intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Một số giải pháp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông qua môn học Giáo dục công dân

Chia sẻ: Chubongungoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:170

29
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học được hoàn thành với một số biện pháp như sau: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh THPT; Một số giải pháp bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh THPT qua môn học giáo dục công dân; Đánh giá hiệu quả của sáng kiến.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Một số giải pháp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông qua môn học Giáo dục công dân

  1. 0/ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA MÔN HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN Nhóm tác giả Họ và tên Chức vụ Đơn vị công tác Nguyễn Trọng Khánh Hiệu trưởng THPT Hoa Lư A Mai Thị Lệ Hằng Tổ phó, nhóm trưởng CM THPT Hoa Lư A Nguyễn Thị Thông Hoa Giáo viên THPT Hoa Lư A Đoàn Thị Mận Phó Hiệu trưởng THPT Hoa Lư A Đặng Thanh Cao Bí thư Đoàn trường THPT Hoa Lư A Hoa Lư, tháng 5 năm 2017
  2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA MÔN HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn sáng kiến Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người. Mục tiêu giáo dục trong mọi thời đại đều hướng tới mục tiêu giáo dục nhân cách. Tuy nhiên qua các thời kỳ với các giai đoạn lịch sử khác nhau, yêu cầu về nhân cách nói chung và phẩm chất, năng lực nói riêng của con người cũng có những thay đổi phù hợp với đòi hỏi của thời kỳ đó. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW về"đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”, nền Giáo dục và Đào tạo nước ta cần có sự thay đổi. Bên cạnh việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, giúp người học hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì giáo dục còn cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới. Hệ thống phẩm chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học. Theo đó, những phát triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người. Trong dự thảo chương trình giáo dục, đến năm 2018 mới có sách giáo khoa cho chương trình mới theo khung chương trình tổng thể, nhưng hiện nay các trường có thể vận dụng được việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trên chương trình và sách giáo khoa hiện hành (sách của chương trình sau năm 2000). Điều đó thực hiện được bởi vì trong sách giáo khoa tri thức vẫn là tri thức khoa học, chỉ có sự chiếm lĩnh tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức là điều cần thay đổi và luôn thay đổi. Vì vậy khi tiếp cận, làm quen với việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học, người cán bộ quản lý giáo dục, người day sẽ phát hiện ra nhiều vấn đề có thể đóng góp hữu ích cho dự thảo chương trình tổng thể hiện nay và chương trình cụ thể trong thời gian tới. Khi nung nấu và bắt tay vào thực hiện ý tưởng, nhóm tác giả đã tìm hiểu và rất tâm đắc với sơ đồ phẩm chất và năng lực trong mối quan hệ với các yếu tố 2
  3. tư tưởng, đạo đức, lối sống và kiến thức, kỹ năng, thái độ do các nhà nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam đưa ra: Theo sơ đồ trên, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học tuy có khác với dạy học trước đây nhưng có sự kế thừa, nâng lên từ phương pháp, nội dung dạy học trước đây. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Hướng dẫn Số 964 /SGDĐT-CTTT, ngày 13/9/2016 của phòng CTTT- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình về việc thực hiện Công tác HSSV, giáo dục thể chất và y tế trường học năm học 2016-2017 đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là: Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chú trọng nội dung liên quan tới giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chương trình khởi nghiệp cho HSSV; Triển khai có hiệu quả Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án"Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”; Kế hoạch triển khai Quyết định số 1501/QĐ-TTg của ngành Giáo dục ban hành theo Quyết định số 410/QĐ- BGDĐT ngày 04/02/2016 của Bộ trưởng Bộ GDĐT; Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nội dung phong trào thi đua xây dựng THTT,HSTC. Tăng cường các hoạt động giáo dục, hướng dẫn cách sử dụng, khai thác thông tin trên Internet 3
  4. cho thanh, thiếu niên trong trường học; tăng cường giáo dục toàn diện; giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm với cộng đồng, xã hội cho HSSV. Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong nhà trường; Triển khai có hiệu quả hoạt động câu lạc bộ, tư vấn tâm lý, nghề nghiệp cho HS; Tổ chức triển khai thực hiện các quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BGDĐT-BVHTTDL-BLĐTBXH-BCA ngày 05/5/2016 về việc hướng dẫn thực hiện giáo dục chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trong nhà trường. Những phẩm chất, năng lực của người học chỉ có thể được hình thành và phát triển thông qua nhiều hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động giáo dục trong giờ nội khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp; căn cứ vào kinh nghiệm quản lý; chức năng, nhiệm vụ và kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân (GDCD) ở cơ sở giáo dục cấp THPT; căn cứ vào lý luận về đổi mới phương pháp giảng dạy và điều kiện, tình hình thực tiễn, trong những năm học từ 2015 - 2016 và 2016 - 2017 nhóm tác giả sáng kiến đã trăn trở và mạnh dạn áp dụng một số giải pháp trong đó có phương pháp dạy học trực quan thông qua việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa môn GDCD; phát huy vai trò liên môn, khả năng xã hội hóa giáo dục; tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tạo nhiều sân chơi, nhiều cơ hội cho học sinh được trải nghiệm sáng tạo, đó là những lý do cơ bản nhất để nhóm tác giả lựa chọn sáng kiến"Một số giải pháp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông qua môn học Giáo dục công dân”. 