intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giải pháp dùng đề nghị luận xã hội để nâng cao nhận thức của một số học sinh chậm tiến cho học sinh trường THPT Đô Lương II

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:40

27
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Giải pháp dùng đề nghị luận xã hội để nâng cao nhận thức của một số học sinh chậm tiến cho học sinh trường THPT Đô Lương II" nhằm khái quát những đặc tính chung lứa tuổi học sinh THPT, đồng thời nêu thực trạng vấn đề ý thức của một số học sinh hiện nay trong trường THPT Đô Lương II hiện nay, thông qua đó đề ra phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh một cách có hiệu quả nhờ việc vận dụng các đề nghị luận xã hội trong quá trình học sinh làm đề , giúp cho các em chăm học hơn, sống tốt hơn, nghĩ tích cực hơn để rồi các em trở thành những con người tốt có kiến thức trong xã hội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giải pháp dùng đề nghị luận xã hội để nâng cao nhận thức của một số học sinh chậm tiến cho học sinh trường THPT Đô Lương II

  1. Mục Lục PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................ 1 1.Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1 2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................. 1 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 2 4. Phạm vi nghiên cứu. ............................................................................................... 2 5. Đối tượng nghiên cứu: ........................................................................................... 2 6. Đóng góp của đề tài ................................................................................................ 2 PHẦN 2: NỘI DUNG ................................................................................................ 2 1.Cơ sở lý luận ........................................................................................................... 2 1.1. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT ......................................................................... 2 1.2. Đặc trưng môn Ngữ văn trong việc phát triển năng lực người học .................... 3 1.3. Đề nghị luận xã hội ............................................................................................. 4 1.4. HS chậm tiến ....................................................................................................... 6 2.Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................ 6 2.1 Thực trạng học tập của học sinh hiện nay ............................................................ 7 2.2. Đặc điểm của HS châm tiến tại trường THPT… ................................................ 7 2.3. Thực trạng dạy văn nghị luận xã hội tại trường THPT đối với học sinh chậm tiến. ............................................................................................................................. 8 3. Một số giải pháp ..................................................................................................... 8 3.1. Chú ý tiêu chí ra các dạng đề nghị luận xã hội tiêu biểu .................................... 9 3.2. Dùng thang đo Likert ........................................................................................ 22 3.3. Chấm bài, nhận xét bài làm HS ......................................................................... 28 3.4. Hướng dẫn chữa bài NLXH và rút ra bài học cho HS ...................................... 31 4. Một số kết quả đạt được ....................................................................................... 32 4.1 Đánh giá chung................................................................................................... 32 4.2 Kết quả cụ thể ..................................................................................................... 33 PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................. 35 1. Kết luận ................................................................................................................ 35 2. Kiến nghị .............................................................................................................. 35 0
  2. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình giảng dạy học sinh tại trường trung học phổ thông Đô Lương II, tôi thấy rất nhiều em có những biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống, không có mục tiêu cho việc học của mình. Thậm chí một số em coi việc đi học là để chơi đùa,nghịch ngợm. Mặc dù gia đình và nhà trường đã có nhiều biện pháp để nhắc nhở và giáo dục các em nhưng do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, các em không thích bố mẹ, thầy cô nhắc nhở nhiều trực tiếp nhiều lần. Mặt khác khi bước vào môi trường học trường THPT, điều đầu tiên mà học sinh nhận ra là sự thay đổi điều kiện đời sống của trường học: sự xuất hiện của nhiều thầy cô giáo, chương trình, tài liệu, hình thức học tập trên lớp phức tạp hơn; kinh nghiệm thực tế ngoài nhà trường, sự giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa được mở rộng hơn. Tuy nhiên, cái khó của học sinh ở lứa tuổi này là tâm thế, sự sẵn sàng của các em không dễ được hiện thực hoá do chưa làm chủ được các phương pháp thực hiện và hình thức mới của hoạt động học tập. Điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến ý thức, thái độ của các em. Xây dựng thành công ý thức, thái độ cho học sinh vừa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, vừa giúp giảm tải quá trình truyền đạt kiến thức cho người giáo viên. Người giáo viên chính là người định hướng, xây dựng ý thức, thái độ cho học sinh của mình ngay từ khi các em mới bước vào năm học. Đây là một vấn đề không đơn giản, cần được đưa ra để trao đổi, rút kinh nghiệm. Công việc cao cả ấy không phải chỉ thực hiện trong ngày một ngày hai, mà nó là cả quá trình nỗ lực bền bỉ trong công tác giáo dục dành cho học sinh. Trong bộ môn Ngữ văn , tôi nhận thấy khả năng tác động của các đề bài nghị luận xã hội đến nhận thức đối với học sinh rất lớn và hiệu quả giáo dục mang lại khá cao. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công việc giáo dục ý thức học tập cho học sinh. Trong quá trình công tác giảng dạy học sinh ở trường THPT Đô lương II, tôi nhận thấy việc đưa ra Giải pháp dùng đề nghị luận xã hội để nâng cao nhận thức của một số học sinh chậm tiến cho học sinh trường THPT Đô Lương II là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này. 2. Mục đích nghiên cứu Khái quát những đặc tính chung lứa tuổi học sinh THPT, đồng thời nêu thực trạng vấn đề ý thức của một số học sinh hiện nay trong trường THPT Đô Lương II hiện nay, thông qua đó đề ra phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh một cách có hiệu quả nhờ việc vận dụng các đề nghị luận xã hội trong quá trình học sinh làm đề , giúp cho các em chăm học hơn, sống tốt hơn, nghĩ tích cực hơn để rồi các em trở thành những con người tốt có kiến thức trong xã hội. 1
  3. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài - Đánh giá thực trạng về công tác dạy học tại Trường THPT Đô Lương 2. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao ý thức học tập học sinh ở trường THPT thông qua việc vận dụng một số vấn đề xã hội khi dạy và làm đề nghị luận xã hội. - Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài 4. Phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu một số đặc tính chung tâm lý lứa tuổi học sinh THPT ở trường Đô Lương II, khả năng tác động của các vấn đề xã hội, cơ sở lý luận thực trạng vấn đề ý thức ,thái độ của học sinh, phân tích nguyên nhân, tìm ra những yếu tố liên quan đến học tập, cách ứng xử, cho học sinh để từ đó đề ra giải pháp nâng cao ý thức học, thái độ đúng dắn cho học sinh các lớp tôi dạy ở trong giai đoạn hiện nay tại các trường THPT trên địa bàn huyện tôi công tác 5. Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp dùng đề nghị luận xã hội để nâng cao nhận thức cho học sinh chậm tiến trong thực hiện dạy học ở Trường THPT Đô Lương 2 các lớp do bản thân giáo viên giảng dạy 6. Đóng góp của đề tài - Giúp tôi giải quyết được thực tế khó khăn khi đứng lớp. - Giúp tạo không khí học tập sôi nổi, thái độ ý thức học sinh được cải thiện. - Giúp học sinh có thái độ sống tích cực hơn: hoà đồng,chia sẻ, cố gắng hơn. - Giúp cho Đoàn,ban an ninh, nhà trường giải quyết các vấn đề ở học sinh cá biệt PHẦN 2: NỘI DUNG 1.Cơ sở lý luận 1.1. Đặc điểm tâm lý học sinh THPT Trong nhà trường THPT, sự phát triển của học sinh đã bước vào thời kỳ phát triển hài hòa, cân đối cả về thể chất, tâm sinh lý. Thời điểm này hoạt động trí tuệ của các em phát triển ở mức cao, tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất trong ý trí phát triển ở mức cao. Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, nhân cách và ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em. Trong nhà trường, học tập là hoạt động chủ đạo, đòi hỏi các em phải có tinh thần, ý thức tự giác, tích cực và độc lập, biết vận dụng tri thức một cách sáng tạo và ứng dụng tri thức đã học vào thực tiễn. Nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan 2
  4. trọng, không chỉ nhằm trang bị tri thức trong học tập mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em. 1.2. Đặc trưng môn Ngữ văn trong việc phát triển năng lực người học Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. . Các nhà lí luận và phương pháp học cho rằng: Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách. Đặc trưng môn Ngữ văn trong việc phát triển năng lực người học. Đặc trưng của môn Ngữ văn là gì? Ngữ văn là môn học được tích hợp từ ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn (trước đó ba phân môn này là ba môn độc lập, có SGK riêng) gồm hai phần ngữ và văn gắn bó với nhau, bởi "ngôn ngữ là chất liệu làm nên văn học và văn học chính là nghệ thuật của ngôn ngữ". Là môn học tích hợp, nhưng về cơ bản nó vẫn là môn học nghệ thuật (Văn vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất), đồng thời nó lại là môn học thực hành (Tập làm văn được học bài bản và hệ thống). Trên đại thể, có thể xem Ngữ văn là môn học về Cái Đẹp với hai khâu liên hoàn: cảm thụ Cái Đẹp trong văn chương (Văn), ngôn ngữ (Tiếng Việt) để tạo lập ra Cái Đẹp trong văn bản nói và viết (Tập làm văn). Đó chính là sợi dây liên kết gắn bó giữa môn học nghệ thuật và môn học thực hành trong môn Ngữ văn với hai hoạt động chủ yếu: đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Như vậy, với những đặc trưng trên đây, môn Ngữ văn sẽ hình thành và phát triển hai năng lực quan trọng cho thế hệ trẻ: năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ. Năng lực thẩm mĩ là năng lực khám phá Cái Đẹp trong văn chương và trong tiếng Việt để thưởng thức chúng; còn năng lực ngôn ngữ là năng lực làm chủ được tiếng Việt, biết sử dụng tiếng Việt một cách thuần thục để tạo lập văn bản (nói và viết) giúp cho việc diễn đạt, giao tiếp đạt hiệu quả. Hai năng lực này không tách rời nhau, mà có mối quan hệ gắn bó, tương hỗ để cùng phát triển… Ngữ văn không chỉ là môn học thực hành bình thường mang ý nghĩa tự thân mà nó còn có thêm yêu cầu hỗ trợ cho các môn khác trong việc diễn đạt để trở thành môn công cụ (giống như Toán là môn công cụ để hỗ trợ cho việc tính toán). Đây là môn học có nhiều khả năng và ưu thế nhất trong việc hình thành và phát triển hai năng lực này của người học. 3
