẫn chưa cho các em về, hoặc cho ở lại làm bản kiểm điểm hoặc phạt quét sân trường. 1.2. Ưu điểm của giải pháp cũ - Phù hợp đối với những học sinh ngoan, ít vi phạm nội quy trường lớp. - Giúp học sinh hình thành các kĩ năng giao tiếp, tự tin chủ động và mạnh dạn tham gia vào các công việc chung của lớp, đặc biệt là các em trong ban cán sự lớp. - Những em vi phạm cũng đã biết nhận ra lỗi lầm để từ đó sửa chữa hoàn thiện bản thân. Nhiều em thay đổi, có ý thức xây dựng môi trường thân thiện trong lớp học, trong trường, ở gia đình và ngoài xã hội. 1.3. Hạn chế của giải pháp cũ - Giáo viên là người chủ động tổ chức các hoạt động, học sinh bị động, các em không có cơ hội để sáng tạo hay thể hiện khả năng, năng khiếu của mình. Giờ sinh hoạt trở nên nhàm chán, buồn tẻ, đơn điệu, không khí lớp căng thẳng, không hấp dẫn được tất cả các em; chưa có khả năng lôi cuốn học sinh vào những hoạt động hay các em chưa dám thể hiện khả năng bản thân. Đồng thời không thể tạo nên một tập thể đoàn kết mà ở đó các thành viên biết yêu thương, chia sẻ, sống vị tha, nhân ái, trung thực, chăm chỉ học tập và sống có trách nhiệm. - Các hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trong giờ sinh hoạt còn sơ sài, chưa phong phú về nội dung. Đôi khi, giáo viên quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, chủ yếu là đe nẹt tìm lỗi vi phạm của học sinh để phê bình. Chưa thực sự khéo léo khi giáo dục phê bình hay biểu dương học sinh trước tập thể lớp. - Học sinh cảm thấy căng thẳng, nhàm chán. Đối với những em vi phạm sẽ thấy nơm nớp, lo lắng, sợ hãi khi đến tiết sinh hoạt cuối tuần, thậm chí xấu hổ với bạn bè khi bị cô giáo và các bạn phê bình nên sẵn sàng nghỉ buổi học có giờ sinh hoạt. - Nhiều em có thái độ “quay lưng lại”, thờ ơ với tiết sinh hoạt hoặc các em chỉ ngồi đợi cho hết tiết rồi về. Nhiều em cảm thấy tiết sinh hoạt như một cực hình vì bao nhiêu việc trong tuần đều bị nhắc nhở, xử lí trong giờ sinh hoạt. Trang 3
  4. - Việc đánh giá, xếp loại các tổ, từng cá nhân đôi khi không sát vì nhiều trường hợp các em còn xuê xoa hay bao che, bỏ qua lỗi cho nhau. Chính vì vậy, cần thay đổi “kịch bản” giờ sinh hoạt ở lớp sao cho tăng tính chủ động của học sinh nhiều hơn nữa, nâng cao vai trò của tập thể lớp chứ không phải vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Biến giờ sinh hoạt lớp thành một tiết trải nghiệm với nhiều trò chơi khác nhau mang tính giáo dục. 2. Giải pháp mới 2.1. Mô tả giải pháp mới 2.1.1. Tổ chức cho học sinh xem phim. * Mục tiêu: - Sử dụng những bộ phim ngắn là phương pháp đem lại hiệu quả giáo dục rất lớn, đem đến những trải nghiệm hoàn toàn mới trong giờ sinh hoạt mà giáo viên không phải nói nhiều, giáo huấn nhiều. Đồng thời, là cơ hội để các em lắng mình lại, cảm nhận được những giá trị sống tốt đẹp của bản thân để hình thành nên các giá trị sống và kĩ năng sống. - Mỗi câu chuyện trong phim với lối dẫn dắt, chia sẻ nhẹ nhàng, sâu sắc và đầy ý nghĩa sẽ tác động mạnh mẽ đến học sinh, tạo thành những ấn tượng và nhận thức sâu sắc. Từ đó, những giá trị sống nhân văn, nhân ái, những đòi hỏi về trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng xã hội… dần được hình thành một cách tự nhiên trong tâm hồn, nhận thức của các em. Đó là những giây phút thư giãn, vui vẻ, thú vị nhưng lại mang đến nhiều bài học, những thông điệp giàu ý nghĩa. * Cách thức thực