2. Lịch sử đề tài Vai trò, chức năng của giáo dục phổ thông luôn nhắc tới mục tiêu giáo dục toàn diện nhưng trên thực tế những năm qua, việc tổ chức thực hiện vẫn nặng về"dạy chữ” hơn là"dạy người”,"dạy nghề”. Sự thiếu sót này bắt nguồn từ sự quá tải của chương trình học nội khóa; sự nhận thức sai lệch, thiếu quan tâm của một số các nhà quản lý, các nhà giáo về việc bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh. Trong các cơ sở giáo dục phổ thông còn gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian và cơ hội cho các hoạt động giáo dục nội khóa và đặc biệt là giáo dục ngoài giờ lên lớp. Mỗi cơ sở giáo dục có điều kiện, hoàn cảnh riêng vì vậy sự vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện và hiệu ứng của chương trình giáo dục cũng khác nhau. Trong năm học 2015 - 2016, nhóm thực hiện sáng kiến của chúng tôi đã tiến hành đi sâu nghiên cứu, tiếp cận vấn đề và quan tâm trau dồi, 4
  5. phát triển các phẩm chất, kỹ năng cho học sinh thông qua việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa bộ môn GDCD đối với khối 11; năm học 2016 – 2017 nhóm tác giả tiếp tục áp dụng mạnh việc sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa bộ môn GDCD đối với cả ba khối lớp 10,11,12 đồng thời phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Chữ Thập đỏ, Ban Đại diện cha mẹ học sinh... tổ chức nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (NGLL) như hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Hội thi"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình”, tổ chức"Ngày Hội Khởi nghiệp”... Qua quá trình vận dụng một số giải pháp đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn GDCD, tạo sự biến chuyển tích cực về nhận thức và hành vi của học sinh. Việc học sinh hứng thú học tập và sự thành công của các chương trình ngoại khóa đã khẳng định bước đi đúng hướng, phù hợp với đối tượng học sinh THPT và địa phương Hoa Lư, Ninh Bình, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường, góp phần tạo tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo trong thời gian tiếp theo. 3. Điểm mới của sáng kiến 3.1. Đổi mới phương pháp tổ chức thực hiện Hoạt động dạy và học là hoạt động điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam về tự nhiên xã hội- nhân văn, đồng thời rèn luyện cho các em hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Trên cơ sở tổ chức cho học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức mà hình thành cho các em cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung theo mục đích giáo dục đã đề ra. - Trước hết: Sự đổi mới phương pháp tổ chức thực hiện được thể hiện trong sự đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức trong giờ nội khóa. Để thực hiện thành công một giờ lên lớp người thầy phải tìm tòi và áp dụng rất nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp với đối tượng song trong phạm vi sáng kiến này chúng tôi tập trung làm rõ nét về phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trong môn học GDCD; - Thứ hai: Lựa chọn tên hội thi, hình thức hội thi, cuộc thi tuyên truyền"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình” được sân khấu hóa kết hợp với những hoạt động"Ngày Hội Khởi nghiệp” với những lựa chọn vô cùng phong phú, sáng tạo cho hoạt động giáo dục NGLL cho học sinh."Tình 5
  6. bạn”,"tình yêu”,"hôn nhân và gia đình” được đặt dưới góc nhìn của tuổi học trò; là những vấn đề đang diễn ra với vai trò là một trong các thành tố giáo dục gia đình - nhà trường - xã hội; đó có thể là vấn đề của bạn, của tôi hoặc của gia đình bạn, gia đình tôi và của toàn xã hội song cái mà nhóm tác giả hướng tới là từ những kiến thức sẽ đánh thức ý thức trách nhiệm giáo dục của nhà trường - gia đình - xã hội đến ý thức tự giáo dục, tự bồi dưỡng phẩm chất, năng lực và hình thành nhân cách của mỗi học sinh; đánh thức ý thức trách nhiệm của thanh niên - người công dân - chủ nhân đất nước trong tương lai trong bước khởi nghiệp tiến tới chấn hưng đất nước và một giá trị nhân văn hướng tới là sự chia sẻ "vì bạn xứng đáng”. - Thứ ba: Phát huy tối ưu sự kết hợp bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh trong giờ nội khóa môn GDCD kết hợp với giải pháp bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bởi lẽ học trên lớp và hoạt động ngoại khóa là hai hình thức tổ chức dạy học mà ở mỗi hình thức dạy học đều có điểm mạnh và những hạn chế nhất định song sự kết hợp các hình thức tổ chức dạy học đó lại có điều kiện bổ trợ cho nhau rất hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy học. Giờ học nội khóa diễn ra trong khuôn khổ lớp học theo thời gian quy định để thực hiện khung chương trình đã được quy định mà ở đó chủ yếu diễn ra hoạt động tương tác chủ yếu giữa thầy và trò, giữa trò với trò trong khi đó hoạt động ngoại khóa là một trong những sân chơi để học sinh tự nguyện tham gia theo nhu cầu, khả năng của