  5. 1.3. Đề nghị luận xã hội 1 Nghị luận xã hội là gì? Bàn về khái niệm văn nghị luận xã hội, đã có rất nhiều ý kiến, nhận định uy tín được đưa ra. Dưới đây là một số ví dụ: Theo Bảo Quyến: “Văn NLXH là văn nghị luận về một vấn đề xã hội, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực đời sống, xã hội cũng như chính trị, kinh tế, giáo dục, môi trường, dân số…” Theo giáo sư Đỗ Ngọc Thống: “Văn nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối liên hệ giữa con người với con người trong xã hội.” [5,5] Theo nhà giáo Hoàng Dân: “Nghị luận xã hội là một kiểu bài dùng lí lẽ và thực tế để giải quyết một vấn đề đặt ra trong xã hội, từ những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày ở cộng đồng lớn nhỏ đến những vấn đề chính trị rộng lớn, từ những vấn đề luân lí đạo đức cá nhân đến những vấn đề có tầm quan trọng về triết lí nhân sinh. Đó là những vấn đề chính trị - xã hội có liên quan đến mỗi cá nhân, nó khiến mọi người phải suy nghĩ và có trách nhiệm tham gia giải quyết bằng một phương thức nào đó (nói, viết, hành động) để góp phần duy trì sự tồn tại của cộng đồng.” [6,5] Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, “nghị luận” là dùng lí luận để phân tích ý nghĩa phải trái, bàn bạc, mở rộng vấn đề. Còn “xã hội” trước hết là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác. Cũng có thể hiểu, “xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ…[1] Từ đó, có thể hiểu NLXH là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề xã hội, mối quan hệ con người trong xã hội, những đòi hỏi của cuộc sống cũng như những yêu cầu của con người, thực trạng xã hội và các hiện tượng đời sống... Mục đích cuối cùng của nó là thể hiện chính kiến, quan niệm của người viết về vấn đề đặt ra đồng thời tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Yêu cầu đối với bài văn NLXH trước hết cũng là đảm bảo kĩ năng nghị luận nói chung (tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn, có ý thức triển khai thành những luận điểm chặt chẽ, nhất quán, tìm được những dẫn chứng xác đáng, giàu sức thuyết phục). Bên cạnh đó, bài văn NLXH cũng cần đảm bảo về nội dung kiến thức mang màu sắc chính trị, xã hội (những hiểu biết về chính trị, pháp luật, những kiến thức nền tảng về truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, tâm lí, xã hội, những tin tức thời sự cập nhật...); đảm bảo mục đích, tư tưởng: phải vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội.Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về những vấn đề diễn ra xung quanh đời sống, xã hội. Đề tài của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá…Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác phẩm văn học, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng văn bản viết khác đều có khả năng được xếp vào dạng nghị luận xã hội, chính trị. 4
  6. 1.3.1. Dạng nghị luận về một tư tưởng, đaọ lý: Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông nói chung, học sinh chậm tiến nói riêng do tâm lý lứa tuổi và nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề phức tạp lớn lao mà chỉ là những khía cách đạo đức tư tưởng tình cảm gắn liền với cuộc sống hàng ngày như tình cảm quê hương, gia đình, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập phương pháp nhận thức… Những vấn đề này có thể đặt ra một cách trực tiếp nhưng thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn (tục ngữ, ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hóa khoa học, nhà văn nổi tiếng…). Đối với dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí để giải quyết vấn đề cần lưu ý cách học sinh xem xét nó từ nhiều góc độ. Cách đơn giản nhất là đặt ra đặt ra và trả lời những câu hỏi. Sau đây là một số dạng câu hỏi chính: - Nó là gì? - Nó như thế nào? - Vì sao lại như thế? - Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân? Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi có thể hình dung một bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần được triển khai theo 3 bước cơ bản sau: - Giải thích, cắt nghĩa - Lý giải - Đánh giá .Cũng từ đó mà các em sẽ có những bài học đạo đức; góp phần định hướng cho con người có lẽ sống tốt đẹp. a. Đề tài: - Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống..) - Về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn..) - Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…) - Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…) b. Cấu trúc triển khai tổng quát: - Giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần nghị luận. - Giải thích tư tưởng, đạo lý cần bàn luận (từ ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng…) - Bàn luận về tư tưởng đạo lý. + Phân tích những mặt đúng, + Bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận (dẫn chứng từ đời sống và văn học) - Rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lý. 1.3.2. Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống Nghị luận về một hiện tượng đời sống: Bàn luận về một hiện tượng, một vấn đề có tính thời sự, được dư luận xã hội quan tâm, thường đi vào những vấn đề cụ thể (như những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực) trong cuộc sống. Từ đó, gợi ý cho con người những hành vi và cách ứng xử đúng đắn. a. Đề tài: 5
