Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:38

8
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11" nhằm tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng để đưa ra các giải pháp mới trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục các kĩ năng cần thiết hiện nay cho học sinh tại trường THPT Tân Kỳ 3.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 LĨNH VỰC: NGỮ VĂN
  2. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT TÂN KỲ 3 =====  ===== SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 LĨNH VỰC: NGỮ VĂN Tên tác giả : Nguyễn Thị Thanh Huyền Tổ : Văn - Ngoại ngữ Năm thực hiện: 2021 - 2022 Số điện thoại : 0947056040
  3. MỤC LỤC Trang PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ1 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 1 3. Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu 2 4. Phương pháp nghiên cứu 2 5. Tính mới, tính khoa học và tính hiệu quả của đề tài 2 6. Bố cục của đề tài 3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4 I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài 4 1. Cơ sở lí luận 4 1.1. Quan niệm về kĩ năng sống 4 1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở nhà trường THPT 4 1.3. Thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT hiện nay 5 2. Cơ sở thực tiễn 5 II. Một số kĩ năng chủ yếu được lồng ghép trong môn Ngữ văn 7 1. Kĩ năng tự nhận thức bản thân 7 2. Kĩ năng giao tiếp 7 3. Kĩ năng tư duy sáng tạo 7 4. Kĩ năng giải quyết vấn đề 7 5. Kĩ năng tư duy phản biện 8 6. Kĩ năng hợp tác 8 III. “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11” 8 IV. Thực nghiệm sư phạm……………………………………………………..22 1. Kế hoạch thực nghiệm……………………………………………………..22 2. Tiến trình thực nghiệm …………………………………………………...22 3. Kết quả thực nghiệm………………………………………………………25 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27 1. Kết luận 27 2. Đề xuất 27
  4. PHỤ LỤC 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………33 1
  5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ 1 GD- ĐT Gíao dục đào tạo 2 GV Giáo viên 3 HS Học sinh 4 PP Phương pháp 5 SGK Sách giáo khoa 6 SKKN Sáng kiến kinh nghiệm 7 THPT Trung học phổ thông
  6. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài Lứa tuổi THPT là giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành, một số em đã dần khẳng định bản thân trước bạn bè, thầy cô và gia đình, các em biết sống tích cực, có niềm tin cũng như mục tiêu để vươn tới. Nhưng, bên cạnh đó, một số không nhỏ các em khác lại rơi vào thực trạng thiếu tự tin, sống vô tâm, thiếu trách nhiệm, ích kỉ, vô cảm, dẫn đến hiện tượng khi có cơ hội thể hiện mình các em thường tỏ ra e ngại, lúng túng hoặc không thể xử lí tình huống mặc dù tình huống gặp phải rất đơn giản. Một thực tế cho thấy, nhiều gia đình hiện nay chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền để đáp ứng nhu cầu về vật chất cho con em mà lãng quên dạy bảo những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống như ứng xử, giao tiếp, tự bảo vệ, … dẫn đến thế hệ trẻ hiện nay phát triển chưa toàn diện. Bởi vậy, cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học, hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo đang tìm tòi lời giải cho bài toán trang bị kĩ năng sống cho học sinh, làm thế nào để các em bước vào đời tự tin, vững vàng đang là trăn trở của ngành giáo dục. Là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn THPT, hơn nữa lại ở một trường miền núi, Trường THPT Tân Kỳ 3, nhận thấy ưu thế của bộ môn Ngữ văn trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Chính vì thế tôi chọn đề tài:" Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11"để cùng trao đổi một số kinh nghiệm nhỏ cùng với đồng nghiệp với mong muốn giáo dục, hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh THPT qua một số tác phẩm văn học trong nhà trường. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng để đưa ra các giải pháp mới trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục các kĩ năng cần thiết hiện nay cho học sinh tại trường THPT Tân Kỳ 3. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nêu lên cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. - Phân tích thực trạng, hạn chế của những giải pháp đã áp dụng, nguyên nhân của những hạn chế đó. - Thiết kế các giải pháp tiếp cận mới, có tính thực tiễn, có tính khả thi cao. - Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng hiệu quả của các phương pháp giáo 1