bản thân giúp học sinh giải tỏa căng thẳng trong việc học với khối lượng kiến thức lớn ở trên lớp và tìm tòi ra những bài học từ trong cuộc sống, phát triển kĩ năng; được khám phá bản thân, phát triển những kĩ năng mới và củng cố những gì bạn có. Học sinh còn tập làm quen với việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình giúp triển khai các mục tiêu, dự định cũng như có thêm nhiều kinh nghiệm quản lý và làm việc theo nhóm. Tham gia tích cực vào các hoạt động ngoại khóa giúp học sinh cân bằng cuộc sống, thư giãn và tiếp thêm sinh lực từ đó khám phá ra những sở thích mới mẻ, những trải nghiệm thú vị, phát triển rất nhiều kỹ năng đặc biệt là kỳ năng sống (KNS) góp phần hoàn thiện bản thân cùng với những kiến thức được học để xây dựng hành trang vững chắc nhất khi bước vào cuộc sống xã hội với những bổn phận và trách nhiệm của người công dân. - Thứ tư: Phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường: Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của hoạt 6
  7. động dạy học ở trường phổ thông, đòi hỏi phải gắn hoạt động dạy học với việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong đó, quan trọng nhất là tạo động lực và kích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ giáo viên; kết hợp phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của mỗi thành viên trong tập thể với sự quản lý thống nhất của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường; đảm bảo chất lượng dạy học một cách bền vững; xây dựng cơ chế và có chính sách phù hợp để phát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường. Thực hiện mục tiêu bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh qua giảng dạy bộ môn GDCD, Ban Giám hiệu đã chỉ đạo nhóm chuyên môn kết hợp với BCH Đoàn trường xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện trong đó đi sâu áp dụng phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ nội khóa và chương trình ngoại khóa"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình” được triển khai trên cả khối lớp 10, 11,12. Trong chuỗi hoạt động đó cao điểm là Hội thi"Công dân với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình”; Hội thi được đặt trong không gian"Ngày Hội Khởi nghiệp” tổ chức vào ngày 24/3/2017 với phương châm hiệu quả, an toàn, tiết kiệm, phát huy nội lực, phát huy tối đa khả năng và sức sáng tạo của học sinh và khả năng xã hội hóa giáo dục trong hoạt động dạy và học. 3.2. Học sinh thực sự là chủ thể trong mọi hoạt động - Trong giờ nội khóa HS là chủ thể của mọi hoạt động nhận thức: Lớp trưởng (nhóm trưởng) là người điều hành hoạt động nhóm; mọi thành viên chủ động tiếp cận, phát hiện, nêu vấn đề và đưa ra ý kiến, hướng giải quyết vấn đề; giáo viên hướng dẫn và ở mức độ nào đó cùng HS làm đồ dùng dạy học (cùng vẽ sơ đồ tư duy, lập bảng biểu kiến thức, phản ánh những câu chuyện có thật trong cuộc sống...); - Trong giờ ngoại khóa HS là"Nhóm Khởi nghiệp”,"Nhà đầu tư”, được làm người dẫn chương trình, người thủ lĩnh hay người quản lý một nhà hàng; được làm một diễn viên trên sân khấu hóa thân trong những hình tượng nhân vật yêu thích; được đối diện với sự thành công hay thất bại trong kinh doanh, được nói lên quan điểm, nhận thức của mình... Theo sự hướng dẫn của thầy cô, HS hoàn toàn chủ động tiếp cận vấn đề và từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu trong hoạt động cá nhân và tập thể. Trong quá trình tổ chức thực hiện chú ý kết hợp giữa mục tiêu trau dồi kiến thức, rèn 7
  8. luyện kỹ năng, bồi dưỡng tư tưởng, thái độ, tình cảm tích cực trong giờ nội khóa với các hoạt động giáo dục NGLL; qua quá trình học tập khám phá tri thức cũng chính là quá trình các tập thể và cá nhân khám phá chính bản thân mình, bộc lộ khả năng, thái độ, xúc cảm, vai trò của mình trong tập thể từ đó có định hướng rõ hơn con đường đi trong tương. Kết quả đạt được của các hoạt động là thước đo tình cảm, tài năng, trí tuệ của mỗi tập thể và cá nhân. 3.3. Phát huy khả năng vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Môn GDCD có đặc trưng riêng là tổng hợp nhiều kiến thức từ Triết học, Kinh tế - chính trị Mác - Lênin, Nhà nước và pháp luật, Đạo đức, các chính sách xã hội...và tích hợp nhiều nội dung như giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Phòng chống tham nhũng, tuyên truyền Luật an toàn giao thông, phòng chống các tệ nạn xã hội.... Nội dung của chương trình có mối liên hệ với một số nội dung của các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục quốc phòng, Sinh học, Công nghệ... Chính vì vậy khi đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực người học, GV các môn học khác nhau có thể phối hợp nhịp nhàng để cùng xây dựng và thực hiện các hoạt động giáo dục. Đặc biệt với hình thức giáo dục NGLL. Chẳng hạn, với chủ đề"môi trường”,"dân số”, ‘việc làm”, kiến thức môn học Giáo dục công dân và Địa lí có nhiều điểm trùng nhau. Hay bài 14 (GDCD10): Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có một số điểm tương đồng với kiến thức môn Ngữ văn (giáo dục lòng yêu nước), môn Lịch sử, Giáo dục quốc phòng (giáo dục truyền thống yêu nước)... Phát huy tính liên môn trong hoạt động giáo dục, mục tiêu bồi dưỡng phẩm phẩm chất, phát triển năng lực cho người học sẽ đạt được hiệu quả cao hơn nhờ việc khai thác và vận dụng kiến thức liên môn nên sâu sắc, có ý nghĩa hơn. Mặt khác, giáo viên các môn học có sự tương tác, phối hợp nên qua đó việc học hỏi và trao đổi kinh nghiệm chuyên môn có hiệu quả hơn. 3.4. Phát huy tối đa việc thực hiện xã hội hóa trong học tập Khả năng xã hội hóa (XHH) giáo dục được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản như: Hoạt động giáo dục đó đã lôi cuốn được bao nhiêu người tham gia? họ là ai? họ đã tham gia thực hiện công việc như thế nào? Số tiền ủng hộ để thực hiện công việc đó là bao nhiêu? Những ai được thụ hưởng thành quả từ hoạt động giáo dục đó?... Chương trình đã đạt được những thành công nhất định. Kết quả có được là do sự đồng thuận, sự quan tâm chỉ đạo vào tạo mọi điều kiện vật chất, tinh 8