  7. - Môi trường (hiện tượng Trái đất nóng lên, thiên tai, ô nhiễm…) - Ứng xử văn hóa (lời cám ơn, lời xin lỗi, cách nói năng nơi công cộng…) - Hiện tượng tiêu cực (nghiện thuốc lá, bạo lực gia đình, học sinh đánh nhau trong trường học…) - Hiện tượng tích cực (hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xây nhà tình nghiã, người tốt việc tốt…) b. Cấu trúc triển khai tổng quát: - Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận. - Nêu rõ hiện tượng. - Bàn luận về hiện tượng. + Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng. + Phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại (Dùng dẫn chứng từ cuộc sống để chứng minh) - Bày tỏ thái độ, ý kiến của bản thân về hiện tượng trên 1.3.3. Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học: Bàn luận về một vấn đề xã hội (một tư tưởng, đạo đức, lối sống hoặc một hiện tượng đời sống) được rút ra từ một câu/ một đoạn trích hoặc rút ra từ nội dung của một tác phẩm văn học nào đó. Xuất phát từ nội dung xã hội cụ thể trong một tác phẩm văn học, đề bài hướng đến mục tiêu: Hình thành cho học sinh năng lực khái quát vấn đề, thể hiện quan điểm của mình trước những vấn đề đời sống. a. Đề tài: Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học. Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học. b. Cấu trúc triển khai tổng quát: -Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện) -Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện). 1.4. HS chậm tiến Đến những năm 20 của thế kỷ này, tâm lý học lần đầu tiên lấy trẻ em bình thường làm đối tượng nghiên cứu. Và sau 40 năm của bước ngoặt này, tâm lý học 6
  8. sư phạm bắt đầu lấy trẻ em đang học ở trường phổ thụng làm đối tượng nghiên cứu theo cung cách trong “phòng thí nghiệm”. Gần đây các nhà tâm lý học đó đi sâu nghiên cứu về học sinh THPT, đặc biệt là những học sinh chưa ngoan, những học sinh không vâng lời, học sinh chậm tiến. Tuy nhiên, khái niệm học sinh chậm tiến là khái niệm đang được tranh luận, thậm chí cũng là cuộc đấu tranh vì quyền lợi xã hội khác nhau. Theo chúng tôi, học sinh chậm tiến đều có những biểu hiện đáng chú ý là: Chất lượng học tập hoặc giảm sút, thái độ tu dưỡng rèn luyện bản thân ý thức tổ chức kỷ luật kém, kèm theo những hành vi, hành động vi phạm chuẩn mực đạo đức xã hội. 2.Cơ sở thực tiễn 2.1 Thực trạng học tập của học sinh hiện nay 2.1.1 Ưu điểm 2.1.2. Hạn chế - Trong đó có một bộ phận HS chậm tiến 2.2. Đặc điểm của HS châm tiến tại trường THPT Đô Lương II - Cái chung :Một thực trạng chung là các em học yếu, dễ bị bạn bè lôi cuốn, cám dỗ, sa vào “bóng đen” ngoài xã hội như : game, rượu chè, bài bạc, gây rối, đánh nhau, kể cả trộm cướp, ma túy. Các em dễ bị lợi dụng, tiếp tay những hành vi xấu, những thói quen xấu khiến các em thờ ơ với việc học, trốn học, bỏ giờ. Nếu như không có biện pháp thích hợp để ngăn chặn và uốn nắn kịp thời thì nguy cơ bỏ học của học sinh cá biệt sẽ xảy ra. Không những vậy mà tình trạng này còn ảnh hưởng xấu đến nề nếp học tập của lớp, ảnh hưởng đến cả quá trình giáo dục của lớp,cuả nhà trường. Đây là những học sinh có sự phát triển không đầy đủ về mặt trí tuệ, bơỉ vậy quá trình nhận thức của các em ở mức độ thấp hơn các trẻ em phát triển bình thường. Các em chỉ tri giác được những hình ảnh đơn giản nhất, có khả năng ghi nhớ ở chừng mực thấp. Các học sinh chậm tiến hầu như không có lòng tin tuyệt đối với thầy cô, người lớn. Các em mặc cảm cho rằng mình kém cỏi không được quan tâm , tính hồn nhiên bị giảm sút. Khả năng đánh giá và tự đánh giá mang nặng bản chất cảm tính, đánh giá một cách hời hợt ,thiếu tự tin. Nếu như đặc trưng cơ bản trong đời sống tình cảm của HS THPT là dễ xúc động thì ở HS chậm tiến cũng vậy, tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực quan và giàu cảm xúc. ở giai đoạn cao của sự khó giáo dục xuất hiện chiều hướng phát triển tiêu cực . Do đó, các em cự tuyệt với những phẩm chất tốt. Còn những thiếu sót và những khuyết điểm thì lại thoả mãn một cách đầy đủ hơn và tiếp tục phát triển những khuyết điểm lệch lạc đó. 7
  9. - Hiện trạng ý thức học sinh chậm tiến ở trường THPT Đô Lương II: Do HS của trường đóng trên địa bàn chủ yếu là các xã miền núi, phần lớn phụ huynh làm nghề nông nên không có nhiều thời gian quan tâm việc học của con cái, thậm chí nhiều bố mẹ còn đi làm ăn xa , gửi các em ở nhà với ông bà đã nhiều tuổi. Cũng chính vì thế mà sự quan tâm từ phía gia đình cũng ít hơn, sự định hướng tương lai của các em cũng không tốt, rất nhiều em không có mục tiêu phấn đấu,lêu lổng không chú ý việc học. Một số em còn thường xuyên bỏ học chơi điện tử, gây gổ đánh nhau, lơ là trong việc học.cho dù nhà trường đã có nhiều biện pháp để khắc phục, giảm bớt tình trạng học sinh vi phạm về ý thức, không cố gắng trong học tập nhưng hàng năm số học sinh hạnh kiểm yếu phải rèn luyện trong hè cũng như học sinh có học lực và hạnh kiểm yếu phải ở lại lớp vẫn chưa giảm. Và đáng nói là số học sinh 12 đỗ tốt nghiệp THPT chỉ đạt 97% 2.3. Thực trạng dạy văn nghị luận xã hội tại trường THPT đối với học sinh chậm tiến. - Chung: Qua tìm hiểu thực tế, ta thấy việc dạy học văn nghị luận xã hội tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn bộc lộ khá nhiều hạn chế. Nhất là