  7. dục kĩ năng sống đối với học sinh THPT nói chung và THPT Tân Kỳ 3 nói riêng. 3. Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tại lớp 11A1 và 11A2, Trường THPT Tân Kì 3. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Với đề tài “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11”, người viết chỉ muốn giúp học sinh thông qua một số tiết học trong chương trình Ngữ văn 11 để nâng cao nhận thức, kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt trong cuộc sống hàng ngày; có những suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống. 3.3. Kế hoạch, thời gian thực hiện Thời gian Nội dung Tháng 8/2021 - Tháng 10/ 2021 Hoàn thành đề cương SKKN. Tháng10/2021- Tháng 4/2022 Áp dụng để kiểm định và hoàn thành SKKN. 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp so sánh đối chiếu (trước và sau khi thực nghiệm đề tài). - Phương pháp quan sát thực tiễn. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp phân tích, tổng hợp (Phân tích nguyên nhân, tổng hợp kết quả). Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động, để học sinh tự cảm nhận, đánh giá, nhận xét qua các hành vi và từ đó hình thành các kĩ năng; thực hiện phối hợp trong và ngoài nhà trường, làm tốt công tác xã hội hóa trong việc giáo dục kĩ năng sống. 5. Tính mới, tính khoa học và tính hiệu quả của đề tài 5.1. Tính mới của đề tài - Bố sung lí luận, hệ thống phương pháp đối với giáo dục kĩ năng sống . - Vận dụng lí thuyết phương pháp vào thực tiễn cụ thể. - Phân tích những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân của các giải pháp đã thực thi. - Xây dựng các phương pháp mới trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT. 5.2. Tính khoa học của đề tài 2
  8. - Nội dung của đề tài được trình bày khoa học, các luận điểm, luận cứ và các thông số có tính xác thực. - Đề tài đáp ứng được quan điểm giáo dục, mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay. 5.3. Tính hiệu quả của đề tài - Đề tài áp dụng có hiệu quả trong quá trình giáo dục để nhận ra điểm mạnh của học sinh. - Đề tài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường THPT Tân Kì 3. 6. Bố cục của đề tài Ngoài Đặt vấn đề, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 mục: I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT. II. Một số kĩ năng chủ yếu được lồng ghép trong môn Ngữ văn. (Phương pháp tiếp cận và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số văn bản Ngữ văn 11). III. “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11”. IV. Thực nghiệm sư phạm. 3
  9. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở lí luận 1.1. Quan niệm về kĩ năng sống Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống: - Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng có hành vi thích ứng và tích cực, giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. - Theo Quĩ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới, vừa tiếp thu kiến thức, vừa hình thành thái độ và kĩ năng. - Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kĩ năng sống gắn với bốn trụ cột giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình. Như vậy kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của kĩ năng sống là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Kĩ năng sống chính là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước những tình huống của cuộc sống. 1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở nhà trường THPT - Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, có thể nói kĩ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. - Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với giới trẻ. - Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông là xu thế của nhiều nước trên thế giới. Tổ chức chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA với cách đánh giá vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn; triển khai phương pháp dạy học “ Bàn tay nặn bột”, là phương pháp dạy học khoa học được tiến hành dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho chính mình. 4
