Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Vận dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo kết hợp sơ đồ tư duy vào dạy bài Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam – Lịch sử 10, ban cơ bản - nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:58

15
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Vận dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo kết hợp sơ đồ tư duy vào dạy bài Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam – Lịch sử 10, ban cơ bản - nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS" nhằm đề xuất phương pháp dạy học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” khi kết hợp giữa phương pháp dạy học (HĐTNST) với kĩ thuật dạy học (SĐTD). Hình thức tổ chức dạy học này là hoàn toàn mới và sáng tạo, vừa đáp ứng chuẩn kiến thức, vừa nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS, lại vừa khắc phục được một số hạn chế khi chỉ tổ chức HĐTNST đơn thuần hoặc hình thức dạy học truyền thống trước kia.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Vận dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo kết hợp sơ đồ tư duy vào dạy bài Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam – Lịch sử 10, ban cơ bản - nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI 2 TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI VẬN DỤNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO KẾT HỢP SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY BÀI “CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM” - LỊCH SỬ 10, BAN CƠ BẢN - NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Môn: Lịch Sử Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga Đồng tác giả: Hồ Hồng Sơn NĂM HỌC 2021 – 2022 ĐT: 0962857866 1
  2. MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN MỘT – ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Điểm mới của sáng kiến 2 3. Đối tượng nghiên cứu 3 4. Phương pháp nghiên cứu 3 PHẦN HAI – NỘI DUNG 3 Chương 1: Cơ sở khoa học 3 1. Cơ sở lí luận 3 1.1. Cơ sở lí luận dạy học hoạt động trải nghiệm sáng tạo 3 1.2. Cơ sở lí luận dạy học bằng Sơ đồ tư duy 9 2. Cơ sở thực tiễn 11 2.1. Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của GV ở bài “Các quốc 11 gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” – Lịch sử lớp 10 ban cơ bản ở các lớp 2.2. Thực trạng về hứng thú của học sinh khi học tập lịch sử bằng HĐTNST 11 và SĐTD 2.3. Thực trạng về hứng thú và nguyện vọng của HS khi học bài “Các quốc 12 gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” Chương 2. Phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và dạy 13 học theo sơ đồ tư duy góp phần giáo dục kĩ năng sống cho hoc sinh qua bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 1. Đặc điểm bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 13 2. Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và kĩ năng sống tương ứng được giáo 13 dục qua bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 3. Thiết kế 1 số HĐTNST áp dụng vào dạy học bài “Các quốc gia cổ đại 15 trên đất nước Việt Nam” 3.1. Hoạt động trải nghiệm làm MC (Hướng dẫn viên du lịch) 15 3.2. Hoạt động trải nghiệm về đời sống vật chất của cư dân “Các quốc gia 17 cổ đại trên đất nước Việt Nam” 2
  3. 3.3. Hoạt động trải nghiệm về đời sống tinh thần của cư dân “Các quốc gia 18 cổ đại trên đất nước Việt Nam” 3.4. Hoạt động trải nghiệm về xây dựng một số mô hình về nghệ thuật quân 19 sự và hoạt động kinh tế của các quốc gia cổ 4. Kết hợp kĩ thuật sơ đồ tư duy vào dạy học bài “Các quốc gia cổ đại trên 20 đất nước Việt Nam” 4.1. Các phương pháp vận dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy vào bài học “Các quốc 20 gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 4.2. Các kĩ năng hình thành cho học sinh bằng kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy 22 qua bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 4.3. Hướng dẫn kết hợp kĩ thuật sơ đồ tư duy với tổ chức hoạt động trải 22 nghiệm sáng tạo ở bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 5. Thực nghiệm sư phạm 23 5.1. Mục đích thực nghiệm 23 5.2. Đối tượng thực nghiệm 5.3. Phương pháp thực nghiệm 24 5.4. Nội dung thực nghiệm 24 5.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm 31 6. Bài học kinh nghiệm rút ra khi tiến hành thực nghiệm 35 6.1. Về phía giáo viên 35 6.2. Về phía học sinh 36 PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 37 1. Kết luận 37 2. Kiến nghị - Đề xuất 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC 40 3
  4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN Nội dung Viết tắt Đối chứng ĐC Giáo viên GV Học sinh HS Hoạt động trải nghiệm sáng tạo HĐTNST Kĩ năng sống KNS Sơ đồ tư duy SĐTD Thực nghiệm TN Trung học phổ thông THPT Sách giáo khoa SGK 4
