Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy trong chương trình Ngữ văn 10 (tập 1)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:59

15
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài hướng đến mục đích vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy nhằm hình thành và phát triển khả năng “đóng vai” cho học sinh, khơi dậy niềm đam mê, hứng thú với môn học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ Văn ở trường THPT.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy trong chương trình Ngữ văn 10 (tập 1)

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN Đơn vị: Trường THPT Phan Đăng Lưu SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: “Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy trong chương trình Ngữ Văn 10 (tập 1)” Môn: Ngữ Văn Người thực hiện: Phan Thị Phương Điện thoại: 0944184038 Có đính kèm: Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác NĂM HỌC: 2021-2022
  2. BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT PPĐV Phương pháp đóng vai PPDH Phương pháp dạy học GV Giáo viên HS Học sinh ĐC Đối chứng TN Thực nghiệm PP Phương pháp SGK Sách giáo khoa NXB Nhà xuất bản THPT Trung học phổ thông HĐXX Hội đồng xét xử
  3. MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………………………….1 1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………..1 2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………….. 2 3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………… 2 3.1. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………………...2 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………………2 4. Phạm vi khảo sát ………………………………………………………………..2 5. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………………..2 6. Đóng góp của đề tài .........................................................................................….3 7. Tính mới của đề tài ……………………………………………………………...3 8. Cấu trúc của đề tài ……………………………………………………………...4 CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ……………………………..5 1.1. Cơ sở lí luận .................................................................................................….5 1.1.1. Phương pháp dạy học tích cực …………………………………………….. 5 1.1.2. Khái niệm phương pháp đóng vai và vai trò của phương pháp đóng vai trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT …………………………………………………6 1.2. Cơ sở thực tiễn …………………………………………………………….. …9 1.2.1. Thực trạng dạy học môn Ngữ Văn ……………………………………….…9 1.2.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học Ngữ Văn ở trường THPT ...............................................................…10 1.2.3. Mức độ vận dụng PPĐV của GV trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT..10 1.2.4. Mức độ hứng thú của HS đối với các phương pháp dạy học của giáo viên..11 CHƯƠNG II. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI VÀO DẠY HỌC VĂN BẢN TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY 2.1. Các nguyên tắc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học cho HS …….14 2.1.1. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo mục tiêu dạy học …………………..14 2.1.2. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo khai thác kiến thức cơ bản, trọng tâm ……………………………………………………………………………….14
  4. 2.1.3. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo tính khả thi …………………………15 2.1.4. Phương pháp đóng vai đảm bảo tính tích cực, chủ động ………………….15 2.1.5. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện ………………15 2.2 Một số hình thức đóng vai trong dạy học Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy ………………………………………………………………………………16 2.2.1. Hình thức đóng vai tái hiện ………………………………………………..16 2.2.2. Hình thức đóng vai suy luận ………………………………………………20 2.2.3. Đóng vai người kể chuyện …………………………………………………23 2.2.4. Đóng vai giả định ………………………………………………………….27 CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM …………………………………34 3.1. Mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu thực nghiệm ......................................................34 3.1.1. Mục đích thực nghiệm ……………………………………………………..34 3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm ……………………………………………… ..34 3.1.3. Yêu cầu thực nghiệm ……………………………………………………. ..34 3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian và quy trình thực nghiệm ………………….. ..34 3.2.1. Đối tương, địa bàn thực nghiệm …………………………………………...35 3.2.2. Thời gian và quy trình thực nghiệm ……………………………………….35 3.3. Thiết kế giáo án thực nghiệm …………………………………………….. ...35 3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm …………………………………………… …45 3.4.1. Tiêu chuẩn đánh giá …………………………………………………… …45 3.4.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía giáo viên ………………………….45 3.4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía học sinh …………………………..46 3.4.4. Đánh giá chung ……………………………………………………………47 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………..49 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ……………………………………………………50 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………..51 PHỤ LỤC ……………………………………………………………………….52