  10. - Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Với đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức nặng lí thuyết sang trang bị năng lực cần thiết và phẩm chất cho người học. Điều này càng khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưa giáo dục kĩ năng sống vào trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáo dục. 1.3. Thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT hiện nay - Theo điều 2 của Luật Giáo dục năm 2005, mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy, về nội dung và phương pháp giáo dục trong nhà trường là còn xem trọng việc dạy chữ chưa chú trọng đúng mực dạy làm người, nhất là việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Chính vì lẽ đó, Thông báo 242 - TB/TW ngày 15/4/ 2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo dến năm 2020, nêu lên một trong những hạn chế của giáo dục phổ thông là: “ Giáo dục mới chỉ quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, kĩ năng sống và “ dạy nghề” cho thanh thiếu niên. - Trước đây, khi xây dựng chương trình dạy học trên lớp giáo viên chưa chú ý xây dựng 3 mục tiêu: kiến thức, kĩ năng, thái độ hơn nữa nhiều khi do chạy đua với thời gian mà giáo viên quan tâm nhiều đến kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kĩ năng cho học sinh, nhất là kĩ năng ứng xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống. Nhưng hiện nay, giáo dục kĩ năng sống tuy chưa được bố trí thành môn học riêng trong các môn học của nhà trường phổ thông vì kĩ năng sống phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp. Do đó, giáo dục kĩ năng sống phải thực hiện lồng ghép thông qua các môn học và trong các hoạt động giáo dục. Vì vậy, cơ hội thực hiện giáo dục kĩ năng sống rất nhiều và rất đa dạng như thông qua các môn học, chủ đề tự chọn, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệm, … - Trong thời gian vừa qua, dù kĩ năng sống có được quan tâm nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể, tình trạng học sinh thiếu kĩ năng sống vẫn xảy ra, biểu hiện qua các hành vi ứng xử chưa phù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế về các tình huống trong cuộc sống; ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi công cộng; thiếu lễ độ với thầy cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi; chưa có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, gây phiền hà cho người khác khi sử dụng điện thoại, … 2. Cơ sở thực tiễn Giáo dục kĩ năng sống ngày càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ. Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, ham hiểu 5
  11. biết, thích tìm tòi, khám phá, giàu ước mơ song hiểu biết về cuộc sống xã hội chưa được sâu sắc, còn thiếu kinh nghiệm sống, thiếu bản lĩnh để từ chối, dễ bị lôi kéo , kích động. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường chịu sự chi phối của cả hai yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen, lứa tuổi này lại được đặt trong hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào những hành vi bạo lực, tiêu cực, sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, phát triển nhân cách lệch lạc, méo mó. Học sinh hiện nay dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn như nghiện hút, bạo lực học đường, đua xe,… chính là do các em thiếu những kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp,… được chia làm ba nhóm sau: Kĩ năng nhận thức, Kĩ năng để đương đầu với cảm xúc, Kĩ năng xã hội hay kĩ năng để tương tác với thế giới xung quanh. Trên thực tế hiện nay, học