intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Đổi mới phương pháp dạy häc môn TDTT cấp THPT

Chia sẻ: Đỗ Văn Mười | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

333
lượt xem
67
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Đổi mới phương pháp dạy häc môn TDTT cấp THPT được nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp đê sau mỗi tiết học cũng như trong quá trình dạy học, để làm sao có được những giờ học phát huy được tối đa năng lực của học sinh. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Đổi mới phương pháp dạy häc môn TDTT cấp THPT

  1. Phần 1 : MỞ ĐẦU I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Đất nước ta đang trên đà đổi mới, Đảng và nhà nước ta vẫn đang tiếp  tục thực hiện cuộc cách mạng công  nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.   Trong tất cả  các phương tiện góp phần vào cuộc cách mạng đó không thể  không  nói  đến  hoạt   động  TDTT.   Bởi   vì  hoạt  độ.ng   TDTT  mang   lại  rất  nhiều lợi ích cho xã hội, nó góp phần nâng cao hiệu quả trong lao động sản  xuất, trong học tập và trong chiến đấu. Những năm gần đây Đảng và nhà nước ta cũng đã rất quan tâm tới hoạt  động TDTT với khẩu hiệu “ Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc ” Hoạt động TDTT đã mang lại sức khỏe cho toàn xã hội và nhiều lợi ích   to lớn khác góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển và hội nhập. Trong phạm vi nhà trường thì hoạt động TDTT còn mang một ý nghĩa  rất quan trọng  trong việc giáo dục và phát triển toàn diện cho các em học  sinh. Thông qua môn học giúp cho các em có được một sức khỏe tốt cũng   như giáo dục  các phẩm chất  về ý chí,tinh thần tự giác tích cực … Là một giáo viên dạy môn TDTT với thời gian hơn mười năm trong  nghề tôi nhận ra rằng để có được một tiết học đạt được hiệu quả cao nhất   thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có 5 yếu tố cơ bản sau :  ­ Trình độ chuyên môn của giáo viên ­ Ý thức của học sinh ­ Cơ sở vật chất phục vụ môn học ( dụng cụ sân bãi ) ­ Nội dung môn học ­ Phương pháp giảng dạy.  Các yếu tố kể trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Tuy nhiên tôi cho rằng phương pháp dạy học là một yếu tố  rất quan   trọng, nó góp phần không nhỏ trong các tiết học TDTT. Đó cũng là điều mà   tôi luôn trăn trở suy nghĩ sau mỗi tiết học cũng như trong quá trình dạy học,   5
  2. để  làm sao có được những giờ  học phát huy được tối đa năng lực của học   sinh. Với những lí do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu và đưa ra đề tài : “ Đổi mới phương pháp  dạy häc môn TDTT cấp THPT ” II­ PHẠM VI ĐỀ TÀI: Đề  tài này được tôi nghiên cứu tại trường nơi tôi đang công tác. Trong  quá trình giảng dạy tôi luôn cố gắng giúp cho học sinh hiểu và biết việc rèn   luyện TDTT là rất quan trọng, đặc biệt là đối với lứa tuổi của các em,đang  trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ  cả  về thể chất lẫn tinh thần. Tôi cũng  đã tham khảo một số tài liệu và trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp về  phương pháp giảng dạy để  đưa ra một số  phương pháp cụ  thể  vận dụng  trong quá trình dạy học. 6
  3. Phần 2 : NỘI DUNG 2.1 VỊ TRÍ MÔN HỌC : Chương trình thể  dục được Bộ  giáo dục đưa ra nhằm bước đầu giúp  học sinh ý thức được việc rèn luyện thể dục thể thao có ảnh hưởng như thế  nào đối với học  sinh bậc THPT. Đồng thời chương trình còn  biên soạn và   đua ra sự phân bổ  thời gian để  học sinh luyện tập, rèn luyện các tư  thế  cơ  bản cũng như các bài tập thể dục rèn luyện chung, nhằm mục đích chung là  khích lệ  tinh thần học tập, tinh thần đoàn kết, hoạt động tập thể  và nâng   cao tính tích cực, tự  giác và kỷ  luật cho học sinh. Vấn đề  này cần đòi hỏi   học sinh phải nỗ  lực tập luyện và phụ  thuộc rất nhiều vào phương pháp   giảng dạy của giáo viên sao cho phù hợp với từng đối tượng, từng khu vực   nhằm phát  huy tính tích cực của học sinh. Khi giảng dạy TDTT, giáo viên có thể  sử  dụng nhiều phương pháp  khác nhau, trong đó làm mẫu kết hợp với phân tích là phương pháp giảng   dạy đặc thù của bộ môn Thể dục. Nhiều kỹ thuật động tác đòi hỏi giáo viên   phải làm mẫu chuẩn, làm mẫu nhiều lần xen kẽ với quá trình giảng dạy kỹ  thuật ,đồng thời giáo còn phải kết hợp với phương pháp trò chơi để  tạo  hưng thú cho học sinh… 2.2 KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI: 2.2.1/ Thuận lợi: ­ Năm học 2012 – 2013 Trường có tổng số lớp là : 27 lớp ( Khối 12 : 10   lớp; khối 11 : 9 lớp ; khối 10 : 8 lớp) ­ Được sự quan tâm chỉ đạo Ban giám hiệu, hướng dẫn của Ban chuyên   môn Tổ và nhóm chuyên môn. 7