  5. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài Giáo dục là một hoạt động sáng tạo, vận động không ngừng theo xu thế chung của thời đại. Vì thế trong những năm qua, cùng với xu hướng đổi mới trên mọi lĩnh vực, giáo dục cũng ưu tiên nhiệm vụ đổi mới. Thực hiện Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; giáo dục phổ thông trong phạm vi cả nước đang thực hiện đổi mới toàn bộ, từ mục tiêu chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, từ nội dung nặng tính hàn lâm sang nội dung có tính thực tiễn cao, từ phương pháp truyền thụ một chiều sang phương pháp dạy học tích cực, từ hình thức dạy học trên lớp là chủ yếu sang kết hợp đa dạng các hình thức dạy học trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường, trực tiếp và qua mạng, từ hình thức đánh giá tổng kết là chủ yếu sang coi trọng đánh giá trên lớp và đánh giá quá trình, từ giáo viên đánh giá học sinh là chủ yếu sang tăng cường việc học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh. Văn học dân gian có vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần cũng như trong nền văn học dân tộc. Như bầu sữa ngọt ngào, trong lành, tươi mát, văn học dân gian đã nuôi dưỡng tâm hồn Việt, nuôi dưỡng nền văn hóa Việt Nam. Đối với Nhân dân lao động, văn học dân gian vừa là cuốn sách bách khoa của đời sống, vừa là một trong những phương tiện giáo dục những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người như: Tình yêu Tổ quốc, lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan, lòng ngay thẳng, ý thức về điều thiện và tinh thần đấu tranh chống điều ác … Đối với các bộ môn khoa học xã hội, văn học dân gian là nguồn tài liệu vô giá cho việc nghiên cứu đời sống và thế giới quan nhân dân trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 (tập 1), phần đọc hiểu văn bản văn học dân gian chiếm số lượng khá nhiều (26%). Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của văn học dân gian trong chương trình phổ thông. Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian quen thuộc với học sinh và khi dạy GV chủ yếu cung cấp kiến thức còn HS ghi nhớ một cách thụ động, máy móc. Từ kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, tôi thấy việc đưa truyền thuyết trở về với môi trường diễn xướng là một điều hoàn toàn hợp lí vì văn học dân gian tồn tại bằng hình thức diễn xướng dân gian. Việc làm đó vừa giúp HS thấy được vẻ đẹp của tác phẩm truyền thuyết vừa giúp các em phát huy được sự chủ động, tích cực, sáng tạo của mình. Từ những lí do trên, tôi đã đưa phương pháp dạy học đóng vai vào khai thác, áp dụng trong hoạt động dạy học của bản thân, cụ thể là trong quá trình dạy tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy - Phần văn học dân gian Việt Nam, chương trình Ngữ Văn 10 (tập 1) vì ưu điểm của phương pháp dạy học đóng vai có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và phù hợp với đặc trưng của thể loại. 1
  6. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài hướng đến mục đích vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy nhằm hình thành và phát triển khả năng “đóng vai” cho học sinh, khơi dậy niềm đam mê, hứng thú với môn học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ Văn ở trường THPT 3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là vận dụng PPĐV vào dạy học cho học sinh lớp 10 qua giờ đọc - hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy ở trường THPT Phan Đăng Lưu. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về PPĐV cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy ở trường THPT Phan Đăng Lưu - Đề xuất những hình thức đóng vai cho học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy - Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài trong việc vận dụng PPĐV trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy 4. Phạm vi khảo sát Phạm vi tài liệu khảo sát của đề tài là vận dụng PPĐV cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy ở trường THPT THPT Phan Đăng Lưu - Yên Thành - Nghệ An. 5. Phương pháp nghiên cứu - Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuộc hai nhóm nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn: - Dùng phương pháp phân tích và tổng hợp, phân loại và hệ thống hoá lý thuyết để tổng hợp, đánh giá những công trình nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài. - Dùng các phương pháp quan sát và điều tra để nắm bắt những dữ liệu cần thiết về hoạt động vận dụng “phương pháp đóng vai” cho HS qua giờ dạy đọc hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy - Dùng phương pháp thực nghiệm để thẩm định tính khoa học, tính khả thi của hình thức đóng vai, biện pháp được đề xuất trong đề tài về vấn đề vận dụng “phương pháp đóng vai” cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. 2