việc lấy đề NLXH cho học sinh thiếu tính thực tế và giáo dục. Từ đó ít để ý đến các khâu chấm bài, nhận xét cho đối tượng học sinh chậm tiến. -Ở trường THPT Đô Lương II,hầu như các giáo viên đã chú trọng vào việc rèn kĩ năng làm bài với từng dạng bài cụ thể của NLXH để nâng cao khả năng viết đoạn và đạt được số điểm cao ở đề bài kiểm tra, đề thi. Song việc hướng đến dùng đề , chấm chữa, hướng dẫn HS làm NLXH như một giải pháp để nâng cao nhận thức cho HS chậm tiến lại chưa được làm thường xuyên, liên tục. -Khảo sát Không Đối tượng Số Chú ý kĩ Chú ý Chú ý tính chú ý khảo sát phiếu năng kiến thức giáo dục điều gì GV môn 7 2 1 10 0 Ngữ Văn 70% 20% 10% 3. Một số giải pháp -Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với Ban cán sự, Phụ huynh, Ban đại diện hội phụ huynh học sinh: Giáo viên chủ nhiệm giao cho một em cán sự lớp có tinh thần giúp đỡ bạn một quyển sổ theo dõi, em này ghi chép lại những diễn biến quá trình học tập ở lớp. Những mặt ưu khuyết hằng ngày rồi cuối tuần giao lại cho cô chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm xem xét, ghi nhận xét và đề nghị của mình rồi gởi đến gia đình phụ huynh. Bằng cách giao quyển sổ này cho em Ban cán sự lớp chuyển đến tay phụ huynh. Phụ huynh nắm bắt được tình hình của con mình và có ý kiến phản hồi. Cứ thế, giữa phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm và em cán sự lớp kia 8
  10. luôn phối hợp lẫn nhau, đều có trách nhiệm giúp đỡ em học sinh đó ngày càng tiến bộ. Bên cạnh đó giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên liên lạc với Ban đại diện phụ huynh học sinh để bàn bạc, trao đổi thông tin. Nhằm đề ra những biện pháp khắc phục uốn nắn kịp thời. - Phối hợp với giáo viên dạy các môn học: Hiệu quả giáo dục của một lớp phụ thuộc một phần quan trọng vào hoạt động và phẩm chất của giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn của lớp. Vì vậy giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên liên hệ, có sự phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn để giáo dục các em. Trao đổi với giáo viên bộ môn về những học sinh có khó khăn trong học tập và rèn luyện (hoàn cảnh gia đình, ý thức kỷ luật kém…). Đồng thời tiếp thu ý kiến của giáo viên bộ môn phản ánh để cùng hỗ trợ, phối hợp tác động tới lớp nói chung và từng học sinh nói riêng. - Phối hợp với Ban Giám Hiệu Nhà trường: Để giáo dục học sinh lớp mình phụ trách, giáo viên phải dựa vào kế hoạch giáo dục chung của nhà trường. Đồng thời dựa vào tình hình cụ thể của lớp để xây dựng kế hoạch đề ra biện pháp để giáo dục học sinh lớp mình. Thường xuyên báo cáo tình hình lớp, kết quả giáo dục, ý chí, nguyện vọng của học sinh lớp mình với Ban Giám Hiệu trường. Đồng thời đề xuất xin ý kiến về biện pháp giáo dục học sinh chậm tiến với Ban Giám Hiệu. - Nội dung chương trình SGK còn nặng về kiến thức, chưa có chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh… Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần lồng ghép vào nội dung các bài học liên hệ với bản thân học sinh, với thực tiễn cuộc sống để chậm đến tình cảm và tiến tới tác động đến nhận thức, suy nghĩ và hành động. Đối với môn ngữ văn ,việc mang các đề nghị luận xã hội vào các tiết luyện đề, ôn tập; dùng các đề khảo sát; cách chấm bà nhận xét và chưa bài liên quân đến dạng bài NLXH sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong việc giáo dục học sinh chậm tiến. 3.1. Chú ý tiêu chí ra các dạng đề nghị luận xã hội tiêu biểu 3.1.1. Dùng các đề về tư tưởng đạo lý hướng đến việc giáo dục đạo đức học sinh. Đối tượng nghị luận Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quan điểm nhân sinh như nhận thức, lối sống, tính cách, phẩm chất, tâm hồn, quan hệ gia đình – xã hội, cách ứng xử, … của con người. Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông, do đặc điểm tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên vấn đề đặt ra để bàn luận thường không quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những vấn đề đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hàng ngày như: tình cảm gia đình, quê hương, học tập, ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức... 9
  11. Các vấn đề đó thường được đặt ra trực tiếp hoặc gợi mở, đúc kết trong những câu tục ngữ, danh ngôn, ngụ ngôn hoặc câu nói của người nổi tiếng... Ví dụ: ống nư c nh ngu n, rung thực, hi m tốn, h n ái, hông c g qu hơn độc lập tự do… b hững điểm c n lưu trong đề bài nghị luận về một vấn đề tư tư ng đạo l – Vấn đề tư tưởng đạo lí có thể hoàn toàn đúng đắn, cần ca ngợi, kh ng định; hoặc hoàn toàn sai lầm, cần lên án, phê phán; cũng có thể vừa đúng, vừa sai. – Vấn đề tư tưởng đạo lí có thể chưa thật đầy đủ, toàn diện, cần bổ sung. – Đề bài nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí có thể chia ra theo hai dạng: + Dạng mệnh lệnh: mệnh lệnh trong đề thường là: h bàn luận, n u su nghĩ củ m nh, n u iến, n u nhận t, bà t thái độ, tr nh bà su nghĩ… Ch ng hạn: Nêu suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm: “Sống là cho đ u chỉ nhận sao đành” – Tố Hữu. + Dạng mở, không có mệnh lệnh: “Học phải đi đôi v i hành” “C học m i hay, có cày m i gi i” “Để cuộc đời tr n n c nghĩ , con người c n sống chậm lại, tận hư ng những vẻ đẹp cuốc sống” c. Phân loại: Nghị luận về tư tưởng, đạo lí thường tồn tại ở hai dạng: - NLXH bàn về một tính cách, phẩm chất hoặc một trạng thái tâm lí Ví dụ: + Tự trọng và kiêu; Tài và đức + Bàn về Sống đẹp, nơi dựa... - NLXH bàn về một hoặc hai nhận định. Nhận định có thể xuất hiện qua câu nói, câu thơ/lời hát, câu châm ngôn,.. Dạng đề này thường gặp trong các bài thi HSG, đề thi của học sinh Chuyên Ví dụ: + Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Sống trong đời sống c n có một tấm lòng Để làm gì em biết hông? Để gió cuốn đi” Suy nghĩ của em về ý nghĩa gợi ra từ lời hát? + Ngạn ngữ có câu: “Cuộc đời ngắn ngủi hông cho ph p t ư c vọng quá nhiều”. Nhưng nhà văn Nga lại viết: “ Phải ư c mơ nhiểu hơn nữa, phải ư c mơ tha thiết hơn nữ để biến tương l i thành hiện tại” Trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai câu nói trên. d. Cách làm dàn ý chung * Mở đoạn (khoảng 2 dòng) – Dẫn dắt ngắn gọn vào vấn đề: Giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lí cần nghị luận – Trích dẫn nếu cần. 10
