intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục ý thức tự học góp phần nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tại trường THPT Đô Lương 4

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:33

10
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục ý thức tự học góp phần nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tại trường THPT Đô Lương 4" nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục học sinh tạo sự hứng thú và phát huy được năng lực tự học sáng tạo cho học sinh; Chia sẻ đồng nghiệp về kinh nghiệm dạy học có hiệu quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục ý thức tự học góp phần nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tại trường THPT Đô Lương 4

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 4 ­­­­­­­­ ­­­­­­­­ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM          ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO DỤC Ý THỨC TỰ  HỌC GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP,  PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO  HỌC SINH TẠI TRƯỜNG THPT ĐÔ LƯƠNG 4 Lĩnh vực: Quản lý Tác giả: Nguyễn Bá Hùng Năm học: 2021­2022 Số điện thoại: 0946406777 Năm 2022 1
  2. MỤC LỤC Trang PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 4. Phạm vi nghiên cứu   2     5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2 5.1. Khách thể nghiên cứu 2 5.2. Đối tượng nghiên cứu 2 6. Phương pháp nghiên cứu 2 PHẦN II: NỘI DUNG 3 1. Cơ sở lý luận 3 1.1. Học là gì 3 1.2. Tự học là gì 3 1.3. Tự học quan trọng như thế như thế nào 3 1.4. Những lý luận làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng đề tài 4 1.4.1. Trên thế giới 4 1.4.2. Ở Việt Nam 4 1.5. Nội dung của phương pháp chỉ đạo ý thức tự học 5 2. Cơ sở thực tiễn 5 2.1. Vài nét cơ bản về mái trường THPT Đô Lương 4 5 2.2. Thực trạng học sinh phụ thuộc vào học thêm vào mạng tra cứu 5 2.3. Thực trạng của giai đoạn chuẩn bị hoạt động tự học 6 2.4. Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học 9 3. Các biện pháp chỉ đạo ý thức tự học nhằm nâng cao hiệu quả học   10 2
  3. tập, phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh THPT  3.1. Mục tiêu các biện pháp 10 3.2. Các biện pháp thực hiện 11 Biện pháp 1: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng   cao nhận thức cho giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội về tầm   11 quan trọng của việc chỉ đạo ý thức tự học Biện pháp 2: Chỉ đạo đổi mới sinh hoạt lớp theo chủ đề trong đó có   12 chủ đề giáo dục ý thức tự học Biện pháp 3: Đổi mới công tác quản lý về hoạt động tự học của học   12 sinh Biện pháp 4: Tập huấn cho giáo viên công tác hướng dẫn học sinh kỹ   14 năng, phương pháp tự học Biện pháp 5: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học trên   15 lớp của giáo viên và phương pháp học tập của học sinh Biện pháp 6:  Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả  học tập   16 của học sinh Biện pháp 7:  Động viên, khuyến khích, kích thích các hoạt động tự   học của HS, thực hiện các HĐ NGLL hướng vào các điều kiện hỗ trợ   17 hoạt động tự học Biện pháp 8: Xây dựng thư viện, phát triển văn hóa đọc cho học sinh 18 Biện pháp 9: Tăng cường và đổi mới tổ chức hoạt động trải nghiệm   18 sáng tạo, qua đó giúp học sinh phát triển các phẩm chất, kỹ năng Biện pháp 10: Quản lý tự học trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi   20 và dạy học trực tuyến 4. Thực nghiệm sư phạm 21 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 27 1. Kết luận 27 2. Kiến nghị 27 3
  4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN Nội dung Viết tắt Trung học phổ thông THPT Học Sinh HS Giáo viên GV Giáo viên chủ nhiệm GVCN Hoạt động ngoài giờ lên lớp HĐ NGLL Quản lý giáo dục QLGD Cán bộ quản lý CBQL Thanh niên Cộng sản TNCS Tốt nghiệp TN 4
  5. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ Văn bản số 4612/BGDĐT­GDTrH ngày 03/10/2017 của Bộ GDĐT về việc  hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ  thông hiện hành theo định  hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ  năm học 2017­2018 về  phương   pháp,   hình   thức   dạy   học   đã   chỉ   rõ:   “Chú   trọng   rèn   luyện   cho   học   sinh phương pháp tự  học, tự  nghiên cứu sách giáo khoa  để  tiếp nhận và vận  dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ  học tập đặt ra trong bài   học”.  Thông tư  32/2018/TT­BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ  GDĐT Ban hành  Chương trình GDPT (có hiệu lực từ 15/02/2019) nêu rõ: “Những năng lực chung   được hình thành, phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục:  năng  lực tự chủ và tự học…”. Đặc biệt năm học 2019­2020; 2020­2021, đại dịch Covid­19 xuất hiện làm  ảnh hưởng đến mọi hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động dạy  học. Học sinh trên cả  nước đã phải nghỉ  học một thời gian dài chống dịch. Để  đáp ứng chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là “Ngừng đến trường nhưng  không ngừng học” thì việc rèn luyện cho học sinh khả năng tự  học là rất quan   trọng và để  việc tự  học của học sinh có hiệu quả  cao giáo viên cần có hướng  dẫn, định hướng. Sinh thời Chủ  tịch Hồ  Chí Minh khẳng định: “Trong cách học phải lấy tự  học làm cốt”. Tự học chính là thực chất của sự học, tự mình chủ  động đến với  tri thức và nâng cao tri thức ngoài phạm vi sách vở do nhà trường dạy cho. Việc   nâng cao ý thức tự  học giúp cho người học hiểu sâu, mở  rộng, củng cố  và ghi  nhớ  bài học một cách vững chắc nhờ  vào khả  năng tự  phân tích, tổng hợp tài  liệu, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những   nhiệm vụ học tập mới. Đồng thời tự  học giúp người học hình thành được tính  tích cực, độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học. Từ  đó quyết định sự  phát triển các phẩm chất nhân cách và quyết định chất lượng  học tập của học sinh. Như vậy tự học là con đường gần nhất mở ra thế giới kỳ  diệu cho sự  nhận thức, khám phá và hành động. Thế  nhưng trên thực tế  hiện  nay không ít học sinh không tự học mà dựa vào thầy cô ở các lớp học thêm, một  số  chưa biết cách tự  học, một số  chưa có ý chí nghị  lực trong vấn đề  tự  học.  