  9. thần, con người, thời gian của các cấp lãnh đạo đảng, chính quyền trong nhà trường, các cơ quan chuyên môn và có liên quan đóng trên địa bàn, sự phối hợp của các ban, ngành, của các bậc phụ huynh, của giáo viên (GV) và HS trong toàn trường. 3.5. Đưa thông điệp rộng rãi trong cộng đồng Thực hiện chuyên đề ngoại khóa, nhóm tác giả đã lựa chọn hình thức"Hội thi” theo từng chủ đề cho khối 10 là"Tình bạn”; khối 11 -"Tình yêu”; khối 12 - "Hôn nhân và gia đình”. Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình là những phạm trù, những vấn đề của đời sống xã hội mà mỗi người vừa là chủ thể vừa là khách thể trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội đó. Hiển hiện trong đời thực lại có rất nhiều câu hỏi, nhiều bài toán cuộc đời được đặt ra; có những góc khuất tâm hồn ta không nhận thấy... Tự tin bước tiếp hay không thể vượt qua một ranh giới vô hình mong manh trong những vấn đề của cuộc sống? Tất cả đề được gọi tên, nêu ra, để tìm, để hiểu, để có câu trả lời - Chỉ có những diễn đàn mới đưa thông điệp đến với công chúng nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất ngay cả những điều khó nói nhất. 4. Phạm vi, đối tượng áp dụng sáng kiến Sáng kiến góp phần cung cấp những kỹ năng có thể áp dụng để giảng dạy trong giờ chính khóa hoặc ngoại khóa ở tất cả các môn học trong chương trình hiện hành và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với học sinh trung học phổ thông. 9
  10. PHẦN NỘI DUNG Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH THPT A. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Những phẩm chất và năng lực cần bồi dưỡng và phát triển cho học sinh THPT qua môn học Giáo dục công dân 1.1. Khái niệm về nhân cách, phẩm chất, năng lực Dưới góc nhìn giáo dục học thì nhân cách là tổ hợp của những phẩm chất và năng lực, là đạo đức và tài năng được kết tinh ở mỗi con người. Con người khi mới sinh ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánh bản chất của xã hội của mỗi cá nhân và chỉ được hình thành, phát triển trong hoạt động giao lưu. Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao tiếp, học tập, lao động, vui chơi, giải trí... con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình. Còn theo các nhà xã hội học thì nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Theo từ điển Tiếng Việt: Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật; hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tình cảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục. Cũng theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên. 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân trong đó: 10
  11. - Các yếu tố bẩm sinh - di truyền tốt là những mầm mống của phẩm chất và tài năng, nhất là tài năng con người; các mầm mống cần được phát hiện kịp thời và giáo dục đúng cách thì tài năng mới phát huy, tỏa sáng. Nếu không làm như vậy, mầm mống cũng bị mai một. Do vậy yếu tố di truyền không có vai trò quyết định đến hình thành nhân cách. - Môi trường tự nhiên, môi trường gia đình, xã hội, hoàn cảnh sống có tác động và ảnh hưởng to lớn đến cá nhân nhưng cũng không có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển nhân cách bởi vì hoàn cảnh sáng tạo ra con người nhưng trong một chừng mực, con người cũng sáng tạo ra hoàn cảnh. - Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách như: giáo dục sẽ định hướng cho phát triển nhân cách, giáo dục làm phát huy các yếu tố bẩm sinh - di truyền, giáo dục khắc phục được một số các khuyết tật, lệch lạc của cá nhân. Tuy vậy cá nhân phát triển đến mức độ nào, theo xu hướng nào, giáo dục không quyết định được cho cá nhân. Giáo dục không là vạn năng. Trong các yếu tố kể trên chỉ có hoạt động của cá nhân mới là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là phương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần cho việc hình thành, phát triển nhân cách vì vậy dạy học phát triển phẩm chất, năng lực vừa là mục tiêu giáo dục (xét về mục đích, ý nghĩa của dạy học), vừa là một nội dung giáo dục (xét về các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt của người học) đồng thời cũng là một phương pháp giáo dục (xét về cách thức thực hiện). Do vậy, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có một ưu thế vượt trội trong hình thành và phát triển nhân cách bởi vì nó hướng người học đi vào hoạt động cá nhân (hoạt động trong giờ, ngoài giờ, hoạt động giao tiếp với tự nhiên, xã hội, môi trường, trải nghiệm...), mà các hoạt động sống, hoạt động cá nhân có vai trò quyết định đối với hình thành nhân cách. Vì vậy vấn đề còn lại là người học tham gia như thế nào các hoạt động để hình thành và phát triển nhân cách của mình. 1.3. Mô hình dạy học phát triển 3 phẩm chất, 8 năng lực ở Việt Nam Trong một dự thảo cho đổi mới về chương trình sách giáo khoa sau năm 2015. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra một chương trình tổng thể gồm ba phẩm chất và tám năng lực như sau. (Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố ngày 05/8/2015). 11