  12. * Thân đoạn (khoảng 12 – 16 dòng): Luận điểm 1. Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận.  Là gì? – Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh chứa hàm ý hoặc chưa r nghĩa. – Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh trước, rồi mới khái quát ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí. – Cần dựa vào văn bản phần Đọc hiểu để giải thích ý, tránh suy diễn. Luận điểm 2. Phân tích, chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lí. Từ đó chỉ ra ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng đạo lí với đời sống xã hội.Thực chất là trả lời câu hỏi Tại sao? Như thế nào? Có tác dụng gì? Yêu cầu: Minh chứng bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể. – Dẫn chứng cần chân thực, hợp lí, tiêu biểu, phục vụ cho việc bàn luận. – Nên kết hợp các dẫn chứng quá khứ – hiện tại, trong nước – thế giới, người nổi tiếng – người bình thường, hiện thực – văn chương…, sao cho phong phú, đa dạng và giàu sức thuyết phục. – Có bốn cách lấy dẫn chứng phổ biến: + Cách 1. Lấy dẫn chứng bằng các hiện tượng có thật hiển nhiên, không thể phủ nhận (ví dụ: Quy luật tự nhiên, xã hội; đạo lí truyền thống…). + Cách 2. Lấy dẫn chứng bằng số liệu cụ thể, r ràng (ví dụ: thống kê con số đọc sách/ người). + Cách 3. Lấy dẫn chứng bằng gương sáng tiêu biểu, nổi tiếng, điển hình (ví dụ: Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Kí, Nickvujisic …). + Cách 4. Lấy dẫn chứng bằng lời nói của một người nổi tiếng (ví dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: C tài mà hông c đức là người vô dụng, c đức mà hông c tài th làm việc g c ng h …). Luận điểm 3. Bình luận, mở rộng vấn đề, nêu quan điểm cá nhân (thấy đúng, sai hay cả đúng cả sai). Lí giải cho quan điểm đó. Tại sao? – Lập luận bảo vệ cho quan điểm của mình, đồng thời bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề tư tưởng, đạo lí đang bàn luận. – Khi bàn luận, đánh giá cần thận trọng, khách quan, có căn cứ vững chắc. Luận điểm 4. Luận bàn, đánh giá các khía cạnh của vấn đề: phê phán hạn chế, ca ngợi, kh ng định hướng tích cực… Toàn diện, sâu sắc chưa? Yêu cầu: – Các em học sinh nên tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Tư tưởng đạo lí đã đầy đủ, toàn diện chưa? Có thể bổ sung thêm điều gì? 11
  13. – Cần xem xét từ nhiều góc độ, nhiều quan hệ để đánh giá và bổ sung cho hợp lí, chính xác, lật đi lật lại vấn đề, tránh phiến diện. – Có thể đưa ra các quan điểm khác biệt nhưng phải hợp lí và thuyết phục. Luận điểm 5. Thực hành tư tưởng đạo lí trong thực tế: nêu bài học nhận thức và hành động. Cần làm gì? Yêu cầu: – Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu. – Bài học cần chân thành và giản dị, phải hướng tới tuổi trẻ, ứng dụng thiết thực cho thực tế đời sống, không sáo rỗng, hình thức. – Nên rút ra hai bài học, một về nhận thức, một về hành động. *Kết đoạn (khoảng 4 dòng) – Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. – Đưa ra thông điệp hay lời khuyên cho mọi người. e Sơ đ tư du hư ng d n viết đoạn văn ( Sưu t m) g V dụ minh họ Các bậc phụ hu nh nh mến, thi củ các em học sinh đáng t i g n. Chúng tôi biết rằng các vị đều đ ng mong cho con mình sẽ giành được kết quả c o trong thi nà . Tuy nhiên, xin hãy nh rằng, trong số các em, những người có mặt tại thi, c người sẽ là một nghệ sĩ, người không c n hiểu sâu về Toán. C người sẽ là một doanh nhân, người không c n phải quá qu n t m đến lịch sử h văn học Anh. 12
  14. C người sẽ là một nhạc sĩ, người mà v i họ, môn học sẽ chẳng có ý nghĩ g nhiều. C người sẽ là một vận động viên, người mà việc rèn luyện thể chất sẽ quan trọng hơn là môn Vật l , giống như vận động viên Schooling của chúng ta. Nếu con bạn đạt điểm cao, điều đ thật là tuyệt vời. hưng nếu con không thể, in đừng làm mất đi sự tự tin và nhân phẩm của con. Hãy nói v i con rằng: ổn thôi mà, đ chỉ là một thi. Con được sinh ra trên đời cho những điều l n lao nhiều hơn thế. Hãy nói v i con rằng, dù điểm số của con là bao nhiêu, cha mẹ v n yêu con và không hề phán xét. Xin h làm như vậy, và nếu các vị thực hiện điều đ , hãy chờ xem con mình chinh phục thế gi i. Một thi h một điểm số kém sẽ không thể gạt b đi những ư c mơ và tài năng b n trong của các con. Và cuối cùng, in đừng nghĩ rằng chỉ c ĩ sư h bác sĩ m i là những người hạnh phúc duy nhất trên thế gi i này. (Trích Bức thư lạ của th y hiệu trư ng Singapore gửi phụ huynh khiến nhiều người phải suy ng m, http://kenh14.vn, ngày 26 – 8 – 2016) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của nh (Chị) về ý kiến của thầy Hiệu trưởng: Xin đừng nghĩ rằng chỉ c ĩ sư h bác sĩ m i là những người hạnh phúc duy nhất trên thế gi i này. H ỚNG D N L M B I – ác sĩ, ĩ sư là những người trí thức có trình độ văn hóa chuyên môn cao, có kiến thức chuyên sâu, được mọi người và xã hội xem trọng. – ạnh ph c là trạng thái sung sướng, vui vẻ, thoải mái, sảng khoái vì Giải cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. thích  Câu nói của thầy Hiệu trưởng muốn bác bỏ quan niệm: Chỉ những người đã đạt tới tầm cao của tri thức, có danh vọng mới có hạnh phúc. – Hạnh phúc trong cuộc sống rất phong phú, muôn màu muôn vẻ và có thể đến với bất kì ai khi thể hiện được năng lực bản thân; đạt được nguyện ước; chinh phục được những kế hoạch, mục tiêu đỉnh cao đặt ra Phân trong học tập, lao động, nghiên cứu… tích và 13
