Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao kỹ thuật chuyền bóng cao tay cho học sinh trung học phổ thông

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:34

16
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao kỹ thuật chuyền bóng cao tay cho học sinh trung học phổ thông" là trên cơ sở xây dựng và lựa chọn một số bài tập, nhằm nâng cao hiệu quả chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt cho học sinh trung học phổ thông Hoàng Mai và ứng dụng bài tập nhằm thu hút đông đảo học sinh tham gia tập luyện thường xuyên và có chất lượng. Từ đó đem lại hiệu quả thiết thực về giáo dục thể chất mà trước hết là nâng cao thể lực cho học sinhh trong quá trình tập luyện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao kỹ thuật chuyền bóng cao tay cho học sinh trung học phổ thông

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO KỸ THUẬT CHUYỀN BÓNG CAO TAY CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MÔN: THỂ DỤC Năm học: 2021 - 2022 1
  2. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO KỸ THUẬT CHUYỀN BÓNG CAO TAY CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Họ và tên tác giả: Nguyễn Đình Lâm Trịnh Thị Ngân Môn: Thể dục Điện thoại: 0838 328 678 - 0975800809 Năm học: 2021 - 2022 2
  3. MỤC LỤC TT Danh mục Trang 1 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 5 2 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 5 3 II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN NỘI DUNG ĐỀ 7 TÀI 4 III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. 8 5 IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9 6 V. THỜI GIAN – ĐỊA ĐIỂM – TRANG THIẾT BỊ NGHIÊN 10 CỨU 7 PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 11 8 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI: 11 9 II. NỘI DUNG 14 10 III. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM: 30 11 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 32 12 I. KẾT LUẬN 32 13 II. KIẾN NGHỊ: 32 3
  4. DANH MỤC VIẾT TẮT TT Chữ cái viết tắt/ký hiệu Cụm từ đầy đủ 1 ATP Enzyme adenosine triphosphate 2 TDTT Thể dục thể thao 3 GV Giáo viên 4 HS Học sinh 5 NT Nhóm trưởng. 6 Đ Đạt 7 CĐ Chưa đạt 4
  5. PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đất nước chúng ta bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển thì giáo dục thể chất trong nhà trường góp phần thực hiện mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam. “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “…tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”. Bác kêu gọi “tôi muốn đồng bào ta ai cũng cố gắng tập thể dục” và “tự tôi ngày nào cũng tập”. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Xã hội chủ nghĩa thì con người là yếu tố quyết định mà sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Để có con người hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì giáo dục cần phải đáp ứng được hai yêu cầu phát triển trí lực và thể lực. Vì thế, trong công tác giáo dục hiện nay, ngoài việc trang bị cho học sinh về mặt tri thức thì việc giáo dục thể chất trong nhà trường đóng góp một vai trò quan trọng. Bóng chuyền cũng là một trong những môn thể thao được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam quan tâm và phát triển cùng với các môn thể thao khác. Bóng chuyền là một môn thể thao ra đời ở Mĩ năm 1895.Chính vì sự hấp dẫn của nó nên được rất nhiều người trên toàn thế giới yêu thích và đón nhận, điều này đã tạo thuận lợi cho bóng chuyền phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Nó