intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:44

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn" nhằm xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức đa dạng và sáng tạo các hoạt động trải nghiệm. Qua đó góp phần hình thành và phát triển năng lực phẩm chất học sinh, đáp ứng mục tiêu chương trình GDPT 2018.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn

  1. SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT KỲ SƠN -------------o0o------------ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên đề tài: Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn Giáo viên: Vũ Thị Huyền Tổ: Văn – Ngoại ngữ Số ĐT: 0977848979 Năm học 2021 - 2022 1
  2. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………3 PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………....................7 I. Cơ sở lý luận và thực tiễn………………………………………………………...7 1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………………..7 2. Cơ sở thực tiễn…………………………………………………………………...7 2.1. Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường THPT Kỳ Sơn nói chung……………………………………………………………………………….7 2.1.1. Thuận lợi ……………………………………………………………………7 2.1.2. Khó khăn……………………………………………………………………..8 2.2. Thực trạng của hoạt động trải nghiệm trong môn học Ngữ văn tại trường THPT Kỳ Sơn………………………………………………………………………9 II. Giải pháp………………………………………………………….....................11 1. Lồng ghép trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn……………………………….11 1.1 Lồng ghép trò chơi trong hoạt động khởi động bài học………………………12 1.2 Lồng ghép trò chơi trong hoạt động hình thành kiến thức và luyện tập giúp học sinh khắc sâu và củng cố kiến thức bài học…………………………………………15 1.2.1 Trò chơi tập thể (Hoạt động nhóm)………………………………………....16 1.2.2 Trò chơi giải ô chữ văn học…………………………………………………16 1.2.3 Trò chơi ô số may mắn……………………………………………………...17 1.3 Sân khấu hóa tác phẩm văn học……………………………………………….19 1.3.1 Trải nghiệm “Em là họa sĩ”………………………………………………...20 1.3.2 Trải nghiệm vào vai nhà văn, diễn viên sân khấu……………………..........21 2. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa văn học……………………………………23 3. Tổ chức tham quan du lịch, thâm nhập thực tế………………………...............24 III. Kết quả………………..………………………………………………………28 PHẦN KẾT LUẬN ………………………………………………………………30 1. Kết luận………………………………………………………………………...30 2. Phương hướng khắc phục các hạn chế…………………………………………30 3. Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp………………………………………...33 PHỤ LỤC…………………………………………………………………………35 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………...44 2
  3. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1. HĐTNST – Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 2. THPT – Trung học phổ thông 3. HS – Học sinh 4. BGH – Ban giám hiệu 5. GV – Giáo viên 6. THCS – Trung học cơ sở 3
  4. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, hoạt động trải nghiệm sáng tạo coi trọng các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của học sinh. Đây là những hoạt động giáo dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm, thực tế cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo. Sau khi hoàn thành hoạt động, học sinh sẽ hình thành được một số năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu của nền giáo dục đổi mới nói riêng và thời đại 4.0 nói chung. Có thể kể đến như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực làm việc nhóm, năng lực sáng tạo, năng lực thuyết trình, năng lực làm MC… Bên cạnh đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ giúp các em học sinh biết trân trọng giá trị cuộc sống và tự định hướng được cho tương lai của bản thân. Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông cũng đã và đang từng bước chuyển đổi cách thức cũng như mục đích dạy học cho phù hợp. Dạy học Ngữ văn vừa giúp các em có một thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, vừa có một vốn tri thức phong phú về văn hóa, văn học… để có thể ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống và học tập. Hơn thế nữa, còn khơi dậy ở các em những xúc cảm cá nhân trong khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương, hình thành và rèn luyện những năng lực Ngữ văn cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc sống của chính bản thân học sinh. Học Ngữ văn hiện nay không còn chủ yếu là đi vào khai thác cái hay cái đẹp của ngôn từ, của hình tượng nghệ thuật, mà còn để cái hay cái đẹp ấy giúp học sinh có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tốt, sống tích