  15. chứng – Hạnh phúc đôi khi rất bình dị, đến từ những điều bé nhỏ, giản dị trong minh cuộc đời chứ không nhất thiết có được khi phải đạt được những bậc thang tri thức hay danh vọng xã hội. – Sống một cuộc đời ý nghĩa, sống cống hiến, làm nhiều việc tốt cho cộng đồng,… cũng là hạnh phúc. – Người hạnh phúc nhất là người mang hạnh phúc đến cho nhiều người nhất. Dẫn chứng Bàn luận – Được là chính bản thân mình; sống chân thành với đúng sở trường, và mở ước mơ; biết phát huy cao độ năng khiếu bản thân. rộng – Biết đồng cảm, sẻ chia, giúp đỡ người khác… – Phê phán những quan niệm lệch lạc; áp đặt chủ quan ích kỉ về hạnh phúc hoặc lối sống thờ ơ, phó mặc, không có ước mơ, không biết kiến tạo niềm vui. Bài – Cần hiểu thấu đáo, đúng đắn về hạnh phúc để sống hạnh phúc và giúp học người khác cũng sống vui vẻ. – Nâng niu, trân trọng những niềm vui bình dị quanh mình; phải biết sống, hành động vì hạnh phúc chân chính và bền lâu. 3.1.2 Dùng các đề về hiện tượng xã hội để giáo dục đạo đức học sinh. a Đối tượng nghị luận – Đề tài nghị luận là các hiện tượng đời sống đáng được suy nghĩ trong cuộc sống hàng ngày, nhất là các hiện tượng liên quan trực tiếp đến tuổi trẻ và có ý nghĩa đối với xã hội… – Các hiện tượng này có thể có ý nghĩa tích cực như: ý chí, nghị lực, tình yêu thương, hiến máu nhân đạo, phong trào tình nguyện… nhưng cũng có thể là những hiện tượng tiêu cực cần phê phán như: sự vô cảm, những trào lưu lạ, th i quen ấu, thảm họa của nhân loại… b hững điểm c n lưu trong đề bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống 14
  16. – Có sự việc, hiện tượng tốt, cần ca ngợi, biểu dương. – Có sự việc, hiện tượng không tốt, cần lưu ý, phê phán, nhắc nhở. – Có đề cung cấp sẵn sự việc, hiện tượng dưới dạng một câu chuyện, một mẩu tin để người làm bài sử dụng. – Có đề không cung cấp nội dung sẵn, mà chỉ gọi tên, người làm bài phải trình bày, mô tả sự việc, hiện tượng đó. – Mệnh lệnh trong đề thường là: n u nhận t, nêu iến, n u su nghĩ củ m nh, bà t thái độ, tr nh bà su nghĩ… – Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống thường có ba loại nhỏ: + Trình bày suy nghĩ về một hiện tượng trong đời sống xã hội: như nghị lực, ch , t nh u thương… + Trình bày suy nghĩ về hai hiện tượng trong đời sống xã hội trở lên: như thất bại và thành công, cho và nhận… Loại này cần xem xét quan hệ giữa hai hiện tượng. + Từ một hiện tượng thiên nhiên, trình bày suy nghĩ về đời sống xã hội như: iữ một vùng hô cằn s i đá, c ho dại v n mọc l n và n những đ ho thật đẹp; c u chu ện h i biển h P l t tin... c àn chung * Mở đoạn (khoảng 4 dòng) – Dẫn dắt ngắn gọn vào hiện tượng. – Nêu luôn thái độ đánh giá chung về hiện tượng đó. * Thân đoạn (khoảng 13 – 16 dòng): Luận điểm. Giải thích sơ lược hiện tượng, làm rõ các hình ảnh, khái niệm (nếu có trong đề bài). VD: Ô nhiễm môi trường, TNGT, bạo hành, mê muội thần tượng,.... Luận điểm. Nêu r thực trạng, các biểu hiện cụ thể trong cuộc sống của hiện tượng được nêu. Như thế nào? Có ảnh hưởng gì? Làm nổi bật tính cấp thiết của vấn đề. Yêu cầu: – Có thể nêu mối quan hệ của hiện tượng này với ngữ liệu phần Đọc hiểu. – Cần nêu những ví dụ, những trường hợp cụ thể, chi tiết và chân xác. – Nếu nhớ r , có thể trích nguồn hoặc thông tin. – Tuyệt đối không được đưa sai lệch thông tin, bịa đặt làm giảm tính thuyết phục 15
  17. Luận điểm 3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (Khách quan và chủ quan) Do đâu? Yêu cầu: – Nguyên nhân của hiện tượng xã hội: bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan; nguyên nhân sâu xa và trực tiếp, nguyên nhân tự nhiên và con người. – Nguyên nhân đưa ra cần hợp lí, chính xác. Luận điểm 4. Nêu đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, kết quả – hậu quả, bày tỏ thái độ biểu dương hay phê phán. Thái độ như thế nào? Yêu cầu: – Thái độ đánh giá khách quan, r ràng. – Có thể nêu những cách đánh giá mang màu sắc cá nhân, nhưng phải thuyết phục và hợp lí. Luận điểm 5. Biện pháp khắc phục hậu quả hoặc phát huy kết quả. Làm gì? Yêu cầu: Nguyên nhân nào thì giải pháp đó – Biện pháp đưa ra cần thiết thực, khả thi, không chung chung, trừu tượng. – Biện pháp bao gồm cả biện pháp của xã hội – cơ quan Nhà nước – cá nhân; biện pháp cả ý thức – hành động. Luận điểm 6. Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động. Bài học gì? Yêu cầu: – Bài học cho bản thân cần phù hợp với quan điểm, thái độ cá nhân nêu trước đó. – Cần nêu hai bài học: một bài học nhận thức, một bài học hành động. * Kết đoạn (khoảng 4 dòng) – Nêu suy nghĩ về tầm quan trọng của vấn đề đã nghị luận. – Đưa ra thông điệp, hay lời khuyên, lời kêu gọi cho mọi người. d Sơ đ tư du hư ng d n viết đoạn văn ( Sưu t m) 16