  12. * Ba phẩm chất là: Sống yêu thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm. - Sống yêu thương gồm: Yêu tổ quốc, giữ gìn phát huy truyền thống, di sản quê hương đất nước, tôn trọng các nền văn hóa trên thế giới, nhân ái, khoan dung, yêu thiên nhiên. - Sống tự chủ gồm: Sống trung thực; tự trọng; tự lực; chăm chỉ; vượt khó; tự hoàn thiện. - Sống trách nhiệm gồm: Tự nguyện; chấp hành kỷ luật; tuân thủ pháp luật; bảo vệ nội quy, pháp luật. Mỗi phẩm chất sẽ được Bộ nêu rõ những tiêu chí cụ thể hơn, cụ thể hóa trong chương trình theo từng cấp học và từng môn học. *Tám năng lực: Hệ thống phẩm chất, năng lực chung được khái quát: Nhóm năng lực - Năng lực giao tiếp quan hệ xã hội - Năng lực hợp tác CÁC - Năng lực tự học Nhóm năng lực NĂNG - Năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo làm chủ và phát LỰC - Năng lực thể chất triển bản thân CHUNG - Năng lực thẩm mỹ Nhóm năng lực - Năng lực tính toán công cụ - Năng lực công nhệ thông tin và truyền thông 2. Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh Bồi dưỡng các phẩm chất, phát triển các năng lực cho học sinh thực chất chính là hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống. Công tác này có vai trò vô cùng quan trọng trong thời kỳ hiện nay, khi tình trạng xuống cấp đạo đức đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và kỹ năng, năng lực lao động xã hội rất thấp đang là vấn đề báo động cấp quốc gia. Và môn GDCD là một bộ môn đặc thù có đóng góp quan trong trong việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh phổ thông. Giáo dục đạo đức, lối sống giúp cho mỗi cá nhân nâng cao trình độ nhận thức về các giá trị đạo đức, lối sống từ đó tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, lối sống của xã hội. Giáo dục đạo đức, lối sống góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị đạo đức mà các thế hệ trước đã tạo dựng; đồng thời góp phần tích cực trong việc giáo dục hình thành những giá trị đạo đức, lối sống mới, khắc phục những quan 12
  13. điểm lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị đạo đức truyền thống, những thói hư tật xấu hay những hiện tượng phi đạo đức. Giáo dục đạo đức, lối sống không chỉ làm cho con người nhận thức đúng các chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức, lối sống mà còn thông qua đó để hình thành niềm tin và tình cảm đạo đức. Trên cơ sở đó giúp con người nhận ra giá trị của các giá trị đạo đức, nhận thấy giá trị và ý nghĩa cuộc sống mang tính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần nhân đạo hóa con người và đời sống xã hội. Trong chiến lược phát triển con người, Đảng và Nhà nước ta đề cao vai trò giáo dục đạo đức, lối sống cho cho học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước. Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng góp phần: - Hoàn thiện nhân cách cho học sinh thực hiện tốt những bổn phận đạo đức của bản thân đối với việc học tập, rèn luyện, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. - Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh. - Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm trong sáng, cao thượng. - Bồi dưỡng ý chí, hành động đúng, hình thành những thói quen đạo đức, lối sống đặc biệt là ý thức trách nhiệm công dân. - Đấu tranh khắc phục, ngăn chặn những biểu hiện thiếu đạo đức trong tư tưởng, tình cảm, hành động của học sinh. Xây dựng nếp sống văn minh, thanh lịch, tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội. - Hướng tới mục tiêu ngăn chặn tình trạng bạo lực trong học sinh; đảm bảo an ninh, trật tự trong trường học, kiềm chế, đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật trong học sinh. Giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng các phẩm chất, năng lực cho người học có vai trò rất lớn trong việc hình thành ý thức, tình cảm cũng như các hành vi đạo đức của con người nói chung, của học sinh nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức xã hội; trước những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên thì công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh càng trở nên quan trọng. Để hoàn thành xuất sắc"sứ mệnh” của môn học, nhà giáo là yếu tố quyết định thành công của công tác giáo dục phẩm chất, năng lực cho học sinh thông qua việc biết lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp, thỏa mãn được yêu 13
  14. cầu của người học; để từ đó, trang bị kiến thức và kỹ năng cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn. 3. Vai trò của bộ môn Giáo dục công dân trong việc bồi dưỡng phẩm chất và phát triển năng lực cho học sinh THPT Vai trò của các môn học đối với phát triển phẩm chất, năng lực theo các mức độ khác nhau và thể hiện theo các mức độ như: Môn học đóng vai trò chủ yếu...; môn học góp phần...; môn học tạo cơ hội phát triển năng lực cụ thể hoặc theo nhóm năng lực. Môn học GDCD trong chương trình giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục học sinh về ý thức và hành vi, góp phần trang bị cho học sinh kỹ năng sống, rèn luyện ý thức sống của người công dân, góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là việc làm vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu dài và cũng không hề đơn giản trước những làn sóng văn hóa của thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế thị trường. Đặc biệt là khi Nhà nước đang quyết tâm