cực, nhân văn. Chính vì vậy, có lẽ chưa khi nào yêu cầu trải nghiệm trong hoạt động dạy và học Ngữ văn lại cấp thiết đến thế. Với vai trò là người dẫn đường cho học trò tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, giáo viên dạy Ngữ văn cũng cần vừa năng động, vừa có chiều sâu và không ngừng đổi mới sáng tạo. Xuất phát từ cơ sở lý luận về vai trò của hoạt động trải nghiệm cũng như kinh nghiệm đứng lớp giảng dạy bộ môn Ngữ văn nhiều năm của bản tại trường THPT Kỳ Sơn (Nghệ An), tôi xin được chọn đề tài: Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn để chia sẻ với đồng nghiệp và Hội đồng chấm sáng kiến. 2. Mục đích nghiên cứu Bồi dưỡng năng lực môn Ngữ văn, xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể thông qua tố chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong những biện pháp tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được quan sát, suy nghĩ và trải nghiệm tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho học sinh được tìm tòi, mở rộng và nghiên cứu. Học từ trải nghiệm và bằng trải nghiệm mang lại hiệu quả giáo dục rất cao. Phương pháp này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục và đào tạo trong thời kì hội nhập và quốc tế hóa. 4
  5. Đề tài sáng kiến đặt ra mục tiêu là: xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức đa dạng và sáng tạo các hoạt động trải nghiệm. Qua đó góp phần hình thành và phát triển năng lực phẩm chất học sinh, đáp ứng mục tiêu chương trình GDPT 2018. 3. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết + Phương pháp phân tích, tổng hợp Đọc các tài liệu liên quan đến đề tài để chọn lọc những những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài + Phương pháp hệ thống hóa Nghiên cứu các tài liệu phân chia thành những mục theo mục đích mà mình nghiên cứu. + Phương pháp lịch sử Qua việc tiếp thu, kế thừa từ các đề tài tài liệu trước đây để làm cơ sở hoàn thành đề tài này. - Phương pháp nghiên cứu thực tế + Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu Dựa trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tiến hành thu tập các tài liệu liên quan đến HĐTNST trong dạy học Ngữ văn.Thu thập tài liệu từ các nguồn như: sách chuyên khảo, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, luận văn, đề tài khgoa học và thông tin trên mạng internet. Dựa trên tài liệu thu thập được, tôi tiến hành các thao tác phân tích, tổng hợp để xây dựng cơ sở lí luận, nền tảng khái niệm cho việc triển khai nghiên cứu đề tài. + Phương pháp phỏng vấn Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu các nguyên nhân về thực trạng tổ chức HĐTNST ở trường THPT và tìm hiểu quan điểm của đối tượng được phỏng vấn về việc tổ chức HĐTNST. + Phương pháp thống kê toán học Sử dụng các công thức nhằm tính toán, phân tích các phiếu điều tra hiện trạng và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm. 3. Đối tượng nghiên cứu Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn ngữ văn. 4. Phạm vi nghiên cứu - Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo. - Tổ chức một số hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo (tổ chức trò chơi và hoạt động giao lưu ) 5
  6. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung được trình bày như sau: 1. Lồng ghép trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn 2. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa văn học 3. Tổ chức tham quan du lịch, thâm nhập thực tế 6
  7. PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Cơ sở lý luận Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội...; giúp học sinh tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống sau này. Ở bậc THPT, hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành lối sống tích cực, biết cách hoàn thiện bản thân, biết tổ chức cuộc sống cá nhân biết làm việc có kế hoạch, tinh thần hợp tác, có trách nhiệm, có ý thức công dân… và tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa, thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… có nội dung rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục. Nội dung giáo dục của HĐTNST thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. HĐTNST có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường THPT Kỳ Sơn nói chung 2.1.1. Thuận lợi Trường THPT Kỳ Sơn luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương. Đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo, các phòng chuyên môn nghiệp vụ Sở. Cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường luôn coi các em học sinh như con em trong gia đình. Không chỉ giảng dạy trên lớp, giáo viên con quan tâm đến đời sống sinh hoạt của các em. Việc quan tâm, chăm sóc vừa để nắm bắt được tâm tư, tình cảm, tư vấn, giúp các em lựa chọn những môn học, ngành học phù hợp với mình, vừa chia sẻ với các em những niềm vui, nỗi buồn trong sinh hoạt và học tập. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường luôn đoàn kết thống nhất, nêu cao 7