sinh ở trường THPT cần được giáo dục các kĩ năng sống sau đây: - Kĩ năng tự nhận thức: tự nhìn nhận đánh giá bản thân để đi đến giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như có thể cảm thông được với người khác. - Kĩ năng kiềm chế cảm xúc và đối phó với căng thẳng. - Kĩ năng thể hiện sự tự tin. - Kĩ năng giao tiếp. - Kĩ năng lắng nghe tích cực. - Kĩ năng tư duy sáng tạo. - Kĩ năng quản lí thời gian. - Kĩ năng giữ gìn vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân. - Kĩ năng làm việc theo nhóm. - Kĩ năng phân biệt hành vi đúng, sai. - Kĩ năng trình bày ý kiến, diễn đạt, thuyết trình trước đám đông. - Kĩ năng ứng phó với bạo lực học đường. Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi, có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và tổ quốc, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa và lành mạnh. 6
  12. II. Một số kĩ năng chủ yếu được lồng ghép trong môn Ngữ văn 1. Kĩ năng tự nhận thức bản thân Đây là kĩ năng cần thiết đối với mỗi người, giúp chúng ta đưa ra những hành động và suy nghĩ đúng đắn nhất. Tự nhận thức bản thân là khả năng hiểu rõ chính xác bản thân mình, biết mình cần gì, muốn gì, đâu là điểm mạnh và điểm yếu của mình, nhận thức được tư duy và niềm tin của mình, cảm xúc và những động lực thúc đẩy trong cuộc đời. Kĩ năng nhận thức bản thân không những giúp hiểu bản thân mà còn dễ dàng hiểu được người khác, cách họ suy nghĩ cũng như thái độ và sự phản hồi. 2. Kĩ năng giao tiếp Jim Rohn đã từng có câu nói: “Nếu bạn chỉ giao tiếp, bạn có thể tồn tại. Nhưng nếu bạn giao tiếp khéo léo, bạn có thể tạo ra điều kỳ diệu”. Giao tiếp - một hành động gần gũi với cuộc sống thường nhật, tưởng chừng là điều ai cũng có thể dễ dàng nắm bắt, nhưng thực ra là nỗi niềm khiến nhiều người băn khoăn. Warren Buffet - một nhà đầu tư, một doanh nhân huyền thoại người Mỹ cũng phải thốt lên rằng ông ước mình được trao dồi kỹ năng giao tiếp nhiều hơn khi còn là sinh viên đại học. Hay Les Brown, người từng vượt qua một tuổi thơ cô độc để trở thành diễn thuyết gia nổi tiếng đất Mỹ cũng đã khẳng định: “Kỹ năng giao tiếp là một công cụ quan trọng trong cuộc hành trình theo đuổi mục tiêu, dù là với gia đình, đồng nghiệp hay khách hàng của bạn”. Kĩ năng giao tiếp là khả năng truyền đạt thông điệp, các tín hiệu, lắng nghe, trao đi và nhận lại phản hồi giữa chủ thể giao tiếp(người nói) và đối tượng giao tiếp (người nghe) nhằm đạt được một mục đích giao tiếp nhất định. Do đó kĩ năng giao tiếp có liên quan đến khả năng nghe - nói , quan sát, và cảm thông của cả chủ thể và đối tượng giao tiếp. 3. Kĩ năng tư duy sáng tạo Có hai người cùng nhìn xuống. Một người chỉ thấy vũng nước, người kia lại nhìn thấy những vì sao. Khi xử lý một vấn đề trong cuộc sống, những ý tưởng sáng tạo và hiệu quả là luôn cần thiết. Cho nên sự sáng tạo tạo nên điểm khác biệt. Tư duy sáng tạo là khả năng phát minh hoặc tạo ra một điều gì đó mới mẻ. Đó có thể là một khái niệm, một giải pháp, một phương pháp, một tác phẩm nghệ thuật hoặc một thiết bị. Tư duy sáng tạo dựa trên việc nhìn mọi thứ theo một cách mới mà trước đây chưa từng được nghĩ đến. 4. Kĩ năng giải quyết vấn đề Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng xử lí và đưa ra quyết định khi gặp những tình huống bất ngờ, ngoài ý muốn. Con người luôn cần có kĩ năng giải quyết vấn đề bởi cuộc sống luôn có những điều bất ngờ đòi hỏi chúng ta phải có 7
  13. cách xử lí linh hoạt. Bởi cuộc sống là một chuỗi các vấn đề phát sinh, con người thường lúng túng không biết làm gì, ra quyết định thế nào để xử lí vấn đề một cách nhanh gọn. Khi con người có khả năng giải quyết vấn đề thì sẽ giải được các bài toán khó trong cuộc sống và trong công việc. 5. Kĩ năng tư duy phản biện Tư duy phản biện là khả năng suy nghĩ rõ ràng và hợp lý về những gì nên tin và những gì phải làm. Kỹ năng tư duy phản biện là khả năng phân biệt giữa thật và giả, ý kiến và phán đoán, khả năng tham gia vào suy nghĩ độc lập và ngược lại và thu thập thông tin, cũng như hiểu mối quan hệ logic giữa các ý tưởng, biết các mâu thuẫn logic và khả năng dự đoán của cá nhân. 6. Kĩ năng hợp tác Ken Blanchard - tác giả cuốn sách “Vị giám đốc 1 phút” từng nói: “Không một ai trong chúng ta thông minh bằng tất cả chúng ta. Đoàn kết sẽ tạo ra sức mạnh nâng đỡ các cá nhân. Từ các công ty nổi tiếng như Apple, Disney đến các tập thể đơn lẻ thành công đều được xây dựng và tiếp sức từ những đội nhóm để thành công. Hay câu chuyện đàn chim luôn bay hình chữ V để vừa lợi dụng lực vỗ cánh, vừa dễ dàng thay thế, giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau. Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau. Có thể thấy, hợp tác là một kỹ năng vô cùng cần thiết để vươn xa hơn trong công việc và cuộc sống, đòi hỏi sự trao dồi và thực hành bản thân hàng ngày. Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết cùng làm việc có hiệu quả với các thành viên khác. Hợp tác trong công việc sẽ giúp mọi người khắc phục các hạn chế và phát huy những điểm mạnh để đạt chất lượng và hiệu quả công việc cao hơn và sống hòa hợp với người khác. Kỹ năng hợp tác giúp học sinh hỗ trợ, hoàn thiện cho nhau để hoàn thành tốt các hoạt động học tập và hoạt động bổ trợ khác cũng như giúp các em biết cách làm việc cùng nhau trong nhiều môi trường khi trưởng thành. Có rất nhiều kĩ năng được hình thành cho học sinh trong quá trình dạy học. Nhưng không có kĩ năng nào là “vạn năng” nên đòi hỏi mỗi người phải áp dụng linh hoạt, đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng hoàn cảnh thì hiệu quả mới cao.Và trên đây là sáu kĩ năng cơ bản mà giáo viên đã lồng ghép trong quá trình dạy học môn Ngữ văn. Nhưng đối với đặc thù riêng của những văn bản tôi đưa vào lồng ghép thì chủ yếu để hình thanh 3 kĩ năng cơ bản sau: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng tự nhận thức. Ngoài một số kĩ năng trên trong giờ dạy giáo viên còn áp dụng linh hoạt một số kĩ năng khác. III. “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11” Bài 1: Vội vàng (Xuân Diệu) 8
  14. A. Mức độ cần đạt: 1. Về kiến thức: - Cảm nhận được lòng ham sống bồng bột, mãnh liệt, niềm khao khát giao cảm với đời và quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ mới mẻ của Xuân Diệu. - Đặc sắc nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám. 2. Về kỹ năng: Tiếp cận và phân tích một bài thơ Mới qua cảm hứng, ngôn từ, hình ảnh thơ, … 3. Về thái độ: Thêm yêu tuổi trẻ, yêu cuộc sống, góp phần làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp. B. Kỹ năng sống cơ bản: 1. Giao tiếp: Thể hiện sự cảm thông, trân trọng với niềm say mê và nỗi băn khoăn của hồn thơ Xuân Diệu. 2. Suy nghĩ sáng tạo: Phân tích, bình luận về triết lý sống, về khát vọng sống mãnh mẽ, cuồng nhiệt của hồn thơ Xuân Diệu, về hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu của bài thơ. 3. Tự nhận thức: Về mục đích, giá trị cuộc sống đối với mỗi cá nhân(biết quí trọng thời gian, tuổi trẻ và biết làm cho cuộc sống của mình có ý nghĩa). C. Phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng: 1. Động não: Suy nghĩ, lựa chọn thông tin, trình bày ngắn gọn. 2. Tưởng tượng hình ảnh: tưởng tượng và tái hiện bức tranh thiên nhiên(hình ảnh, âm thanh, đường nét, màu sắc, hương thơm, …) 3. Trao đổi, thảo luận và trình bày: về quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu (quan niệm về mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu; biết quí trọng thời gian, tuổi trẻ, biết sống có ý nghĩa. D. Tiến trình tổ chức bài học: Hoạt động 1: Khởi động. - Hoạt động này nhằm rèn luyện các kĩ năng: Kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng lắng nghe tích cực. - GV giao nhiệm vụ: + Trình chiếu tranh ảnh, cho học sinh xem tranh ảnh (CNTT) + Chuẩn bị bảng lắp ghép. * Học sinh: 9