triển khai thực hiện có hiệu quả việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển con người toàn diện thì hơn bao giờ hết, bộ môn GDCD giữ một vị trí vô cùng quan trọng, là môn học cần thiết, không chỉ trang bị cho người học những tri thức đạo đức mà điều quan trọng là rèn luyện cho học sinh thói quen, kỹ năng và thực hiện hành vi quan hệ giao tiếp, ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội. Thứ nhất: Giáo dục công dân đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành phẩm chất, nhân cách học sinh. Khi sinh ra mỗi học sinh giống như tờ giấy trắng, chính sự dạy dỗ của gia đình, nhà trường và xã hội mà hình thành nên nhân cách một con người. Nhà trường là nơi mà trẻ em được giáo dục đầy đủ nhất về các mặt như: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ…. Trong đó môn giáo dục công dân đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Môn giáo dục công dân hình thành cho các em những tri thức, niềm tin đạo đức, từ đó hình thành nên các hành vi đạo đức và động cơ đạo đức tương ứng. Môn học khơi gợi cho học sinh tình yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực và trách nhiệm. Những hành động sai thường bắt nguồn từ những quan điểm sai lệch, chính vì vậy mà ngay từ dầu chúng ta phải hướng các em học sinh đến những quan điểm đạo đức 14
  15. đúng đắn, phù hợp với quan niệm đạo đức của xã hội, để hình thành nên những thói quen đạo đức tốt. Giáo viên trực tiếp là người uốn nắn những tư tưởng sai lệch của học sinh, chỉ ra cho các em cái gì là đúng là phù hợp với quan niệm đạo đức của xã hội, điều gì là chưa đúng để các em kịp thời sửa chữa. Thứ hai: Giáo dục công dân là môn học cung cấp cho học sinh cái nhìn đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan. Trong cuộc sống biết nhìn nhận mọi vấn đề một cách khách quan, không áp đặt ý kiến chủ quan của mình. Nhận thức đúng đắn quá trình hình thành và phát triển của thế giới. Tin tưởng vào sự phát triển của xã hội, tránh xa những hủ tục, lạc hậu và mê tín dị đoan. Trở nên bình tĩnh trước mọi tình huống của cuộc sống. Có thái độ cầu thị trong học tập, rèn luyện và lao động sản xuất. Tránh cho học sinh tư tưởng chủ quan, coi thường việc nhỏ. Đây là những đức tính tốt giúp ích rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu của học sinh sau này. Là con đường để hình thành nhân cách con người xã hội chủ nghĩa. Thứ ba: Giáo dục công dân là phương tiện hữu hiệu để giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng sống. Kỹ năng sống của học sinh là khả năng vận dụng những kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ. Bất cứ kỹ năng nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết. Những kiến thức mà môn giáo dục công dân đã cung cấp cho học sinh chính là những cơ sở đầy đủ và mang tính khách quan nhất. Kỹ năng quan trọng mà học sinh tiếp nhận được khi học môn giáo dục công dân là những kỹ năng như: tự học, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ, giao tiếp, ứng…. Nhờ những kỹ năng này mà học sinh có thể tự tin hơn trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân gia đình và xã hội. Như vậy có thể nói môn giáo dục công dân có một vai trò vô cùng to lớn đối với việc giáo dục phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh. Nó giúp cho học sinh có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để ứng xử phù hợp trong cuộc sống. Việc dạy học có hiệu quả môn giáo dục công dân sẽ giúp giảm thiểu những tệ nạn xã hội đang hàng ngày, hàng giờ diễn ra trong xã hội. Xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh, không còn lối ứng xử thiếu văn hóa, không còn tình trạng bạo lưc trong giáo dục, một xã hội chỉ có tình yêu thương, sự tôn trọng, sống trung thực, trách nhiệm, xây dựng hòa bình, hạnh phúc. 15
  16. B. CƠ SỞ THỰC TIỄN I. Thực trạng vấn đề đạo đức, lối sống của học sinh THPT hiện nay 1. Những biểu hiện tích cực về đạo đức, lối sống của của học sinh Có thể khẳng định rằng, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh hiện nay đã có nhiều tiến bộ; sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng trong toàn bộ hệ thống chính trị được tăng cường; việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội để chung tay giáo dục học sinh có lối sống lành mạnh, tích cực học tập, nghiên cứu khoa học và sống có trách nhiệm đã được quan tâm đúng mức. Học sinh hiện nay nói chung và học sinh trường THPT Hoa Lư A nói riêng có tinh thần yêu quê hương đất nước, tin tưởng, chấp hành đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng và pháp luật của nhà nước. Đa số học sinh đều xác định được mục tiêu sống, có lý tưởng phấn đấu rõ ràng với động cơ học tập nghiêm túc; tích cực tham gia các hoạt động, các phong trào thanh niên vì cộng đồng, vì xã hội; biết chia sẻ, hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn. * Về phẩm chất, tư tưởng chính trị: Hầu hết học sinh có tinh thần yêu quê hương đất nước, tin tưởng và chấp hành đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đa số học sinh đồng ý việc cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế hội nhập với thế giới hiện nay; quê hương, cội nguồn dân tộc vẫn là quan trọng. Đa số học sinh đều xác định được mục tiêu cuộc sống, có lí tưởng phấn đấu rõ ràng với động cơ học tập nghiêm túc, tích cực và chủ động với tinh thần vượt khó; có ý chí vươn lên trong học tập, rèn luyện và đưa ra được yêu cầu tính tích cực, chủ động, linh hoạt là yếu tố quan trọng giúp học sinh