  5. ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO KẾT HỢP SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY BÀI “CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM” - LỊCH SỬ 10, BAN CƠ BẢN - NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của nghành Giáo dục và Đào tạo ở nước ta hiện nay. Luật giáo dục năm 2005 chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”, đồng thời một trong những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong nghị quyết 29- NQ/TW là “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Yêu cầu xã hội hướng vào đào tạo con người có khả năng thích nghi cao với những thay đổi của môi trường, với hoàn cảnh mới, đặc biệt là trong giai đoạn đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là hết sức quan trọng và cần thiết, yêu cầu này đặt nặng lên vai nghành Giáo dục và Đào tạo. Một thực tế là nhà trường khó dạy hết tất cả những gì học sinh sẽ gặp trong cuộc sống sau này, vì vậy việc rèn luyện năng lực thích nghi trí tuệ cho học sinh, hình thành các kĩ năng sống là một phần rất quan trọng trong quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học Lịch sử nói riêng, bởi dạy học Lịch sử là dạy cho học sinh cách học, hướng học sinh vào việc tích cực hóa các hoạt động học tập vào khả năng tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề để tự kiến tạo tri thức mới, từ những kiến thức đã học, học sinh sẽ hình thành và phát triển các năng lực của cá nhân, từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng vào cuộc sống. Thực tế hiện nay không ít HS có vốn hiểu biết về lịch sử, văn hóa và cuộc sống quá hạn hẹp; nhiều em học tập chỉ biết “học vẹt” với mục đích phục vụ thi cử, để rồi hiểu biết một cách nông cạn về tinh hoa văn hóa nhân loại, về quá khứ hào hùng của dân tộc; mơ hồ về tiềm lực của quốc gia, bi quan với chế độ xã hội chủ nghĩa. Không chỉ vậy, HS rất thiếu những kĩ năng cơ bản cần cho cuộc sống hiện đại như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sinh hoạt tập thể, kĩ năng phân tích, dự đoán, kĩ năng ứng phó với căng thẳng... Điều đó sẽ dẫn đến sự khập khiễng trong đào tạo, ảnh hưởng đến đầu ra của giáo dục và tương lai của nước nhà. 5
  6. Lịch sử là môn học có nhiều cơ hội để tổ chức HĐTNST và sử dụng SĐTD trong dạy học để phát triển các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống hiện đại. Tuy vậy, chương trình giáo dục hiện nay đang quá ôm đồm về kiến thức khiến GV không có nhiều thời gian để giáo dục KNS cho HS; còn HS thì học theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, kiến thức không vững và kĩ năng cũng không rèn luyện được nhiều. Bên cạnh đó, nhiều bài học lịch sử, điển hình như phần lịch sử thế giới cổ đại đến cận đại lớp 10 (trong đó có bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”) có quá nhiều các thuật ngữ khó hiểu, có không ít các kiến thức cần nhớ nhưng lại dễ nhầm lẫn bởi tính tương đồng giữa các quốc gia, các thời kì. Do đó, tiến hành các hình thức HĐTNST tạo hứng thú học tập cho HS, đồng thời khắc sâu kiến thức cho các em ở phần học này thực sự không dễ dàng và chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Bản thân tôi là GV nhiều năm giảng dạy bộ môn lịch sử lớp 10 tại trường THPT, đã dự giờ rất nhiều đồng nghiệp khi dạy bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”, tôi thấy việc khai thác nét đặc sắc về lịch sử, văn hóa của 3 quốc gia cổ này, cũng như việc vận dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực của GV còn nhiều lúng túng, chưa đảm bảo chuẩn kiến thức – kĩ năng bài học và chưa thực sự phát huy vai trò chủ động của HS. Hầu hết GV đều phải tự mò mẫm, đổi mới phương pháp; có rất ít đề tài sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn một cách khoa học, chi tiết các HĐTNST và sử dụng SĐTD cho bài học này. Do thiếu phương pháp, ít được thực hành nên mỗi khi tổ chức các HĐTNST thường có tình trạng HS bị sa đà vào các hoạt động trải nghiệm, để rồi hết tiết học trong vở không ghi được chữ nào; kiến thức các em lĩnh hội được trong tiết học trải nghiệm không mang tính hệ thống, các em chưa hiểu hết bản chất vấn đề và chưa được hình thành các KNS cần thiết. Từ những bất cập, khó khăn trên, sau nhiều năm tích cực học hỏi đồng nghiệp, nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, chúng tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm, đã thực nghiệm thành công và muốn chia sẻ với đồng nghiệp thông qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Vận dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo kết hợp sơ đồ tư duy vào dạy bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” – Lịch sử 10, ban cơ bản - nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS”. 2. Điểm mới của đề tài Dạy học Vận dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo kết hợp sơ đồ tư duy khác với việc dạy học theo bài học thông thường, bên cạnh việc phải đảm bảo các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình và SGK hiện hành thì nay được nâng lên một mức độ cao hơn với việc định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, hình thành kĩ năng sống cho HS. Theo tìm hiểu của chúng tôi, chưa có một đề tài nào nghiên cứu và áp dụng một cách khoa học, cụ thể về phương pháp tổ chức các HĐTNST qua dạy học bài 6