Trước thực trạng đó, là một cán bộ quản lý chuyên môn của nhà trường, tôi thực  hiện  chỉ  đạo  một số  biện pháp nâng cao ý thức tự  học cho học sinh  vừa trực  tiếp vừa gián tiếp qua giáo viên  hướng dẫn cách thức hoạt động để  nâng cao  hiệu quả  học tập và hình thành cho các em phẩm chất, năng lực tự  học hiệu   quả. Xuất phát từ vai trò, vị trí của bản thân và nhu cầu hoạt động tự học hiện  nay của học sinh THPT Đô Lương 4. Tôi thực hiện sáng kiến với đề  tài “Một  5
  6. số biện pháp chỉ đạo giáo dục ý thức tự  học góp phần nâng cao hiệu quả  học tập, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tại trường THPT Đô  Lương 4”. 2. Mục đích nghiên cứu: ­ Nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục học sinh tạo sự hứng thú và phát huy  được năng lực tự học sáng tạo cho học sinh. ­ Chia sẻ đồng nghiệp về kinh nghiệm dạy học có hiệu quả. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: ­ Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. ­ Đánh giá thực trạng về  công tác dạy học, công tác quản lý dạy học tại  trường THPT Đô Lương 4. ­ Đề xuất cách thực hiện các biện pháp. ­ Tiến hành thực nghiệm sư  phạm để  xem xét khả  năng ứng dụng của đề  tài. 4. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tìm hiểu, đề xuất cách thiết kế  các phương  pháp, cách thức thực hiện tại các trường THPT trên địa bàn huyện tôi công tác.  5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 5.1. Khách thể nghiên cứu Quá trình quản lý đối với hoạt động tự học của học sinh trường THPT Đô  Lương 4. Chủ thể quản lý hoạt động tự  học gồm Ban giám hiệu, Tổ trưởng chuyên  môn, giáo viên chủ  nhiệm (GVCN), giáo viên bộ  môn, Cha mẹ  học sinh và sự  phối hợp các tổ  chức chính trị  ­ xã hội ở  các địa phương có học sinh đang theo   học tại trường THPT Đô Lương 4. 5.2. Đối tượng nghiên cứu Các giải pháp trong thực hiện dạy học và giáo dục trường THPT Đô Lương  4. 6. Phương pháp nghiên cứu: ̉ 6.1. Quan sat, phong v ́ ấn, nghiên cứu sản phẩm, so sanh gí ưa cac s ̃ ́ ố  liệu   thu được và nghiên cứu cac tài li ́ ệu, thu thập thông tin liên quan. 6.2. Phương phap kh ́ ảo sat: tiên hành kh ́ ́ ảo sat năng l ́ ực học và tự  học học   sinh, khảo sat cac ph ́ ́ ương phap, cach th ́ ́ ức tiên hành, kh ́ ảo sat kêt qu ́ ́ ả  đa đ ̃ ạt   được... 6.3. Phương phap th ́ ống kê số liệu trong qua trình kh ́ ảo sat. ́ 6
  7. 6.4. Phương phap phân tích, phân lo ́ ại: phân tích nhưng nguyên nhân và ̃   nhưng kêt qu ̃ ́ ả đạt được trong hoạt động dạy học. 6.5. Phương phap so sanh trong th ́ ́ ực trạng vấn đề  và so sanh kêt qu ́ ́ ả  thu  được sau khi ap d ́ ụng sang kiên kinh nghi ́ ́ ệm. ́ ́ ương phap nh 6.6. Ngoài ra còn co cac ph ́ ư: thuyêt trình, th ́ ực nghiệm... PHẦN 2: NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận 1.1. Học là gì? Học hay còn gọi là học tập, học hành, học hỏi là quá trình đạt được sự  hiểu biết, kiến thức, hành vi, kỹ năng, giá trị, thái độ và sở thích mới. Quá trình  học tập diễn ra  ở mọi nơi, mọi chỗ và với mọi người như  Lê­nin đã từng nói:  “Học, học nữa, học mãi”. Học là việc góp nhặt và thu nhận kiến thức từ người   khác truyền lại, rèn luyện thành kỹ  năng, nhận thức. Các hình thức thu nhận  kiến thức: Học ở trên lớp, học ở trường, học thầy, học bạn, ..trong đó tự học là  hình thức học tập quan trọng đối với con người. Bản chất của việc học là quá trình nghiên cứu chuyên sâu, mở  rộng các  vấn đề, lĩnh vực mà mình muốn biết giúp chúng ta trau dồi kiến thức, tăng sự  sáng tạo, trí tuệ và vận dụng điều đó vào cuộc sống xã hội. 1.2. Tự học là gì? Tự học là việc chủ động tự mình tìm tòi nghiên cứu, thu nhặt các kiến thức  tự luyện tập để có kỹ năng. Tự  học có thể  hình thành từ  việc tự  bản thân nghiên cứu tìm hiểu mà  không nhờ vả hay trông chờ vào bất cứ ai. Hoặc tự học còn có thể được hiểu là   chúng ta dựa vào kiến thức được thầy cô giáo hoặc người đi trước cung cấp để  dựa vào đó hình thành những bài học cho riêng mình. 1.3. Tự học quan trọng như thế nào? Từ xưa đến nay các bậc anh tài đã cho thấy việc tự học có ý nghĩa hết sức   quan trọng đối với tri thức của con người. Tự  học giúp con người có thể  hiểu biết, lĩnh hội tri thức một cách chủ  động, toàn diện, hứng thú với các vấn đề  trong sách vở, trong cuộc sống. Con  người được tự  làm chủ, quyết định vấn đề  mà bản thân thích và nghiên cứu  chúng. Tự học giúp con người ghi nhớ một cách lâu hơn do có sự chuẩn bị tìm tòi  các kiến thức ấy. Tự học còn giúp việc vận dụng những kiến thức đã học một  cách hữu ích hơn vào cuộc sống để làm những việc có ích và thiết thực. 7