thành công trong học tập. * Về phẩm chất đạo đức: Đa số học sinh có nhận thức và hành vi trân trọng các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Các phẩm chất như nhân ái, tương thân tương ái giúp đỡ nhau, sống có nghĩa tình, cần cù kiên trì, hiếu học, tôn sư trọng đạo, trung thực, đoàn kết được đại đa số học sinh nhận thức và phát huy. Hầu hết học sinh có ý thức trách nhiệm với gia đình, với việc học tập rèn luyện và bản thân. Học sinh đều biết và thực hiện sống, làm việc tuân thủ theo pháp luật; ý thức và trách nhiệm công dân được tăng cường hơn rất nhiều. Học sinh tích cực tham gia các hoạt động tập thể, các phong trào, xung kích, sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng. Phong trào tình nguyện do Trung ương Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên Việt Nam tổ chức đã trở thành phong trào chung, thường xuyên trong tất cả các nhà trường với nhiều hình thức phong phú. 16
  17. * Về lối sống, kỹ năng sống: Học sinh THPT hiện nay đều có lối sống lành mạnh, biết chia sẻ, hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn trong các phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai. Phần lớn học sinh có lối sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú và phê phán những tiêu cực, tệ nạn xã hội và các hành vi trái thuần phong mĩ tục của dân tộc, không sa vào tệ nạn xã hội. Tích cực tham gia các hoạt động, phong trào thi đua, cuộc vận động do ngành Giáo dục và các đoàn thể xã hội tổ chức phát động. Trong cuộc sống hiện đại, với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì mọi người cần hợp tác với nhau hơn. Học sinh quan niệm rằng hợp tác giúp tạo nên sức mạnh và khiến cho công việc đạt hiệu quả hơn. Đồng thời, học sinh vẫn giữ được nếp sống yêu lao động, tiết kiệm, giản dị, khiêm tốn, tôn trọng sự khác nhau về cá tính và tôn trọng người khác. Như vậy, hầu hết học sinh THPT ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc và gia đình và bản thân, ra sức phấn đấu lao động, học tập, rèn luyện về mọi mặt với khát vọng cống hiến hết mình vì tương lai tươi sáng của dân tộc. 2. Những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống của học sinh Phải thừa nhận rằng, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận học sinh ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại, như phai nhạt lý tưởng: Không chịu học tập, học lấy vì, gian dối trong thi cử kiểm tra, học tập mang tính gò ép của cha mẹ, cho rằng sướng khổ do số trời…. - Một bộ phận không nhỏ chạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật ...điều này thể hiện rõ qua biểu hiện: Thiếu lễ phép với với cha mẹ, thầy cô..thích gây gổ, quấy rối, đánh nhau, trộm cắp, cướp giật mà những điều đó cũng bởi vì đam mê cờ bạc, số đề, nghiện chơi game…. - Những biểu hiện đó làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên, nhất là khi chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này. Tất cả những suy nghĩ lệch lạc đó dần dần ảnh hưởng xấu đến động cơ, ước mơ hoài bảo vươn lên: lý tưởng trống rỗng, mục đích trông chờ, mờ nhạt, tư tưởng thực dụng… 17
  18. Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân, gia đình, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang"chờ đợi” và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược"diễn biến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Cụ thể, đạo đức trong học đường đang có nguy cơ xuống cấp, mơ hồ về truyền thống dân tộc, chê bai tinh hoa dân tộc trong khi đó đua đòi sính ngoại…. Một bộ phận học sinh rơi vào những tệ nạn xã hội, bạo lực học đường; không kính trọng thầy cô, xem thường bạn bè, mọi người xung quanh; không hiếu thảo với ông bà cha mẹ; thiếu tính nhân đạo; các em mê games bỏ học hoặc tự tử vì games, vì yêu đương … Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra con số thống kê (chưa đầy đủ) thì từ năm 2009 đến nay, học sinh, sinh viên liên quan đến trên 8.000 vụ việc pháp luật hình sự, trong đó các hành vi gây rối trật tự công cộng có 935 vụ, tội phạm ma túy có 357 vụ, giết người có 37 vụ, trên 6.000 vụ trộm, cướp tài sản…Bạo lực học đường tuy đã được kiềm chế nhưng vẫn xảy ra tại nhiều địa phương. Tình trạng học sinh, sinh viên bỏ học, bỏ nhà sống lang thang, tụ tập thành băng nhóm gây rối trật tự công cộng, phạm pháp diễn biến phức tạp. Theo báo cáo sơ bộ của công an 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, từ năm 2010 đến nay, có trên 7.700 học sinh, sinh viên tham gia đánh nhau, bị xử lý kỷ luật. Đối với học sinh trường THPT Hoa Lư A cũng còn có những học sinh bộc lộ một số biểu hiện chưa tốt về đạo đức, lối sống, lý tưởng: - Một số học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, không xác định được động cơ học tập nên bỏ học hoặc học để lấy tấm bằng tốt nghiệp THPT. - Một số học sinh thường xuyên vi phạm, không chấp hành nội quy của nhà trường: đi học muộn, không thực hiện đồng phục học sinh, nghỉ học không lí do, gây mất trật tự trong lớp, nói tục, nói dối thầy cô và bạn bè; để các kiểu tóc, ăn mặc phản cảm… - Còn hiện tượng học sinh bỏ học đi chơi điện tử; hút thuốc lá. - Có hiện tượng gây gổ gây gổ đánh nhau trong trường, có các hành vi ngôn ngữ, ứng xử thiếu văn hóa. Trước thực trạng đó, công tác bồi dưỡng phẩm chất, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, phát triển năng lực của học sinh được các cơ sở giáo dục, các nhà giáo tích cực triển khai thực hiện với nhiều cách thức khác nhau và đem lại hiệu quả nhất định, trong đó, hình thức giáo dục qua hoạt động ngoài giờ lên lớp thu 18