  7. 6. Đóng góp của đề tài - Về mặt lí luận, đề tài góp phần tìm hiểu cơ sở lí luận của việc vận dụng "phương pháp đóng vai" cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. - Về mặt thực tiễn, đề tài bước đầu đề xuất một số hình thức của hoạt động vận dụng “phương pháp đóng vai” cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 7. Tính mới của đề tài Sử dụng PPĐV trong dạy học đã được tiến hành và áp dụng ở nhiều môn học như: Hóa học, Sinh học, Giáo dục công dân, Lịch sử, Địa lí…Trong những năm trở lại đây, do yêu cầu đổi mới dạy học, kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn, nhiều giáo viên đã quan tâm, trăn trở hơn đến các tiết dạy, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh. Những biện pháp đó được đúc rút trong một số sáng kiến kinh nghiệm hay các đề tài nghiên cứu như: - Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học phần văn học dân gian lớp 10 ở trường THPT của tác giả Hà Thị Hương, trường THPT Lam Kinh, Thanh Hóa, năm học 2020 - 2021. - Sáng kiến kinh nghiệm Dạy học văn học dân gian lớp 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh phổ thông qua hoạt động sân khấu ở trường THPT Anh Sơn 3, Nghệ An. - Sáng kiến kinh nghiệm Ứng dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học đọc hiểu văn bản tự sự dân gian của tác giả Nguyễn Thị Ti Na, trường THPT Nam Hà, Đồng Nai - Chuyên đề Dạy học tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy theo định hướng phát triển năng lực - Khóa luận tốt nghiệp Dạy học Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo hướng tích hợp liên môn của tác giả Hoàng Phương Thảo. - Bài viết Đổi mới dạy tác phẩm tự sự dân gian của tác giả Nguyễn Quỳnh Ngân, trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. - Báo cáo Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Ngữ Văn trường THPT Nghĩa Dân của nhóm Ngữ Văn tại hội thảo chuyên môn cấp trường tháng 10/ 2018 do báo cáo viên Lê Thị May trình bày Tuy nhiên trong những sáng kiến trên, mặc dù có đề cập đến sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học tác phẩm tự sự dân gian nhưng chưa nói đến các hình thức dạy học đóng vai cụ thể trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. Còn những chuyên đề nghiên cứu, các bài viết ở các diễn đàn có nhắc đến phương pháp đóng vai nhưng chưa có bài viết nào đề cập đến vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học văn bản “Truyện An Dương 3
  8. Vương và Mị Châu - Trọng Thủy”. Vì vậy đề tài Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy đã hệ thống được một số hình thức đóng vai, quy trình đóng vai khi dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. Dù vậy, những đề xuất trong các sáng kiến và các chuyên đề, bài viết trên sẽ là một gợi ý cho tôi trong việc thực hiện đề tài Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. 8. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài có ba chương: Chương I: Cơ sở khoa học của đề tài. Chương II: Một số hình thức đóng vai trong dạy học văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. Chương III: Thực nghiệm sư phạm. 4
  9. CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Cơ sở lí luận 1.1.1. Phương pháp dạy học tích cực Theo luật Giáo dục Việt Nam “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tư duy, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”. PPDH tích cực là khái niệm để chỉ những phương pháp giáo dục hướng tới việc hoạt động hóa, chủ động hóa nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào tính chủ động sáng tạo của người học chứ không phải tập trung vào phát huy tính chủ động của người dạy. Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa GV và HS. Nếu GV chỉ thuyết trình, có gì nói nấy thì những gì GV giảng chỉ là kiến thức một chiều. Có thể HS đã biết những kiến thức ấy, hay đó là những nội dung không hữu ích đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của các em. GV phải luôn đổi mới bài giảng cũng như phong cách đứng lớp. Mối quan hệ GV- HS sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp qua việc giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của HS. Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, giờ giảng của mỗi GV trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa. HS là trung tâm nhưng vai trò, uy tín của GV được đề cao hơn. Bên cạnh đó, khả năng chuyên môn của GV sẽ tăng lên nhờ áp lực của phương pháp, bởi nội dung kiến thức của từng giờ giảng phải được cập nhật liên tục để đáp ứng các câu hỏi của HS trong thời đại thông tin rộng mở. Khi GV dạy học bằng phương pháp dạy học tích cực, HS thấy được học chứ không bị học. HS được chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm không chỉ từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp. HS hạnh phúc khi được học, được sáng tạo, được thể hiện, được làm. Dạy bằng phương pháp giảng dạy tích cực chính là tìm mọi cách giúp HS được chủ động trong việc học, cho các em được làm việc, được khám phá tiềm năng của chính mình. GV cần giúp các em có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng. Charles Handy, nhà triết lý kinh doanh nổi tiếng người Anh, đã nói: “Để làm cho tương lai trở thành hiện thực, chúng ta cần phải tự tin và tin tưởng vào giá trị của chính mình. Đó là điều mà các trường học phải dạy cho mọi người” [23, tr.16]. Và muốn HS có được sự tự tin và tin tưởng vào giá trị của chính mình, các em cần được học theo phương pháp chủ động. Chỉ khi các em được tự khám phá kiến thức, tự học, tự làm và tự bổ sung cho nhau thì kiến thức mới trở thành tri thức của người học, chuyển thành hành động, thành thói quen hàng ngày của họ. 5