  8. Không những thế  tự  học còn giúp con người trở  nên năng động, sáng tạo,  không  ỷ  lại, không phụ  thuộc vào người khác. Từ  đó biết tự  bổ  sung những   khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân.  Không chỉ  vậy tự  học là con đường ngắn nhất và duy nhất để  hoàn thiện  bản thân và biến  ước mơ thành hiện thực. Người có tinh thần tự  học luôn chủ  động, tự tin trong cuộc sống. Hiện nay thì hình thức tự  học rất được đề  cao, tự  học được xem là hình  thức học hiện đại. Kiến thức dựa trên sự  chủ  động nghiên cứu của người học   chứ không phụ thuộc vào thầy cô. Nói như vậy không có nghĩa việc tự học thay   thế cách học truyền thống mà con người cần tự học có hướng dẫn; bổ sung kết   hợp để  đạt được kết quả  tuyệt vời. Đặc biệt trong thời đại 4.0 ngày nay càng   chứng minh là hiệu quả, tiện lợi và nhanh chóng, nhờ  vào sự  phát triển của   internet. 1.4. Những lý luận làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng đề tài Nói đến học tập là nói đến hình thức dạy ­ học và tự học. Việc học phải đi   đôi với việc dạy và việc dạy phải hướng đến người học, đó là quá trình tương   tác giữa giáo viên và học sinh. Xét cho cùng trong quá trình dạy học là giúp học   sinh tự học để hoàn thiện và phát triển nhân cách của cá nhân nhằm đáp ứng với  các chuẩn mực và nhu cầu trong sự  phát triển chung của thời đại. Tự  học gắn   với cuộc đời của mỗi con người. Một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục   đã đề cập đến vấn đề tự học dưới nhiều hình thức khác nhau. 1.4.1. Trên thế giới ­ Ngay từ  thời cổ  đại, Khổng Tử  (551­479 trước Công nguyên), Aistot là  các nhà sư phạm kiệt xuất đã cho rằng: Dạy và học là phải trên cơ sở phát huy   tính tích cực nhận thức của học sinh và đòi hỏi học sinh phải biết kết hợp với   suy nghĩ, biết năng động trong học tập. Cần cố gắng gợi mở để học sinh tự học   trong hoạt động học tập của mình. ­ Đến thời cận đại, nhà sư  phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A.Komenxky   (1592­1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành  tài năng”, năm 1657 ông đã hoàn thành tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” trong đó  nêu rõ: “Việc học hành muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể  làm một  lần mà phải ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ”. ­ Trong giai đoạn hiện đại, các nhà giáo dục học đi sâu nghiên cứu khoa  học giáo dục và đã khẳng định vai trò to lớn của tự  học. J.J.Rousseau (1712­ 1778) khi xây dựng quan điểm dạy học cũng cho rằng: “cần hướng cho học sinh  tự  nắm lấy kiến thức bằng cách tự  tìm hiểu, tự  khám phá, tự  tìm tòi và sáng   tạo…”. 8
  9. ­ Như vậy, tự học như là một phương thức để  con người lĩnh hội tri thức   của nhân loại. Từ những thập niên 30 ­ 40 của thế kỷ XX trong cuốn “Giáo dục  vì cuộc sống sáng tạo” nhà sư  phạm nổi tiếng Makiguchi cho rằng: “Giáo dục  xét như  một quá trình hướng dẫn tự  học, động lực của nó là kích thích người   học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng”. 1.4.2. Ở Việt Nam ­ Truyền thống hiếu học và tự  học đã được khẳng định qua các vị  khoa   bảng như Nguyễn Du, Chu Văn An, Lê Quý Đôn…Các thế hệ cha ông chúng ta   đã vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức bằng nỗ lực học tập và tự học. ­ Chủ tịch Hồ Chí Minh ­ Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam là một  tấm gương sáng về tinh thần tự học và tự  rèn luyện. Trong tác phẩm “sửa đổi  lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác Hồ đã căn dặn:  “Về cách học phải lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ  đạo thêm vào”. Tư  tưởng của Người về giáo dục đã được vận dụng quán triệt trong các Nghị quyết  của Đảng. Nghị  quyết Hội nghị  lần thứ  II ­ Ban Chấp hành Trung  ương Đảng  khóa VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học…nâng cao khả  năng  tự  học, tự  nghiên cứu người học”. “Phát triển phong trào tự  học, tự  đào tạo  thường xuyên, rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”. ­ Khi phát biểu chỉ đạo đối với ngành giáo dục, nguyên Tổng Bí thư Trung  ương Đảng Đỗ  Mười đã nhấn mạnh: Tự  học  ­  tự  đào tạo là con đường phát  triển suốt đời của mỗi người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và   cả  mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam. Chất lượng  và hiệu quả  của giáo dục được nâng cao khi tạo ra năng lực tự  học, sáng tạo   của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Như  vậy, từ  lâu tự  học đã được bàn luận và quan tâm của rất nhiều nhà  khoa học, quản lý giáo dục. 1.5. Nội dung của phương pháp chỉ đạo ý thức tự học  Mục đích của phương pháp này là  chỉ  đạo một số  nội dung chuyên môn  đến giáo viên và yêu cầu thực hiện. Đồng thời tạo điều kiện cho HS có phương  pháp tự học được dễ dàng và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc   với GV để tranh thủ sự hướng dẫn của GV mà rèn luyện phương pháp, kĩ năng  tự  học, việc nắm vững kiến thức, rèn luyện năng lực. Như  vậy nội dung của   phương pháp sẽ  bao gồm hoạt động của  ban chuyên môn chỉ  đạo  GV và  GV  hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thực hiện. 2. Cơ  sở  thực tiễn:  Thực trạng về  khả  năng tự  học của học sinh nhà  trường và việc hướng dẫn chỉ  đạo GV định hướng cách thức tự  học cho học   sinh.  2.1. Vài nét cơ bản về mái trường THPT Đô Lương 4 9