  8. tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, tích cực trong việc xây dựng và phát triển nhà trường và tiếp cận các phương pháp dạy học mới. Các em học sinh chăm ngoan, có ý thức kỷ luật tốt, biết vươn lên trong học tập và cuộc sống. Do điều kiện ăn ở và sinh hoạt tập trung nên giao tiếp là một hoạt động đặc biệt giúp các em rèn kĩ năng sống cho bản thân. Đối tượng giao tiếp hàng ngày thường là thầy, cô, bạn bè. Qua hoạt động giao tiếp giúp các em nhận thức được người khác và bản thân mình, từng bước phát triển các kĩ năng cần thiết như: so sánh, phân tích, khái quát hành vi của mình và của người khác, trên cơ sở đó từng bước tự điều chỉnh hành vi, hoạt động để hoàn thiện nhân cách bản thân. Ngoài thời gian học tập trên lớp theo chương trình giáo dục chính thức của cấp học, thời gian còn lại đều là thời gian ngoài giờ lên lớp. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục không chỉ thực hiện trong thời gian ngoài giờ lên lớp ở trường PT mà còn thực hiện ngay trong chương trình môn học, góp phần giáo dục toàn diện học sinh về đức, trí, thể, mĩ. Đó không chỉ là điều kiện để mỗi học sinh được thể hiện mà các em còn được giao lưu học hỏi, được trải nghiệm sáng tạo, thân thiện với môi trường sống… Qua hoạt động rải nghiệm sáng tạo, học sinh được hòa nhập với bạn bè, hiểu biết và ứng xử phù hợp với những tình huống thực tiễn trong cuộc sống…Từ đó biết điều chỉnh, tiếp thu những giá trị tích cực của cuộc sống tạo nên sự hòa nhập, thân thiện với tập thể bạn bè, thầy cô, gia đình và xã hội. Tại trường THPT Kỳ Sơn các nhóm đã tiến hành bàn bạc áp dụng những phương pháp mới, hình thức mới khi giảng dạy. Trong đó có hoạt động trải nghiệm: ví dụ như Toán Học cho học sinh đo đạc ngôi nhà cao tầng, hướng dẫn cho học sinh sử dụng máy tính cầm tay, Văn học cho các em đóng vai, môn Tin Học cho các lập trình máy tính, Lịch Sử cho các em tham quan và suy nghĩ về di tích lịch sử, Tiếng Anh đã tiến hành cho các em sử dụng điện thoại để tra từ mới……..Các giáo viên lúc đầu còn bỡ ngỡ, chưa quen và còn lúng túng trong cách tổ chức, nhưng dần dần cũng quen hơn, các em học sinh thích thú vì giáo viên sử dụng hình thức dạy học mới…Trở thành một hoạt động đồng bộ từ giáo viên và học sinh. Mọi người có thể trao đổi, rút kinh nghiệm để hoạt động dạy trải nghiệm có hiệu quả hơn trong nhà trường. 2.1.2. Khó khăn Trường THPT Kỳ Sơn đóng trên địa bàn thị trấn Mường Xén - Huyện Kỳ Sơn - Tỉnh Nghệ An, là một trong 56 huyện nghèo của cả nước. Huyện có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều khe suối, vực sâu, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt có những bản chưa có điện lưới quốc gia, cách xa trung tâm huyện cả trăm km. Đây là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người như: Hmông, Thái, Khơ mú, Lào… Trình độ dân trí, đời sống của nhân dân trên địa bàn nhìn chung ở mức thấp và không đồng đều, sự giao lưu học hỏi văn hóa giữa các vùng miền còn hạn chế, tập quán đốt rừng làm nương rẫy vẫn còn tồn tại…Tất cả những lí do trên ảnh hưởng không nhỏ tới công tác giáo dục toàn diện của nhà trường. 8
  9. Nhiệm vụ giáo dục ở mỗi nhà trường không ngoài mục đích phát triển con người toàn diện cả về nhân - trí - thể - mĩ, vì vậy khi học tập tại trường, học sinh cần được trang bị những kĩ năng: kỹ năng giao tiếp xã hội, kĩ năng hoạt động, học tập, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, kĩ năng làm việc đồng đội, kĩ năng tổ chức công việc và quản lí thời gian,… Các em chưa quen thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập. Khả năng tập trung, chấp hành những qui định chung và làm theo sự chỉ dẫn của thầy cô còn nhiều hạn chế. Thực tế này đặt ra vấn đề cần hình thành những kĩ năng thiết yếu cho học sinh để các em bắt nhịp tốt với môi trường học tập và sinh hoạt chung. Học sinh THPT bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cách của mình, các em có biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, so sánh mình với người khác. Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn thường hay đan xen, tình cảm còn mang tính bồng bột. Đặc điểm này là do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi về tâm sinh lí, nhiều khi do hoạt động hệ thần kinh không cân bằng, quá trình hưng phấn thường mạnh hơn quá trình ức chế, khiến các em không tự kiềm chế được bản thân. Khi tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, lao động các em đều thể hiện tình cảm rõ rệt và mạnh mẽ. Bên cạnh đó, do điều kiện địa lí, xã hội, môi trường giao tiếp hạn hẹp nên các em học sinh chưa phát huy được vai trò chủ động trong học tập cũng như lao động. Với tâm lí nhút nhát, e dè, hạn chế trong giao tiếp là cản trở lớn đối với các hoạt động nhóm của các em khi học tập tại trường. Động cơ học tập của học sinh THPT rất phong phú đa dạng, nhưng chưa bền vững, nhiều khi còn thể hiện sự mâu thuẫn. Nhìn chung, các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhưng thái độ và sự biểu hiện rất khác nhau. Học sinh đóng trên địa bàn Huyện đa phần thuộc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, kinh phí của nhà Trường còn nhiều hạn chế……. Đa phần giáo viên ở trường THPT Kỳ Sơn là những người còn rất trẻ, từ miền xuôi lên nên thiếu nhiều kinh nghiệm, những giáo viên kỳ cựu hoặc có nhiều thành tích thì đa số chuyển về xuôi theo gia đình. Những điều trên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện hoạt động trải nghiệm trong nhà trường. 2.2. Thực trạng của hoạt động trải nghiệm trong môn học Ngữ văn tại trường THPT Kỳ Sơn Trong quá trình dạy và học, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thiết kế giúp các em được thể hiện mình, được phát triển các năng lực khác nhau và trang bị những kĩ năng cần thiết. Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình nên học sinh không những biết cách tích cực hóa bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết cách làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm... Như vậy, có thể khẳng định, việc tổ chức và áp dụng các hoạt động 9
  10. trải nghiệm sáng tạo trong thực tiễn dạy và học có giá trị, hiệu quả rất thiết thực và cấp thiết. Trong khi đó, nội dung Sách giáo khoa vẫn mang tính hàn lâm, quá nặng về lý thuyết mà chưa chú ý nhiều đến khả năng vận dụng lý thuyết ấy vào thực tiễn. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong quá trình dạy học chính là biện pháp thiết thực nhất để khắc phục hạn chế này. Trường THPT Kỳ Sơn có đội ngũ giáo viên luôn chấp hành tốt quy chế chuyên môn, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác; tích cực trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo giúp đỡ học sinh trung bình, yếu. Nhà trường luôn quan tâm đầu tư về phương tiện dạy học như máy chiếu, bảng tương tác... tạo điều kiện để giáo viên nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực. Học sinh nhìn chung ngoan, có ý thức cố gắng trong học tập. Hầu hết phụ huynh đều quan tâm tạo điều kiện cho con em mình có thể học tập tốt nhất. Tuy nhiên trong việc dạy học Ngữ văn hiện nay vẫn còn có một số thầy cô vẫn sử dụng phương pháp dạy học cũ (thiên về bình, giảng, đọc và chép) kéo theo HS học tập một cách thụ động; nhiều thầy cô chưa tích cực trau dồi, học tập và đổi mới phương pháp. Trong những năm học vừa qua, được sự tạo điều kiện của BGH, Tổ chuyên môn, tôi cùng các đồng nghiệp (giáo viên bộ môn Ngữ Văn) đã đưa nhiều hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào chương trình dạy học và đã thu được nhiều kết quả nhất định. Tôi đã xây dựng các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo như sau: Các bước Nội dung công việc Bước 1 Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo (cần phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện nhà trường) Bước 2 Đặt tên cho hoạt động: múa, hát, kể chuyện, đóng kịch, vẽ tranh, tham quan trải nghiệm… Bước 3 Xác định mục tiêu của hoạt động Bước 4 Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động Bước 5 Lập kế hoạch Bước 6 Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy Bước 7 Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động Bước 8 Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh. 10