  10. Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng, thể hiện sự chú ý đến đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng, có sự hứng thú thỏa mãn đối tượng. Trong dạy học Ngữ Văn “hứng thú học tập là sự say mê, tự giác, tích cực của cá nhân đối với tác phẩm văn học, nhân vật văn học cụ thể. Tạo hứng thú học tập Ngữ Văn là GV sử dụng phương pháp dạy học phù hợp giúp HS thích thú, tìm hiểu và tự bổ sung kiến thức. Môn Ngữ Văn ở trường THPT nhằm giúp HS có những kiến thức cơ bản, cần thiết về văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, góp phần hình thành ở HS thế giới quan, nhân sinh quan, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, con người, bồi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn và các năng lực nhận thức, tư duy, hành động. Từ đó có suy nghĩ, thái độ ứng xử và hành vi đúng đắn trong cuộc sống. Vì thế PPDH môn Ngữ Văn ở trường THPT rất đa dạng, phong phú, bao gồm các phương pháp hiện đại (thảo luận nhóm, đóng vai, dự án…) và các phương pháp truyền thống (trực quan, vấn đáp, thuyết trình…). Để việc dạy học có hiệu quả, người GV phải biết lựa chọn các phương pháp phù hợp với nội dung bài học, với đối tượng HS nhằm tạo cho học sinh niềm hứng thú và sự yêu thích, say mê trong học tập. Tâm lí của HS khi học môn Ngữ Văn là phải đọc nhiều, viết nhiều, nhớ nhiều nhân vật, cốt truyện, sự việc … Điều này dẫn đến chán nản, đối phó với môn học, thậm chí có rất nhiều HS còn không muốn học, mượn vở chép bài, học chiếu lệ, trả bài qua chuyện để lấy điểm, quay cóp khi đi thi... Vì vậy trong quá trình dạy học các tác phẩm tự sự dân gian, tôi đã áp dụng PPĐV để tạo hứng thú, kích thích khả năng tự giác, chủ động, sáng tạo đối với học sinh trong quá trình học tập. 1.1.2. Khái niệm phương pháp đóng vai và vai trò của phương pháp đóng vai trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT a. Khái niệm phương pháp đóng vai Thuật ngữ “đóng vai” hiện nay đang được chúng ta sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê: “Đóng vai là thể hiện nhân vật trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng cách hành động, nói năng như thật” [5, tr.337]. Trong cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, tác giả Phan Trọng Ngọ cho rằng: “Phương pháp đóng kịch trong dạy học là giáo viên cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vai diễn. Qua đó họ học được cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động như các kĩ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản” [6, tr.283]. Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Giáo dục học tập 1” lại định nghĩa: “Đóng kịch là PPDH, trong đó GV tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp HS hiểu sâu sắc nội dung học tập” [8, tr.227] 6
  11. Trong tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 THPT cho rằng: “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định” [9, tr.17]. Có thể thấy, các quan điểm nêu trên đều có điểm chung, đó là coi PPĐV là phương pháp mà trong đó GV hoặc HS xây dựng kịch bản có nội dung học tập, yêu cầu người học đóng các vai diễn. Bản chất của nó là vai trò chủ đạo của GV trong việc biên tập nội dung dạy học thành kịch bản hoặc tình huống phù hợp để người học sử dụng kịch bản hoặc tự xây dựng kịch bản và nhập vai, lĩnh hội kiến thức, hình thành kĩ năng. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, đóng vai có các hình thức phản ánh mức độ, yêu cầu và mang lại hiệu quả khác nhau. Do đó, dạy học bằng PPĐV không chỉ dừng lại ở việc đóng kịch. Bởi nó bao gồm việc xác định, lựa chọn kiến thức, xây dựng kịch bản, phân vai và thể hiện vai diễn. Điều quan trọng hơn là từ việc đóng kịch ấy rút ra bài học về nhận thức, thái độ và kĩ năng cho người học. Như vậy, phương pháp đóng vai là một trong những PPDH tích cực, nhằm phát huy cao độ tính tự giác, độc lập, sáng tạo của người học. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng định nghĩa của tài liệu “Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2006, đó là “Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định” [9, tr.17]. Với định nghĩa này các tác giả tiếp cận phương pháp đóng vai theo hướng nhấn mạnh vai trò của người học qua việc thể hiện quan điểm thái độ, hành vi của mình trước tình huống được giao. Vì vậy giáo viên nên tạo các tình huống mở để người học sáng tạo kịch bản, lời thoại phù hợp với nội dung bài học và kĩ năng của mình. Trong những tình huống giả định, phương pháp này giúp các em tập trung suy nghĩ về một vấn đề, xem xét nó trong mối quan hệ với tác phẩm văn học và bản thân, xem xét các cách ứng xử để lựa chọn cho mình một cách ứng xử phù hợp nhất. Tất nhiên là phù hợp với trình độ hiểu biết, quan điểm của học sinh