  10. Trường   THPT   Đô   Lương   4   được   thành   lập   theo   Quyết   định   2836/QĐ­ UBND.VX ngày 07/8/2006 của UBND tỉnh Nghệ  An. Trường nằm  ở  vùng hạ  huyện kinh tế có nhiều khó khăn của huyện Đô Lương, trải qua quá trình hình   thành và phát triển hiện nhà trường có 21 lớp với gần 900 học sinh. Đội ngũ đa phần trẻ, nhiệt huyết, học sinh đa số chăm ngoan, hiếu học, tuy  nhiên nhiều giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, học sinh  trường tuyển thuộc vùng  nông thôn, ít khát vọng, mục tiêu học không xác định rõ ràng, nhiều học sinh  thiếu kỹ năng… 2.2. Thực trạng học sinh phụ  thuộc vào học thêm vào mạng tra cứu trong  quá trong học tập Đa số học sinh trường THPT Đô Lương 4 còn những hạn chế sau : ­ Thói quen thu động trong quá trình học tập; quen nghe, ghi chép, nhớ và tái   hiện lại những gì giáo viên nói. ­ Do chưa hình thành kỹ năng, phương pháp tự học, nên kiến thức của hầu  hết học sinh tỏ  ra hẫng hụt ngay từ  đầu năm học, không nắm được các kiến   thức đã học một cách hệ  thống, khoa học và hầu như  không vận dụng được   kiến thức. ­ Giai đoạn chuẩn bị  hoạt động tự  học (lập kế  hoạch, xác định mục đích   nhiệm vụ  tự  học, tiến trình và thời gian cho hoạt động tự  học) đa số  học sinh   không thực hiện được. ­ Sự quan tâm đến giáo dục toàn diện cho học sinh thông qua hình thức tự  học chưa đúng mức. 2.3. Thực trạng của giai đoạn chuẩn bị  hoạt động tự  học (lập kế  hoạch,   xác định mục đích nhiệm vụ  tự  học, tiến trình và thời gian cho hoạt động tự  học) Hoạt động tự học chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi học sinh biết cách  quản lý hoạt động tự  học thông qua việc xây dựng và thực hiện kế  hoạch tự  học, có nghĩa là phải lượng hóa cho được thời gian tự học tương  ứng với từng   nhiệm vụ học tập của bản thân. “Thành công phụ thuộc 4% kiến thức, 26% kỹ  năng và 70% thái độ”. Thái độ chiếm tỷ lệ phần trăm thành công là rất cao, vậy  muốn có thái độ  nghiêm túc thực hiện mục tiêu cần phải lập ra kế  hoạch cụ  thể, khoa học phù hợp để thực hành hiệu quả. ­ Thực trạng việc lập kế hoạch tự học của học sinh: Muốn mang l ại hi ệu   quả  cao trong hoc tập điều quan trọng nhất là phải chọn đúng trọng tâm công   việc, phải lập kế hoạch học tập hợp lý của từng học sinh. Nội dung cần học thì  nhiều mà sức lực con người và thời gian thì có hạn. Do đó, học tập không theo  kế hoạch sẽ không có hiệu quả. Mỗi học sinh phải tự xác định cho mình học cái  gì là chính, là quan trọng nhất và có tác động đến mục đích. Khi xác định được  10
  11. trọng tâm, cần phải sắp xếp việc học cho hợp lý về nội dung và thời gian học là  rất   quan trọng.  Nhưng trong thực  tế  hầu  như   học  sinh   ở  trường  THPT   Đô   Lương 4 ít chú ý nên có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tự học nói riêng và kết  quả  học tập nói chung. Hầu như  các em nhận thức được tầm quan trọng của   việc lập kế hoạch tự học, nhưng các em chưa có kỹ năng lập kế hoạch tự học.   Do đó, hướng dẫn và rèn luyện kỹ  năng lập kế  hoạch tự  học cho học sinh là   một vấn đề mà giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm. ­ Thực trạng về hình thức tự học ngoài giờ lên lớp  Qua điều tra có 74% HS tự học một mình. Trong đó có một số tự học theo   ngẫu hứng, một số  có vạch kế  hoạch học môn gì và nội dung tự  học do chính  bản thân tự xác định. Tự học theo hình thức này có rất nhiều em gặp nhiều câu   hỏi không trả lời được và mất nhiều thời gian để tìm câu trả lời, có lúc bế tắc,   gián đoạn việc tự học và không hứng thú.  Có 53% HS học theo nhóm bạn, thảo luận những vấn đề  về  môn học mà   cá nhân không tự giải quyết được. Hình thức này đã mang lại hiệu quả và phát  huy cao tính tổ chức, kỹ luật. Kết quả mang lại là các bạn trong nhóm hiểu sâu   hơn, nhớ  lâu hơn các vấn đề  cần giải quyết của bài học cũng như  rèn luyện   được tính độc lập, tự chủ và hợp tác nhóm.  Thực tế  cho thấy HS có thói quen ngày mai học môn gì thì hôm nay học   môn đó, chứ  chưa xếp lịch tự  học hợp lí, không có mục đích đặt ra từ  trước,   không có ý chí tự mình phải khép vào khuôn khổ  thực hiện việc học tập, thích  thì học và không thích thì thôi. Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng tự học  của HS.         ­ Thực trạng về tiến trình thực hiện hoạt động tự học và thời gian tự học Bảng 2.3.1. Đánh giá thực trạng tiến trình tự học Mức độ Thường  Không  Không bao  TT Tự học của HS được tiến hành xuyên thường xuyên giờ SL % SL % SL % 1 Học vào lúc sáng sớm 364 41 426 48 98 11 2 Học vào lúc rảnh rỗi 675 76 124 14 89 10 3 Học vào lúc đêm khuya 89 10 533 60 266 30 4 Học khi chuẩn bị kiểm tra và thi 764 86 115 13 09 1 5 Ngày sau có giờ, cò bài liên quan 586 66 240 27 62 7 11
  12.         Qua bảng khảo sát 2.3.1, chúng ta thấy rằng có đến 86% HS sử dụng thời  gian tự học khi chuẩn bị cho kiểm tra, thi cử; có đến 76% tự học khi rãnh rỗi và   66% tự học khi ngày sau có giờ, bài liên quan là thường xuyên. Bên cạnh đó, có  đến 10% là không bao giờ học lúc rãnh rỗi và 1% không bao giờ học khi chuẩn   bị thi và kiểm tra. Điều này cho thấy một số em hầu như không có ý thức tự học   ngoài giờ  lên lớp và không có sự  quan tâm nhắc nhỡ  của mọi người trong gia   đình. Qua trao đổi với một số  giáo viên, đa số  cho rằng việc sử  dụng quỹ thời   gian cho hoạt động tự  học hiện nay là chưa đáp  ứng yêu cầu đặt ra trong qua  trình đổi mới phương pháp dạy học. Việc dạy thêm, học thêm của một số  bộ  môn do nhiều nguyên nhân khác nhau đã lấy đi nhiều thời gian của các em, nên   quỹ thời gian còn lại là rất ít chỉ đủ để xem lại lý thuyết bài cũ, bên cạnh đó thì  một số em chỉ biết giải trí chơi đùa qua phim ảnh, internet... và có chăng tự học  chỉ đủ để nhằm đối phó với kiểm tra và thi cử.          + Những HS khá, giỏi thì việc tự học ở nhà cũng như trên lớp hay học thêm   đều đạt mức độ  khá tốt. Khả  năng vận dụng tư  duy chỉ  tập trung  ở các em có  học lực giỏi. Tính tự  lập trong học tập của các em là rất cao, biết cách tự  học   trong mọi hoàn cảnh, chịu khó suy nghĩ và tích cực học tập.         + Đa phần HS còn thụ động, không chịu khó suy nghĩ, thời gian dành cho  học thêm quá nhiều mà lại không tích cực trong học tập. Nhiều HS chạy theo   phong trào học thêm với bạn bè nhưng không có mục đích, không tự  mình vận   dụng trí tuệ, tri thức để  giải quyết các bài tập cũng như  không có thời gian để  hấp thu bài giảng trên lớp. Sự ỷ lại trong học tập nhờ vào học thêm ở  các thầy   cô, mong muốn trúng tủ khi kiểm tra đạt điểm cao mà không quan tâm đến hạt   động tự học của bản thân. Điều này, làm cho các em không nắm chắc kiến thức,  sự hổng kiến thức càng ngày càng tăng lên. ­ Khảo sát thực trạng về hoạt động tự học của học sinh Sử dụng phiếu hỏi 888 HS và trao đổi trực tiếp với một số HS:  Bảng 2.3.2. Mức độ sử dụng phương pháp tự học của học sinh Mức độ Thường  Thỉnh  Chưa bao  TT Mức độ sử dụng phương pháp xuyên thoảng giờ SL % SL % SL % 1 Đọc tài liệu tham khảo và SGK 759 85,5 129 14,5 0 0 2 Học thuộc lòng bài giảng 767 86.4 121 13.6 0 0 3 Vận dụng kiến thức để giải bài tập 286 32,2 448 50,4 154 17,4 4 Hệ  thống hóa và khái quát hóa kiến  156 17,5 537 60,5 195 22 12