  19. hút được sự quan tâm, tạo ra hứng thú mạnh mẽ với học sinh phổ thông, nhờ đó có ảnh hưởng tích cực đến phẩm chất, năng lực của học sinh. II. Thực trạng việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh THPT trong môn học Giáo dục công dân và những nguyên nhân tồn tại 1. Thực trạng việc bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh THPT trong môn học Giáo dục công dân Mặc dù bộ môn GDCD có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh THPT, song đến thời điểm hiện nay, trong tâm niệm của của đa số phụ huynh và học sinh vẫn còn lối suy nghĩ bộ môn GDCD là bộ môn phụ trong nhà trường, là môn học không có trong các kỳ thi quan trọng như thi tốt nghiệp hay thi đại học nên học sinh thường học chỉ để có đủ điểm, bỏ qua vấn đề suy ngẫm, tìm hiểu thêm kiến thức đằng sau mỗi bài học, thậm chí là học qua loa, học cho xong. Mặc dù từ năm học này, môn GDCD đã trở thành một trong những môn thi tự chọn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia nhưng người học chưa thực sự quan tâm học tập, nhất là những học sinh không chọn thi khối khoa học xã hội. Thực trạng đó đã và đang tác động tiêu cực tới tâm lí của người dạy. Một bộ phận giáo viên tâm huyết với nghề, với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nhưng không ít giáo viên thiếu sự đầu tư, tìm tòi suy nghĩ để cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực của người học. Dù các trường đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng vẫn còn"bó khung” trong khuôn khổ của lớp học, giờ dạy nặng tính lý thuyết, thiếu những tư liệu, trích đoạn"người thật việc thật”, những tình huống"thật”… cho nên sức thuyết phục, độ cảm xúc của bài dạy chưa cao. Hơn nữa thời lượng dành cho môn GDCD chỉ có 1 tiết/ tuần mà lượng kiến thức thì khá nhiều, không chỉ riêng nội dung chính thức mà nhiều nội dung giáo dục khác nhau cũng"bị giao" cho môn GDCD để"tích hợp” nên việc dạy học mang nặng tính khái quát, giáo viên không có nhiều thời gian giảng dạy cặn kẽ cho học sinh những nội dung, vấn đề nào đó mà học sinh có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn. Sự khó khăn về thời gian và kinh phí khiến môn học thiếu điều kiện tốt nhất để thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình. Công tác phối hợp giữa cấp uỷ, Ban Giám hiệu với tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đã được thực hiện nhưng vẫn chưa phát huy hết nội lực, mối tương quan trách nhiệm giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho các em chưa được thể hiện rõ nét. Từ đó, phần lớn tại các trường vẫn còn tình trạng một bộ phận nhỏ học sinh chấp hành chưa 19
  20. nghiêm túc nội quy nhà trường, thiếu động cơ học tập, rèn luyện, chưa tích cực lao động, chưa tự giá rèn luyện phẩm chất, đạo đức cần thiết và quan trọng, do đó, kỹ năng sống thiếu và yếu…Chính vì vậy, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho người học được chủ động học tập, nghiên cứu và vận dụng tri thức vào thực tiễn đã và đang được Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai sâu rộng trong ngành giáo dục. Lựa chọn những giải pháp tích cực, tiên tiến nhất để áp dụng trong môn GDCD nhằm thực hiện mục tiêu bồi dưỡng phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh là vấn đề cần thiết và phải triển khai mạnh mẽ, kịp thời, có hiệu quả trên cơ sở điều kiện nhà trường, giáo viên và học sinh. 2. Nguyên nhân của của những tồn tại Bất kỳ một lỗi lầm nào cũng xuất phát từ những nguyên nhân sâu xa của nó. Đạo đức, lối sống của học sinh ngày càng suy thoái, bị"tha hóa”, chất lượng giảng dạy môn GDCD còn hạn chế xuất phát từ 2 nguyên nhân cơ bản sau: * Nguyên nhân khách quan - Về phía gia đình: Đối với gia đình cha mẹ sống hòa thuận, có điều kiện phát triển về kinh tế, cha mẹ có điều kiện và thời gian chăm sóc, yêu thương và quan tâm đến việc nuôi dạy con cái thì trẻ sẽ có phẩm chất đạo đức tốt. Còn đối với những gia đình thiếu về vật chất, cha mẹ phải bôn ba lo cuộc sống thì việc giáo dục con cái bị sao nhãng...điều này cũng ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách lối sống của các em. Bên cạnh điều kiện sống của gia đình, tấm gương đạo đức của cha mẹ cũng là ngọn đuốc soi sáng và giáo dục đạo đức cho con cái. Cha mẹ có lối sống lành mạnh, hòa nhập, sống thiện, sống tốt, có lòng nhân nghĩa và biết quan tâm giúp đỡ mọi người xung quanh, hiếu thảo với ông bà cha mẹ… thì con cái cũng học tập và có những phẩm chất tốt đẹp của cha mẹ vì"gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Ngược lại, nếu trẻ sống trong gia đình mà cha mẹ gây cãi, đánh nhau, rượu chè cờ bạc… cũng ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách và đạo đức của các em. Hơn nữa, cuộc sống hôn nhân của cha mẹ cũng quyết định quá trình hình thành đạo đức của trẻ. Cha mẹ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, quan tâm, thương yêu giúp đỡ và chia sẽ lẫn nhau những khó khăn trong cuộc sống luôn tạo ra một niềm tin và định hướng cho con cái phát triển. Ngược lại, cuộc sống hôn nhân của cha mẹ không hạnh phúc, đỗ vỡ sẽ tạo ra một áp lực lớn về tinh thần cho con cái, làm cho con cái chán nản, bi quan trong cuộc sống, dễ rơi vào tệ nạn xã hội, đạo đức bị suy thoái. Mặt khác, do nhu cầu thực dụng của phụ huynh về nghề nghiệp và cuộc sống trong tương lai cho con, họ chỉ quan tâm đầu tư đến các môn học để thi Đại 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2