  18. A e V dụ minh họ Đề bài: Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tập thành công (như anh Nguyễn Ngọc Kí bị hỏng tay, dùng chân viết chữ; anh Hoa Xuân Tứ bị cụt tay, dùng vai viết chữ, anh Đỗ Trọng Khôi bị bại liệt đã tự học, trở thành nhà thơ; anh Trần Văn Thước bị tai nạn lao động, liệt toàn thân đã tự học, trở thành nhà văn…). Lấy nhan đề Những người không chịu thua số phận, em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về những con người ấy. Gợi ý Mở bài Cuộc sống vốn nhiều chông gai đòi hỏi con người phải có ý chí, nghị lực để vượt lên hoàn cảnh, vượt lên những khó khăn. + Anh Nguyễn Ngọc Kí, anh Hoa Xuân Tứ, anh Đỗ Trọng Khôi… đều là những người không may mắn nhưng vẫn tự mình vươn lên. + Họ là - những người không chịu thua số phận, là những tấm gương sáng cho chúng ta học tập. Thân bài - Giải thích ý nghĩa nhan đề + Số phận ở đây được hiểu là những nỗi khốn khổ hoặc bất hạnh (tàn tật, khiếm khuyết… về thể xác) của một ai đó. Xưa nay, số phận thường được nhiều người coi là sự an bài của ông trời, do trời định đoạt nên người có số phận bất hạnh thường có tâm lí cam chịu: 17
  19. + Những người không chịu thua số phận là những con người có ý chí, nghị lực niềm tin vào cuộc sống. Họ không đầu hàng trước số phận mà mạnh mẽ vươn lên để sống một cuộc đời có ích. - Biểu hiện của vấn đề + Những người không chịu thua số phận là những người: Có nhận thức đúng đắn về số phận (họ nhận ra rằng số phận nằm trong tay mỗi con người và họ quyết tâm vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính mình để tạo được cuộc sống tốt đẹp cho mình và người thân, để trở thành con người có ích…). Có nhiều đóng góp cho xã hội (họ tự phục vụ mình, làm ra của cải, giảm bớt gánh nặng cho gia đình, cho xã hội... + Họ là những tấm gương sáng (tấm gương vượt lên trên nỗi bất hạnh). + Nhắc đến những người không chịu thua số phận, chúng ta ai cũng vô cùng nể phục những tấm gương giàu nghị lực này. Ví dụ: + Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng vẫn quyết tâm đến trường, kiên trì học viết bằng chân, học hết đại học, trở thành nhà giáo ưu tú, nhà văn, nhà thơ. Từ nghị lực và ý chí vượt khó vươn lên của bản thân, thầy Nguyễn Ngọc Kí đã viết lên trang huyền thoại cho chính cuộc đời mình và trở thành tấm gương cho biết bao thế hệ học sinh, thanh niên Việt Nam. + Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng từ khi còn nhỏ đã bị bệnh hiểm nghèo khiến anh bị liệt toàn thân, nhưng anh vẫn cố gắng học tập ở trung tâm tin học dành cho người khuyết tật, anh luôn xác định hướng đi trong đời mình, có niềm tin vào cuộc sống. Anh làm cho mọi người cảm phục bởi ý nghĩa đời mình, có niềm vui vào cuộc sống. Anh làm cho mọi người cảm phục bởi ý thức vươn lên trong cuộc sống, sống có ích và cống hiến cho xã hội… + Nick Vujicic – chàng trai người Úc sinh ra với cơ thể không tay, không chân nhưng điều đó không khiến anh nản chí. Vượt qua những khiếm khuyết trên người mình, anh trở thành một diễn giả nổi tiếng khắp thế giới, được mọi người biết đến một tấm gương của sự vượt khó… + Họ chính là những tấm gương tiêu biểu cho một lẽ sống đẹp, không chịu khuất phục trước sự nghiệt ngã của số phận. - Nguyên nhân giúp họ có sức mạnh vượt lên số phận? + Có ý chí nghị lực, có niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống. + Tạo dựng cuộc sống từ muôn vàn khó khăn, thử thách; kiên trì, nhẫn nại và quyết tâm chiến thắng số phận của mình. + Họ luôn hướng về phía mặt trời. 18
  20. + Nhờ sự động viên, khích lệ của mọi người và sự quan tâm của xã hội, họ đã có đủ dũng cảm, tự tin để vượt qua hoàn cảnh, số phận. - Ý nghĩa của vấn đề + Không chịu thua số phận giúp họ có tinh thần, quyết tâm vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính mình để sống có ích, cống hiến cho xã hội. + Tàn nhưng không phế, bằng khả năng của mình, họ đã có nhiều thành công và kh ng định được mình trong xã hội. Hơn hết, họ là những tấm gương sáng đem đến cho chúng ta bài học sâu sắc về nghị lực và ý chí vươn lên. + Chính những tấm gương của họ đã dạy cho chúng ta phải biết vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để thực hiện hoài bão ước mơ. - Phản đề + Phê phán những cá nhân không kiên cường, nhụt chí trước chông gai cuộc sống. + Mỗi khi gặp khó khăn họ thường rất dễ nản lòng, dễ buông xuôi hoặc ỷ lại, phản ứng tiêu cực…. Đó là những người hèn nhát, không dám đối diện với sự thật nên khó thành công trong mọi việc. - Trách nhiệm của chúng ta: + Giúp đỡ người tàn tật là trách nhiệm của cả cộng đồng (giúp đỡ họ không chỉ là trách nhiệm của những tổ chức nhân đạo, các cơ quan chính quyền mà còn có trách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta). + Giúp đỡ người tàn tật là biểu hiện sâu sắc nhất của lòng nhân ái. Kết bài - Những người không chịu thua số phận mãi mãi được mọi người yêu quý nể phục và kính trọng. - Rút ra được nhiều bài học bổ ích về lẽ sống, về ý chí, nghị lực, niềm tin, khát vọng… + Ngưỡng mộ họ, sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ để họ bớt đi những đau đớn. 3.1.3. Dùng các đề nghị luận xã hội được rút ra từ tác phẩm văn học để giáo dục đạo đức học sinh. - Xác định vấn đề xã hội được đặt ra từ phần đọc - hiểu hoặc câu chuyện. - Sau đó đưa vấn đề về đúng dạng đã trình bày ở trên và triển khai theo dàn ý hoặc nghị luận về một tư tưởng đạo lý hoặc nghị luận về hiện tượng đời sống. Cá biệt cũng có trường hợp nghị luận đồng thời hai quan điểm về tư tưởng hoặc hiện tượng. 19
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2