hiện: - Giáo viên chiếu một đoạn video hoặc phim Quà tặng cuộc sống yêu cầu học sinh theo dõi để thực hiện nhiệm vụ. - Sau khi học sinh xem xong, giáo viên đưa ra những gói câu hỏi cho học sinh suy ngẫm, trao đổi thảo luận để trả lời. - Học sinh nhận xét, bổ sung. - Giáo viên nhận xét, chốt lại ý nghĩa của đoạn viedeo, bộ phim. Ví dụ: Ở hoạt động: Đánh giá công tác tuần. - Từng tổ trưởng lần lượt báo cáo tình hình học tập, việc thực hiện nội quy trường lớp của các thành viên trong tổ. - Lớp phó nhận xét từng hoạt động được giao phụ trách. - Lớp trưởng nhận xét ưu khuyết điểm về các hoạt động của lớp trong tuần vừa qua: nề nếp, học tập, đạo đức... - Các thành viên đóng góp, bổ sung ý kiến vào bản đánh giá của các tổ. - Lớp trưởng tổng kết, xếp loại thi đua các tổ. - Lớp trưởng mời cô giáo chủ nhiệm nhận xét. Trang 4
  5. Trước khi nhận xét, giáo viên chiếu một bộ phim phù hợp với mục đích của giờ sinh hoạt, thông qua đó nhắc nhở, giáo dục các em một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả. Ví dụ: Giáo viên chiếu cho học sinh xem câu chuyện “Chiếc bình nứt”. Ảnh minh họa: Đường đi bên phía chiếc bình nứt hoa nở rực rỡ. Giáo viên đưa ra gói câu hỏi để học sinh suy nghĩ, thảo luận và trả lời. Cụ thể: Câu 1. Câu chuyện trên muốn nói với chúng ta điều gì? Câu 2. Sự khiếm khuyết có giá trị không? Câu 3. Hình ảnh chiếc bình nứt tượng trưng cho điều gì trong cuộc sống? Câu 4. Trong cuộc sống, khi gặp những khiếm khuyết của bản thân hay của người khác, chúng ta thường làm gì? Câu 5. Ai sẽ đóng vai trò “người gánh nước” trong cuộc sống của bạn? Câu 6. Em có suy nghĩ gì về việc chọn nghề liên quan đến khiếm khuyết của bản thân? Sau khi các tổ thảo luận, suy nghĩ, đưa ra câu trả lời, giáo viên sẽ phân tích thêm nội dung, ý nghĩa từ đó các em rút ra được bài học cho bản thân và vận dụng vào cuộc sống. Như vậy, mục đích của giáo viên khi chiếu bộ phim này là để giáo dục các em, giúp các em hiểu rằng: Đối diện với những khiếm khuyết của mình, mỗi người cần học cách chấp nhận đồng thời hướng tới những điều tốt đẹp của bản thân. Không ai là người hoàn hảo, ai cũng có những khiếm khuyết nhưng đằng sau những khiếm khuyết ấy, mỗi người vẫn luôn có giá trị riêng. Hãy biết sửa chữa để hoàn thiện mình, hãy biết cách tận dụng và biến nó thành lợi thế của mình để giúp ta thành công hơn trong cuộc sống, giống như chiếc bình nứt kia, từ những vết nứt ấy chiếc bình vẫn góp phần làm cho những bông hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho cuộc đời. Sau đó giáo viên liên hệ cụ thể tình hình thực tế của lớp để phân tích, động viên khích lệ những em có nhiều cố gắng đồng thời nhắc nhở các em vi phạm cần nghiêm khắc rút kinh nghiệm và sửa chữa lỗi lầm để không làm cho bố mẹ và thầy cô phải buồn lòng. Ngoài ra giáo viên chủ nhiệm có thể lựa chọn rất nhiều video có ý nghĩa khác phát trong chương trình “Quà tặng cuộc sống” để giáo dục học sinh. Trang 5