  11. II. Giải pháp Xây dựng môi trường sinh hoạt tập thể cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường THPT Kỳ Sơn thông qua tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn 1. Lồng ghép trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn Giáo viên cần nắm chắc phương pháp, kỹ thuật lồng ghép trò chơi trong dạy học môn Ngữ văn. Học sinh tham gia các trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục. Dạy học thông qua trò chơi - một phương pháp đã được nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vận dụng. Lồng ghép trò chơi trong dạy và học môn Ngữ văn, kết hợp với những phương pháp dạy học khác sẽ có ý nghĩa tích cực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay. Giải pháp này sẽ làm thay đổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học, học sinh sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất ý kiến của mình, phát huy tư duy sáng tạo và đặc biệt giúp các em nhớ bài học rất sâu. Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng các ứng dụng phần mềm trò chơi. Nhiều phần mềm trò chơi có kết hợp âm thanh và hình ảnh sinh động sẽ góp phần thu hút và tạo hứng thú cho HS. Rất nhiều trò chơi ngoài mục đích giải trí còn có thể giúp HS ôn tập kiến thức cũ hoặc dẫn dắt các em vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Hoặc có những trò chơi giúp các em vận động tay chân khiến cho cơ thể tỉnh táo, giảm bớt những áp lực tâm lý do tiết học trước gây ra. Trước khi chơi, GV cần chuẩn bị đồ dùng, phương tiện cần thiết, tạo hiệu ứng, hệ thống câu hỏi liên quan đến bài mới, dự kiến tình huống xảy ra và cách xử lí tình huống, kết quả đạt được qua trò chơi. Để có những trò chơi hấp dẫn, giáo viên phải sáng tạo không ngừng đồng thời khuyến khích các em tham gia nhiệt tình, chơi hết mình. Giáo viên có thể sử dụng linh hoạt, hiệu quả các bộ game (bộ trò chơi) đã được thiết kế sẵn. Điều thú vị là những phần mềm game này được thiết kế hình ảnh và âm thanh rất sinh động do vậy hấp dẫn hầu hết HS trong lớp tham gia. Nội dung câu hỏi được giáo viên biên soạn và chọn lựa sao cho phù hợp với mục tiêu bài học và đối tượng học sinh. Khi lựa chọn và thiết kế lồng ghép trò chơi trong dạy học, giáo viên cần thực hiện theo các bước sau: Các bước Vận dụng phương pháp trò chơi Bước 1 Lựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp. Bước 2 Xác định các phương pháp và kỹ thuật phối kết hợp. Bước 3 Thiết kế xây dựng câu hỏi, hình thức tổ chức. Bước 4 Vận dụng vào quá trình dạy học. Bước 5 Đánh giá hiệu quả (kiến thức, kỹ năng, thái độ) 11
  12. Bước 6 Rút kinh nghiệm, vận dụng với những đơn vị kiến thức khác Giáo viên cần sử dụng linh hoạt và hiệu quả phương pháp trò chơi trong các hoạt động của một bài học. Cụ thể như sau: 1.1. Lồng ghép trò chơi trong hoạt động khởi động bài học. Qua thực tế đứng lớp, tôi nhận thấy hoạt động khởi động có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tiến trình tiết dạy, đến việc chủ động sẵn sàng tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh. Nhiệm vụ của hoạt động khởi động là khơi gợi hứng thú đối với bài học và hơn thế nữa còn khơi dậy niềm đam mê, gây dựng, bồi đắp tình yêu lâu bền đối với môn học. Dạy học trò không có hứng thú cũng chỉ như “đập búa trên sắt nguội” mà thôi. Bởi vậy, bài toán đặt ra là: người thầy cần làm thế nào để tạo hứng thú cho học sinh, lôi cuốn học sinh vào bài học? Người thầy phải làm gì để “thắp lửa đam mê”? Lồng ghép trò chơi trong hoạt động mở đầu bài học là một cách làm đem lại hiệu quả khá cao. Khi tổ chức hoạt động khởi động dưới dạng trò chơi, giáo viên cần thực hiện theo các bước sau: - Trò chơi cần phải được lựa chọn sao cho phù hợp với nội dung của bài. - Cách xây dựng trò chơi cần linh hoạt, tránh nhàm chán, khai thác hiệu quả công nghệ thông tin (phần mền trò chơi) trong tổ chức hoạt động khởi động. - Trong trò chơi cần lồng ghép các kiến thức cũ hoặc kiến thức có liên quan tới nội dung của bài học. - Tránh việc học sinh quá sa đà vào chơi mà quên đi nhiệm vụ học tập. - Cân đối thời gian thật hợp lý khoa học (tránh ảnh hưởng đến thời gian dành cho các hoạt động khác trong bài học). Ví dụ minh họa 1: Khi dạy bài: “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 01-12-2003”, giáo viên có thể tổ chức hoạt động khởi động bằng cách tổ chức trò chơi: “Nghe, nhìn để ghi nhớ”. Cách thức tổ chức: Giáo viên chia lớp ra làm các nhóm, mỗi nhóm thực hiện nhiệm vụ: Lắng nghe, quan sát các hình ảnh có trong video, ghi nhớ lại các hình ảnh đó để đưa vào trong bảng nhóm. Từ hình ảnh có trong video để liên kết tới chủ đề của văn bản với câu hỏi: Các hình ảnh có trong video trên giúp em liên tưởng tới chủ đề nào (chủ đề về căn bệnh HIV/AIDS). Sau đó giáo viên dẫn dắt để giới thiệu vào bài học. 12