  13. thức 5 Làm đề cương và học theo đề cương 148 16,7 607 68.3 133 15 6 Tự kiểm tra quá trình đánh giá tự học 140 15,8 448 50,4 300 33,8 Qua   bảng   điều  tra  2.3.2  cho  thấy  rằng,  hầu  hết  HS   đều  biết  sử   dụng  phương pháp tự  học theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, các phương pháp  được sử  dụng thường xuyên nhiều nhất là học thuộc lòng bài giảng trước khi   lên lớp chiếm đến 86,4% và tất cả  các môn HS đều học thuộc lòng mà không   vận dụng tư duy trong tự học. Phương pháp đọc tài liệu tham khảo và sách giáo   khoa thường xuyên chiếm tỷ lệ 85,5% và HS cho rằng tất cả các môn học đều  chứa dung lượng kiến thức nhiều trong lúc thời lượng của môn học trên lớp   không tiếp thu đầy đủ  được. Bên cạnh đó, sự  phân ban, phân hóa, môn học tự  chọn và cách viết sách giáo khoa của các ban rất khác nhau khó hiểu. Đối với   phương pháp vận dụng kiến thức để  giải bài tập có 32,2% HS thường xuyên  thực hiện, nhưng tìm hiểu một số HS thì chỉ  tập trung làm bài tập ở  trong sách   giáo khoa theo yêu cầu của GV mà chưa làm thêm các bài tập  ở  sách bài tập.   Kết quả  điều tra cho thấy việc sử  dụng các phương pháp vận dụng kiến thức  để giải bài tập, hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức, làm đề cương và học  theo đề cương, tự kiểm tra và đánh giá kết quả tự học chỉ sử dụng thỉnh thoảng.   Những phương pháp này chỉ  được sử  dụng chủ  yếu khi kiểm tra giữa kỳ, thi   học kỳ và một số em là chưa bao giờ sử dụng các phương pháp này chiếm 15%.   Điều này cho thấy sự  hứng thú trong học tập của một số  đông HS chưa chú  trọng, chưa chịu khó động não, tìm tòi trong quá trình tự học, không phát huy tính  tích cực và chủ động trong học tập. Đặc biệt chưa biết phân tích, tổng hợp các   vấn đề của bài học để nắm lấy cốt lỏi, trọng tâm qua từng bài học.  Qua trao đổi một số HS có học lực khá trở lên các em đưa ra một số nhận   định:  ­ Đối với các môn tự  nhiên thì GV giảng dạy yêu cầu tự  học cao quá nên  phải đi học thêm và không còn thời gian để tự học.  ­ Đối với các môn xã hội thì chỉ  cần học thuộc bài trước khi đến lớp và  soạn bài như  sách giáo khoa là đủ  và chỉ  học đối phó khi chưa có điểm miệng   mà thôi. Còn đối với những HS trung bình ­ yếu thì các em do hổng kiến thức,  trong khi lên lớp thì GV chỉ  tập trung hoàn thành tiết dạy mà chưa có sự  động   viên khuyến khích cũng như giúp đỡ. Nên không có hứng thú trong từng môn học  và không quan tâm đến kết quả học tập của mình. Qua trao đổi với một số GV   hầu hết cho biết HS có học bài  ở  nhà, làm bài theo yêu cầu của GV nhưng chỉ  nhằm đối phó khi kiểm tra. Phần lớn HS chỉ  học thuộc những phần mà được  ghi chép  ở  trong vở  hay trong sách giáo khoa. Những vấn đề  yêu cầu cần mở  rộng về  phân tích, tổng hợp hay vận dụng kiến thức để  chứng minh diễn giải   một vấn đề thì HS lúng túng, chỉ có vài em có được khả năng này. Tất cả các bộ  13
  14. môn học thì HS chỉ có thói quen học thuộc lòng. Phần lớn HS chưa gắn kết giữa  lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào thực hành bộ môn. Các hoạt động tự nghiên  cứu ít được HS sử dụng.  Từ  thực trạng này, giáo viên cần phải có những yêu cầu học sinh một số  quy định về học tập bộ môn nhằm từng bước xây dựng nề nếp và thói quen tự  học. Những quy định về nề nếp tự học có khá nhiều. Ở đây, chỉ  đề  cập những  vấn đề chủ  yếu, có tính nguyên tắc, được coi như  tổ  chức, phương pháp, biện  pháp có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong quá trình học tập của học sinh. 2.4. Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học Mục đích của việc hướng dẫn học sinh tự học là tạo điều kiện cho HS tự  học được dễ dàng và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV  để tranh thủ sự hướng dẫn của GV mà rèn luyện phương pháp, kĩ năng tự  học,  việc nắm vững kiến thức, rèn luyện năng lực.  GV hướng dẫn HS cách sử dụng tài liệu. HS theo hướng dẫn trong tài liệu  mà tự lực hình thành kiến thức, kĩ năng,.. GV sử dụng những giờ lên lớp để rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo tự học,  đánh giá kết quả, điều chỉnh kế hoạch. Như vậy, trong cách dạy học này có hai   kiểu hướng dẫn được phối hợp với nhau. + Hướng dẫn bằng lời viết ngay trong tài liệu, đó là những chỉ  dẫn về  kế  hoạch, về phương pháp giải quyết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin... nhằm định   hướng cho HS có thể tự lực thực hiện các hành động học một cách có ý thức, có  phương hướng rõ ràng. + Hướng dẫn ngay tại lớp những loại hoạt động cụ  thể  để  rèn luyện kĩ   năng tự học. GV theo dõi giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh ngay tại lớp.  3. Các biện pháp chỉ đạo ý thức tự học nhằm nâng cao hiệu quả  học  tập, phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh THPT  Từ cơ  sở lý luận và thực trạng đã nêu, trên cơ  sở  nguyên tắc lựa chọn các  biện pháp đề xuất, chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lý  ý thức tự học nhằm  nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực tự học cho học sinh. Đây là các biện pháp tác động trực tiếp đến HS nhằm hình thành kỹ  năng   và phương pháp tự học. Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là  tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Bước đầu trong tự học thường  lúng túng, nhưng chính lúng túng lại là động lực thúc đẩy HS tư  duy để  thoát   khỏi sự lúng túng và thành thạo lên. Khi đã thành thạo thì thường phát hiện vấn   đề cần phải giải quyết để từ đó hình thành kỹ năng tự chiếm lĩnh tri thức. Nhân   tố quan trọng để tự học đạt được kết quả tốt là hình thành và rèn luyện các kỹ  năng, phương pháp tự học.  3.1. Mục tiêu các biện pháp 14