đó về tình huống được đặt ra.Từ đó, GV có thể nắm bắt được mức độ hiểu bài của HS, hiểu HS của mình để có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, uốn nắn và giáo dục phù hợp, kịp thời. b. Vai trò của phương pháp đóng vai trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT PPĐV có những vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới PPDH Ngữ Văn ở trường phổ thông, tạo hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy học. PPĐV làm phong phú thêm phương pháp dạy học cho giáo viên, góp phần tích cực vào xu thế đổi mới PPDH Ngữ Văn ở trường phổ thông. PPDH là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Một PPDH khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để GV và HS phát huy hết khả năng của mình 7
  12. trong việc truyền đạt lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy, làm thay đổi vai trò của GV, đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của HS. Trong khi đó hiện nay ở trường phổ thông, phương pháp thuyết trình vẫn chiếm ưu thế, vì vậy điều này đã làm mất đi một hình thái của tư duy đó là tư duy sáng tạo. Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng, phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra những phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một phương án. PPĐV có khả năng kích thích tư duy sáng tạo của người học (sáng tạo trong giải quyết tình huống, sáng tạo trong xây dựng kịch bản, sáng tạo trong thể hiện hình tượng nhân vật…). Do vậy PPĐV có thể kết hợp với phương pháp thuyết trình để làm cho bài học sinh động, hạn chế nhược điểm và phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống. PPĐV giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung tác phẩm văn học đang học, phát triển trí tuệ và phẩm chất, nhân cách cho HS. Ngoài việc cung cấp kiến thức sát với nội dung bài học, đóng vai giúp phát triển khả năng tư duy, sáng tạo của người học, kích thích người học đưa ra nhiều ý tưởng mới cho bài học. Phương pháp đóng vai giúp phát triển kĩ năng thực hành cho học sinh, gắn tác phẩm văn học với thực tiễn, nhất là đóng vai tình huống. Thông qua đó học sinh thể hiện kĩ năng và phương pháp ứng xử của mình, là cơ hội để các em thể hiện thái độ và tính cách trước đám đông. PPĐV có tác dụng to lớn trong tạo hứng thú và động cơ học tập cho học sinh. Với chủ trương đổi mới phương pháp dạy học là học sinh tích cực chủ động tìm kiếm kiến thức, vì vậy mục tiêu giáo dục sẽ thay đổi theo các bước: Thái độ, hứng thú - Kĩ năng - Tri thức. Hứng thú có vai trò quan trọng trong nâng cao tính tích cực, làm tăng hiệu quả nhận thức. Phương pháp đóng vai mang lại hứng thú học tập cho học sinh vì trong quá trình đóng vai, học sinh được trao đổi giao lưu với thầy cô, bạn bè, được thể hiện năng khiếu, thể hiện mình trước đám đông hòa mình vào không khí lớp học sôi nổi, thoải mái, thân thiện, hấp dẫn. Hứng thú là nguyên nhân hình thành động cơ học tập cho HS. PPĐV có tác dụng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết tình huống, kĩ năng thuyết trình. Đóng vai đòi hỏi HS phải chủ động trong quá trình học tập như một bên liên quan trong một kịch bản tưởng tượng hay thực, trong quá trình tham gia sẽ giúp HS hình thành kĩ năng giao tiếp giữa cá nhân – cá nhân, cá nhân- tập thể. Từ đó giúp HS biết cách giao tiếp, ửng xử với bạn bè cùng trang lứa và những người xung quanh. Thông qua đóng vai HS thể hiện nhận thức, thái độ trong tình huống cụ thể và phải có cách ứng xử phù hợp với tình huống đó. Qua các vai diễn, HS bộc lộ khả năng giao tiếp, tự giải quyết vấn đề, các tình huống trong cuộc sống…HS sẽ tự tin khi đứng trước đám đông và thấy mình cần cố gắng hơn nữa để vai diễn của mình nhận được sự khen ngợi từ mọi người… 8
  13. PPĐV còn có tác dụng trong hướng nghiệp cho học sinh.Thông qua đóng vai không chỉ tạo không khí học tập sôi nổi, khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh mà còn có khả năng hình thành niềm đam mê nghề nghiệp. Trong quá trình tìm tòi, sáng tạo, xây dựng kịch bản, hóa thân vào vai diễn như: nhà văn, hay một nhân vật, một tình huống giả định nào đó…HS có thể phát hiện ra những tố chất tiềm ẩn của mình, góp phần vào việc định hướng nghề nghiệp cho các em sau này. 1.2. Cơ sở thực tiễn 1.2.1. Thực trạng dạy học môn Ngữ văn Nói đến PPDH Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông hiện nay không thể không nhắc tới các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học văn khiến HS mất hứng thú, một trong những vấn đề đó là: Thứ nhất, dạy Văn theo kiểu đọc chép: Giáo viên đọc, học sinh chép hoặc giáo viên giảng và ghi trên bảng, học sinh chép theo. Kiểu dạy này làm cho học sinh tiếp thu kiến thức ngữ văn một cách thụ động, không tạo được sự hứng thú trong mỗi tiết học. Thứ hai, dạy kiểu nhồi nhét: Giáo viên dạy toàn bộ nội dung, không có chọn lọc về vấn đề trung tâm, không nêu ra vấn đề cho học sinh trao đổi vì sợ không kịp chương trình, sợ không giảng dạy hết nội dung cho học sinh, ảnh hưởng đến việc thi cử. Thứ ba, dạy Ngữ Văn như một nhà nghiên cứu văn học: Giáo