  4. ­ Giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, yên tâm công tác, có ý thức học hỏi   kinh nghiệm của đồng nghiệp. 2.2.2/ Khó khăn: ­ Nhận thức của một số học sinh về môn học còn bị hạn chế. ­ Cơ  sở  vật chất còn nhiều khó khăn thiếu thốn, dụng cụ  thể  thao còn  chưa đảm bảo về  số  lượng cũng như  chất lượng, Sân bãi còn ít cây xanh,  bụi… 2.3 ­ QUÁ TRÌNH TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU VÀ VẬN DỤNG I. BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG : A. Thời gian nghiên cứu : 9 tuần ( từ tuần 3 đến hết tuần 12 ) +) Giai đoạn 1 : ­ Phân tích lí luận thực tiễn, xác định hướng nghiên cứu,chọn đề tài ­ Xác định nhiệm vụ  nghiên cứu, chọn phương pháp nghiên cứu, đối  tượng nghiên cứu,chuẩn bị tài liệu và cơ sở vật chất +) Giai đoạn 2 : ­ Phân tích và tổng hợp tài liệu ­  Liên hệ đối tượng nghiên cứu +) Giai đoạn 3 : ­ Lựa chọn một số phương pháp phù hợp với đối tượng nghiên cứu ­ Thu thập và xử lí số liệu ­ Viết kết luận và kiến nghị đề tài ­ Đánh máy hoàn thiện đề tài        B. Biện pháp cụ thể: ­ Nghiên cứu lựa chọn một số  phương pháp dạy học mới để  áp dụng  trong dạy học C. Nội dung thực nghiệm: ­ Tổng số đối tượng : 8
  5. Toàn bộ Khối 10 ( tổng : 402 học sinh) + Chia thành 2 nhóm :  ­ Nhóm Thực nghiệm 4 lớp tương đương 201 học sinh ­ Nhóm Đối chiếu 4 lớp tương đương 201 học sinh Để   tiến  hành  nghiên  cứu  và  vận  dụng  các  phương  pháp   giảng  dạy   trước tiên ta phải hiểu khái niệm chung về thể dục thể thao. II. KHÁI NIỆM CHUNG: Giáo dục thể chất là một quá trình sư phạm, do đó có các phương pháp   dạy  TDTT khác nhau, về bản chất cũng chính là các phương pháp sư phạm  nhưng mang những đặc điểm của giáo dục thể chất. Trong quá trình giảng dạy TDTT, giáo viên thường sử dụng các phương   pháp giảng dạy khác nhau. Các phương pháp này được dựa trên cơ  sở  của  các nguyên tắc về phương pháp giảng dạy nói riêng và các phương pháp sư  phạm , giáo dục nói chung. Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp giảng dạy chung như: phương   pháp   sử   dụng  lời   nói,   trực  quan…   trong  giảng  dạy  TDTT,   còn   áp   dụng  phương pháp mang tính đặc thù riêng. Do tính chất  riêng của phương pháp giảng dạy  TDTT khi lựa chọn  phương pháp, giáo viên cần dựa trên hệ  thống các bài tập, kỹ  thuật, chiến   thuật, yêu cầu thể lực và tình trạng thi đấu thể  thao của học sinh. Khi thực   hiện các bài tập kỹ  thuật hoặc giảng dạy các động tác TDTT giáo viên có  thể sử dụng các phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp. Ví dụ: 9
  6. ­ Dùng lời nói để giải thích, hướng dẫn kỹ thuật động tác, có thể  phối   hợp việc giải thích với làm mẫu trực tiếp kỹ thuật hoặc gián tiếp giới thiệu  kỹ thuật qua tranh ảnh, phim, hình vẽ kỹ thuật… Thực tế  trong hoạt động TDTT cho thấy, muốn đạt tới trình độ  vận  động cao cần phải áp dụng hệ thống các phương pháp luyện tập khác nhau.  Yếu tố chính để tạo thành các phương pháp khác nhau là lượng vận động và  nghỉ hơi khác nhau.  Khái niệm lượng vận động : là một độ  lớn nhất định những tác động  của các động tác đối với cơ  thể  người tập, lượng vận động có liên quan  trực tiếp đến việc tiêu hao năng lượng cơ  thể, tác động này dẫn đến xuất  hiện mệt mỏi. Mặt khác, trong quá trình vận động thì tiêu hao và mệt mỏi là  hai nhân tố kích thích đến quá trình hồi phục của cơ thể. III. MỘT SỐ YÊU CẦU KHI VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP  Các phương pháp trong giáo dục TDTT nói chung rất đa dạng và phong  phú. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và thực trạng nhà trường phổ thông các  cấp, trình độ  vận động của học sinh, trong quá trình giảng dạy TDTT giáo   viên có thể sử dụng một số phương pháp, nhưng cần chú ý đến những yêu   cầu cơ bản sau: ­ Việc tiến hành lựa chọn phương pháp giảng dạy TDTT cần bảo đảm  tính vừa sức, phù hợp với trình độ vận động của học sinh, các điều kiện cơ  sở  vật chất, dụng cụ  tập luyện hiện có và các yếu tố  bảo đảm khác như:  thời tiết, khí hậu, thiết bị bảo hiểm, hỗ trợ của các phương tiện y tế… ­ Cần phối hợp giữa các phương pháp giảng dạy: Lời nói trực quan làm  mẫu, phương pháp tập luyện vận động của học sinh. Song,  cần chú ý tránh  gây tình trạng căng thẳng, tiêu phí thời gian để giải thích phương pháp, cách  thức tập luyện, khiến cho học sinh  ức chế, xuất hiện m ệt m ỏi và kém tự  tin. 10
  7. ­ Khi áp dụng phương pháp cần chú ý đến những ảnh hưởng tốt của nó  và mối quan hệ  hợp lý của các phương pháp giáo dục. Các phương pháp  được sử dụng phải có tác động giáo dục toàn diện về: kỹ  thuật, thể  lực và  phẩm chất đạo đức cho học sinh. Cần có sự  liên hệ  chặt chẽ  với các giáo  viên bộ  môn khác để  phối hợp bồi dưỡng vốn tri thức, những hiểu biết có  liên quan đến hoạt động giảng dạy TDTT. Khi sử  dụng các phương pháp  giảng dạy TDTT cần có sự phối hợp và sử dụng hiệu quả các phương pháp   sư phạm khác để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục chung. Dựa vào thực tế giảng dạy TDTT trong nhà trường các cấp, sau khi đã  nghiên cứu các phương pháp giáo dục TDTT nói chung, giáo viên lựa chọn   một số phương pháp để áp  dụng cho phù hợp với từng đối tượng giáo dục,  nhằm bảo đảm thực hiện tốt chương trình và kế hoạch dạy học. Những phương pháp thường được dùng trong quá trình giảng dạy TDTT là : 1­ Phương pháp giảng giải (lời nói) và làm mẫu (trực quan) 2­ Phương pháp hoàn chỉnh và phân đoạn 3­ Phương pháp tập luyện và phương thức tập luyện. 4­ Phương pháp sửa chữa động tác sai. 5­ Phương pháp quan sát và phân loại.  Ngoài ra, giáo  viên có thể  sử  dụng một số  phương pháp giảng dạy  khác, nhưng cần chú ý việc sử  dụng phương pháp phải xuất phát từ  mục   tiêu giáo dục thể chất, nhiệm vụ và nội dung chương trình cần đạt, mức độ  và yêu cầu của giáo dục: kỹ  thuật, thể  lực, chiến thuật hoặc trình độ  thi  đấu… Sự  phân loại trên đây chỉ  mang tính tương đối, trong quá trình giảng   dạy TDTT, giáo viên có thể   sử  dụng một phương pháp riêng lẻ  hoặc tổng  hợp các phương pháp nhằm giải quyết một nhiệm vụ  giảng dạy cụ  thể.   Giáo viên cần nghiên cứu sáng tạo trong phân loại và sử  dụng các phương  pháp trên. Các phương pháp giảng dạy TDTT khi được sử dụng đúng lúc và   11
  8. hợp lí là yếu tốt có tác động trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng giáo dục   nói chung và trình độ vận động của học sinh nói riêng. IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THỂ DỤC THỂ THAO 1­ Phương pháp giảng giải và làm mẫu: Trong quá trình giáo dục thể chất phương pháp giảng giải và làm mẫu là  phương pháp cơ bản, nhằm giáo dục và bồi dưỡng những tri thức hiểu biết, kỹ  thuật  động tác. a) Phương pháp giảng  giải (phương pháp dùng lời nói): Là phương pháp thường được sử dụng trong quá trình giảng dạy TDTT   cho học sinh bậc trung học. Đặc điểm của   phương pháp này là giáo viên   dùng lời nói để  giới thiệu kiến thức mới, động tác mới và kỹ  thuật TDTT,  phân tích về  các nội dung cơ  bản, nhiệm vụ  bài học, về  phương hướng   chuyển động của các bộ phận cơ thể, các mấu chốt kỹ  thuật để  từng bước  hoàn thành kỹ  thuật,       động tác,  nâng cao hiểu biết và các kiến thức có   liên quan. Một số yêu cầu cần chú ý khi áp dụng phương pháp giảng giải là: ­ Giúp cho học sinh có nhận thức hiểu biết và cảm nhận ( qua quan sát)  đúng,   thấy   được   từng   phần,   cấu   trúc,   hướng   chuyển   động,   yêu   cầu   kỹ  thuật… của động tác. Từ  đó tạo điều kiện cho học sinh có khả  năng phân  tích kỹ thuật và có các biểu tượng đúng, làm cơ sở cho việc thực hành chính   xác kỹ thuật. Giáo viên nên mô tả động tác bằng lời nói, thực hiện cùng lúc  với việc thực hiện đúng, chính xác động tác mẫu. ­ Lời  giảng cần có sức thuyết phục để  truyền thụ  tri thức, tạo nên sự  chú ý theo dõi của học sinh. Giúp học sinh càng sớm nắm được những nét cơ  bản của kỹ  thuật, cần nhấn mạnh điểm chủ  yếu khi thực hiện động tác.   Qua đó, từng bước củng cố  các kỹ  thuật, nâng cao kỹ  năng, kỹ  xảo vận   động. Phòng tránh những sai lầm thường mắc phải trong khi thực hiện động  tác và đánh giá đúng khả năng vận động của học sinh. 12