là một môn thể thao đồng đội đối kháng đòi hỏi mỗi VĐV phải có trình độ kĩ thuật cá nhân tốt, hoạt động với cường độ lớn, có thể lực tốt, sự khéo léo, linh hoạt, có tinh thần tập thể cao. Hiện nay, môn học thể thao tự chọn là một nội dung được học tập xuyên suốt ở các cấp học với số tiết được phân bố ngày một nhiều hơn. Chính vì thế thể thao tự chọn là nội dung có tầm quan trọng trong quá trình giáo dục thể chất ở nhà trường. Thể thao tự chọn là một nội dung được giảng dạy nhằm đi sâu vào sự yêu thích của học sinh và phát triển năng khiếu cá nhân. Do đó, thể thao tự chọn được học sinh yêu thích và say mê tập luyện. Trong số các môn thể thao tự chọn như bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ, bơi, đẩy tạ,… thì môn bóng chuyền là môn thể thao được nhiều giáo viên lựa chọn để giảng day cho học sinh. Bởi vì môn bóng chuyền là môn thể thao được đa số học sinh yêu thích và phù hợp với điều kiện tập luyện của nhiều nhà trường. Môn thể thao tự chọn Bóng chuyền có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của các em về mọi mặt Trí - Đức - Thể - Mỹ. Nếu trong tiết dạy thể thao tự chọn có chất lượng sẽ giúp cho học sinh nắm được kiến thức từ đó hình thành kỹ năng vận động, tạo ra những giờ học vui vẻ và bổ ích cho học sinh.Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định, quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động dựa trên quá trình nhận thức “Từ 5
  6. trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Như vậy, tính trực quan trong quá trình giảng dạy thể dục thể thao giữ một vai trò quan trọng. Vì hoạt động tiếp thu kiến thức động tác của học sinh về cơ bản là mang tính chất thực tiễn vận động phát triển các cơ quan cảm giác, từ đó học sinh hình thành thói quen vận động đúng. Để xây dựng kỹ năng vận động được tiến hành không chỉ bằng thị phạm động tác, mà bằng cả lời nói và tư duy, tức là phải sử dụng các phương pháp dạy học thể dục trong việc xây dựng kỹ năng vận động cho người luyện tập thể dục thể thao mà đối tượng ở đây là học sinh trung học phổ thông, và người huấn luyện hướng dẫn đó là giáo viên dạy thể dục thể thao. Trong thời gian của một tiết dạy chỉ 45 phút mà có đến hai hay ba nội dung học khác nhau đan xen vào, giáo viên phải làm thế nào để truyền tải kiến thức giúp học sinh nhanh chóng hình thành kỹ năng vận động, nghĩa là vừa xây dựng nhận thức cho các em về kỹ thuật động tác vừa phải đảm bảo đủ lượng vận động cần thiết cho các em trong một tiết học, hay nói cách khác trong một thời gian cực ngắn người giáo viên phải vừa giúp các em nắm được yếu lĩnh kỹ thuật động tác, vừa phải hướng dẫn cho các em thực hiện động tác. Muốn đạt được điều này, theo tôi, người thầy phải tăng cường sử dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức như phương pháp sử dụng lời nói, nhóm phương pháp trực quan, nhóm phương pháp luyện tập. Hay phải tăng cường làm mẫu thị phạm kết hợp với sử dụng lời nói giảng giải ngắn gọn, mấu chốt, đủ ý. Hay nói cách khác là vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực như: Dạy học vấn đáp; Dạy và học phát hiện giải quyết vấn đề; Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ vào giảng dạy để giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động. Trong dạy học, toàn bộ hoạt động của giáo viên đều liên quan đến việc sử dụng lời nói, bằng lời nói giáo viên truyền thụ kiến thức cho học sinh, kích thích tư duy, giao nhiệm vụ, phân tích và đánh giá kết quả, điều chỉnh hành vi người học. Đối với học sinh, lời nói cũng rất cần thiết trong quá trình nhận thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành động. Các hình thức sử dụng lời nói gồm: Thuyết trình (giảng giải), kể chuyện và thảo luận (đàm thoại),… đôi khi giáo viên còn kết hợp sử dụng các phương tiện trực quan, nhưng các phương tiện trực quan đóng vai trò minh họa lời nói giáo viên. Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên còn dùng các động tác bổ trợ là những động tác đơn giản hơn hoặc có kết cấu gần giống nhưng dùng sức nhẹ hơn động tác chính. Ngoài ra chúng ta thường sử dụng thêm các phương pháp trò chơi, thi đấu và tổng hợp vào giáo dục thể chất. Vậy làm thế nào để học sinh nhanh chóng hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động trong môn thể thao tự chọn bóng chuyền và tiến tới phát triển các tố chât nâng cao sức khoẻ? 6
  7. Chuyền bóng cao tay là cầu nối giữa phòng và tấn công, và được gọi như là linh hồn của đội bóng, chính vì vậy mà người tập cần để ý đến các yêu cầu của kỹ thuật động tác cũng như các bài tập bổ trợ cho kỹ thuật. Qua thực tế giảng dạy từ khi về trường đến nay tôi nhận thấy rằng cần phải đầu tư cho môn Bóng chuyền nhiều hơn ở các mặt để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường. Đặc biệt là đối với học sinh khối 10 là học sinh đầu cấp cần nắm vững kỹ thuật cơ bản về môn thể thao tự chọn này là một điều kiện hết sức cần thiết thuận lợi cho việc phát triển kỹ năng, kỹ xảo vận động làm nền tảng cho các năm học tiếp theo. Vậy việc tìm ra phương pháp để truyền đạt cho học sinh là một vấn đề cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học môn Bóng chuyền. Đây vốn là bộ môn được giới trẻ hay tham gia hoạt động thể dục thể thao vào các buổi chiều hàng tuần. Trong lĩnh vực thể dục thể thao nhà trường cũng đã đạt được một số kết quả cụ thể trong các đợt tổ chức hội khỏe phủ đổng cấp tỉnh cụ thể các môn như: cầu lông, điền kinh, đẩy gậy, bóng bàn.....Tuy nhiên xét về mặt toàn diện công tác giáo dục thể chất trong nhà trường vẫn cần bổ sung và hoàn thiện. Vì lí do đó, chúng tôi đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao kỹ thuật chuyền bóng cao tay cho học sinh trung học phổ thông” để có thể giảng dạy môn Bóng chuyền tốt hơn giúp cho học sinh tập luyện tiến bộ và ngày càng yêu thích môn Bóng chuyền. Qua đó góp phần làm tốt hơn nữa công tác rèn luyện sức khỏe cho học sinh Trung học phổ thông. II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1. Thuận lợi - Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của đảng trong công cuộc đổi mới,thì các mặt kinh tế, văn hóa xã hội ở thị xã Hoàng Mai đã có những bước phát triển rõ rệt, cùng với sự phát triển đó thì thể thao nhà trường cũng được nâng lên. - Được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường và các đoàn thể trong Nhà trường đã xây dựng hai sân bóng chuyền để giúp cho học sinh có điều kiện tổ chức tập luyện và tổ chức thi đấu giao lưu môn bóng chuyền. Vì vậy các hoạt động thể dục thể thao trở thành phương tiện chính để tăng cường sức khỏe, thúc đẩy các mặt đức – trí – thể - mỹ phát triển , hoàn thành tốt các mục đích và mục tiêu đào tạo đưa nhà trường trở thành trường chuẩn quốc gia và là trường tốp đầu của tỉnh. - Phần lớn học sinh đều yêu thích và nhiệt tình, hăng say tập luyện. - Ở trong nhà trường có nhiều giáo viên yêu thích và chơi tốt môn bóng chuyền qua đó lôi cuốn nhiều học sinh chơi và tập luyện thể thao. 7