  7. “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”. Do đó, đề tài của chúng tôi đảm bảo được tính mới và đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học. Không dừng lại ở đó, đề tài còn nghiên cứu và đề xuất phương pháp dạy học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” khi kết hợp giữa phương pháp dạy học (HĐTNST) với kĩ thuật dạy học (SĐTD). Hình thức tổ chức dạy học này là hoàn toàn mới và sáng tạo, vừa đáp ứng chuẩn kiến thức, vừa nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho HS, lại vừa khắc phục được một số hạn chế khi chỉ tổ chức HĐTNST đơn thuần hoặc hình thức dạy học truyền thống trước kia. Trong SGK chủ yếu là kênh chữ cung cấp thông tin, những nội dung tích hợp của văn học, địa lí, âm nhạc ... vào bài dạy gần như không có, kênh hình ảnh để HS khai thác về bài học còn ít, vì vậy chưa tạo điều kiện cho HS tham gia các hoạt động học tập và hình thành kĩ năng sống trong trong học tập. 3. Đối tượng nghiên cứu Phương pháp dạy học hoạt động trải nghiệm sáng tạo và kĩ thuật dạy học theo SĐTD qua bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nhiệm vụ đề ra, đề tài đã sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp đàm thoại, phương pháp phỏng vấn, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp nghiên cứu lí thuyết, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp thống kê, khảo sát. 7
  8. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở khoa học 1. Cơ sở lí luận 1.1. Cơ sở lí luận dạy học hoạt động trải nghiệm sáng tạo Cụm từ “hoạt động trải nghiệm sáng tạo” là một thuật ngữ mới trong dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018. Có thể hiểu: một hoạt động giáo dục có mục đích, được tổ chức nhằm hình thành phẩm chất, năng lực cho người học, dành cho học sinh và phải đảm bảo 3 yếu tố: Hoạt động – Trải nghiệm – Sáng tạo, mới được gọi là hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Trong Dự thảo, thuật ngữ HĐTNST được định nghĩa: là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kĩ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trong Tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh, nhóm tác giả đưa ra quan điểm: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm cá nhân. Mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức và kỹ năng khác nhau. Bởi hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất linh hoạt và mềm dẻo (về địa điểm, thời gian, quy mô, nội dung,...) nên có thể nhìn nhận hoạt động trải nghiệm sáng tạo dưới các góc độ khác nhau: - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể là một hình thức tổ chức dạy học: như vậy, ở đây, hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ là một trong số các hình thức tổ chức dạy học, giáo dục để tổ chức các hoạt động giáo dục, là một “cách” để học sinh chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, hình thành năng lực, phẩm chất. - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được hiểu là một nội dung giáo dục: như vậy, nó sẽ là nội dung rất lớn, bao gồm nhiều nội dung nhỏ khác như: đời sống xã hội, văn hóa – nghệ thuật, thể thao, khoa học kĩ thuật, . . . được nhà giáo dục thiết kế nhằm phát triển nhân cách một cách toàn diện cho học sinh. - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được hiểu là bản chất của một hoạt động: như vậy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động có mục đích, đối tượng,. . . cụ thể: + Chủ thể: Học sinh và các lực lượng liên quan. + Đối tượng: Tri thức, kinh nghiệm xã hội, giá trị, kĩ năng xã hội. + Mục tiêu: Giáo dục toàn diện và phát huy tốt tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi học sinh. + Kết quả: Hệ thống các kĩ năng, năng lực, phẩm chất. - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được hiểu tương đương với một môn học, giống với quan điểm trong dự thảo Chương trình giáo dục tổng thể. Như 8
  9. vậy, nó sẽ có nội dung, phương pháp, hình thức, cách đánh giá,. . . được thiết kế cụ thể, nhằm mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Bản thân hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau tùy vào quan điểm, nghiên cứu của mỗi người. Với mỗi cách nhìn, nó lại được tổ chức thực hiện theo cách khác nhau. Trong đề tài này, chúng tôi nhìn nhận hoạt động trải nghiệm sáng tạo như một hình thức tổ chức dạy học tích cực. Do đó, chúng tôi quan niệm: HĐTNST là một hình thức hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của giáo viên, học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động học tập thực tiễn khác nhau của môi trường xung quanh với tư cách là chủ thể của hoạt động, được thể hiện sự sáng