  9. ­ Lời giảng của giáo viên cần ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu sao cho thu   hút được sự chú ý, tập trung sự theo dõi của học sinh. Tránh dùng thuật ngữ  chuyên môn khó hiểu khi giảng giải kỹ thuật động tác,  cần liên hệ với các  hoạt động tự  nhiên: chạy, nhảy, leo, trèo… Có thể  sử  dụng các thuật ngữ  chuyên môn bằng từ  địa phương để  giảng cho các học sinh dễ  hiểu và dễ  bắt chước, song vẫn phải đảm bảo tính sư phạm và tính giáo dục. ­ Khi giảng giải kỹ thuật trong giờ h ọc, tập luyện nên kết hợp với việc   sử  dụng các tín hiệu, mệnh lệnh khi giao nhiệm vụ, hoặc  điều chỉnh nội   dung tần số, khối lượng vận động…Khẩu lệnh của giáo viên dưới dạng   truyền lệnh cần dứt khoát, rõ ràng có sức truyền cảm, đặc biệt với học sinh   các cấp. Việc giao nhiệm vụ, căn dặn hay phê bình, động viên… đều có tác  dụng không nhỏ đến việc bắt chước, hình thành các thói quen cho học sinh.  Tấm gương của giáo viên có ý nghĩa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến việc  hình thành nhân cách, thói quen và những kỷ niệm tốt đẹp thời niên thiếu. ­ Trong giảng dạy tập luyện TDTT hình thức hỏi và trả lời ( đàm thoại)  có ý nghĩa giúp học sinh suy nghĩ, độc lập sáng tạo, phát huy tích cực của   các em. Từ đó giúp học sinh hiểu chính xác phương hướng chuyển, động kỹ  thuật, động tác gây hứng thú, giúp học sinh nắm được các quy tắc, đánh giá  được động tác đúng, sai của bạn và của chính mình. b) Phương pháp làm mẫu: Hoạt động giáo dục thể dục thể thao là loại hình có nội dung giáo dục  chuyên biệt. Trong quá trình giảng dạy TDTT yêu cầu giáo viên không chỉ có   hệ  thống tri thức liên quan đến truyền thụ  kiến thức cho học sinh mà còn  phải làm mẫu đúng, chính xác động tác, kỹ  thuật TDTT. Làm mẫu thường  được thực hiện cùng lúc với việc giảng giải kỹ thuật và các tri thức khác có   liên quan. Lời giảng giải của giáo viên cần ngắn gọn, dễ hiểu, làm động tác  mẫu cần chính xác,  đúng, đẹp. Một số yêu cầu cần chú ý khi làm động tác mẫu: 13
  10. ­ Động tác làm mẫu của giáo viên cần chính xác, đẹp, hoàn chỉnh. Vì  giáo viên làm mẫu động tác, kỹ  thuật đúng sẽ    giúp học sinh nắm được  những  động tác cơ bản đúng, hình thành kỹ năng ban đầu. ­ Khi giảng dạy những động tác kỹ thuật mới, phức tạp, giáo viên cần   giảng giải 2­3 lần. Làm mẫu lần 1 có thể thực hiện động tác hoàn chỉnh, tốc  độ  chuyển động bình thường đúng nhịp độ  và yêu cầu. Học sinh qua quan  sát hình thành trí nhớ hình ảnh, có khái niệm sơ bộ của từng phần kỹ thuật   hoặc toàn bộ  động tác, gây cảm giác đúng, chính xác hứng thú, thích tập   luyện theo. Làm mẫu lần 2, giáo viên thực hiện động tác chậm,  ở  những  điểm mấu chốt kỹ thuật, giáo viên cần kết hợp với giảng giải và thực hiện  động tác để học sinh nhớ lại các điểm chính. Làm mẫu lần 3 giống như lần   1 cần chú ý thực hiện hoàn chỉnh, chuẩn xác. Trong trường hợp giáo viên   cần phải làm mẫu thêm một hai lần nữa hoặc làm mẫu riêng từng phần của   kỹ  thuật là tuỳ thuộc vào độ  khó của động tác kỹ  thuật và trình độ  tiếp thu   của học sinh. ­ Khi hướng dẫn học sinh tập luyện các bài tập thể dục tay không, thể  dục đồng diễn, thể  dục nhịp điệu, thể  dục với vòng, gậy, cờ… giáo viên  cần áp dụng nhiều hình thức làm mẫu khác nhau: làm mẫu theo kiểu “ soi  gương” hay thực hiện động tác kỹ thuật đứng cùng chiều với học sinh. Khi giáo viên thực hiện động tác bước đầu tiên nên làm động tác có  chuyển động chậm để học sinh dễ thực hiện theo. Cần thực hiện làm mẫu   động tác tự nhiên và bảo đảm tính phối hợp kỹ thuật nhịp nhàng. ­ Giáo viên cần chọn vị  trí đứng thích hợp để  khi làm mẫu tất cả  học   sinh đều có thể nhìn thấy các chi tiết chuyển động của động tác, kỹ  thuật.  Tổ chức hoạt động theo các nhóm, tổ, cặp 2 học sinh. Phân công các nhóm,   tổ  học sinh làm theo kỹ  thuật giáo viên đã hướng dẫn. Số  học sinh còn lại  chú ý theo dõi, phát hiện từng phần kỹ thuật sai, nhắc nhở, tự sửa ch ữa cho   14