  8. 2. Khó khăn - Các phương tiện phục vụ cho giảng dạy và học tập như tranh ảnh, hệ thống sân bãi chật chội không đảm bảo, dụng cụ thiếu thốn. - Sân tập còn thiếu và chưa đạt chuẩn, nhiều giờ học gặp thời tiết không thuận lợi như rất nắng nóng hoặc mưa nhiều dẫn đến không học được và không gây được hứng thú cho học sinh khi tập luyện. - Các tiết học trong nội dung thể thao tự chọn thường bị gián đoạn bởi điều kiện thời tiết. - Thời gian của một tiết học hạn chế nên giáo viên chỉ hướng dẫn cho học sinh tập luyện kĩ thuật và từ đó học sinh tự tập là chính, không có điều kiện để giáo viên sửa sai nhiều cho các em, thời gian các em thi đấu tập ít và vui chơi hạn chế. Đa số học sinh chưa làm quen với môn bóng chuyền. Từ những tồn tại và khó khăn đó nên công tác giáo dục thể chất nói chung và công tác dạy và học chính khoá môn thể dục nói riêng hiệu quả không cao, chưa dáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra là phát triển con người toàn diện. Để khắc phục tình trạng trên, trong quá trình giảng dạy nhiều năm tôi đã trăn trở, suy nghĩ nhằm tìm ra những phương pháp giảng dạy thích hợp để nâng cao hiệu quả của nhiệm vụ dạy và học môn thể thao tự chọn bóng chuyền. III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Mục đích nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu đề tài này là trên cơ sở xây dựng và lựa chọn một số bài tập, nhằm nâng cao hiệu quả chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt cho học sinh trung học phổ thông Hoàng Mai và ứng dụng bài tập nhằm thu hút đông đảo học sinh tham gia tập luyện thường xuyên và có chất lượng. Từ đó đem lại hiệu quả thiết thực về giáo dục thể chất mà trước hết là nâng cao thể lực cho học sinhh trong quá trình tập luyện. - Nghiên cứu nhằm đưa ra các phương pháp giảng dạy vào trong quá trình dạy học, qua đó để kiểm tra đánh giá kết quả tác dụng cũng như khẳng định tính thiết thực của nó trong quá trình giảng dạy môn thể thao tự chọn bóng chuyền nói riêng cũng như việc huấn luyện thể dục thể thao nói chung. - Biết cách và thực hiện cơ bản đúng các kỹ thuật như: Tư thế chuẩn bị, một số động tác di chuyển cơ bản, chuyền bóng cao tay bằng hai tay trước mặt. - Nhằm nâng cao kết quả môn thể dục nói chung và môn bóng chuyền nói riêng, bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu môn bóng chuyền. - Thúc đẩy phong trào tập luyện môn bóng chuyền trong nhà trường cũng như trên địa bàn trường đóng. 8
  9. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao kỹ thuật chuyền bóng cao tay cho học sinh trung học phổ thông: + Nằm sấp chống đẩy với bóng. + Chuyền bóng cố định. + Chuyền bóng vào tường. + Tại chỗ chuyền bóng cao tay. + Đấu tập, thi đấu: - Nghiên cứu kỹ thuật của học sinh thông qua kiểm tra chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trước mặt). - Nghiên cứu điều kiện và thực tiễn giảng dạy nội dung môn thể thao tự chọn bóng chuyền qua các năm. - Nghiên cứu thông qua quá trình đấu tập của các em học sinh, để học sinh thuần thục và thực hiện đúng kỹ thuật động tác. - Nghiên cứu sức khoẻ, trình độ tập luyện, tâm sinh lí giới tính, từ đó tìm ra các phương pháp, biện pháp nhằm xây dựng tâm lí thoải mái, hứng thú trong học tập, từ đó phát huy tính tích cực, tự giác cho các em giúp cho các em nâng cao kỹ thuật cũng như số lần thực hiện động tác hay thành tích của các em trong tập luyện. - So sánh kết quả giảng dạy theo phương pháp mới với phương pháp cũ có sự khác nhau rõ rệt hay không. IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng ngiên cứu: - Học sinh các lớp: 10A4 và10A8. - Học sinh trường trung học phổ thông Hoàng Mai, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. 2. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu. - Phương pháp quan sát và thực nghiệm sư phạm. - Phương pháp điều tra sư phạm, phương pháp toán học xử lí số liệu. - Khảo sát kỹ thuật và số lần thực hiện được của học sinh thông qua kiểm tra chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trước mặt). 9