  15. Đổi mới công tác quản lý về hoạt dộng tự học, phát huy vai trò của các tổ  chức, tổ  chuyên môn, đội ngũ GV trong hoạt động dạy học, đổi mới phương  pháp đánh giá và thực hiện tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học  sinh tích cực”, các hoạt động hỗ  trợ  cho hoạt dộng tự  học của HS như  hoạt   động ngoài giờ lên lớp (HĐ NGLL), hướng nghiệp nhằm hình thành các kỹ năng  và phương pháp tự học. Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, mỗi HS cần tự rèn  luyện phương pháp tự học. Đây vừa là phương pháp nâng cao hiệu quả học tập,  vừa là là mục tiêu quan trọng trong học tập. Phương pháp tự  học sẽ  trở  thành  cốt lõi của phương pháp học tập. Đồng thời các em cũng rèn luyện các kỹ năng  tự học bộ môn mới đạt được hiệu quả cao. Trang bị cho GV nắm vững được hệ  thống các kỹ năng, phương pháp tự học. Trên cơ sở đó có thể vận dụng các kỹ  năng trong công tác tự học, tự nghiên cứu một cách khoa học. Từ nắm vững các  kỹ năng tự học, GV hướng dẫn cho HS hình thành và phát triển vững chắc các  kỹ  năng tự  học. Từ  đó HS có thể  lựa chọn, phối hợp các phương pháp tự  học   khoa học để  hoàn thành các nhiệm vụ  học tập  ở  mức độ  cao nhất. Đổi mới   phương pháp dạy học là nhằm tích cực hoá hoạt dộng tự học, phát huy tính tích  cực, chủ  động, sáng tạo và năng lực của HS. Rèn luyện cho HS có thói quen,   phương pháp học, kỹ năng học, biết tự  lực phát hiện vấn đề  và giải quyết các   vấn đề  mà thực tiễn đòi hỏi. Nâng cao trách nhiệm của GV trong công tác  nghiên cứu, đầu tư cho hoạt động dạy học. Hình thành cho HS động cơ thái độ  học tập nghiêm túc, nâng cao trách nhiệm trong học tập, có ý thức tự  giác, nhu  cầu và thói quen tự kiểm tra, đánh giá. Giúp cho nhà trường tổ chức tốt việc tạo  ra động lực, kích thích HS tự học, giảm sự quá tải và căng thẳng về lao động trí  óc trong học tập của HS. Hình thành được một môi trường học tập, thi đua sôi  nổi và thúc đẩy nhau cùng tiến bộ.  3.2. Các biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư  tưởng, nâng cao nhận thức cho   giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của việc chỉ đạo  ý thức tự học nhằm nâng cao hiệu quả học tập, phát triển phẩm chất, năng lực   tự học cho học sinh. ­ Chi uỷ, Ban giám hiệu và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường quán triệt,  phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục  và đào tạo đến đội ngũ giáo viên qua các hình thức: Trên Website của nhà trường;  qua các buổi sinh hoạt Chi bộ, họp Hội đồng giáo dục, trong các đợt học tập chính  trị, học tập quán triệt nhiệm vụ năm học, sinh hoạt tổ chuyên môn, sinh hoạt đoàn  thể ...  ­ Có biện pháp quản lý phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục  một cách toàn diện, mở rộng mối quan hệ với các cơ quan, đoàn thể trong khu vực,  15
  16. cha mẹ học sinh, tuyên truyền cho họ hiểu vai trò của giáo dục từ đó có quan tâm,   chăm lo đến hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng. ­ Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch tổ chức lao động khoa học trong công   tác quản lý, trong hoạt động nghề  nghiệp của đội ngũ giáo viên, trong các tổ  chức đoàn thể của nhà trường và tạo mối liên kết giữa các cá nhân, tổ chức, các  bộ phận dựa trên nguyên tắc khoa học, dân chủ và đoàn kết.  ­ Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV theo qui định, yêu cầu  của tình hình mới; tăng cường sự  phối hợp giữa các cơ  sở  đào tạo, bồi dưỡng  với các cơ  quan QLGD  ở  địa phương để  làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng  GV, CBQL, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ dạy học và giáo dục hiện nay. ­ Đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ   Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức,   tự học và sáng tạo”, phong trào "Đổi mới sáng tạo trong dạy và học”. ­ Xây dựng các tiêu chí thi đua của các đoàn thể và gắn công việc hàng ngày  với các phong trào thi đua, các hội thi, hội giảng, các đợt thanh kiểm tra…  ­ Thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong nhà trường, tiếp  nhận thông tin phản hồi có điều chỉnh kịp thời nhằm tăng hiệu quả công việc, tạo   sự đồng thuận, cộng đồng trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức đối với việc thực   hiện sứ mệnh chính trị của nhà trường. ­ Phối kết hợp chặt chẽ  giữa hoạt  động chuyên môn với công đoàn, tổ  chức các hoạt động tập thể để gắn kết các thành viên. Bồi dưỡng cho đoàn viên   công đoàn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; có chuyên môn nghiệp  vụ vững vàng; có đạo đức và lối sống lành mạnh; có tinh thần hợp tác.  Biện pháp 2: Chỉ  đạo đổi mới sinh hoạt lớp theo chủ đề  trong đó có chủ  đề giáo dục ý thức tự học. “Lãnh đạo là người tạo ra người hùng chứ không phải là người hùng”. Để  làm được điều này trong sự nghiệp giáo dục cần xác định vai trò quan trọng của  đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp đó là “người hùng” thực hiện chiến lược “tạo   ra người hùng”. Động lực là thứ giúp chúng ta bắt đầu, tập huấn tạo động lực,   truyền cảm hứng cho cán bộ  giáo viên chủ  nhiệm, giáo viên chủ  nhiệm truyền  cảm hứng cho học sinh qua các hoạt động giáo dục, đặc biệt đổi mới tiết sinh  hoạt lớp. ­  Học  sinh  tự  nhận phiếu và liệt kê những gì trong tuần mình học được,  môn học yêu thích, môn học kém… ­ Học sinh chia sẻ quá trình tự học của bản thân.  ­ Giáo viên nhận xét, đánh giá rút ra kết luận chung. 16