  13. Ví dụ minh họa 2: Khi dạy bài: “Giá trị văn học và tiếp nhận văn học”, giáo viên có thể cho các nhóm chơi trò nhóm nhanh hơn bằng việc tổ chức chia lớp ra làm các nhóm chơi. Các nhóm trong thời gian 3 phút hãy ghi lại thật nhanh ý tưởng của nhóm mình với câu hỏi: Hãy liệt kê những giá trị mà văn học đem lại cho các em khi học các tác phẩm văn học trong chương trình lớp 12? Ví dụ minh họa 3: Trò chơi Hiểu ý đồng đội Cách tổ chức: Một bạn lên bảng hướng mặt về phía các bạn dưới lớp sau đó cô giáo có thể chiếu hoặc viết lên bảng một số từ khóa (không để bạn lên bảng nhìn thấy từ 13
  14. khóa) và các bạn ở dưới sẽ dùng lời nói và hành động để gợi ý sao cho bạn trên bảng đoán chính xác từ khóa. Lưu ý: với mỗi từ khóa các bạn chỉ được 3 gợi ý cho bạn mình và tuyệt đối không được gợi ý từ nào có trong từ khóa. Nếu vi phạm sẽ tính thua cuộc. Người thắng cuộc là người không vi phạm nội quy và sau không quá 3 gợi ý đoán chính xác từ khóa và người thắng cuộc sẽ giành được một phần quà của chương trình. Ví dụ: GV sẽ đưa ra một loạt các từ khóa là tên các văn bản đọc: Tấm Cám, Tỏ lòng, Nhàn,Ca dao, Tục ngữ về đạo đức lối sống… HS: Sẽ gợi ý từ khóa cho bạn. Ví dụ: + Đối với từ khóa “ Tấm Cám”: Tên một truyện cổ tích về nhân vật bất hạnh? + Đối với từ khóa: Ca dao than thân. Đọc một câu thơ lục bát và hỏi bạn có biết thể loại của bài thơ trên không? Ví dụ minh họa 4: Trò chơi hộp quà bí mật Cách tổ chức: Bạn quản trò bắt nhịp bài hát các bạn sẽ vừa hát và vừa truyền hộp quà khi bài hát kết thúc hộp quà dừng ở tay bạn nào thì bạn đó sẽ là người khám phá bí mật bên trong hộp quà. Trong hộp quà sẽ có khoảng 3 - 5 câu hỏi liên quan đến kiến thức cũ. Đó cũng sẽ là những câu hỏi kiểm tra bài cũ thông qua trò chơi. Ví dụ: Tiết “Thực hành về các biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ” – Ngữ văn 10 GV sẽ đưa ra 3 câu hỏi liên quan đến kiến thức cũ: Câu 1: Em hãy cho biết thế nào là ẩn dụ tu từ? Câu 2: Phân tích tác dụng của ẩn dụ tu từ trong câu ca dao sau: “Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu” Câu 3: Chúc mừng bạn may mắn nhận được một phần quà của buổi học hôm nay! Khi HS trả lời GV sẽ ghi câu trả lời của HS lên bảng vừa là để dẫn vào bài, vừa chốt kiến thức để HS bước vào tiết ôn tập các biện pháp tu từ. Ví dụ: Bài “Tấm Cám”, GV có thể tiến hành hoạt động khởi động bằng hình thức cho HS xem tranh và đoán tên truyện. Các truyện “Thạch Sanh”, “Em bé thông minh”, “Sọ dừa”, “Ông lão đánh cá và con cá vàng” đều là những truyện cổ tích các em đã được học từ cấp 2. Do vậy, sau khi học sinh đoán tên các truyện trên, GV yêu cầu HS thảo luận nhóm bàn khoảng 2 phút và trả lời câu hỏi: Em hãy kể tên một số kiểu nhân vật quen thuộc thường xuất hiện trong truyện cổ tích (Đáp án: nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ, nhân vật có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là động vật, con vật…) Các hình ảnh được sử dụng: 14
  15. (Tranh 1: Ông lão đánh cá và con cá vàng) (Tranh 2: Em bé thông minh) (Tranh 3: Thạch Sanh) (Tranh 4: Tấm Cám) Với hình thức khởi động này, GV đã giúp HS nhớ lại một thể loại của loại hình văn học dân gian (truyện cổ tích) mà các em đã được học.Từ đó, HS tiếp cận bài học mới được dễ dàng và hiệu quả hơn. Như vậy, sau khi HS tham gia các trò chơi trong hoạt động khởi động bài học như trên trên thì tôi sẽ hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung tiết học. Và mục tiêu bài học sẽ dễ dàng được HS tiếp thu và lĩnh hội, vận dụng. 1.2. Lồng ghép trò chơi trong hoạt động hình thành kiến thức và luyện tập giúp học sinh khắc sâu và củng cố kiến thức bài học. 15
  16. Để giúp học sinh nắm nhanh và nắm chắc kiến thức bài học đồng thời tạo không khí lớp học vui vẻ, giáo viên có thể sử dụng đa dạng một số trò chơi sau trong hoạt động hình thành kiến thức, hoạt động luyện tập hoặc vận dụng. 1.2.1 TRÒ CHƠI TẬP THỂ (HOẠT ĐỘNG NHÓM) Mục tiêu: Trò chơi này dùng trong những giờ ôn tập. Thay bằng việc cho học sinh lập bảng thống kê kiến thức bình thường, ta có thể làm thành những bảng nhóm (tờ phiếu) kiến thức, sau đó phát cho nhóm và yêu cầu các nhóm học sinh dùng các tờ phiếu này để điền vào ô trống trên bảng thống kê. Mục tiêu cuối cùng là giúp học sinh thống kê được kiến thức. Phương pháp này nhẹ nhàng mà huy động được sự tham gia của cả lớp. Cách thức tổ chức: Giáo viên làm một bảng tổng kết trong đó chỉ có đề mục và các tiêu chí thống kê. Phần nội dung các ô trong bảng sẽ được chuyển thành các bảng (có thể in trên giấy A0), các bảng này phát cho các nhóm. Ví dụ minh họa: Bài “Ôn tập văn học” – Ngữ văn 10. Trong phần lập bảng thống kê các văn bản đã học, GV giữ lại các ô: Thứ tự, Tên văn bản. Các ô: tên tác phẩm, đơn vị phân tích, thể loại, Đề tài – chủ đề, nội dung, nhân vật, ý nghĩa… bỏ trống để học sinh dán thẻ kiến thức. STT Tên tác phẩm Đơn vị Thể Đề tài Nhân vật Ý nghĩa phân loại – chủ tích đề 01 Đăm Săn 02 Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy 03 Ca dao yêu thương, tình nghĩa 04 … - Các nhóm học sinh nhận bảng kiến thức và tiến hành trao đổi thảo luận để tìm và đưa ra những thẻ kiến thức phù hợp với các ô trống. - Đại diện các nhóm học sinh lên trình bày và dán phiếu vào bảng tổng kết. Nhóm nào dán đúng thì tất cả thành viên sẽ được khen. 1.2.2. TRÒ CHƠI GIẢI Ô CHỮ VĂN HỌC 16