  15. + Nhìn hình đoán tác giả. + Lắp ghép tác phẩm với tác giả. + Đọc, ngâm thơ liên quan đến tác giả. - Học sinh thực hiện nhiệm vụ : - Học sinh báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ: Từ đó giáo viên giới thiệu vào bài mới: Các em thân mến! Phong trào thơ Mới 1930 - 1945 đã có đóng góp to lớn và làm sâu sắc hơn quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà. Xuân Diệu là nhà thơ được nhắc đến nhiều nhất và là nhà thơ tiêu biểu nhất cho nền thơ ca thời kì này. Xuân Diệu - một tâm hồn thơ yêu đời, tha thiết, rạo rực, khao khát mãnh liệt và sống hết mình với thời gian và tuổi trẻ. Để hiểu rõ hơn về con người và tài năng nghệ thuật của ông chúng ta tìm hiểu tác phẩm « Vội vàng » . Hoạt động 2: Hình thành kiến thức: Thao tác 1: Tìm hiểu chung. - Sử dụng phương pháp hỏi - đáp và thảo luận chung cả lớp. - Tìm hiểu tác giả, tác phẩm. Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu phần tiểu dẫn trong sách giáo khoa và tóm tắt theo các ý sau: + Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú. + Tác phẩm: rút từ tập Thơ thơ (1938), tập thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu - “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. (Giáo viên gợi vấn đề, nêu vấn đề: lòng yêu cuộc sống và quan niệm nhân sinh mới mẻ của nhà thơ Xuân Diệu) Thao tác 2: Đọc - hiểu bài thơ. - Sử dụng phương pháp hỏi - đáp và thảo luận chung cả lớp. - Đọc và tìm hiểu bài thơ đảm bảo được những nội dung sau: + Niềm ngây ngất trước cảnh sắc trần gian và nêu lí lẽ vì sao phải sống vội vàng. Xuất phát từ quan niệm về hạnh phúc trần gian, thời gian và tuổi trẻ, nhà thơ bắt đầu bộc bạch với mọi người và cuộc đời. + Phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc và qua đó thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này đẹp nhất là con người với tuổi trẻ và tình yêu. + Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trong sự chảy trôi nhanh chóng của thời gian. 10
  16. + Quan niệm về thời gian tuyến tính một đi không trở lại. + Cảm nhận đầy bi kịch về sự sống, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, tàn phai, phôi pha, mòn héo. + Cuộc sống trần gian đẹp như một thiên đường, trong khi đó thời gian một đi không trở lại, đời người ngắn ngủi nên chỉ có một cách là sống vội. + Vội vàng là cách chạy đua với thời gian, sống mạnh mẽ đủ đầy với từng giây, từng phút của sự sống, thể hiện sự mãnh liệt của cái tôi đầy ham muốn. + Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí. + Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ. + Sử dụng ngôn ngữ, nhịp điệu sôi nổi, dồn dập, hối hả, cuồng nhiệt. => Ý nghĩa bài thơ: Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu - nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời. Hoạt động 3: Luyện tập. - Phương pháp: tranh luận. - Giáo viên đưa ra các vấn dề tranh luận: “ Có ý kiến cho rằng bài thơ Vội vàng thể hiện quan niệm sống mới mẻ, tích cực và có giá trị nhân văn sâu sắc; lại có ý kiến cho rằng bài thơ Vội vàng chỉ thể hiện một tư tưởng hưởng lạc, sống gấp”. Ý kiến của em như thế nào? + Vấn đề đưa ra cho học sinh thảo luận nhằm nâng cao kỹ năng tự nhận thức cho học sinh. + Học sinh có thể tự do phát biểu ý kiến của mình, có thể đồng ý hoặc không đồng ý với ý kiến trên nhưng cần có sự lí giải để bảo vệ ý kiến của mình và cần biết tìm lí lẽ để phản biện lại ý kiến của người khác.. Giáo viên nhận xét và chốt lại: Vội vàng thể hiện quan niệm sống mới mẻ, tích cực và có giá trị nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu cuộc sống thiết tha, ý thức về sự trôi chảy của thời gian, biết sống hết mình, hãy biết quí trọng từng giây từng phút của cuộc đời và tuổi trẻ. Đây là quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu. Hoạt động 4: Vận dụng. Bài tập 1: Bài học mà Xuân Diệu đem đến cho bản thân em qua bài thơ “Vội vàng”? - Bài tập này nhằm giáo dục cho học sinh kĩ năng tự nhận thức về mục đích, giá trị của cuộc sống. - Học sinh có thể trình bày nhanh những điều sâu sắc rút ra từ bài thơ về quan niệm sống vội vàng, gấp gáp, cuồng nhiệt. - Học sinh có thể trình bày những ý kiến khác nhau do sự cảm nhận khác 11