  17. ­ Vấn đề cần đặt ra: Với yêu cầu cấp thiết làm sao xây dựng học sinh tự  học linh hoạt, sáng tạo, giúp các em có cách tự  học, tự  nghiên cứu để  đạt kết   quả  tốt. Do đó, với tư  cách quản lý của nhà trường tôi chỉ  tập trung và một số  biện pháp quản lý đối với các hoạt động hình thành phương pháp và kỹ năng tự  học cho HS trường THPT Đô Lương 4. Trong từng tiết học, nhiệm vụ của học   sinh là phải tập trung học tập, phối hợp chặt chẽ với giáo viên xây dựng nề nếp  tự học, ý thức học tập để cảm nhận một cách nhanh và tự  tin trước lớp. Mạnh   dạn đóng góp ý kiến, suy nghĩ của mình và tiết học sinh động. Để  phát huy nề  nếp tự học của học sinh trong giờ học chính khóa, phụ đạo, mỗi giáo viên phải   thiết kế  điều hành giờ  dạy có khoa học logic theo hướng chủ  động khám phá   của HS, chính bản thân giáo viên phải chủ  động và sáng tạo để  khơi dậy sự  hoạt động tích cực, sáng tạo của tất cả học sinh “tự học”. Nói chung người giáo  viên tổ chức thao tác như thế nào để học sinh thực hiện được và vận dụng, chứ  không chỉ đạo chung chung. Ngoài giờ học chính khóa, cần phải có sự quan tâm   động viên của nhà trường ­ gia đình ­ xã hội để các em có sự phân bố thời gian   tự học, xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học một cách có ý thức và   thường xuyên.  Biện pháp 3: Đổi mới công tác quản lý về hoạt động tự học của học sinh   ­điều tra xem xét nguyện vọng của GV, HS, xem xét rõ điều kiện kinh tế  gia   đình của HS, điều kiện tổ chức tự học cho HS tại trường và tại gia đinh.  ­ Dựa trên cơ  sở  các quy định trong của văn bản Pháp luật, Điều lệ  nhà  trường, Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh, quy chế của ngành và thực tiễn  điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, thực tiễn của nhà trường để xây dựng   một quy định về tự học và quản lý các hoạt động tự học của HS cho phù hợp. ­ Tổ  chức biên soạn các quy định cụ  thể. Nêu rõ quyền hạn, trách nhiệm  về công tác quản lý của GV, HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội khác đối  với hoạt động tự  học của HS; nêu rõ từng quy định trong giảng dạy, trong học  tập về  nội dung, phương pháp, thời gian và các điều kiện phục vụ  cho hoạt   động tự học. ­ Tổ  chức họp hoặc hội thảo để  góp ý về  quy định gồm các thành phần:   cán bộ quản lý, GV, HS, cha mẹ học sinh và đại diện các tổ chức chính trị trong   và ngoài nhà trường để chỉnh lý và ban hành chính thức.  ­ Phối hợp với công đoàn thường xuyên phát động phong trào thi đua dạy   tốt ­ học tốt thường xuyên trong từng năm học.  ­ Chỉ  đạo sự  thống nhất trong các các tổ  chức nhà trường thực hiện quy   định một cách đồng bộ, khoa học. Thường xuyên thúc đẩy, động viên tổ  chức   thi đua thực hiện quy định đã đề ra.  ­ Chỉ đạo việc phát huy vai trò của các tổ chuyên môn và tổ chức đoàn thể  trong công tác quản lý các hoạt động tự học.  17
  18. ­ Chỉ đạo tăng cường và phát huy năng lực của tổ trưởng chuyên môn, tập   trung hướng dẫn tổ  trưởng chuyên môn xây dựng các biện pháp cụ  thể  để  tổ  chức thực hiện nề nếp dạy học của tổ, trong đó chú trọng đến công tác đổi mới  phương pháp dạy học,  Ứng dụng công nghệ  thông tin trong dạy học để  thực  hiện có hiệu quả hoạt động tự học của HS.  ­ Chỉ đạo công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, thảo luận chuyên đề, thao giảng,  rút kinh nghiệm, trong đó nhấn mạnh đến công tác đổi mới phương pháp dạy  của GV, phương pháp học của HS phải theo hướng dạy ­ tự  học và học ­ tự  học.  ­ Chỉ  đạo đoàn TNCS Hồ  Chí Minh thực hiện tốt phong trào “Xây dựng   trường học thân thiện, học sinh tích cực”. phát huy vai trò của đội tự  quản để  quản lý, theo dõi hoạt động tự học của HS tại trường và tại nhà.  ­ Chỉ đạo GVCN tổ chức đánh giá mọi hoạt động của HS, cùng với GV bộ  môn, GVCN chịu trách nhiệm về chất lượng học tập và giáo dục toàn diện của  chi đoàn mình quản lý.  ­ Thường xuyên tổ chức họp rút kinh nghiệm để xem xét tính hiệu lực, khả  thi của quy định nhằm bổ  sung điều chỉnh cho phù hợp tiếp tục tổ  chức thực   hiện. ­ Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý của tổ  trưởng  chuyên môn, GVCN, GV bộ môn trong quản lý hoạt động tự học của HS thông  qua kết quả học tập của từng bộ môn, kết quả các bài kiểm tra định kỳ của HS.  Biện pháp 4:  Tập huấn cho giáo viên công tác hướng dẫn học sinh kỹ  năng, phương pháp tự học. ­ Đánh giá thực trạng vận dụng các kỹ  năng tự  học, phương pháp tự  học  của HS: kỹ  năng xây dựng kế  hoạch học tập; kỹ  năng đọc sách, tài liệu; kỹ  năng ghi chép tài liệu; kỹ năng giải bài tập nhận thức trong tự học; kỹ năng khái  quát hoá, hệ thống hoá; kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá tự học.  ­ Trên cơ  sở  đánh giá thực trạng vận dụng các kỹ  năng tự  học, phương   pháp tự  học của HS, nhà trường xây dựng kế  hoạch tập huấn các kỹ  năng tự  học, phương pháp tự học cho toàn thể cán bộ GV trong trường.  ­ Xây dựng kế  hoạch hướng dẫn cho HS các kỹ  năng tự  học ngay trong   thời gian hoạt động đầu khoá, củng cố các kỹ năng tự học cho HS thường xuyên   trong năm học.  ­ Xây dựng các mẫu kế hoạch tự học cụ thể để cung cấp cho toàn thể GV,   trên cơ sở đó GV thống nhất hướng dẫn cho toàn thể HS.  ­ Phổ  biến kế  hoạch tập huấn, đồng thời tổ  chức tập huấn cho toàn thể  GV các kỹ năng tự học. Triển khai kế hoạch hướng dẫn các kỹ năng tự học cho  HS tới toàn thể GV theo các nội dung:  18