  17. Mục tiêu: Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sự đón nhận rất nhiệt tình và hứng khởi của các em học sinh. Chính vì thế, nó mang lại hiệu quả cũng rất cao. Trò chơi này thích hợp với một giờ đọc văn bản hoặc tiếng Việt. Có thể áp dụng trò chơi này để giúp HS khắc sâu kiến thức bài học hoặc dùng ôn tập ở cuối bài. Cách thức tổ chức: GV sử dụng sau các tiết Đọc văn bản, GV cho học sinh quan sát ô chữ trên máy chiếu, từng cá nhân học sinh quan sát và chọn ô chữ, GV đọc gợi ý, HS trả lời. So với hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa thì các câu hỏi này dễ nhận biết hơn; đưa các em vào tình huống có sự thách đố như thế giúp các em thích tư duy hơn, các em sẽ tò mò bằng nhiều đáp án để tìm ra câu trả lời đúng nhất. Đặc biệt hình thức này giúp các em tự giác phát huy tính tích cực sáng tạo hơn. Điều đó cho thấy các em hứng thú học tập nhiều hơn. GV chú ý điều khiển lớp thật sinh động, có khen ngợi hoặc khích lệ để giúp các em tự tin và kích thích khả năng vận động của các em. Chuẩn bị: - Giáo viên hoặc học sinh soạn ra một bảng ô chữ cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng với kiến thức của các ô hàng ngang cần thực hiện. Từ gợi ý của các ô hàng ngang, học sinh dần dần tìm ra nội dung của ô hàng dọc – Đây là ô chính mà nội dung của nó có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắm chắc và ghi nhớ được. Hoặc GV có thể tô màu một số chữ trong từ hàng ngang để học sinh tìm từ khóa bằng cách ghép các chữ tô màu đã tìm được - Bảng ô chữ này có thể chuẩn bị từ bảng phụ. Để trò chơi mới lạ hơn, giáo viên có thể áp dụng công nghệ thông tin để tạo ra các sile trò chơi trên Powerpoint. Ví dụ minh họa: Bài “Nguyễn Du và Truyện Kiều”. Dạy xong bài này, giáo viên cho học sinh tham gia vào trò chơi. Giáo viên có thể chia ra nhóm hoặc cho HS chơi cá nhân. HS cùng trả lời 12 câu hỏi trắc nghiệm để tìm ra ô chữ của trò chơi là: “Truyện Kiều”. (Phụ lục 1) 1.2.3. TRÒ CHƠI Ô SỐ MAY MẮN Mục tiêu: Khi tham gia trò chơi chính là lúc học sinh hình thành kiến thức mới, ôn tập kiến thức đã học hay vận dụng vào làm bài tập. Trò chơi này giúp học sinh rất nhiệt tình và hứng khởi. Học sinh vui vẻ khi gặp hộp quà (ô số) may mắn, vỡ òa với những phần thưởng bất ngờ. Còn khi gặp những hộp quà (ô số) chứa câu hỏi học sinh cũng cố gắng làm tốt để chinh phục và được khen ngợi. Chính vì thế, trò chơi này mang lại hiệu quả rất cao. Trò chơi này thích hợp với tất cả các tiết học Ngữ văn. Chuẩn bị: Giáo viên có thể sử dụng máy chiếu (sử dụng phần mềm trò chơi poerpoi) hoặc trực tiếp chuẩn bị các hộp quà với màu sắc khác nhau cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng với kiến thức cần hình thành. 17
  18. Giáo viên cho học sinh chọn hộp quà trước hoặc có thể chọn câu hỏi trước để trả lời. Đây là những câu hỏi mà nội dung của nó có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắm chắc và ghi nhớ được nhất là để hình thành các khái niệm, các đơn vị kiến thức. Ví dụ minh họa: Bài “Phương pháp thuyết minh” Dạy xong bài này, giáo viên cho học sinh tham gia vào trò chơi. Giáo viên chia ra nhóm hoặc cá nhân. Yêu cầu của trò chơi: Học sinh vận dụng những kiến thức đã học để làm bài tập. Luật chơi: GV chuẩn bị 3 – 5 hộp quà (hoặc 3 - 5 ô số). Trong mỗi hộp quà (ô số) có chứa 1 câu hỏi và 1 phần quà hấp dẫn. Nếu trả lời đúng thì phần quà sẽ hiện ra. Nếu trả lời sai thì HS sẽ không được nhận quà và nhường quyền trả lời cho bạn khác. Thời gian suy nghĩ cho mỗi câu trả lời GV sẽ căn cứ vào nội dung câu hỏi. Điều đặc biệt là trong các hộp quà (ô số) sẽ có 1 ô may mắn. Khi mở được ô may mắn học sinh có thể được nhận ngay 1 phần quà. Phần quà có thể là điểm cộng, chiếc bút, cục tẩy... nhiều khi rất bất ngờ có thể chỉ là 1 tràng pháo tay của cả lớp. GV chuẩn bị ô số trên máy chiếu hoặc bảng phụ/ bảng nhóm… Câu 1: Yếu tố nào không bắt buộc phải