  6. (Minh họa cụ thể trong Phụ lục IV) * Ưu điểm: - Lựa chọn phương pháp giáo dục học sinh bằng nghệ thuật phim ảnh sẽ luôn đem lại sự thoải mái, hứng thú. - Các em mạnh dạn đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình và giáo viên sẵn sàng lắng nghe, tiếp nhận một cách tôn trọng. Từ đó, giáo dục các em kĩ năng sống về tình yêu thương, sự sẻ chia, ý thức nỗ lực vươn lên trong cuộc sống. 2.1.2. Tổ chức sinh hoạt theo chủ đề, chủ điểm. * Mục tiêu: - Hình thành ở học sinh các kĩ năng: mạnh dạn, tự tin, các em biết tự lên kế hoạch và chuẩn bị chu đáo, biết sáng tạo ra nhiều hình thức sinh hoạt phong phú. Các em ý thức được giờ sinh hoạt không còn nặng nề mà trở nên rất hào hứng. - Đánh giá được năng lực từng học sinh trong việc vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. - Làm cho mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh gần gũi, thân thiện hơn, từ đó các em có cảm giác thích thú, luôn mong chờ đến những tiết sinh hoạt tuần sau. * Cách thức tiến hành: Giáo viên tổ chức cho các em sinh hoạt theo chủ đề của tháng, của tuần mà kế hoạch chủ nhiệm đề ra. Nội dung sinh hoạt có thể là các hoạt động trao đổi phương pháp học tập, thi hùng biện, gắn với các hoạt động chủ điểm tháng, gắn với các ngày kỷ niệm lớn, với các sự kiện diễn ra tại địa phương. Hình thức sinh hoạt cũng rất đa dạng như: - Tổ chức cho học sinh sinh hoạt văn nghệ với các hoạt động cụ thể như: múa hát, ngâm thơ, kể chuyện, diễn kịch, vẽ tranh... - Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí như đố vui để học theo chủ đề. - Tổ chức các trò chơi như “Đuổi hình bắt chữ”, “Ô chữ bí mật”, “Ai nhanh hơn”, “Thi ghép tranh, bình tranh”.... - Tuy nhiên, để tổ chức thành công, giáo viên cần nắm được các chủ để, chủ điểm và nội dung của các chủ đề, chủ điểm ở từng tháng và cán bộ lớp phải năng động, nhiệt tình. Ví dụ 1: giáo viên thực hiện chủ đề “Ngợi ca, tôn vinh người phụ nữ” * Mục đích: - Giúp các em thấy được vị trí, vai trò của người phụ nữ, những đóng góp to lớn của họ trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. - Rèn cho HS kỹ năng giao tiếp, tự tin, biết quan sát, tư duy, phân tích, nhận định, giải quyết vấn đề. Trang 6
  7. - Giáo dục HS biết kế thừa, phát huy những vẻ đẹp của người phụ nữ, từ đó có tình cảm, thái độ, việc làm thể hiện sự trân trọng, biết ơn người phụ nữ đặc biệt là người mẹ. * Cách thức tiến hành (Minh họa cụ thể trong Phụ lục V). Ngoài những chủ đề thực hiện theo tháng, trong các giờ sinh hoạt, giáo viên có thể kết hợp tổ chức cho học sinh những chủ đề khác như liên quan đến giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên. Ví dụ 2: giáo viên tổ chức tiết sinh hoạt thực hiện chủ đề “Tìm hiểu sức khỏe sinh sản vị thành niên và cách phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em” * Mục đích: Giúp các em học sinh hiểu về giới tính, về tình bạn, tình yêu, về sức khỏe sinh sản vị thành niên. Đó là tiền đề quan trọng để giúp học sinh phòng ngừa xâm hại tình dục. Để thực hiện chủ để này, căn cứ đối tượng học sinh để giáo viên chủ nhiệm đưa ra nội dung giáo dục giới tính phù hợp. * Nội dung giáo dục giới tính: - Đối với học sinh khối 6,7: giáo dục về tuổi dậy thì, những biến đổi tâm sinh lý tuổi dậy thì, hiện tượng kinh nguyệt, phóng tinh; cách vệ sinh thân thể và bộ phận sinh dục; những biến đổi và khác biệt về tính cách em trai em gái; giáo dục kỹ năng giao tiếp ứng xử trong quan hệ giữa bạn trai và bạn gái. - Đối với học sinh khối 8, 9: giáo dục để học sinh phân biệt về tình bạn và tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý và nguy hại lâu dài phải gánh chịu nếu quan hệ tình dục sớm, giáo dục sự tôn trọng tình bạn. Đặc biệt là khả năng phòng vệ của các em gái, sự tự chủ, vững vàng nói “không” trước những cám dỗ của bản năng ở độ tuổi phát