  10. V. THỜI GIAN – ĐỊA ĐIỂM – TRANG THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU Đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu từ 15/10/2021 đến ngày 15/03/2022 và được chia làm 4 giai đoạn. - Giai đoạn 1: Từ ngày 15/10/2021 - 25/11/2021 đọc đề tài, xác định hướng nghiên cứu, đặt tên cho đề tài và lập đề cương. - Giai đoạn 2: Từ ngày 25/11/2021 - 25/01/2022 giải quyết nhiệm vụ 1 - Giai đoạn 3: Từ ngày 25/01/2022 - 01/03/2022 giải quyết nhiệm vụ 2 - Giai đoạn 4: từ 01/03/2022 - 15/03/2022 phân tích xử lý số liệu, viết đề tài và báo cáo nghiệm thu. - Địa điểm nghiên cứu: Sân vận động trường trung học phổ thông Hoàng Mai, thị xã Hoàng Mai,tỉnh Nghệ An. - Trang thiết bị nghiên cứu: Sân bãi, bóng chuyền, cọc, lưới bóng chuyền 10
  11. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở tâm lý Để đất nước ta có nguồn lực lượng lao động đảm bảo sức khoẻ, đạt chuẩn về trình độ kiến thức, có kĩ thuật tay nghề cao, đó là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục hiện nay và giáo dục thể chất nói riêng để xây dựng con người phát triển một cách cân đối và toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước. Vì vậy, muốn đạt được mục đích của giáo dục thể chất thì cần phải làm cho môn học thể dục trở thành môn học yêu thích của học sinh. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy giáo dục thể chất còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về trang thiết bị dạy học và sân bãi học tập, một số thiết bị dạy học thì đã cũ kỉ, hư hỏng, giáo viên chủ yếu giảng dạy trong điều kiện thiếu thốn và học sinh tự trang bị cho mình những thiết bị học tập, những khó khăn, thiếu thốn đó chủ yếu ở các trường xa trung tâm và các trường ở miền núi càng khó khăn hơn so với các trường ở thành phố. Bên cạch đó, một tiết học thể dục thường đan xen hai hay ba nội dung học tập lại càng thêm khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động ở học sinh và đa phần học sinh còn xem nhẹ môn học thể dục và coi thể dục là môn học phụ, còn e ngại, tự đánh giá quá cao bản thân mình và lười biếng trong tập luyện. Nhiều khi các em muốn đốt cháy giai đoạn, nôn nóng trong tập luyện chính vì thế chất lượng của giáo dục thể chất vẫn chưa cao, hiệu quả còn tương đối thấp so với một số môn văn hoá khác. 2. Cơ sở sinh lý - Hệ thống thần kinh: Hệ thống thần kinh tiếp tục được phát triển và đi tới hoàn thiện. Kích thước của não và hành tủy đạt tới mức của người trưởng thành. Khả năng tư duy, phân tích tổng hợp của não tăng lên, tư duy trừu tượng được phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Do hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng ảnh hưởng tới hoạt động thể lực, đặc biệt đối với nữ, tính nhịp điiệu giảm nhanh, khả năng chịu lượng vận động yếu. - Hệ cơ xương: Bắt đầu giẩm tốc độ phát triển, mỗi năm nam cao thêm 1- 3cm, nữ cao thêm 0.5-1cm cột sống đã ổn định về hình dáng. Các tổ chức cơ quan phát triển muộn hơn xương, cơ co tương đối yếu, các sợi cơ lớn phát triển tương đối nhanh, các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, đặc biệt các cơ duỗi của nữ càng kém nên ảnh hưởng tới việc phát triển sức mạnh, cho nên đối với nữ cần tập những bài tập phát triển sức mạnh có yêu cầu riêng biệt. - Hệ tuần hoàn: Buồng tim đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam 70-80 lần/1p, nữ 75-85 lần/1phút. Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận 11