  17. nhau của từng em, do vậy giáo viên cần tôn trọng ý kiến của học sinh và điều chỉnh nhận thức nếu có gì sai lệch. Giáo viên có thể định hướng: Là một thanh niên trong xã hội mới, cần phải biết sống hết mình, mãnh liệt và say mê, biết quí trọng thời gian, tuổi trẻ, không để tất cả trôi qua một cách vô nghĩa, sống hài hòa giữa cái riêng và cái chung, sống có ích cho bản thân và cho mọi người. Bài tập 2: Viết một đoạn văn khoảng ½ trang giấy trình bày suy nghĩ của em về cách sống của thanh niên hiện nay. - Phương pháp: Viết sáng tạo. - Bài tập nhằm giáo dục cho học sinh kĩ năng giao tiếp, bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc. + Học sinh thực hiện bài viết này ở nhà và giáo viên đánh giá bài viết vào tiết sau. + Giáo viên có thể định hướng cho học sinh: một bộ phận thanh niên hiện nay có lối sống không lành mạnh, ăn chơi, đua đòi, với quan niệm sống hết mình là phải tranh thủ ăn chơi trong những vũ trường, hút hit để thử cảm giác mạnh, đua xe, … đó là mặt trái của chủ nghĩa cực đoan, ích kỉ và tệ hại … lối sống đó cần phải được loại bỏ; mặt khác, cũng phải chống lại lối sống trì trệ, tầm thường, nhàn nhạt, trung bình chủ nghĩa của một bộ phận thanh niên khác. Làm sao để hài hòa giữa cá nhân và tập thể, riêng và chung, sống hết mình và có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Hoạt động 5: Tìm tòi, mở rộng. - Phương pháp: Sáng tạo, phát huy sở trường. - Bài tập: Chọn đoạn thơ, hình ảnh nào đó trong bài thơ và tái hiện bằng nghệ thuật hội họa. + Học sinh làm ở nhà. + Giáo viên kiểm tra việc thực hiện của học sinh ở tiết sau: - Bài tập này tạo cơ hội cho học sinh phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện kĩ năng hội họa cho học sinh. Không bắt buộc tất cả các học sinh phải tham gia. => Thông qua việc tìm hiểu Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng, giáo viên lồng ghép giáo dục quan niệm sống, thái độ sống cho học sinh trong bối cảnh xã hội hiện nay. Cái tôi Xuân Diệu điển hình cho thời đại Thơ mới: thiết tha với cuộc sống trần thế; khao khát sống mãnh liệt và tâm thế sống cuồng nhiệt; quan niệm táo bạo về giải phóng con người cá nhân; ý thức ráo riết về giá trị đời sống cá thể. Bài 2: Từ ấy (Tố Hữu). A. Mức độ cần đạt: 12
  18. 1. Về kiến thức: Cảm nhận được niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản. 2. Về kĩ năng: Hiểu được sự vận động của các yếu tố trong thơ trữ tình: tứ thơ, hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu, … 3. Về thái độ: Bài học về lí tưởng sống, tìm được lí tưởng đúng đắn và quyêt tâm thực hiện lí tưởng; luôn có sự gắn bó hòa nhập với mọi người. B. Kĩ năng sống cơ bản: 1. Tự nhận thức: Xác định giá trị cho bản thân về một cuộc sống có lí tưởng đúng đắn, gắn bó, hòa nhập với mọi người. 2. Giao tiếp: Trình bày suy nghĩ, ý tưởng về một tâm hồn sôi nổi, tràn đầy niềm vui, tinh thần lạc quan của người thanh niên khi lần đầu được đón nhận ánh sáng của lí tưởng cách mạng. 3. Suy nghĩ sáng tạo: Phân tích, bình luận về quan niệm sống đúng đắn, cao đẹp của người thanh niên cách mạng. C. Các phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng: 1. Đối thoại: Học sinh lắng nghe, phản hồi tích cực trước những câu hỏi gợi mở của giáo viên. 2. Tưởng tượng bằng hình ảnh: Khơi gợi trí tưởng tượng khi phân tích hình ảnh thơ để diễn tả tâm trạng. 3. Thảo luận nhóm: Học sinh trao đổi về những chuyển biến trong nhận thức, tình cảm của nhân vật trữ tình khi bắt gặp lí tưởng cộng sản. 4. Trình bày: Trình bày những ấn tượng sâu đậm về nội dung và hình thức. D. Tiến trình tổ chức bài học: Hoạt động 1: Khởi động. - Hoạt động này nhằm rèn luyện kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng thể hiện sự tự tin. - GV giao nhiệm vụ: + Trình chiếu một đoạn thuyết minh về tác giả Tố Hữu. + Chuẩn bị đoạn thuyết minh. * Học sinh: + Nhìn hình ảnh. + Lắng nghe và cảm nhận. + Đọc, ngâm thơ liên quan đến tác giả. - Học sinh thực hiện nhiệm vụ : 13
  19. - Học sinh báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ: Từ đó giáo viên giới thiệu vào bài mới: trong văn học Việt Nam, Tố Hữu được xem là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng. Từ một thanh niên trí thức tiểu tư sản, được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu trở thành một chiến sĩ cộng sản. Tập thơ Từ ấy có ý nghĩa như một tuyên ngôn về lẽ sống của người chiến sĩ Cách mạng và tuyên ngôn của một nhà thơ. Đề hiểu hơn bài thơ, ta đi tìm hiểu bài thơ. Hoạt động 2: Hình thành kiến thức: Thao tác 1: Tìm hiểu chung. - Phương pháp: Thảo luận chung. - Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tác giả và tác phẩm qua phần tiểu dẫn, giáo viên chốt lại các ý sau: + Tố Hữu được đánh giá là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. + Thơ trữ tình - chính trị: thể hiện lẽ sống, lí tưởng, tình cảm của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc truyền thống. + Bài thơ Từ ấy thuộc phần Máu lửa của tập thơ Từ ấy, sáng tác tháng 7/1938, đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu. - Giáo viên gợi mở, nêu vấn đề: niềm vui sướng và những chuyển biến kì diệu của người thanh niên khi gặp ánh sáng lí tưởng của Đảng. Thao tác 2: Đọc - hiểu văn bản. - Giáo viên gợi dẫn cho học sinh tìm hiểu bài thơ theo nội dung: + Khổ thơ 1: Niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng. * Hai câu đầu: Là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng Cách mạng, ánh sáng của lí tưởng mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm. * Hai câu sau: Cụ thể hóa ý nghĩa, tác động của ánh sáng lí tưởng. Liên hệ, so sánh; thể hiện vẻ đẹp và sức sống mới của tâm hồn cũng là hồn thơ Tố Hữu. + Khổ thơ 2: Nhận thức mới về lẽ sống. Ý thức tự nguyện và quyết tâm vượt ra khỏi giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người, với cái ta chung để thực hiện lí tưởng giải phóng giai cấp, dân tộc. Từ đó khẳng định mối liên hệ sâu sắc với quần chúng nhân dân. + Khổ thơ 3: Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm. Từ những nhận thức sâu sắc về lẽ sống mới, tự xác định mình là thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ. - Giáo viên gợi dẫn cho học sinh tìm hiểu bài thơ theo nghệ thuật: Hình ảnh thơ trong sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng; ngôn ngữ gợi cảm, giàu 14
  20. nhạc điệu; giọng thơ sảng khoái, nhịp điệu thơ hăm hở, … + Bài thơ thể hiện niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản. Hoạt động 3: Luyện tập. Phần luyện tập giúp học sinh có kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin: xác định chủ đề, lập kế hoạch, tiến hành thu thập, đối chiếu so sánh đạt hiệu quả trong công việc. - Phương pháp: thảo luận nhóm. - Câu hỏi: Tìm những câu thơ, bài thơ trong tập thơ Từ ấy nói về lí tưởng của Tố Hữu. Phân tích câu thơ mà em thích nhất? + Các nhóm ghi lại những câu thơ đã thích, thảo luận và trình bày. Hoạt động 4: Vận dụng: - Phương pháp viết sáng tạo. - Bài tập: Từ bài thơ Từ ấy, hãy viết bài văn trình bày nhận thức của em về vấn đề lí tưởng của thanh niên hiện nay? Bài thơ cho em hiểu gì về việc xác định lí tưởng? Lí tưởng của em hiện nay là gì? Em sẽ làm gì để thực hiện lí tưởng đó? + Học sinh viết ở nhà. + Giáo viên kiểm tra việc thực hiện bài tập của học sinh ở tiết sau: Đây là bài tập giúp học sinh hình thành kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thể hiện sự tự tin, có niềm tin vào bản thân, dám mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định đồng thời thể hiện sự lạc quan trong cuộc sống với những suy nghĩ tích cực. Hoạt động 5: Tìm tòi, mở rộng: - Phương pháp viết sáng tạo. - Bài tập: Sưu tầm thêm một số bài thơ của Tố Hữu trong tập thơ Từ ấy. Viết bài cảm nhận về vẻ đẹp của bài thơ mà anh (chị) tâm đắc nhất? + Học sinh viết ở nhà. + Giáo viên kiểm tra việc thực hiện bài tập của học sinh ở tiết sau: Đây là bài tập giúp học sinh hình thành kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thể hiện sự tự tin, có niềm tin vào bản thân, dám mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định. Bài 3: Tôi yêu em (Puskin). A. Mức độ cần đạt: 1. Về kiến thức: 15
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2