  19. + Kỹ  năng kế  hoạch hoá hoạt động tự  học: các bước để  xây dựng kế  hoạch tự  học (ngày, tuần, tháng, học kỳ, năm học); quy trình để  xây dựng kế  hoạch (thống kê các công việc cụ  thể  trong thời gian tự  học, phân phối thời   gian, xác định mức độ hoàn thành, kiểm tra sự hợp lý của kế hoạch).  + Kỹ  năng làm việc với sách và tài liệu: Nêu các yêu cầu cơ  bản khi đọc  sách, các bước tiến hành để đọc sách.  + Kỹ năng ghi chép tài liệu trong tự học: trích dẫn tài liệu, lập dàn ý, viết  đề cương, tóm tắt thu hoạch.  + Kỹ  năng giải các bài tập nhận thức trong tự  học; các bước để  giải bài   tập. + Kỹ năng khái quát hoá và hệ thống hoá trong học tập. + Kỹ  năng tự  kiểm tra, đánh giá hoạt động tự  học: các bước tự  kiểm tra,   đánh giá (nhận thức rõ mục đích và nội dung cần kiểm tra, đánh giá; nêu rõ các  chuẩn  ứng với các nội dung cho phù hợp; đối chiếu khách quan giữa nội dung   kiểm tra đánh giá so với chuẩn; tự  nhận xét lý do đạt được, chưa đạt được so   với chuẩn).  ­ Hình thức tự kiểm tra (tự mình kiểm tra, HS kiểm tra đánh giá lẫn nhau;   GV kiểm tra, đánh giá và so sánh với kết quả tự kiểm tra đánh giá của HS).  ­ GV hướng dẫn cho HS về  lý thuyết chung đối với từng kỹ  năng, đồng  thời làm mẫu đối với từng kỹ  năng và yêu cầu HS làm theo mẫu các kỹ  năng,  kịp thời uốn nắn những sai sót trong HS.  Biện pháp 5: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học trên lớp  của giáo viên và phương pháp học tập của học sinh. ­ Đánh giá thực trạng đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý  đổi mới phương pháp dạy học của GV trên các khâu trong quá trình dạy học:  lập kế  hoạch bài dạy, nội dung, phương pháp, phương tiện sử  dụng, kiểm tra   đánh giá kết quả học tập của HS; mức độ khai thác, sử dụng phương tiện thiết  bị trong dạy học. ­ Dự thảo các quy định, hướng dẫn về đổi mới phương pháp dạy học, bám  sát với chủ trương đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với các điều kiện  thực tế của nhà trường.  + Quy định về chuẩn bị cho dạy học: nghiên cứu tài liệu, ké hoạch bài dạy  gắn với đối tượng HS của trường, chú trọng đến việc thiết kế  bài giảng theo   hướng giúp HS tự  học thông qua việc thiết kế  các câu hỏi, bài tập để  giao  nhiệm vụ  tự  học cho HS ngay trong giờ  học trên lớp. Thiết lập hệ  thống các   dạng bài tập nhận thức đảm bảo yêu cầu phù hợp với mục tiêu bài học nhằm   giúp HS lĩnh hội tri thức mới, củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức.  19
  20. + Quy định về  dạy học trên lớp: các khâu thực hiện trong giờ  lên lớp bao   gồm kiểm tra kết quả  tự  học của HS; tổ  chức giờ  dạy trên lớp theo phương   pháp dạy ­ tự học để  nâng cao năng lực tự  học cho HS. Kết thúc mỗi tiết học,  GV giao nhiệm vụ  tự  học cho HS tùy theo mức độ  đối với HS khá, giỏi, trung   bình, yếu, kém và yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ tự học.  + Quy định về  đổi mới công tác kiểm tra đánh giá: tăng cường việc kiểm  tra bài, kết quả tự học của HS đầu giờ lên lớp thông qua các hình thức kiểm tra  thường xuyên trước khi vào bài mới, nội dung kiểm tra bám sát vào những yêu   cầu bài tập, nhiệm vụ tự học GV đã giao. Việc ra đề và chọn đề kiểm tra giữa  kỳ, cuối kỳ cần bố trí tiết trả bài và giải quyết những vấn đề HS còn thắc mắc.    ­ Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá kết quả  việc đổi mới phương pháp   dạy học thông qua các tiêu chí: xếp loại kế hoạch bài dạy, chuẩn bị các phương  tiện, đánh giá xếp loại giờ lên lớp, kết quả tự học của HS.  ­ Tiến hành phổ  biến tới toàn thể  cán bộ  và GV các quy định về  đổi mới   phương pháp dạy học, các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá việc đổi mới phương   pháp dạy học.  ­ Phân công, phân nhiệm rõ ràng quyền hạn và nhiệm vụ  của cán bộ quản  lý thuộc các tổ chuyên môn trong kiểm tra giám sát việc thi hành các quy định về  đổi mới phương pháp dạy học. Tổ chuyên môn trên cơ sở phân cấp xây dựng kế  hoạch tự kiểm tra, tiến hành công tác tự kiểm tra, tổng hợp kết quả báo cáo Ban   giám hiệu tại buổi trực báo.  ­ Hướng dẫn tổ  trưởng chuyên môn các bộ  môn thực hiện chức năng và  nhiệm vụ để làm tốt công tác quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học  của GV.  ­ Chỉ  đạo công tác rút kinh nghiệm thường xuyên theo từng tuần, từng  tháng để các tổ  chuyên môn làm tốt hơn công tác tham mưu cho Ban giám hiệu  nhà trường trong công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy học.  ­ Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy định về đổi  mới phương pháp dạy học thông qua kiểm tra kế hoạch bài dạy, thời khoá biểu;   sổ  mượn thiết bị, tài liệu của thư  viện; nhật ký các phòng thiết bị  đồ  dùng.  Đồng thời đột xuất dự giờ để xác định mức độ thực hiện đổi mới phương pháp  dạy học của từng GV.  ­ Tổ  chuyên môn cần kiểm tra thường xuyên việc thực hiện các quy định  về  đổi mới phương pháp dạy học của GV trong bộ  môn mình phụ  trách, biểu   dương kịp thời những GV tích cực trong thực hiện đổi mới phương pháp dạy   học.  Biện pháp 6: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS   ­ Đánh giá thực trạng hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động tự  học hiện nay  20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2