  12. động tương đối rõ rệt nhưng sau vận động mạch và huyết áp tăng tương đối nhanh chóng. - Hệ hô hấp: Đã phát triển tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của nam 67-77cm, nữ 69-74cm. Tần số hô hấp gần bằng người lớn, tuy nhiên các cơ hô hấp còn yếu nên sức co giãn lồng ngực ít, chủ yếu co giãn cơ hoành. 3. Cơ sở lý luận về tố chất thể lực. 3.1. Cơ sở lý luận của tố chất sức nhanh. Sức nhanh là tổ hợp thuộc tính chức năng của con người qui định chủ yếu và trực tiếp các đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động. Đó là khả năng thực hiện trong khoảng thời gian ngắn nhất, bao gồm sức nhanh đơn giản và sức nhanh phức tạp. Những hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh: -Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động. -Tốc độ động tác đơn.(với lượng đối kháng bên ngoài nhỏ). -Tần số động tác. Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau. Đặc biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác. Những hình thức nêu trên là thể hiện các lực khác nhau. Tốc độ là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất. Yếu tố quyết định của tốc độ là tính linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ. Theo quan điểm sinh lý, sức nhanh chính là thời gian phản ứng vận động gồm bốn phần chính như sau: - Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ. - Dẫn truyền vào hệ thần kinh trung ương. - Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới các cơ. - Hưng phấn cơ vào hoạt động tích cực. Trong đó giai đoạn ba chiếm thời gian nhất. Những động tác được thực hiện với tốc độ tối đa, khác hẵn với động tác chậm về đặc điểm sinh lý. Sự khác biệt cơ bản thể hiện ở chỗ khi thực hiện các động tác tối đa thì khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến trình thực hiện động tác chính xác.Trong những động tác có tốc độ lớn, hoạt tính của cơ thể diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trương. Tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh, phụ thuộc vào tốc độ chuyển trạng thái hưng phấn, ức chế của khu vận động. Theo quan điểm sinh học, sức nhanh phụ thuộc vào hàm lượng ATP trong cơ thể và độ phân giải ATP, dưới ảnh hưởng của xung động thần kinh cũng như vào tốc độ tái hợp tác nó. Vì các bài tập diễn ra trong thời gian ngắn hơn nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực hiện theo cơ chế yếm khí. 12
  13. 3.2. Cơ sở lý luận của tố chất sức mạnh Sức mạnh của con người là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp hay nói cách khác đó là mức độ căng cơ lớn nhất để khắc phục trọng tải bên ngoài. Nó bao gồm sức mạnh tuyệt đối(sức mạnh tĩnh lực) và sức mạnh tốc độ. Sức mạnh cơ bắp có thể sinh ra trong các trường hợp sau: - Không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh). - Giảm độ dài của cơ(chế độ khắc phục). - Tăng độ dài cơ. Khi số lượng sợi cơ co là tối đa, các sợi cơ co theo chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là tối ưu thì cơ sẽ co về mức tối đa, lực đó gọi là sức mạnh tối đa thường đạt được trong cơ co tĩnh. Sức mạnh tối đa phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và thiết diện ngang của các sợi cơ. Sức mạnh tốc độ phụ thuộc vào đặc điểm cấu trúc giải phẫu cơ thể và sự phối hợp tính linh hoạt của các nhóm cơ, các khớp của từng bộ phận dưới sự chỉ đạo của hệ thần kinh trung ương. Muốn phát triển sức mạnh tốc độ thì ngoài việc phát triển sức mạnh tốc độ bằng lực đối kháng, còn phải chú ý tăng tốc độ co cơ, tức là những động tác nhanh mạnh. Do vậy phải kết hợp hài hòa giữa hình thức tập động và hình thức tập tĩnh, giữa sức mạnh tối đa và sức mạnh tĩnh lực. Vì sức mạnh tốc độ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển sau này. 3.3. Cơ sở lý luận tố chất sức bền Sức bền là khả năng làm việc lâu dài của cơ thể trong một khoảng thời gian đối với cường độ cao mà sự mệt mỏi xuất hiện muộn. Khái niệm sức bền như một tố chất thể lực. Vì vậy có tính tương đối rất cao nó có thể hiện trong hoạt động nhất định. Hay nói cách khác sức bền là khái niệm chuyên biệt thể hiện khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nhất định. Trong sinh lý TDTT sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 2-3 phút trở lên, với sự tham gia của khối lượng cơ bắp lớn nhờ hấp thụ oxi để cung cấp năng lượng cho cơ chủ yếu bằng con đường ưa khí. Như vậy sức bền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoặc chủ yếu mang tính ưa khí. Đó là tất cả các hoạt động ưa khí. Tố chất sức bền phụ thuộc vào các yếu tố sau: Khả năng hấp thụ oxi của cơ thể và khả năng duy trì mức hấp thụ oxi cao. Mức hấp thụ oxi tối đa của một người quyết định khả năng ưa khí của họ. Hấp thụ oxi càng cao thì công suất hoạt động ưa khí tối đa của cơ, khả năng hấp thụ oxi tối đa được giải quyết bởi khả năng của hai hệ thống chức năng chính là hệ vận chuyển oxi và hệ cơ. 3.4. Cơ sở lý luận của tố chất khéo léo 13
  14. Khéo léo là khả năng thực hiện đúng những động tác phối hợp phức tạp và khả năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu về vận động. Về bản chất khéo léo là khả năng hình thành những đường dây liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện động tác phức tạp, nó có liên quan đến hình thành kỹ năng vận động. Tố chất khéo léo được thực hiện dưới 3 hình thức sau: - Trong sự chuẩn xác về động tác không gian. - Trong sự chuẩn xác của động tác về thời gian thực hiện động tác bị hạn chế. - Khả năng giải quyết nhanh chóng và đúng tình huống xuất hiện bất ngờ trong hoạt động. Tập khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của quá trình thần kinh, làm cho hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn. Nâng cao hiệu quả hoàn thiện thể lực và kỹ thuật là rất cần thiết, nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động giữa các giai đoạn thực hiện động tác tiết kiệm sức hơn. 4. Cơ sở lý luận thực tiễn Trường trung học phổ thông Hoàng Mai đóng trên địa bàn với đa số học sinh là con em chủ yếu sống bằng nông nghiệp, và ngư nghiệp, cơ sở vật chất, sân bãi phục vụ cho các em chơi thể thao buổi chiều còn ít, sự đam mê chơi môn bóng chuyền của các chưa cao. Cơ sở giảng dạy và học tập trong trường đang còn thiếu thốn, hoặc chưa đầy đủ, đặc biệt nhà trường lại chưa có nhà thi đấu. Thời tiết khắc nghiệt, có những thời điểm mưa gió quá nhiều làm cho sân bãi ngập trong nước, cũng có những thời điểm quá nắng nóng do đó ảnh hưởng lớn đến quá trình giảng dạy và học tập môn thể dục. Từ thực trạng đó việc dạy và học môn thể dục trở nên rời rạc không liên tục làm hạn chế sự hình thành kỹ năng vận động của học sinh. Nội dung thể thao tự chọn bóng chuyền các em học sinh cấp dưới chỉ mới được tiếp xúc ít, chưa nắm được các kỹ thuật cơ bản. Nên khi lên lớp trên các em đang còn bỡ ngỡ và khi học lại gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi tập luyện không được