viên dạy ngữ văn theo cách của một nhà nghiên cứu văn học, chú trọng vào việc phân tích tâm lý, kỹ thuật sử dụng ngôn từ hay phương pháp sáng tác… Trong khi đó, học sinh chỉ cần đọc hiểu tác phẩm dưới vai trò của một độc giả bình thường, hiểu rõ được ý nghĩa, tư tưởng của tác phẩm. Thứ tư, học sinh tiếp thu kiến thức thụ động, thiếu sự sáng tạo: Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thiếu hứng thú, chỉ học theo hình thức đọc thuộc để đối phó nên không phát huy được tính sáng tạo cũng như chủ động trong việc tìm tòi, khám phá kiến thức. Thứ năm, học sinh không hình thành thói quen tự học: Học sinh không chủ động tìm kiếm kiến thức trong sách giáo khoa, không nắm được đâu là kiến thức trọng tâm, không phân biệt được đâu là vấn đề chính và phụ, không phát triển từ cái đã biết để tìm ra câu trả lời cho cái chưa biết. Thứ sáu, thiếu sự tương tác giữa GV - HS, HS - HS: Trong quá trình giảng dạy và học tập, giáo viên chỉ quan tâm đến việc dạy, học sinh lại quan tâm đến việc ghi chép bài nên thiếu đi sự tương tác lẫn nhau. Nếu tăng cường được sự tương tác có thể nhắc nhở, bổ sung kiến thức cho nhau, từ đó làm cho kiến thức trở nên toàn vẹn hơn. 9
  14. Thứ bảy, thiếu sự hứng thú và đam mê với việc học: Học sinh không có hứng thú, niềm đam mê với tiết học Ngữ Văn, dẫn đến việc học tập không hiệu quả. 1.2.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc vận dụng PPĐV vào dạy học Ngữ Văn ở trường THPT Ở chương trình Ngữ Văn lớp 10, tập I, các VB truyện dân gian Việt Nam chiếm thời lượng nhiều hơn so với các thể loại văn học dân gian khác (9 tiết). Qua khảo sát GV dạy Ngữ Văn ở trường THPT Phan Đăng Lưu, thực trạng nhận thức của GV về việc vận dụng PPĐV vào dạy học Ngữ Văn nói chung và dạy học văn bản truyện dân gian nói riêng còn nhiều bất cập. Qua phiếu điều tra, tôi thu được kết quả như sau: Mức độ nhận thức và lí do Số giáo viên Tỉ lệ % A. Mức độ nhận thức Rất cần thiết 10 100% Cần thiết 0 0% Không cần thiết 0 0% B. Các lí do - Kích thích hứng thú học tập của học sinh 10 100% - Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh 10 100% - Đảm bảo kiến thức vững chắc 8 80% - Chuẩn bị công phu mất thời gian 7 70% - HS được thể hiện mình trước đám đông 10 100% Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên về sử dụng PPĐV trong dạy học ở trường THPT 1.2.3. Mức độ vận dụng PPĐV của giáo viên trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT. Để điều tra thực trạng vận dụng PPĐV trong dạy học Ngữ Văn, tôi đã tiến hành điều tra các PPDH được các GV sử dụng. Kết quả như sau: TT Các PPDH Thường Thỉnh thoảng Không sử xuyên dụng SL % SL % SL % 1 PP Thuyết trình 10 100 0 0 0 0 2 PP Đóng vai 0 0 4 40 6 60 3 PP Vấn đáp 10 100 0 0 0 0 10
  15. 4 PP Trực quan (sử dụng tranh 6 60 4 40 0 0 ảnh, phim tư liệu...) 5 PP Thảo luận nhóm 7 7 3 30 0 0 6 PP Dự án (HS trong các vai 0 0 3 30 7 70 trò khác nhau của cuộc sống thực: đạo diễn, dẫn chương trình, chuyên gia…) 7 PP tự học 0 0 2 20 8 80 Bảng 2: Thực trạng sử dụng các PPDH của GV trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT 1.2.4. Mức độ hứng thú của HS đối với các phương pháp dạy học của giáo viên. Để tìm hiểu về mức độ hứng thú của HS đối với các PPDH mà GV thường sử dụng tôi đã tiến hành điều tra 128 HS khối 10 trường THPT Phan Đăng Lưu, kết quả thu được như sau: TT Các phương pháp Rất thích Thích Bình Không thường thích SL % SL % SL % SL % 1 PP Thuyết trình 0 0 20 15, 38 29,7 70 54,7 6 2 PP Đóng vai 95 74,2 33 25, 0 0 0 0 8 3 PP Vấn đáp 5 3,9 8 6,2 28 21,9 83 67,9 5 5 4 PP Trực quan (sử dụng 42 32,8 57 44, 29 22,7 0 0 tranh ảnh, phim tư 5 liệu...) 5 PP Thảo luận nhóm 20 15,6 80 62, 13 10,2 15 11,7 5 6 PP Dự án (HS trong các 0 0 17 13, 35 27,3 76 59,3 vai trò khác nhau của 3 4 6 cuộc sống thực: đạo diễn, dẫn chương trình, chuyên gia…) 7 PP tự học, tự nghiên cứu 0 0 0 0 26 20,3 102 79,7 Bảng 3: Mức độ hứng thú của học sinh với các phương pháp mà giáo viên đã sử dụng Qua số liệu điều tra trên tôi thấy: 11
  16. - Về phía giáo viên: 100% (10/10) GV được khảo sát đều khẳng định sự cần thiết cả việc sử dụng PPĐV trong dạy học. Các GV đã có nhận thức đúng đắn về tác dụng của PPĐV: 100% (10/10) GV đều cho rằng PPĐV kích thích sự hứng thú trong học tập, phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS, 80% (8/10) GV cho rằng phương pháp này đảm bảo kiến thức vững chắc. 100% (10/10) GV đều cho rằng nếu thực hiện đóng vai HS sẽ được thể hiện mình trước đám đông. Tuy nhiên qua số liệu điều tra ở bảng 2: Các phương pháp dạy học được các GV sử dụng cho thấy: 100% GV trong dạy học sử dụng thường xuyên phương pháp thuyết trình, 70% sử dụng phương pháp hoạt động nhóm, 60% sử dụng phương pháp trực quan, phương pháp dự án và tự học cũng rất ít giáo viên thỉnh thoảng mới sử dụng Trong khi đó với PPĐV chỉ có 40% (4/10) GV được hỏi là thỉnh thoảng sử dụng trong quá trình dạy học, 60% ( 6/10) GV không sử dụng, còn sử dụng thường xuyên không có GV nào. Điều này cho thấy giữa nhận thức, thái độ và hành động thực tế của GV còn có khoảng cách khá xa. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc đổi mới PPDH còn gặp nhiều khó khăn. - Về phía học sinh: Qua điều tra tôi thấy hầu hết các em rất thích thú khi được đóng vai trong giờ họcNgữ Văn. 74,2% HS rất thích và 25,8 % HS thích GV sử dụng PPĐV trong giờ học Ngữ Văn. Như vậy đây là một thuận lợi để giáo viên có thể áp dụng phương pháp này trong xu thể đổi mới PPDH hiện nay. Tuy nhiên trong quá trình dạy học giáo viên rất ít khi sử dụng PPĐV, nếu có thì cũng chỉ trong các tiết thao giảng hoặc nghiên cứu bài học. Qua tìm hiểu tôi thấy nguyên nhân của thực trạng trên là do: Thứ nhất, các GV cho rằng PPĐV đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, chuẩn bị mất thời gian. Không phải nội dung nào cũng sử dụng PPĐV một cách hiệu quả, giáo viên phải mất thời gian chuẩn bị giáo án và triển khai đóng vai trên lớp. Thứ hai, năng lực, kĩ năng vận dụng PPĐV còn hạn chế, nhiều GV còn đang lúng túng chưa biết vận dụng PPĐV vào bài nào, tiến hành ra sao…đó là những nguyên nhân làm cho giáo viên chưa mạnh dạn sử dụng PPĐV trong dạy học. Thứ ba, khả năng hợp tác của các HS cũng làm giảm hiệu quả sử dụng phương pháp này, các em chưa chủ động khi tham gia hoạt động nhóm. Thứ tư, chương trình môn học còn nặng về cung cấp kiến thức, giáo viên không có thời gian để sân khấu hóa lớp học. Thực tế đó cho thấy việc áp dụng PPĐV trong dạy học Ngữ Văn là hết sức cần thiết. GV và HS đều hứng thú với PPĐV song vẫn gặp những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện. Với tư cách một giáo viên dạy Ngữ Văn, tôi cho rằng mình cần phải có trách nhiệm đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học tích cưc vào dạy học, trong đó có PPĐV. Thực tiễn đó là cơ sở để tôi triển khai và thực hiện đề tài Vận dụng PPĐV vào dạy học Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy trong quá trình dạy học. 12
  17. CHƯƠNG II VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI VÀO DẠY HỌC VĂN BẢN TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY 2.1. Các nguyên tắc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học cho HS Để thiết kế giờ học theo hướng phát triển năng lực của HS, tiến trình giờ học được tổ chức theo các hoạt động: Khởi động, Hình thành kiến thức, Luyện tập, 13
  18. Vận dụng ứng dụng. Tùy theo từng tiết học, giáo viên có thể sử dụng phương pháp đóng vai ở các bước lên lớp hoặc chỉ tiến hành ở một số hoạt động nhất định. Phương pháp đóng vai là nhằm hướng tới hứng thú cho học sinh, phát huy năng lực sáng tạo, chủ động, tích cực của người học. Để thực hiện phương pháp đóng vai trong dạy học tác phẩm Truyên An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy có hiệu quả, giáo viên cần chú ý đảm bảo các nguyên tắc sau: 2.1.1. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo mục tiêu dạy học Trong quá trình dạy học, khi sử dụng bất kỳ một phương pháp dạy học nào, kể cả phương pháp dạy học truyền thống hay phương pháp dạy học hiện đại cũng đều cần phải đảm bảo mục tiêu của môn học. Nếu rời xa mục tiêu môn học thì các phương pháp dạy học không có giá trị, không đạt được mục tiêu của quá trình dạy học. Môn Ngữ văn ở trường THPT là môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục, đồng thời giúp HS hình thành và phát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội. Chính vì thế khi sử dụng phương pháp dạy học đóng vai chúng ta phải đảm bảo nguyên tắc mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể. Đó là thông qua hoạt động đọc, viết, nói và nghe các kiểu loại văn bản, nhất là văn bản văn học, môn Ngữ Văn góp phần giúp HS phát triển những phẩm chất cao đẹp như :Tình yêu đối với thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước, ý thức đối với cội nguồn, tự hào về lịch sử dân tộc, lòng nhân ái, vị tha, yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh. Có hứng thú học tập, tinh thần tự học, trung thực và có ý thức sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân, góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có tinh thần hội nhập và ý thức công dân toàn cầu. Đồng thời, thông qua những kiến thức phổ thông nền tảng, có tính hệ thống về văn học, tiếng Việt, chương trình giúp HS có năng lực vững vàng để tiếp tục học lên các cấp cao hơn. Kết thúc cấp THPT, HS biết đọc hiểu các kiểu loại văn bản dựa trên những kiến thức sâu rộng và hệ thống hơn, kết hợp với những trải nghiệm và khả năng suy luận, tư duy độc lập của bản thân, biết viết các kiểu loại văn bản đúng quy cách, biết trình bày dễ hiểu, mạch lạc và sinh động các ý tưởng cảm xúc, có nội dung rõ ràng, đúng trọng tâm, có thái độ tự tin khi nói trước nhiều người, biết nghe hiểu với thái độ phù hợp và phản hồi hiệu quả. 2.1.2. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo khai thác kiến thức cơ bản, trọng tâm Giáo viên khi lựa chọn nội dung có sử dụng phương pháp đóng vai phải bám sát chương trình sách giáo khoa để đạt mục tiêu dạy học. Ở mỗi tác phẩm cụ thể, giáo viên cần cân nhắc lựa chọn nhân vật, tình huống để sử dụng phương pháp đóng vai cho phù hợp. 2.1.3. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo tính khả thi 14