  11. bạn. Sau đó đổi nội dung tập luyện giữa các nhóm, tổ…thay phiên nhau  quan sát, tập luyện và sửa chữa động tác sai. ­ Khi hướng dẫn thực hiện các động tác giáo viên đã làm mẫu, có thể  sử  dụng các dụng cụ phát tín hiệu âm thanh như :(còi, tiếng trống,vỗ tay…)  để giúp học sinh hình thành cảm giác nhịp điệu đúng, phân phối điề u hoà tốc   độ  vận động…biết tập trung vào các thời điểm cần gắng sức, nghỉ  ngơi   hoặc thả lỏng để góp phần làm giảm bớt căng thẳng liên tục. Tóm lại, sử  dụng sáng tạo phương pháp giảng giải và làm mẫu kỹ  thuật động tác trong giảng dạy TDTT là việc làm có vị  trí quan trọng. Để  phương pháp giảng giải, làm mẫu đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phối hợp  giữa làm mẫu giảng giải với việc phân tích các đặc điểm tâm, sinh lý học   sinh, tình trạng sức khoẻ, lượng vận động, mức độ phức tạp của động tác… để điều chỉnh thời gian giảng giải, số lần làm mẫu, hình thức, phương pháp  tổ chức giảng dạy mẫu cho phù hợp với đối tượng, góp phần nâng cao chất  lượng toàn diện. 2­ Phương pháp giảng dạy hoàn chỉnh và phân đoạn: a) Phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh: ­ Đối với các động tác đơn giản hoặc khó phân chia thành các cử  động  nhỏ  khi giảng dạy, giáo viên nên áp dụng phương pháp dạy động tác hoàn  chỉnh (nghĩa là động tác không bị phân ra thành các bộ phận cử động riêng   lẻ). Khả  năng phân tích động tác, kỹ  thuật của học sinh phổ thông còn hạn  chế, nên việc thực hiện động tác còn thiếu chính xác, sự  kết hợp các cử  động riêng lẻ còn khó khăn lúng túng, tốc độ, biên độ động tác chưa có cảm  giác đúng và phù hợp… Vì vậy, giáo viên phải luôn quan sát giúp đỡ  học   sinh để các em tập được các động tác hoàn chỉnh. Khi sử  dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh, giáo viên  cần chú ý đến những ưu, nhược điểm sau: * Về ưu điểm: 15
  12. Tạo được cảm giác đúng toàn bộ  kỹ  thuật cho người học, dễ  dàng  nắm được kỹ thuật động tác, có thể thực hiện theo yêu cầu giáo viên. * Về nhược điểm: ­ Khi  giảng dạy các động tác có kỹ thuật phức tạp, sử dụng phương   pháp này kém hiệu qủa. ­ Dó đó, khi sử  dụng phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh,  giáo viên cần chú ý nhấn mạnh vào các điểm chủ  yếu cần thiết của kỹ  thuật, động tác có thể  giảm bớt yêu cầu về  biên độ, cự  ly, trọng lượng, độ  cao… Phối hợp với các động tác bổ  trợ  khác trong quá trình giảng dạy các  kỹ thuật động tác phức tạp. b) Phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn: ­ Khi giảng dạy những động tác, bài tập khó và phức tạp, giáo viên  cần sử  dụng phương pháp phân đoạn. Đây là phương pháp chia kỹ  thuật   động tác ra thành các phần kỹ  thuật động tác riêng lẻ  để  hướng dẫn học  sinh từng phần kỹ  thuật. Khi từng phần kỹ  thuật h ọc sinh  đã được thực  hiện thuần thục, học sinh có thể   liên kết các phần đó thành động tác hoàn   chỉnh. Ví dụ: Khi dạy học sinh động tác đẩy tạ  “ vai hướng ném ”. Cần hướng dẫn  học sinh đứng  ở  tư  thế  chuẩn bị, cách cầm tạ, cách trượt đà,  gia sức cuối   cùng,  đẩy tạ  ra xa , cách phối hợp với chuyển động của toàn thân… động  tác kết thúc, giữ thăng bằng. Hướng dẫn học sinh tập luyện từng phần kỹ  thuật, thực hiện đúng các chi tiết kỹ thuật động tác sau đó, hướng dẫn cách   liên kết các chi tiết kỹ thuật thành động tác đẩy tạ hoàn chỉnh. Với yêu cầu: xa, c¬ b¶n đúng kỹ thuật. Khi sử  dụng phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn,   giáo viên  cần chú ý đến những ưu, nhược điểm sau: * Ưu điểm: 16