tạo của bản thân, qua đó tăng cường kiến thức, hình thành và phát triển kĩ năng, xác định giá trị, phát triển năng lực, nhân cách phù hợp cũng như tiềm năng sáng tạo của bản thân. HĐTNST được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông; được tổ chức trong hoặc ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp và có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học. Thông qua việc tham gia vào các HĐTNST, HS được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân. Từ đó, hình thành và phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết. Việc thiết kế các HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Công việc này bao gồm một số việc: Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh. Bước 2: Đặt tên cho hoạt động Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lý đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn. - Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động. - Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch HĐTNST, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. 9
  10. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu. Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị. Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là: - Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động - Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động - Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò Tùy theo chủ đề của HĐTNST ở mỗi tháng, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng. Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau: - Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?) - Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động? - Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động? Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động. Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đẩy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong dó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ. Bước 5: Lập kế hoạch 10
  11. Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu. Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiên mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kỳ người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được. Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu. Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc. Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh. Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình. Đó là giáo án tổ chức hoạt động. Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo gồm các nhóm hoạt động chính sau: Hoạt động tự chủ (thích ứng, tự chủ, tổ chức sự kiện, sáng tạo độc lập...); Hoạt động câu lạc bộ (hội thanh niên, văn hóa nghệ thuật, thể thao...); Hoạt động tình nguyện (chia sẻ khó khăn, bảo vệ môi trường, nhân đạo…); Hoạt động định hướng (phát triển tương lai, nghề nghiệp, tìm hiểu bản thân... ); Các hoạt động khác: Trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan, dã ngoại, hội thi (cuộc thi), giao lưu, chiến dịch; v.v.. Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học gồm các bước sau: Bước 1: Giới thiệu hoạt động trải nghiệm, mục đích hoạt động. 11
  12. Trước khi tiến hành tổ chức hoạt động, giáo viên cần giới thiệu cho học sinh về hoạt động các em sẽ tham gia như tên hoạt động, mục tiêu của hoạt động, nội dung, hình thức hoạt động, các cách thức đánh giá kết quả học tập giáo dục thông qua hoạt động. Đây là giai đoạn quan trọng cần thiết, giúp học sinh xác định rõ những yêu cầu cần thực hiện từ đó chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tham gia hoạt động. Giới thiệu hoạt động có nhiều hình thức, có thể là các trò chơi giúp không khí trở nên sổi nổi, hào hứng. Bước 2: Phổ biến nhiệm vụ trải nghiệm cho học sinh. Đây là bước rất quan trọng khi tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Khi tiến hành giao nhiệm vụ cho học sinh, giáo viên cần: - Truyền đạt một cách rành mạch, rõ ràng, đầy đủ, bao gồm cả nội dung nhiệm vụ lẫn thời gian, địa điểm hoặc yêu cầu; giáo viên nên nêu rõ nhiệm vụ được thực hiện theo hình thức cá nhân hay nhóm, và cần thiết thì tiến hành chia nhóm luôn. - Giáo viên lắng nghe ý kiến phản hồi từ học sinh. Nếu các em có thắc mắc, giáo viên cần giải đáp rõ ràng. - Có thể gợi ý, đề xuất một số phương án về hoạt động trải nghiệm nếu học sinh cảm thấy khó hiểu hay không có ý tưởng. - Trong giai đoạn phổ biến nhiệm vụ, giáo viên cần nhắc nhở học sinh sẽ ghi chép lại các yếu tố quan trọng liên quan như: đối tượng thực hiện nhiệm vụ, thời gian, địa điểm thực hiện, lực lượng mời tham gia hoạt động (nếu có), thời điểm tương tác giữa GV và HS trong quá trình diễn ra hoạt động. Các nhiệm vụ trải nghiệm phải có sự bàn bạc và thống nhất giữa GV và HS, đảm bảo từng HS hiểu rõ nhiệm vụ. Bước 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Sau khi đã phổ biến tốt nhiệm vụ hoạt động, giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành trải nghiệm. Trong giai đoạn này, HS phải được tham gia trải nghiệm theo cá nhân hoặc theo nhóm để sáng tạo và chiếm lĩnh kiến thức trong quá trình tham gia thực hiện nhiệm vụ. Khi học sinh tham gia hoạt động trải nghiệm, giáo viên cần chú ý quan sát để đảm bảo một số vấn đề sau: - Các học sinh hoặc nhóm học sinh đều tham gia trải nghiệm, không có học sinh “chầu rìa”. Các em đều tham gia thảo luận, chia sẻ, đóng góp ý kiến, tập trung vào hoạt động diễn ra. - Trong khi tiến hành nhiệm vụ, nếu có học sinh không tìm ra hướng giải quyết hay có thắc mắc, băn khoăn, giáo viên cần đưa ra gợi ý hay giải đáp tốt những băn khoăn đó. Giáo viên cũng cần chú ý để đảm bảo tất cả các học sinh đều đi đúng hướng đã đề ra. - Khi tổ chức hoạt động, giáo viên tôn trọng ý kiến, khả năng hay sự sáng tạo của học sinh. Cần đảm bảo các em được tự mình trải nghiệm nhiều nhất có thể và phát huy được khả năng sáng tạo. Bước 4: Đánh giá hoạt động. 12
  13. Đây là bước giáo viên tổ chức cho học sinh sau khi các em hoàn thành hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Ở giai đoạn này, các sản phẩm hoạt động cũng như các thông tin phục vụ việc đánh giá sẽ được công khai trước lớp. Giáo viên cần chú ý đến việc phát huy vai trò tự đánh giá và đánh giá của HS. Để làm tốt phần này, giáo viên nên: - Chủ động phối hợp với HS xây dựng bộ công cụ đánh giá: phiếu quan sát, bảng kiểm (checklist), phiếu hỏi, bảng tiêu chí đánh giá sản phẩm... - Hướng dẫn học sinh cách nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động; tạo khoảng thời gian để học sinh, hoặc các nhóm quan sát, suy nghĩ, thảo luận cách đánh giá. - Khi học sinh nhận xét, giáo viên cần ở bên dẫn dắt, động viên; không áp đặt ý kiến của mình vào quan điểm của học sinh; khi học sinh đưa ra ý kiến, có thể yêu cầu giải thích lựa chọn của mình. - Tạo điều kiện cho học sinh được trình bày, nêu câu hỏi nếu có thắc mắc với sản phẩm của học sinh khác. - Sau khi học sinh đã tiến hành xong hoạt động đánh giá, giáo viên cần có sự nhận xét tổng thể, đưa ra những điểm tích cực cần phát huy hoặc hạn chế cần khắc phục. Nhận xét không chỉ liên quan đến sản phẩm cuối cùng mà còn phải đưa ra được đánh giá về thái độ, ý thức của học sinh trong quá trình tham gia hoạt động. Tổ chức các HĐTNST vào bài học lịch sử luôn đem lại tác dụng to lớn cho HS, song GV cần sử dụng kết hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học khác để đảm bảo chuẫn kiến thức, kỹ năng, điển hình là kết hợp kỹ thuật dạy học SĐTD. 1.2. Cơ sở lí luận dạy học bằng Sơ đồ tư duy SĐTD còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX bởi Tony Buzan, giúp ghi lại bài giảng mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này nhanh, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. Phương pháp này khai thác khả năng ghi nhớ và liên hệ các dữ kiện lại với nhau bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ các quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu. Với một Bản đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ. Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chế hoạt động tự nhiên của não chúng ta. Việc nhớ và gợi lại thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kỹ thuật ghi chép truyền thống. Việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người. 13
  14. Việc ghi chép thông thường theo từng hàng chữ khiến chúng ta khó hình dung tổng thể vấn đề, dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý. Còn SĐTD tập trung rèn luyện cách xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ một cách logic. SĐTD có ưu điểm: Dễ nhìn, dễ viết; kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của HS; phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não; rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic… SĐTD sẽ giúp HS: Sáng tạo hơn; tiết kiệm thời gian; ghi nhớ tốt hơn; nhìn thấy bức tranh tổng thể; phát triển nhận thức, tư duy. Tùy vào đặc thù bài học mà GV có thể sử dụng: Sơ đồ hình cây, SĐTD 5W1H.... - Các bước để tạo nên một Sơ đồ tư duy: Bước 1: Bắt đầu từ TRUNG TÂM của một tờ giấy trắng và kéo sang các bên. Tại sao? Bởi vì bắt đầu từ trung tâm cho bộ não, sự tự do để trải rộng một cách chủ động và để thể hiện phóng khoáng hơn, tự nhiên hơn. Bước 2: Dùng một HÌNH ẢNH hay BỨC TRANH cho ý tưởng trung tâm. Tại sao? Do một hình ảnh có giá trị tương đương cả nghìn từ và giúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình. Bước 3: Luôn sử dụng MÀU SẮC. Tại sao? Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Màu sắc mang đến cho Bản đồ Tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo và nó cũng thật vui mắt. Bước 4: Nối các NHÁNH CHÍNH tới HÌNH ẢNH trung tâm, và nối các nhánh cấp hai, cấp ba với nhánh cấp một và cấp hai, v.v... Tại sao? Bởi vì, như ta đã biết, bộ não làm việc bằng sự liên tưởng. Nếu ta nối các nhánh lại với nhau, sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ dễ dàng hơn rất nhiều. Bước 5: Vẽ nhiều nhánh CONG hơn đường thẳng. Tại sao?Vì chẳng có gì mang lại sự buồn tẻ cho não hơn các đường thẳng. Giống như các nhánh cây, các đường cong có tổ chức sẽ lôi cuốn và thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều. Bước 6: Sử dụng MỘT TỪ KHÓA TRONG MỖI DÒNG. Bởi, các từ khóa mang lại cho Bản đồ Tư duy của ta nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao. Mỗi từ hay mỗi hình ảnh đơn lẻ giống như một cấp số nhân, mang đến cho những sự liên tưởng và liên kết của nó diện mạo đặc biệt. Bước 7: Dùng những HÌNH ẢNH xuyên suốt. Bởi vì giống như hình ảnh trung tâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ. Vì vậy, nếu ta chỉ có mười hình ảnh trong Bản đồ Tư duy của mình thì nó đã ngang bằng với mười nghìn từ của những lời chú thích. Việc kết hợp cùng lúc các phương pháp tổ chức HĐTNST và kĩ thuật dạy học SĐTD vào bài học chính khóa sẽ tạo nên sự hứng thú rất lớn từ phía HS, bởi những hạn chế của phương pháp HĐTNST sẽ được bổ trợ từ kĩ thuật dạy học của SĐTD và ngược lại. Qua đó tiết dạy và học sẽ đảm bảo được cả hai yếu tố, đó là: chuẩn kiến thức và kĩ năng. 14
  15. Theo phương diện tâm lí học, HS lớp 10 (lứa tuổi 15, 16) là lứa tuổi phát triển trí tuệ mạnh mẽ. Bên cạnh việc học các em còn rất hiếu động, ham khám phá, thích trải nghiệm sáng tạo phát huy được năng lực, sở trường của bản thân. Cho nên các em dễ bị sa ngã nếu như không có những kĩ năng sống phù hợp. Chính vì vậy việc tổ chức các HĐTNST và các kĩ thuật dạy học khác sẽ thu hút được sự tham gia của HS, tăng hứng thú cho các em trong các giờ học và từ đó hiệu quả dạy học sẽ được nâng lên. Đặc biệt, KNS của các em HS cũng được hình thành và phát triển toàn diện hơn. 2. Cơ sở thực tiễn Qua kinh nghiệm giảng dạy 20 năm và nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu liên quan, bản thân chúng tôi chưa thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu, hướng dẫn có hệ thống và cụ thể để vận dụng phương pháp tổ chức HĐTNST kết hợp dạy học theo SĐTD vào bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”. Thực tế đó và những điều tra dưới đây là cơ sở để tôi nghiên cứu, thực nghiệm đổi mới phương pháp dạy học và viết nên đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình. 2.1. Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của GV ở bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” – Lịch sử lớp 10 ban cơ bản ở các lớp Để có được những kết luận khách quan, khoa học về việc tổ chức HĐTNST và SĐTD trong dạy học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”, cũng như thực trạng việc kết hợp giữa hai hình thức dạy học này, tôi đã tiến hành điều tra ở 3 GV tại trường tôi và 5 giáo viên tại trường bạn (Phụ lục 1). Theo đó, khi được hỏi về các phương pháp dạy học mà GV tiến hành ở bài học này thì có đến 2/8 GV (25%) vẫn sử dụng phương pháp truyền thống; có 2/8 GV (25%) tổ chức HĐTNST (tuy nhiên, các GV này chỉ mới tổ chức HĐTNST ở phần khởi động hoặc 1 số nội dung nhỏ trong bài học); có 1/5 (12,5%) sử dụng SĐTD để dạy học, số còn lại dạy học theo phương pháp truyền thống và không có GV nào dùng phương pháp kết hợp HĐTNST và SĐTD để dạy học bài này. Đặc biệt, cả 8 GV đều cho rằng: Nếu chỉ đơn thuần sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, hoặc đổi mới phương pháp chưa toàn diện (như: chỉ tổ chức HĐTNST, chỉ dạy học bằng SĐTD...) thì rất khó có thể đảm bảo chuẩn kiến thức và kĩ năng qua mỗi bài học. Thực trạng đó cho thấy đề tài mà tôi tiến hành nghiên cứu và vận dụng đảm bảo tính sáng tạo và thực sự cần thiết. 2.2. Thực trạng về hứng thú của học sinh khi học tập lịch sử bằng HĐTNST và SĐTD Tổng hợp phiếu điều tra (Phụ lục 2) cũng như phỏng vấn 136 HS ở các lớp tôi dạy là 10A4, 10A8 và 10A10, kết quả như sau: Mức độ hứng thú của HS Số lượng Tỉ lệ (%) Rất hứng thú 96 70,5 Hứng thú 28 20,5 Bình thường 7 5,2 Không hứng thú 2 1,5 15
  16. Không quan tâm 3 2,3 Bảng: Hứng thú của HS khi học lịch sử bằng HĐTNST và SĐTD Qua đó chúng ta thấy việc tổ chức HĐTNST và dạy học bằng SĐTD tạo ra được sự hứng thú học tập môn Lịch sử cho đại bộ phận HS. Tuy nhiên, vẫn có 9 % HS cảm thấy bình thường và chưa hứng thú, không quan tâm với những HĐTNST và dạy học bằng SĐTD. Con số này rơi vào những em nhút nhát, KNS còn yếu kém. Điều này đặt ra yêu cầu cho GV là phải làm sao lôi kéo các em vào các HĐTNST và học tập theo SĐTD để giáo dục KNS cho các em tốt hơn. 2.3. Thực trạng về hứng thú và nguyện vọng của HS khi học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” Tổng hợp phiếu điều tra (Phụ lục 2) cũng như phỏng vấn một số HS ở trường tôi khi học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” kết quả cho thấy: Nếu học tập theo phương pháp truyền thống có đến 70,5% HS cảm thấy nhàm chán với bài học này và cho rằng nội dung bài học bình thường như bao