  19. Khả thi về kịch bản: Kịch bản được xây dựng dựa vào mục tiêu, nội dung bài học, phải có kịch tính để gây sự hứng thú, gây sự chú ý. Đồng thời kịch bản phải có tính giáo dục, bồi dưỡng cảm xúc, thẩm mĩ cho người học. Kịch bản phải tôn trọng nội dung cốt truyện. Vì vậy, giáo viên cần hỗ trợ trong quá quá trình học sinh viết kịch bản, kiểm duyệt trước khi diễn trước lớp Khả thi về thời gian: Đối với bài dạy trong chương trình chính khóa có sử dụng phương pháp đóng vai thì thời gian đóng vai trò vô cùng quan trọng. Với thời gian 45 phút trong một tiết học, giáo viên cần cân đối giữa cac hoạt động, từ đó chọn nội dung đóng vai phù hợp. 2.1.4. Phương pháp đóng vai đảm bảo tính tích cực, chủ động Hoạt động đóng vai phải phát huy được tinh thần làm việc tập thể, khả năng làm việc nhóm của học sinh. Qua hoạt động đóng vai học sinh phải làm việc nhóm, đòi hỏi sự tự giác và tích cực của tất cả các thành viên. Vì vậy trong quá trình dạy học, giáo viên phải luôn chú ý quan sát, nắm bắt tâm lí tùng đối tượng học sinh để có biện pháp dẫn dắt, lôi kéo các em vào bài học một cách tự nhiên nhất. Giáo viên yêu cầu phải có biên bản làm việc nhóm, có phân công nhiệm vụ cụ thể và đánh giá thái độ của từng thành viên. Việc làm này sẽ giúp giáo viên nắm bắt tình hình của học sinh, từ đó đưa ra những biện pháp cụ thể với mỗi đối tượng học sinh đó 2.1.5. Phương pháp đóng vai phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện Khi tự nguyện, các em sẽ chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo trong khám phá tri thức. Tuy nhiên, phương pháp đóng vai không khuyến khích ở các khâu lên lớp, tất cả nội dung bài học. Giáo viên chỉ nên chọn nội dung phù hợp để đóng vai tránh sự nhàm chán. Trong quá trình lên lớp cần kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khác để tăng hiệu quả nội dung hoạt động dạy học. Tình huống đóng vai phải phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh và hoàn cảnh lớp học, số lượng vai diễn không nên quá nhiều, Tình huống không nên quá dài, cần biết khích lệ học sinh nhút nhát. 2.2 Một số hình thức đóng vai trong dạy học Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy 2.2.1. Hình thức đóng vai tái hiện a. Đóng vai tái hiện Đây là hình thức tổ chức cho học sinh đóng vai các nhân vật trong tác phẩm tự sự. Thay vì cho học sinh đọc tác phẩm, giáo viên có thể chọn một đoạn tiêu biểu trong tác phẩm có nhiều lời thoại giữa các nhân vật, phân vai, cho học sinh có thời 15
  20. gian chuẩn bị, sau đó tái hiện lại nhân vật trong tác phẩm. Giáo viên phân công học sinh thể hiện lời của một nhân vật sao cho phù hợp với tính cách của nhân vật đó và hoàn cảnh xuất hiện của nhân vật trong tác phẩm. Ở hình thức đóng vai này, học sinh có thể kết hợp thêm một số lời thoại khác (chú ý là không khác nhiều so với văn bản), kết hợp ngôn ngữ, điệu bộ để trình bày về con người, hoàn cảnh, sự kiện bằng suy nghĩ chủ quan của người trong cuộc. Qua sự thể hiện diễn cảm của học sinh, các nhân vật như bước ra từ các trang sách, họ không chỉ đối thoại với các nhân vật khác trong tác phẩm mà dường như còn đang đối thoại với người đang nghe họ nói. Đây là phương pháp dạy học quen thuộc nhưng rất thú vị, dễ tạo được hiệu ứng tích cực trong quá trình cảm thụ trực tiếp cho học sinh. Đặc biệt khi các em đóng phân vai một cách diễn cảm sẽ tạo được ấn tượng mạnh, tạo cảm xúc cho người nghe, đem lại hiệu quả cho quá trình dạy học. Đối với kiểu đóng vai tái hiện này, giáo viên và học sinh không mất nhiều thời gian chuẩn bị, có thể đóng vai trực tiếp trong giờ học, đặc biệt khá thuận lợi trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Tuy nhiên, giáo viên cũng không nên sử dụng hình thức đóng vai này trong một lượng thời gian quá dài hoặc lượng kiến thức nhiều vì dễ gây nhàm chán cho cả người dạy và người học, tác động ngược đến hiệu quả giờ học. Để tăng hiệu quả của phương pháp đóng vai nhân vật tái hiện, giáo viên có thể cho nhiều nhóm cùng đóng vai một nhân vật theo từng sự việc (từng nội dung) của bố cục bài dạy. b. Quá trình thực hiện: Trong hai năm học 2020 -2021 và 2021 2022, nhận thấy ưu điểm của hình thức đóng vai tái hiện nên tôi đã vận dụng vào trong dạy học tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, tôi đã vận dụng hình thức đóng vai tái hiện ở bước hình thành kiến thức, phần đọc tác phẩm. Mục đích của tôi khi vận dụng PPĐV vào phần đọc tác phẩm là để thay đổi hình thức đọc văn bản truyền thống, đem đến cho giờ học không khí vui vẻ, thoải mái để các em có tâm thế tốt nhất khi tìm hiểu văn bản. Tôi đã tiến hành thực hiện các bước như sau: * Bước 1: - GV giao nhiệm vụ đóng vai cho HS - HS tiến hành chuẩn bị các công việc sau: + Dự kiến nhân vật: An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy, Tướng quân, Người dẫn truyện + Viết kịch bản: Nội dung của kịch bản phải đảm bảo cốt lõi lịch sử, cơ bản là tái hiện những sự việc và chi tiết quan trọng trong truyện. + Kịch bản của HS: 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2