  13. Học sinh dễ  nắm được các chi tiết của từng phần động tác, thích hợp  với việc dạy các động tác khó, phức tạp, có yêu cầu cao về kỹ thuật. * Nhược điểm: ­ Chia động tác ra nhiều phần chi tiết, kỹ thuật riêng lẻ, học sinh gặp  khó khăn khi thực hiện toàn bộ kỹ thuật. ­ Dó đó, khi giảng dạy giáo viên cần nêu rõ các điểm mấu chốt, tính   liên kết từ  phần kỹ thuật chi tiết này sang phần khác, những mối quan hệ  giữa các phần trong toàn bộ kỹ  thuật, tạo cho học sinh có biểu tượng đúng  và phối hợp chính xác động tác, kỹ thuật. ­ Phương pháp dạy động tác, kỹ thuật hoàn chỉnh và phân đoạn sử dụng  trong quá trình giảng dạy TDTT,  sẽ  mang lại hiệu q ủa tốt. Giáo viên cần  phân biệt và khai thác hợp lí các ưu, khuyết điểm, biết phối hợp hai phương   pháp để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục cụ thể từng bài học, và nội dung  tập luyện thì sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn. 3. Phương pháp tập luyện và các hình thức tập luyện: * Phương pháp thực hành: Trong quá trình giáo dục TDTT,  sử dụng phương pháp thực hành chính  là dùng các hình thức luyện tập, tạo nên sự tác động trực tiếp đối với cơ thể  học sinh. Thông qua quá trình tập luyện,  học sinh hình thành tri thức, nắm  vững được kết cấu chuyển động của động tác, cảm giác cơ  bắp, thần kinh,  hoàn thiện kỹ năng vận động và phát triển kỹ năng thể chất toàn diện. Phương pháp tập luyện được sử  dụng trong các giờ  TDTT dưới hình  thức khác nhau. Thực tế trong giảng dạy TDTT thường  sử d ụng 3 lo ại hình  sau: a) Hình thức tập luyện lặp lại: ­ Đây là phương pháp tập luyện với hình thức luyện tập kỹ thuật, động   tác được lặp lại nhiều lần. Hình thức tập luyện này có ưu điểm là kỹ thuật,   động tác sớm hình thành, giúp cho việc thực hiện động tác được đúng và  17
  14. chính xác. Học sinh khi đã nắm được các kỹ  thuật vận động nếu không  được thường xuyên tập luyện lặp lại để  hình thành kỹ  năng khi kỹ  thuật,  động tác ( tuy học sinh đã nắm được ),  sau một thời gian kỹ thuật đó sẽ bị “  phá vỡ ”. Do đó, cần tập luyện lặp lại kỹ thuật, động tác trong các giờ  học,   buổi tập giờ ngoại khoá và ở nhà. ­ Việc áp dụng phương pháp luyện tập lặp lại thường góp phần hình  thành các thói quen vận động, các đường liên hệ tạm thời ở vỏ não, giúp học  sinh thực hiện đúng kỹ  năng hoạt động trong cuộc sống: đi, chạy, nhảy,   ném, leo, trèo… b) Hình thức tập luyện biến đổi: ­ Đây là hình thức tập luyện các kỹ  thuật, động tác luôn có sự  điều  chỉnh,  thay   đổi  yêu   cầu,  mức  độ,  mục  tiêu…và  các điều kiện.  Sử   dụng  phương pháp thực hiện có biến đổi nhằm tạo cho học sinh khả  năng làm   quen, nhanh chóng thích ứng, giải quyết các điểm mấu chốt, quan trọng của   kỹ thuật. Khi hướng dẫn tập luyện với các động tác phức tạp, giáo viên nên  chia động tác thành các phần chi tiết khác nhau (theo nguyên tắc từ dễ đến   khó, từ đơn giản đến phức tạp). Sau cùng giáo viên hướng dẫn để học sinh  biết  phối  hợp các phần riêng lẻ  thành động tác hoàn chỉnh  trong các điều  kiện không giống nhau, tăng dần mức độ khó khăn, phức tạp, song vẫn đảm  bảo yêu cầu vừa sức với từng đối tượng. ­ Khi học sinh đã nắm vững bài tập,  giáo viên có thể tăng khoảng cách,  thay đổi độ cao, thấp của dụng cụ, thay đổi điều kiện bổ  trợ, nâng cao yêu   cầu về  chất lượng kỹ  thuật, qua  đó dần dần nâng cao, củng cố  và hoàn  thiện những kỹ năng vận động. c) Hình thức trò chơi và thi đấu: 18
  15. ­ Rèn luyện TDTT thông qua hình thức trò chơi vận động và thi đấu sẽ  tạo được không khí hưng phấn, phấn khởi, nhiệt tình tham gia luyện tập  của học sinh. Trong vui chơi vận động và thi đấu có hướng dẫn, việc điều  khiển của giáo viên trong các mục tiêu giáo dục sẽ góp phần thúc đẩy hoàn   thiện nhân cách và sức khoẻ học sinh. Đây là hình thức phù hợp với lứa tuổi  học sinh. ­ Trong quá trình tổ  chức trò chơi, giáo viên hướng dẫn học sinh tập,  bắt chước các động tác linh hoạt của con người như  các động tác kéo gỗ,   chèo thuyền, cuốc ruộng của người lao động. Qua đó, giáo dục học sinh yêu  quý, gắn bó với thiên nhiên, với con người và chính bản thân mình. ­ Khi hướng dẫn trò chơi, giáo viên