dục. * Cách thức tiến hành: (Minh họa cụ thể trong Phụ lục V). * Ưu điểm: - Học sinh được rèn luyện kĩ năng sống như: giao tiếp, mạnh dạn, tự tin, bày tỏ ý kiến,… - Được mở rộng hiểu biết về những vấn đề của cuộc sống, được bộc lộ suy nghĩ, quan điểm của bản thân. 2.1.3. Tổ chức tiết sinh hoạt với những trò chơi. * Mục tiêu: - Để nâng cao được tính chủ động của học sinh và vai trò của tập thể lớp, giáo viên đã linh hoạt “biến” giờ sinh hoạt lớp thành một trò chơi tập thể mang tính giáo dục. - Với những hoạt động "Học mà chơi, chơi mà học”, sẽ lôi cuốn các em vào trò chơi giáo dục một cách tự nhiên, các em được cùng trải nghiệm với một tâm lí thoải mái, vui vẻ; giao lưu thân mật, cởi mở gần gũi, yêu thương, gắn kết và tạo nên sự thân thiện giữa giáo viên chủ nhiệm với các em học sinh, giải tỏa tâm lý mệt mỏi, căng thẳng trong học tập. Trang 7
  8. - Bên cạnh đó thông qua việc tổ chức các trò chơi, giáo viên còn giáo dục cho các em kĩ năng sống, giá trị sống, bởi mỗi một trò chơi đều hướng tới những thông điệp, bài học nhất định. * Cách thức tiến hành: - Thực hiện chủ đề về truyền thống anh bộ đội cụ Hồ (nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/1944), sau khi đánh giá công tác tuần qua và triển khai công việc tuần tiếp sau, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Hái hoa dân chủ”. Giáo viên chia cả lớp thành 4 tổ, đưa ra các câu hỏi tìm hiểu liên quan đến chủ đề, tổ nào trả lời nhanh và đúng là được điểm. Câu 1: Em hãy cho biết Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập vào ngày, tháng, năm nào? Câu 2: Hãy đọc lời dạy của Bác với quân đội ta? Đáp án: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân… Câu 3: Tên gọi “Quân đội nhân dân Việt Nam” là do ai đặt? Đáp án: Hồ Chí Minh Câu 4: Em hãy hát một bài hát ca ngợi anh bộ đội Cụ Hồ? Học sinh tự chọn và trình bày Câu 5: Người Đại tướng được mệnh danh là huyền thoại trong lịch sử quân đội ta? Đáp án: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Câu 6: Đọc một bài (một đoạn) thơ viết về anh bộ đội Cụ Hồ? Đáp án: Học sinh tự chọn. Câu 7: Quân kỳ của Quân đội nhân dân Việt Nam có dòng chữ gì? Đáp án: Quyết thắng. Câu 8: Tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam? Đáp án: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Câu 9: Người Đoàn viên thanh niên trẻ với câu nói trước tòa án Pháp "Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng không thể là con đường nào khác Đáp án: Lý Tự Trọng(1914- 1931) Câu 10: Chi đội em mang tên người anh hùng nào? Hãy giới thiệu ngắn gọn về người anh hùng đó? * Ưu điểm: - Với những hoạt động vui chơi như vậy, các em được cùng trải nghiệm với tâm lí thoải mái, vui vẻ; giao lưu thân mật, cởi mở gần gũi, yêu thương, gắn kết và tạo nên sự thân thiện giữa giáo viên chủ nhiệm với các em học sinh. Trang 8
  9. - Thông qua việc tổ chức các trò chơi, giáo dục cho các em kĩ năng sống, giá trị sống nhẹ nhàng mà hiệu quả. 2.1.4. Đổi mới không gian sinh hoạt lớp * Mục tiêu: - Tạo cho học sinh một tâm thế thoải mái, các em không bị gò bó trong một không gian chật hẹp. - Các em có cơ hội để trải nghiệm, sáng tạo, phát huy khả năng của mình. - Rèn cho học sinh kỹ năng hợp tác, hoạt động nhóm. * Cách thức tiến hành: - Trang trí phòng học, sắp xếp, thay đổi lại bàn ghế để tạo những kiểu không gian lớp học khác nhau. - Chọn những địa điểm ngoài