nhiêu bài học lịch sử khác, kiến thức rất dễ nhầm lần giữa 3 quốc gia và hầu như các em không được trang bị các kĩ năng cần thiết; có 20,5 % HS hứng thú với bài học; có 5,2% HS thấy bình thường; có 3,8% HS còn lại có thái độ không hứng thú, không quan tâm. Khi được hỏi những nội dung nào của bài học khiến các em thích thú, mong muốn được trải nghiệm khám phá thì có đến 88% HS trả lời thích khám phá đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của 3 vương quốc, khám phá những thành tựu trong nghệ thuật quân sự của cha ông ... nhưng do khoảng cách địa lý, sách giáo khoa chưa đề cập nhiều và thời gian tiết học không cho phép nên các em cảm thấy hụt hẫng, hiểu biết thiếu sâu sắc. Đồng thời, có 91% HS mong muốn được khám phá nội dung bài học này bằng HĐTNST hoặc các hình thức dạy học khác để ghi nhớ bài học được tốt hơn và bản thân được trau dồi nhiều hơn các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống; có 9 % HS còn lại thờ ơ với bài học này (hầu hết rơi vào những HS học yếu, không thích học, thiếu kĩ năng sống). 16
  17. Chương 2. Phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và dạy học theo sơ đồ tư duy góp phần giáo dục kĩ năng sống cho hoc sinh qua bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 1. Đặc điểm bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” Bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” thuộc chương I: Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỉ X là một trong những nội dung quan trọng của phần Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 10, Ban cơ bản. Bài học gồm 3 nội dung chính cần tìm hiểu: 1. Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc 2. Quốc gia cổ Cham-pa 3. Quốc gia cổ Phù Nam Cả 3 mục đều đề cập đến các vấn đề về quá trình hình thành, lịch sử phát triển, nét chính về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và nét đặc sắc về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cư dân ba quốc gia cổ trên đất nước Việt Nam. Với những nội dung đó, các em có rất nhiều cơ hội để thỏa sức trải nghiệm sáng tạo và rèn luyện các kĩ năng. Ngoài ra, tìm hiểu về ba quốc gia cổ này sẽ giúp các em HS thấy được những nét tương đồng về đời sống kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng giữa ba quốc gia cổ, nắm được cơ sở của tình đoàn kết gắn bó keo sơn của các dân tộc trên đất nước ta, từ đó có ý thức giữ gìn và phát triển mối quan hệ giữa các dân tộc, các vùng miền trên đất nước Việt Nam bằng những kĩ năng cần thiết mà các em học được. 2. Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và kĩ năng sống tương ứng được giáo dục qua bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” Qua thực tiễn giảng dạy bài này, tôi nhận thấy có thể tổ chức HĐTNST theo 2 phương án: Thứ nhất: lựa chọn những HĐTNST phù hợp với từng đơn vị kiến thức. Thứ hai: tổ chức 1 HĐTNST xuyên suốt cho nội dung toàn bài. Việc lựa chọn phương án nào sẽ tuỳ thuộc vào từng đối tượng HS và điều kiện khách quan khác nhau. Dưới đây là một số HĐTNST mà GV có thể sử dụng khi dạy học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”, trong đó có những hoạt động chuẩn bị cho bài học, những hoạt động thực hiện trong giờ học, những hoạt động thực hành hoặc vận dụng sau khi học. Ứng với mỗi HĐTNST các em sẽ được trau dồi và phát triển các KNS nhất định. Cụ thể: Hoạt động trải Thời Không Số người Kĩ năng sống được giáo dục nghiệm sáng tạo gian gian tham gia 1. Trải nghiệm làm 2 tiết Lớp học 1-4 - Giao tiếp MC (Hướng dẫn HS - Đảm nhận trách nhiệm viên du lịch) - Làm chủ bản thân - Kiểm soát cảm xúc - Thể hiện sự tự tin - Xử lí tình huống 17
  18. - Định hướng nghề nghiệp. 2. Trải nghiệm đóng 5 Lớp học 3–9 - Đảm nhận trách nhiệm vai thành cư dân 3 phút HS - Hợp tác quốc gia cổ - Xử lí tình huống - Quản lí thời gian - Kiểm soát cảm xúc - Thể hiện sự tự tin. 3. Trải nghiệm chơi 5 Lớp học Cả lớp - Hợp tác trò chơi phút - Quản lí thời gian - Xử lí tình huống - Giải quyết vấn đề - Ứng phó với căng thẳng. 4. Trải nghiệm tìm 1 Ở nhà 3 nhóm, - Hợp tác kiếm thông tin trên tuần mỗi - Đảm nhận trách nhiệm Internet, làm việc nhóm 13- - Trình bày suy nghĩ, ý tưởng nhóm , làm biên tập 15 HS - Đặt mục tiêu viên và thiết kế nội - Tìm kiếm và xử lí thông tin dung trên giấy A0 - Giải quyết vấn đề. (Hoặc Powerpoint) - Định hướng nghề nghiệp 5. Trải nghiệm trình 10 Lớp học 1 -3 - Đảm nhận trách nhiệm chiếu và trình bày phút người - Trình bày suy nghĩ, ý tưởng nội dung trên giấy - Thể hiện sự tự tin A0 (Hoặc - Quản lí thời gian Powerpoint) - Giao tiếp 6. Trải nghiệm xem 10 Lớp học Cả lớp - Kiểm soát cảm xúc và phân tích hình phút - Cảm thông chia sẻ ảnh, phim tư liệu về - Trình bày suy nghĩ, ý tưởng đất nước, văn hóa - Định hướng nghề nghiệp đặc sắc của 3 quốc gia cổ 7. Trải nghiệm sân 15 Lớp học 1 - 6 HS - Hợp tác khấu tương tác, phút - Thể hiện sự tự tin trình diễn nghệ thuật - Kiểm soát cảm xúc đặc sắc của 3 quốc - Tư duy sáng tạo gia cổ - Quản lí thời gian - Giải quyết vấn đề - Định hướng nghề nghiệp 18