cần lựa chọn trò chơi có tốc độ,   thu hút được sự  chú ý cao của học sinh, đảm bảo tính nhịp điệu, vừa sức,  động tác bắt chước phù hợp với lứa tuổi học sinh. Giáo viên thường xuyên  nhắc nhở học sinh khi tham gia chơi cần đảm bảo đúng kỹ thuật, đúng động  tác cơ bản và an toàn. Ví dụ: ­ Khi chơi “Chạy tiếp sức”,    động tác chạy phải thực hiện đúng kỹ  thuật, chạy bằng nửa bàn chân trên, kết hợp với đánh tay, thở  nhịp nhàng,  luôn luôn chú ý quan sát để kịp thời gian đưa tín vật cho bạn (Cờ, bóng hoặc   gậy) ­ Trong quá trình nghiên cứu phải lựa chọn biên soạn trò chơi giáo viên  có thể phối hợp các nội dung với chuyện kể ngắn có tính giáo dục cao. Cần   phối hợp hoạt động trò chơi với thi đấu, hay tổ  chức dưới dạng thi đấu.  Chú ý đến mức độ  hứng thú, nhiệt tình tham gia của học sinh để  xác định   mục đích, yêu cầu giáo dục khác nhau. ­ Hình thức thi đấu được sử  dụng khi học sinh đã cơ  bản nắm vững   động tác, kỹ  thuật, ví dụ  trò chơi “Bóng chuyền 6”,  “ Vượt vòng vây”, …  Qua các hướng dẫn, giáo dục học sinh biết sử  dụng các kỹ  năng vận động   19
  16. trong khi chơi và thi đấu đạt hiệu quả  giáo dục,   góp phần phát triển sức  khoẻ. ­ Đối với học sinh   bậc THPT,   do cơ  thể  phát triển đang từng bước   hoàn thiện, tình trạng tâm lí còn chưa ổn định, các em ham chơi,  vận động   quá sức sẽ dẫn đến mệt mỏi. Bởi vậy trong quá trình tổ chức tập luyện, thi   đấu, giáo viên cần chú ý một số điểm sau: + Nên tổ chức các hình thức thi đấu đa dạng, phong phú, tránh phức tạp,  bảo đảm an toàn về  phương tiện, không nên để  mất nhiều thời gian vào  việc điều hành đội ngũ, sắp xếp tổ chức. + Yêu cầu bảo đảm lượng vận động vừa sức, cần tránh lặp lại quá  nhiều lần gây mệt mỏi, quá sức, phòng tránh chấn thương. 4. Phương pháp sửa chữa động tác sai: Khi tập luyện TDTT,  học sinh không tránh khỏi thực hiện động tác, kỹ  thuật có sai sót nên việc áp dụng phương pháp sửa chữa động tác, kỹ  thuật  sai là rất cần thiết,  kịp thời giúp cho học sinh thực hiện đúng, chính xác kỹ  thuật,   tạo   điều   kiện   tiếp   thu   kỹ   thuật   mới   nhanh   và   phòng   tránh   chấn  thương. a) Một số nguyên nhân dân đến thực hiện sai kỹ thuật và động tác: ­ Do học sinh chưa nắm được yêu cầu, kỹ  thuật, cách tiến hành tập  luyện, nên tập luyện thiếu mạnh dạn, chưa tự tin, còn lo lắng, hồi hộp, sợ  sệt… ­ Việc chuẩn bị thể lực, sức khoẻ, vốn kỹ năng vận động còn thấp  so   với yêu cầu cần thực hiện động tác. Học sinh có khuyết tật  bẩm sinh hoặc   cơ thể yếu sau thời gian ốm, mệt, bị chấn thương. ­ Giáo viên sử dụng phương pháp và nội dung tập luyện chưa phù hợp  với đối tượng học sinh, dụng cụ  sân bãi không đảm bảo quy cách phù hợp   và an toàn, do thời tiết khí hậu khắc nghiệt và một số   ảnh hưởng ngoại  20
  17. cảnh khác như:  học sinh thiếu tập trung học tập, tính tổ  chức kỷ  luật còn  thấp… b) Cách sửa chữa: ­ Trước tiên, giáo viên cần nghiên cứu và quan sát kỹ  lưỡng để  sớm  phát hiện những nguyên nhân đưa tới những thiếu sót, cần điều chỉnh nội  dung bài học, vận dụng các phương pháp sửa chữa sai lầm cho kịp thời phù   hợp với đối tượng. ­ Thực tế với bài học trên sân tập, giáo viên không thể sửa chữa mọi sai   sót cho học sinh. Đối với học sinh ở các lớp đầu cấp, không nên đòi hỏi học   sinh thực hiện đúng động tác, kỹ thuật trong một thời gian ngắn. Chỉ nên yêu  cầu thực hiện đúng những phần cơ  bản của động tác. Khi sửa chữa các  động tác sai tránh áp dụng biện pháp cứng nhắc, cần dựa trên khả  năng và   trình độ vận động của từng học sinh mà hướng dẫn, nhắc nhở các sai sót cơ  bản giúp học sinh sửa chữa, tạo điều kiện cho học sinh tự  sửa cho mình.  Trong khi sửa chữa các động tác sai,  cần gắn liền với việc động viên,  rèn  luyện cho học sinh tinh thần dũng cảm, tự tin, mạnh dạn, làm quen với các  điều kiện khó khăn trong tập luyện. ­ Khi thực hiện phương pháp sửa chữa động tác sai trong tập luyện  TDTT cho học sinh cần áp dụng các hình thức phong phú. Đối với những  thiếu sót về  tư  thế, kỹ  thuật, các chi tiết riêng lẻ, ý thức… cần nhắc nhở  nhẹ  nhàng bằng lời nói. Nếu học sinh có sai về  động tác, kỹ  thuật nên cho   ngừng tập,  giáo viên làm mẫu lại và giảng giải chậm để học sinh xem... Có  thể thực hiện động tác sai của học sinh để học sinh thấy được thiếu sót của   chính mình. ­ Sự giúp đỡ trực tiếp, uốn nắn kỹ thuật, nhắc nhở nhẹ nhàng đúng lúc   của giáo viên có tác động to lớn tới các em, động viên các em khắc phục khó   khăn, quyết tâm sửa chữa động tác sai. Giáo viên có thể  sử  dụng các dụng  cụ  tập luyện, tiếng hô, tiếng vỗ tay, nhịp gõ để nhắc nhở các em thời điểm  21