có trong khi tìm hiểu sự vật, hiện tượng để viết bài văn thuyết minh? A. Hiểu biết rõ ràng, chính xác, đầy đủ về sự vật, hiện tượng cần thuyết minh. B. Phải thực lòng muốn truyền đạt cho người khác những hiểu biết về sự vật, hiện tượng. C. Phải có phương pháp thuyết minh. D. Phải yêu mến, quý trọng đối tượng, sự vật được thuyết minh. Câu 2: Phương pháp thuyết minh nào sau đây chưa học ở THCS? A. Dùng số liệu, nêu ví dụ B. So sánh, phân loại C. Giảng giải nguyên nhân – kết quả D. Nêu định nghĩa, liệt kê Câu 3: Phương pháp thuyết minh bằng cách nêu định nghĩa khác thuyết minh bằng cách chú thích ở điểm gì? A. Làm nổi bật đặc điểm bản chất của sự vật, hiện tượng. B. Nắm được chính xác những hiểu biết về sự vật, hiện tượng. C. Mang lại những hiểu biết rõ ràng về sự vật, hiện tượng. D. Thể hiện được rõ mục đích vủa việc thuyết minh. Câu 4: Mục đích chủ yếu của thuyết minh là gì? A. Bình luận về sự vật, hiện tượng. 18
  19. B. Nói thật rõ về sự vật, hiện tượng. C. Kể về sự vật, hiện tượng. D. Ca ngợi sự vật, hiện tượng. Câu 5: Nguyên tắc của việc vận dụng, phối hợp và lựa chọn các phương pháp thuyết minh là gì? A. Làm cho người đọc, người nghe dễ tiếp thu. B. Không xa rời mục đích thuyết minh. C. Làm nổi bật bản chất và đặc trưng của sự vật, hiện tượng. D. Cả A, B và C. Câu 6: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng các độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để thiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ. Đoạn văn trên thuyết minh thể loại truyện ngắn theo phương pháp nào? A. Phân loại B. Đưa số liệu C. Nêu định nghĩa D. Phân tích 1.3. Sân khấu hóa tác phẩm văn học Bồi dưỡng năng lực môn Ngữ văn thông qua tố chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong những biện pháp tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được quan sát, suy nghĩ và trải nghiệm tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho học sinh được tìm tòi, mở rộng và nghiên cứu. Học từ trò chơi trải nghiệm và bằng trải nghiệm mang lại hiệu quả giáo dục rất cao. Phương pháp này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục và đào tạo trong thời kì hội nhập và quốc tế hóa. Trước đây, trường THPT Kỳ Sơn chưa tổ chức nhiều trò chơi Ngữ văn, các hoạt động trải nghiệm và tổ chức chưa đem lại hiệu quả cao. Nhưng trong những năm học vừa qua, được sự tạo điều kiện của BGH, Tổ chuyên môn, tôi cùng các 19
  20. đồng nghiệp (giáo viên bộ môn Ngữ Văn) đã đưa nhiều hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào chương trình dạy học và đã thu được nhiều kết quả nhất định. 1.3.1 Trải nghiệm “Em là họa sĩ” Có một số văn bản sử dụng được hình ảnh để học sinh quan sát nên giáo viên có thể cho học sinh thực hiện hoạt động em là họa sĩ ở hoạt động luyện tập hoặc vận dụng. Thực ra giáo viên nói “hãy vẽ lại bức tranh …” thì quá đơn điệu nhưng nếu giáo viên thực hiện một cuộc thi có tên gọi “Em là họa sĩ” thì chất lượng sẽ khác. Học sinh được làm họa sĩ, được tham gia thi tài, được trình bày sản phẩm, được khen ngợi, có thể được trao phần thưởng. Hoạt động này sẽ giúp các em rèn kĩ năng tư duy, tưởng tượng, kỹ năng vận động cho bàn tay và cả khối óc… Khi vẽ tranh các em sẽ được sống với nhân vật, bối cảnh của tác phẩm, thúc đẩy khả năng sáng tạo, sưu tầm tài liệu và xử lý thông tin; khả năng làm việc tập thể, phát triển ngôn ngữ, giúp học sinh vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn. Cách thức tiến hành - Các bước tiến hành của hoạt động trải nghiệm “Em là họa sĩ” + Bước 1: Nêu những nội dung cần minh họa. + Bước 2: Cử nhóm và phân công nhiệm vụ. + Bước 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm trên lớp hoặc giao về nhà. + Bước 4: Nhận xét – đánh giá về sản phẩm của học sinh. Hoạt động này có thể áp dụng cho dạy nhiều văn bản văn học. Ví dụ minh họa: - Vẽ tranh về đề tài người lính (trong thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và người lính sau chiến tranh) áp dụng cho các bài “Tây Tiến”, “Rừng xà nu”… Kết quả: Giáo viên sẽ có rất nhiều bức tranh về người lính và học sinh còn thấy được vẻ đẹp của người lính trong thời đại nào cũng đáng tự hào và học tập noi theo. Khi giới thiệu các em còn được rèn luyện kĩ năng giao tiếp, thuyết trình, sử dụng ngôn ngữ phù hợp. Như 2 bức tranh dưới đây, một bức là người lính giúp nhân dân gặt lúa và một bức là người lính tuần tra bảo vệ biên giới dù đất nước đã hòa bình nhưng không có nghĩa là người lính không phải cầm súng. 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2