  19. 8. Trải nghiệm thi kể 15 Lớp học 2 - 6 HS - Kiểm soát cảm xúc chuyện về đất nước, Phút - Thể hiện sự tự tin nguồn gốc cư dân 3 - Đảm nhận trách nhiệm quốc gia cổ - Định hướng nghề nghiệp 9. Trải nghiệm vẽ 1 Ở nhà 1 nhóm - Kĩ năng tự nhận thức tranh, triễn lãm buổi thực 13 đến 15 - Trình bày suy nghĩ, ý tưởng tranh về chủ đề đất hiện, HS - Tư duy sáng tạo nước, con người, Triển - Đảm nhận trách nhiệm. văn hóa lãm ở - Định hướng nghề nghiệp. 3 quốc gia cổ. lớp học 10. Trải nghiệm về 15 Ở nhà 1 nhóm - Hợp tác đời sống vật chất của phút và ở lớp 5 đến 10 - Đảm nhận trách nhiệm 3 quốc gia cổ. học HS - Tư duy sáng tạo (Thuyết -Trình bày suy nghĩ, ý tưởng trình, - Làm chủ bản thân thưởng - Định hướng nghề nghiệp. thức) 11. Trải nghiệm làm 15 Ở nhà 1 nhóm - Hợp tác mô hình thành cổ phút và ở lớp 5 đến 10 - Đảm nhận trách nhiệm loa, nỏ, máy quay học HS - Tư duy sáng tạo sợi. (Thuyết -Trình bày suy nghĩ, ý tưởng trình) - Làm chủ bản thân - Định hướng nghề nghiệp. 3. Thiết kế 1 số HĐTNST áp dụng vào dạy học bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” 3.1. Hoạt động trải nghiệm làm MC (Hướng dẫn viên du lịch) Dựa trên những cách thức của đồng nghiệp và bản thân đã thực nghiệm, theo tôi khi giảng dạy bài “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” có thể tổ chức cho HS trải nghiệm làm MC (Hướng dẫn viên) bằng 2 cách sau: - Cách 1: HS đóng vai trò làm MC (Hướng dẫn viên du lịch) thực hiện 1 chuyến xe du hành (tưởng tượng) kết hợp trình chiếu Power point giới thiệu và tương tác với các du khách (HS còn lại của cả lớp) thông qua hệ thống câu hỏi về các quốc gia cổ cổ đại trên đất nước Việt Nam. - Cách 2: HS đóng vai trò làm MC dẫn dắt bài học (Khởi động), xâu chuỗi các hoạt động học tập của cả lớp hoặc các nhóm lại với nhau để hoàn thành mục tiêu bài học. * Các yêu cầu cần đảm bảo: - GV: 19
  20. + GV phải chuẩn bị máy tính kết nối Tivi (Máy chiếu) để trình chiếu; cần duyệt trước kịch bản của MC, dự tính trước một số tình huống xảy ra và hướng dẫn giải quyết. + Phải chọn được những HS có khả năng đảm nhận vai trò MC. + GV cần quan sát kĩ HĐTNST, ghi chép cẩn thận để góp ý vào cuối giờ. + GV chuẩn bị sẵn SĐTD về “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam” để củng cố bài. - HS: + HS được chọn làm MC ngoài khả năng ăn nói mạch lạc, truyền cảm, dí dỏm, phải biết kiểm soát cảm xúc, xử lý tình huống tốt và chuẩn bị kịch bản thông qua GV duyệt trước từ 5-7 ngày. + HS cả lớp nhập vai thành những du khách trên chuyến xe cần phối hợp và tạo không khí sôi nổi bằng những câu hỏi - đáp với hướng dẫn viên trong suốt chuyến hành trình (hoặc theo cách 2 thì HS mỗi nhóm phải chuẩn bị trước các HĐTNST và SĐTD về mỗi vương quốc để trình bày khi MC yêu cầu). + Ban cán sự lớp chuẩn bị các phần quà, xếp bàn ghế hình chữ U. * Cách thức tiến hành đối với cách 1: HS đóng vai trò làm MC (Hướng dẫn viên du lịch) thực hiện 1 chuyến xe du hành (tưởng tượng) kết hợp trình chiếu Power point giới thiệu về “Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam”. Tùy vào đặc thù của từng lớp học, GV có thể giao nhiệm vụ trước 2 tuần cho từng HS về nhà chuẩn bị và nhập vai làm hướng dẫn viên cho chuyến hành trình; hoặc GV có thể phân lớp thành 3 nhóm để chuẩn bị nội dung về 3 vương quốc cổ. Mỗi nhóm sẽ chọn ra 1 MC đóng vai trò làm hướng dẫn viên. Hoạt động trải nghiệm này có thể mở rộng ra thành Hội thi “Tìm kiếm hướng dẫn viên tài năng” (trên cơ sở thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng hình thức tổ chức này tạo được sự hào hứng hơn từ phía HS, cũng như rèn luyện nhiều hơn cho các em kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, thuyết trình). Thời gian quy định: Từ 70-80 phút (đối với 1 HS đảm nhận, có thể học thông 2 tiết hoặc ra chơi 5 phút theo hiệu lệnh trống nhà trường) hoặc 20- 25 phút (đối với mỗi nhóm đảm nhận 1 quốc gia cổ). - Bước 1: Sau khi kết nối máy tính với máy chiếu, MC sẽ tự giới thiệu về bản thân và mời cả lớp bắt đầu chuyến hành trình (để tạo không khí sôi nổi MC có thể ghép 1 đoạn nhạc thể hiện tiếng tàu xe chạy hoặc cùng cả lớp mô phỏng tiếng tàu chạy). - Bước 2: MC sẽ kết hợp trình chiếu và dùng khả năng ăn nói của mình để lần lượt giới thiệu cho đoàn du khách về quốc gia Văn Lang-Âu Lạc, quốc gia cổ Cham-pa và quốc gia cổ Phù Nam với các nội dung đảm bảo chuẩn kiến thức như: cơ sở hình thành, phát triển, suy vong; đời sống vật chất và đời sống tinh thần … Trong quá trình thực hiện, MC cần phải sử dụng nhiều ngữ điệu khác nhau, biết tương tác với du khách (các bạn trong lớp) để làm nổi bật những nét đặc sắc của mỗi quốc gia cổ bằng các câu hỏi như: “Tại sao như vậy?”, “Điều lý thú ở đây là gì?” “Ai trong số các bạn biết thêm được những bí ẩn từ…”. Ngược lại, các du 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2