phòng học một cách phù hợp với mục đích, nội dung của tiết sinh hoạt như sân trường, bãi cỏ gần trường, đến thực tế một địa điểm học tập trải nghiệm nào đó ... Cụ thể: Thực hiện chủ đề về “Tìm hiểu truyền thống nhà trường, trong tuần sinh hoạt đầu tiên của năm học mới, giáo viên tổ chức tiết sinh hoạt tại phòng truyền thống của nhà trường để các em hiểu rõ hơn về bề dày thành tích mà các thế hệ thày trò đã tạo nên; biết tự hào trân trọng và tiếp tục kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp mà nhà trường đã có. Qua đó, giáo dục các em giá trị sống về tình yêu, lòng tự hào, về ý thức và trách nhiệm phấn đấu trong học tập và cuộc sống. Cách thức thực hiện: - Hoạt động 1: Giáo viên chủ nhiệm lên kế hoạch và nội dung giới thiệu cho học sinh các thành tích nổi bật về hoạt động giáo dục của nhà trường, các phần thưởng cao quý đạt được trong các năm học, qua các kì thi, hội thi. + Tổ chức cho học sinh tham quan tại phòng truyền thống và nghe giới thiệu lịch sử, truyền thống nhà trường. + Giáo viên đưa ra các câu hỏi về truyền thống nhà trường để học sinh tham gia. - Hoạt động 2: Tổ chức giao lưu giữa các thế hệ nhà giáo với học sinh + Học sinh được trò chuyện trực tiếp với thầy cô giáo trong chi hội cựu giáo chức của trường để hiểu hơn về quá trình xây dựng và trưởng thành của nhà trường, những thành tích vẻ vang của nhà trường qua các năm học. + Sau tiết sinh hoạt, giáo viên giao nhiệm vụ về nhà viết bài báo cáo thu hoạch: trình bày suy nghĩ, cảm nhận của em sau buổi sinh hoạt tham quan tại phòng truyền thống nhà trường. Hoặc: Thực hiện chủ đề về “Mái trường, thày cô và bạn bè”, giáo viên đổi mới để tổ chức tiết sinh hoạt không phải trong không gian lớp học mà cho các em trải nghiệm về Trang 9
  10. thăm hỏi, giúp đỡ và tặng quà cho những bạn học sinh nghèo vượt khó trong lớp qua phong trào “Nuôi lợn nhựa tiết kiệm”, “Tết vì bạn nghèo”, “Áo ấm giúp bạn đến trường”. Giáo viên yêu cầu học sinh sẽ viết bài báo cáo thu hoạch về cảm nhận của em trong chuyến đi hoạt động từ thiện đó. Qua đó, hình thành phẩm chất và năng lực của học sinh về tấm lòng nhân ái, tinh thần sẻ chia, đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống. * Ưu điểm: - Giáo dục học sinh truyền thống nhà trường giúp các em hiểu rõ hơn về bề dày thành tích của nhà trường; các em biết tự hào, trân trọng, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp đã có của nhà trường. - Giáo dục truyền thống và đạo đức cho học sinh, các em hiểu rõ giá trị sống tốt đẹp, sống có trách nhiệm và nỗ lực phấn đấu. - Rèn luyện kĩ năng giao tiếp ứng xử, mạnh dạn, tự tin trình bày và giải quyết vấn đề. 2.1.5. Tọa đàm giữa cô và trò. * Mục tiêu: Thông qua buổi trò chuyện, đôi khi người giáo viên đóng vai trò như một “khán giả”, lắng nghe những chia sẻ, mong muốn, tâm tư, tình cảm của học sinh để từ đó có thể nắm bắt được tâm lý các em dễ hơn, mối quan hệ cô trò được gắn kết, hiểu nhau hơn, các em phát huy được các kĩ năng giao tiếp từ đó tự tin, mạnh dạn hơn. * Cách thức tiến hành: Giáo viên lựa chọn những chủ đề có tính nóng hổi, cấp thiết như giáo dục giới tính, vấn đề bạo lực học đường, mặt trái của mạng facebook … Cụ thể: Giáo viên chủ nhiệm trò chuyện với học sinh để giáo dục vấn đề “bạo lực học đường”. - Hoạt động 1: Giáo viên nêu vấn đề để học sinh hiểu được thế nào là bạo lực học đường. Trên cơ sở tìm tòi