thường xuyên, điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học không đảm bảo sẽ tạo cho các em uể oải, mất hứng thú trong học tập, không chú trọng và hình thành được kỹ năng, kỹ xảo vận động dẫn đến kỹ thuật và số lần thực hiện động tác cũng như thành tích thấp không ổn định. II. NỘI DUNG 1. Kĩ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trước mặt): Kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trước mặt) thường được sử dụng khi bóng có điểm rơi ngang đầu và trước mặt. Đây là cầu nối giữa phòng thủ và tấn công, và là giai đoạn trọng tâm để điều chỉnh và tổ chức các phối hợp chiến thuật trong tấn công cũng như trong phản công. Ở kỹ thuật này điều cốt lõi là học sinh phải nắm và hiểu được mấu chốt của kĩ thuật động tác và thực hiện 14
  15. một cách cơ bản đúng về kỹ thuật. Dưới đây là một số hình ảnh về kỹ thuật (Như hình 1a;1b). Hình 1a Khi bóng đến, tay tiếp xúc bóng ở phía sau và chếch xuống bên dưới của bóng. Tầm tiếp xúc ngang trán, cách trán khoảng 15 – 20cm. Tầm chuyền bóng có thể thay đổi tùy thuộc vào trình độ và đặc điểm cá nhân người tập. Hình 1b 2. Phương pháp: - Giáo viên dùng phương pháp sử dụng lời nói, phương pháp trực quan, phương pháp luyện tập. + Giáo viên giới thiệu tên các động tác kĩ thuật, tính năng, tác dụng cho học sinh nắm. + Thị phạm và phân tích cấu trúc kỹ thuật động tác, những điểm cần chú ý và những điểm sai cần chú ý trong luyện tập. Giáo viên kết hợp cho các em xem tranh ảnh về kỹ thuật động tác, đưa ra các bài tập khắc phục, sửa sai cho các em. + Gọi 1 – 2 em lên làm thử, cả lớp nhận xét, giáo viên nhận xét. + Giáo viên triển khai tập luyện đồng loạt cho cả lớp. Sau đó giáo viên cho học sinh thực hiện theo nhóm học tập, nhóm trưởng điều khiển nhóm luyện tập, giáo viên theo dõi quan sát các nhóm và sửa sai cho các em. Cả lớp thực hiện theo khẩu lệnh chung. 15
  16. + Trong quá trình luyện tập các em trong nhóm có thể tự sửa sai cho nhau, em học khá hơn sửa cho những bạn chưa thực hiện kỹ thuật động tác tốt, các em tự trao đổi thảo luận những vấn đề đang còn thắc mắc. + Luyện tập hình tay chuyền bóng, tầm tiếp xúc bóng. Tập không có bóng và có bóng. + Luyện tập kỹ thuật chuyền bóng mô phỏng từ hình tay tiếp xúc bóng đến phối hợp toàn thân chuyền bóng. + Tự tung bóng và đón bóng theo hình tay khi tiếp xúc bóng. + Cầm bóng theo hình tay khi chuyền bóng, phối hợp lực toàn thân và đẩy bóng đi theo hướng chuyền. + Một người tung bóng, một người đón bóng theo tư thế chuyền (yêu cầu đúng về hình tay, tầm tiếp xúc, điểm tiếp xúc giữa các ngón tay và bóng). + Tự tung bóng, đón bóng đúng kỹ thuật và chuyền bóng đi. + Một người tung bóng, một người chuyền bóng. + Hai, ba người chuyền bóng cho nhau. + Giáo viên triển khai tập đồng loạt cả lớp (không bóng). Giáo viên chia nhóm cho học sinh tập luyện theo đội hình từng đôi một, tập từ không bóng đến có bóng và vào trong sân có lưới để tập. Giáo viên theo dõi quan sát sửa sai cho các em. - Đội hình tập luyện cả lớp không có bóng (Như hình 2a;2b;2c). Hình 2a 16
  17. Hình 2b Hình 2c 17
  18. - Đội hình tập với bóng theo hai người(Như hình 3a;3b;3c). Hình 3a Hinh 3b 18
  19. Hình 3c - Đội hình chuyền bóng thay đổi cự li chuyền bóng (Như hình 4a;4b;4c). Vị trí A chuyền bóng cho B, B chuyền trả bóng cho A, sau đó A chuyền bóng cho C, C chuyền bóng lại cho A và tiếp tục lặp lại. Sau đó đổi vị trí giữa A,B,C. A 1,5 – 2m B 2,5 – 3m C A 1,5 – 2m B 2,5 – 3m C NT GV NT Hình 4ª 19
  20. Hình 4b Hình 4c 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2