  18. chủ yếu cần thay đổi hay giữ vững kỹ thuật, động tác giúp học sinh nhớ và  nắm vững thời điểm khi dùng sức, xây dựng các cảm giác đúng chính xác,  sử dụng sức mạnh cơ bắp trong quá trình thực hiện, hoàn thành kỹ thuật, bài  tập. 5.Phương pháp quan sát và phân loại ­ Phương pháp này đòi hỏi người giáo viên sau khi dạy động tác mới,  phải luôn chú ý quan sát và phân loại ra những em học sinh thực hiện động   tác còn yếu để có phương pháp sửa chữa, điều chỉnh động tác. * Ưu điểm:   Phương pháp này là thay vì việc chúng ta sửa chưa động tác một cách  đơn lẻ, mà chúng ta sửa chữa động tác một cách tập trung, đạt hiệu quả cao   hơn, giảm bớt được thời gian cho giáo viên. * Nhược điểm:   Khi áp dụng phương pháp này thì giáo viên dạy phải chú ý quan sát  nhiều hơn, phải nắm bắt được những học sinh thực hiên động tác sai, sau đó  hệ thống lại, tìm phương pháp sửa chưa cho phù hợp. V. KẾT QUẢ: Việc vận dụng phương pháp dạy học thực nghiệm cho học sinh, với   các phương pháp giảng dạy được áp dụng từ  khi dạy học sinh ở tất cả các  lớp, cùng tập một nội dung tập như  nhau. Nhưng tỉ  lệ  học sinh  ở  nhóm   Thực Nghiệm   cao hơn,  ổn định hơn, so với  nhóm Đối chứng. điều đó thể  hiện rõ nhất qua số liệu ghi chép và tổng hợp sau: 22
  19. Nhãm thùc nghiÖm Nhãm ®èi chứng Tû lÖ Tû lÖ STT Líp Líp SÜ sè SÜ sè §¹t Cha §¹t §¹t Cha ®¹t 1 10A 51 92 % 8% 10E 51 86% 14% 2 10B 50 94% 6% 10F 49 84% 16% 3 10C 50 92% 8% 10G 51 88% 12% 4 10D 50 96% 4,% 10H 50 82% 18% Thực tế cho thấy, Sau 9 tuần tập luyện thành tích của cả  2 nhóm đều  tăng.   Tuy   nhiên   nhóm   thực   nghiệm   tăng   cao   và   đồng   đều   hơn   nhóm   đối  chứng.  Việc áp dụng các phương pháp dạy học đó vào tập luyện đã thu hút   được học sinh luyện tập và tạo được tính tích cực cho học sinh, một số học   sinh nhận thức chậm nay đã có sự tiến bộ nhất định. Phần 3 :  KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ *Kết Luận: Trong quá trình giảng dạy,  làm sáng kiến kinh nghiệm và áp dụng các  phương pháp,  tôi  thấy các em đã có tiến bộ rõ rệt. Mặc dù kết quả vẫn chỉ  mang tính tương đối, song các em đã biết và từng bước hiểu được yêu cầu  của bộ môn cũng như nhận thức được vai trò của môn Thể dục đối với việc  phát triển các tố  chất thể  lực, góp phần phát triển toàn diện cho bản thân.  Từ khi giảng dạy và sử dụng các phương pháp khác nhau, tôi thấy học sinh   đã có sự thay đổi về ý thức kỷ luật trong tập luyện hầu hết các em  đã có ý   thức hơn.  * Kiến nghị: Để  tổ  chức tốt một giờ  học thể  dục phù hợp với yêu cầu phát triển   toàn diện của học sinh cũng như kích thích tinh thần tự giác của học sinh, tôi   xin đề xuất với  các cấp lãnh đạo nên quan tâm nhiều hơn nữa tới việc đầu   tư cơ sở vật chất, trang thiết bị  phục vụ cho môn học, đảm bảo tính đồng   bộ.Theo quan ®iÓm c¸ nh©n t«i th×  nªn “ mÒm ho¸ ”ph©n phèi ch¬ng tr×nh h¬n n÷a, ®Ó phï hîp víi ®iÒu kiÖn tõng trêng, bëi v× trªn thùc tÕ 23
  20. ®iÒu kiÖn c¬ së vËt chÊt cña c¸c trêng lµ kh¸c nhau. Chóng ta cũng nên  quy đÞnh trang phục tập luyện b¾t buéc đối với các em học sinh ®ể  giờ  dạy, giờ tập luyện đạt kết quả tốt hơn. Sáng kiến kinh nghiệm của tôi hướng tới việc sử  dụng một số  phương   pháp nhằm nâng cao hiệu quả   trong công tác giảng dạy đã đạt được những   kết quả nhất định, rất mong được sự đóng góp của các đồng nghiệp để  chất  lượng bộ môn thể dục trong trường THPT ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. 24
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2