tài liệu trên nhiều kênh thông tin, học sinh báo cáo dưới nhiều hình thức: kịch, trình chiếu hình ảnh…để các bạn hiểu hơn về thực trạng bạo lực học đường hiện nay. + Giáo viên phân tích thêm và đưa ra những các dấu hiệu nhận biết nguy hiểm cảnh báo trước khi xảy ra một vụ bạo lực như: + Đột nhiên mất hứng thú + Bị ám ảnh bởi game bạo lực. + Chán nản, thay đổi tính tình. + Viết văn thể hiện sự tuyệt vọng và cô lập. + Thiếu kĩ năng kiểm soát tức giận. + Nói về cái chết hoặc mang vũ khí đến trường. + Bạo lực với động vật. Trang 10
  11. - Hoạt động 2: Giáo viên đưa ra những biện pháp để ngăn chặn vấn đề bạo lực như: + Hướng dẫn học sinh không nên né tránh, bao che, nói thẳng nói thật về bạo lực trong lớp, nhà trường. + Dạy các em biết kiểm soát sự giận dữ và giải quyết những xung đột trong các mối quan hệ. + Hướng dẫn các em giải quyết mâu thuẫn, có nhiều kênh thông tin để các em có thể nói lên tiếng nói của mình: có thể gặp trực tiếp thầy cô giáo, viết thư gửi trực tiếp cho thầy cô hoặc gửi vào hòm thư góp ý. * Ưu điểm: - Tạo nên quan hệ cởi mở, thân thiện giữa giáo viên và học sinh. - Giáo viên thấu hiểu được những tâm tư, suy nghĩ của các em, từ đó có những tư vấn, định hướng để các em hoàn thiện bản thân. 2.1.6. Tổ chức các hội thi, cuộc thi * Mục tiêu: - Thông qua hội thi, cuộc thi tạo cơ hội cho các em được thể hiện tài năng của mình, tạo không khí hăng hái thi đua giữa học sinh với nhau hoặc nhóm học sinh. Đây là một hoạt động trải nghiệm sáng tạo quan trọng và cần thiết trong các hoạt động của nhà trường, của giáo viên. - Tổ chức hội thi, cuộc thi nhằm mục đích lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo; tự tin, chia sẻ học hỏi và gắn kết, thấu hiểu nhau hơn; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức. * Cách thức tiến hành: Để đạt được mục tiêu đó, gắn với các chủ đề, chủ điểm hàng tháng, giáo viên tổ chức các hoạt động với những cách thức tổ chức như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi kể chuyện theo chủ đề hoặc kể chuyện theo tranh, hội thi học tập, hội thi nữ sinh theo chủ đề, chủ điểm... Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề “Ngợi ca, tôn vinh người phụ nữ” giáo viên tổ chức các hoạt động thi thiết kế bưu thiếp tặng mẹ, tặng cô. Lớp trưởng yêu cầu bạn nào có tấm thiếp đẹp sẽ thuyết minh cho cả lớp nghe. Đó là món quà vô cùng ý nghĩa các em dành tặng cô, tặng mẹ. Ngoài ra có thể tổ chức cho các em thi cắm hoa giữa các tổ hay thi vẽ tranh tặng bà, tặng mẹ, tặng cô nhân ngày 8/3, 20/10. Hoặc tổ chức hội thi “Là con gái thật tuyệt” với các hoạt động như thi múa hát, hoạt cảnh, tâm sự bạn gái, tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi, cách thức phòng tránh những rủi ro. Các em tự tin thể hiện mình, sáng tạo trong những sản phẩm thể hiện tài năng, chia sẻ tâm tư Trang 11
  12. tình cảm của lứa tuổi học trò. Chủ đề và thông điệp của hội thi thể hiện được giá trị “tuyệt vời” của các em, đặc biệt mô tả bằng hình ảnh những ước mơ, hoài bão, khát vọng của các em. Để hướng tới kỷ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thi sáng tác thơ, truyện ngắn hoặc thi làm báo tường để ca ngợi thầy cô và mái trường. Tháng 12 với chủ đề “ Anh bộ đội cụ Hồ”, giáo viên tổ chức các em cuộc thi thiết kế báo ảnh về hình ảnh người lính. Các em tự tìm tòi, tra cứu tư liệu, thu thập thông tin, lên ý tưởng để tham gia hội thi. Qua đó, các em cảm nhận những đóng góp to lớn và hy sinh thầm lặng của các thế hệ cha anh trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc, giáo dục các em giá trị sống về tình yêu, khát vọng và trân trọng những gì các em có được ngày hôm nay. * Ưu điểm: - Học sinh hào hứng, thoải mái, tích cực tham gia và được phát huy khả năng của bản thân. - Học sinh được rèn luyện các kỹ năng, thêm tự tin trong cuộc sống. 2.2. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp mới - Giờ sinh hoạt không theo khuôn mẫu cứng nhắc, đơn điệu trước kia mà được tổ chức đa dạng về hình thức với các hoạt động sinh động đã thể hiện rõ sự đổi mới về phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. - Thông qua các hình thức hoạt động đã giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh, đây là hiệu quả giáo dục cao nhất mà mỗi tiết sinh hoạt đem lại. Đó là giá trị cả về tri thức và nhân văn, khó có thể tính toán cụ thể được. - Động viên và phát huy được nhiều tài năng của giáo viên, thúc đẩy việc tích cực tìm tòi, sáng tạo và đổi mới phương pháp giáo dục học sinh theo hướng tích cực từ đó cùng với các môn học để đào tạo thế hệ học sinh có đủ 5 phẩm chất và 10 năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục toàn diện. - Trong giờ sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, giáo viên giữ vai trò là người tổ chức, giao nhiệm vụ và nhận xét, đánh giá; học sinh trực tiếp tham gia vào các hoạt động để trao đổi, thảo luận, thể hiện quan điểm, năng khiếu nhằm phát huy năng lực và sự sáng tạo. II. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN Trong điều kiện hiện nay, sáng kiến: “Tổ chức sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh” có thể áp dụng chung cho việc tổ chức tiết sinh hoạt lớp ở tất cả các khối lớp tại các trường THCS trên toàn quốc. D. ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Trang 12
  13. - Việc tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo hướng đổi mới không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về thời gian và cơ sở vật chất. - Phòng Giáo dục, các nhà trường cần tổ chức các buổi tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực, kĩ năng cho giáo viên trong công tác chủ nhiệm lớp. - Phối hợp các đoàn thể trong nhà trường như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên và Ban đại diện cha mẹ học sinh để tổ chức hiệu quả giờ sinh hoạt lớp theo từng chủ đề. Qua đó giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh. - Yếu tố quyết định hàng đầu để đổi mới giờ sinh hoạt là lòng nhiệt tình, yêu thương học sinh của mỗi giáo viên chủ nhiệm để khơi gợi, phát huy óc sáng tạo, sự tự chủ, tích cực của học sinh. Bởi càng tận tâm, nhiệt huyết với nghề thì người giáo viên chủ nhiệm càng biết đặt mình vào vị trí các em để lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông. Từ đó có những chia sẻ, uốn nắn, định hướng hiệu quả. - Các đồng chí giáo viên làm công tác chủ nhiệm cần tích cực đổi mới, sáng tạo trong giờ sinh hoạt để mỗi giờ sinh hoạt là dịp để các em được trải nghiệm, được trao đổi, sẻ chia và đón nhận những bài học làm người bổ ích. - Nhà trường cần quan tâm, khen thưởng kịp thời những giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp tiêu biểu, xuất sắc để động viên và nhân rộng những điển hình trong công tác chủ nhiệm lớp. E. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 1. Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế lớn nhất mà sáng kiến mang lại không thể đo được bằng những con số chính xác. Những giá trị mà sáng kiến mang lại thể hiện ở giá trị về phẩm chất đạo đức, nhân cách sống của học sinh. Đây là nguồn lợi kinh tế về tri thức vô giá. 2. Hiệu quả xã hội - Học sinh và giáo viên đều hào hứng, sôi nổi. Các em vừa học vừa chơi và đã tự tin thể hiện khả năng của mình, bớt rụt rè, e ngại trước đám đông. - “Tổ chức sinh hoạt lớp nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh" đã hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, giúp đỡ lẫn nhau, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày. - Giờ sinh hoạt lớp là dịp để cô và trò hiểu nhau và tập thể lớp yêu thương đoàn kết, gắn bó với nhau hơn. - Học sinh ngoan ngoãn, lễ phép hơn, biết đoàn kết tương trợ nhau trong cuộc sống; biết yêu thương, quan tâm, chia sẻ với mọi người. - Các em tự giác, tích cực học tập, có ý thức vươn lên để khẳng định bản thân. Trang 13
  14. KẾT QUẢ GIÁO DỤC ĐẠT ĐƯỢC * Kết quả đạt được tại trường THCS Lê Hồng Phong * Xếp loại hạnh kiểm: HẠNH KIỂM Tổng Trung Lớp số Học kì Tốt Khá Yếu Năm học bình HS SL % SL % SL % SL % 46 Học kì I 43 93,4 3 6,6 0 00,0 0 00,0 2016 - 2017 8D 46 Học kì II 46 100,0 0 0,00 0 00,0 0 00,0 47 8A 41 87,2 6 12,8 0 00,0 0 00,0 2017 - 2018 Học kỳ I * Xếp loại học lực HỌC LỰC Tổng Trung Lớp số Học kì Giỏi Khá Yếu Năm học bình HS SL % SL % SL % SL % 46 Học kì I 8 17.4 25 54,3 13 28,3 0 00,0 2016 - 2017 8D 46 Học kì II 9 19,6 28 60,1 9 20,3 0 00,0 47 8A 9 19,1 24 51,1 12 25,5 0 00,0 2017 - 2018 Học kỳ I Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ninh Bình, ngày 12 tháng 4 năm 2018 NGƯỜI NỘP ĐƠN ĐỒNG TÁC GIẢ 1. Lê Thị Hồng Thơ Trang 14
  15. 2. Lê Thị Hồng Vân 3. Trịnh Thị Vân Khánh 4. Lê Thị Bình PHỤ LỤC PHỤ LỤC I BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ KẾT QUẢ CỤ THỂ SAU KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Học kỳ I Năm học 2016-2017 Năm học 2017-2018 Lớp chủ nhiệm 8D Lớp chủ nhiệm 8A Tiên tiến xuất sắc Tiên tiến xuất sắc Giải Nhất cuộc thi hùng biện “Kĩ năng Giải Nhất cuộc thi “Tuyên truyền và sống với tuổi hồng” giới thiệu sách” Thi “ Trang trí lớp học” đạt giải Nhì cấp Đạt giải A cấp trường cuộc thi “Nhảy trường. dân vũ” Trang 15
  16. Ảnh 1: Chi đội 8A, năm học 2017 - 2018, nhận cờ đạt giải Nhất . Ảnh 2: Em Đỗ Bình Khánh Ninh (Lớp 8D, năm học 2016 - 2017) đoạt giải xuất sắc phần thi hùng biện Trang 16
  17. Ảnh 3: Lớp 8B năm học 2015 - 2016 có sản phẩm sáng tạo trẻ đạt giải Nhì cấp trường Trang 17
  18. Ảnh 4: Em Nguyễn Thu Giang lớp 8D, năm học 2016 - 2017 đạt giải Nhất cuộc thi. Ảnh 5: Em Nguyễn Thị Hồng Hạnh lớp 8A năm học 2017 - 2018 đạt giải Nhất cuộc thi giới thiệu sách Ảnh 6: Học sinh lớp 8A năm học 2017 - 2018 Trang 18
  19. đạt giải A cấp trường cuộc thi “Múa dân vũ” Ảnh 7: Tập thể lớp 8A, năm học 2017-2018, hưởng ứng phong trào “Nuôi lợn nhựa tiết kiệm” Ảnh 8:Tập thể lớp 8A, năm học 2017 - 2018 đến thăm và tặng quà Trang 19
  20. cho bạn Nguyễn Ngọc Duy có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh 9: Các em lớp 8D năm học 2016 - 2017 gấp quần áo ủng hộ bà con vùng lũ. Ảnh 10: Tập thể lớp 8D, năm học 2016-2017 ủng hộ bà con vùng lũ tỉnh Quảng Bình Trang 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2