intTypePromotion=3

SKKN: Phương pháp tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Vật lí 7

Chia sẻ: Lê Thị Trà Giang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
227
lượt xem
31
download

SKKN: Phương pháp tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Vật lí 7

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm về “Phương pháp tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Vật lí 7” là một sáng kiến khá quan trọng nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinh. Đề tài được xây dựng nhằm giúp học sinh nhận thức được những tác hại của việc ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm tiếng ồn nói riêng, từ đó yêu cầu học sinh phải có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường, góp phần cải tạo môi trường, tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham giao bảo vệ môi trường, khắc phục dần sự ô nhiễm môi trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Phương pháp tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Vật lí 7

  1. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến      MỤC LỤC Nội dung Trang I   Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 3­4 2. Mục tiêu nhiệm vụ đề tài  4­5 3. Đối tượng nghiên cứu  5 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu  5 5. Phương pháp nghiên cứu  5­6 II      Phần nội dung 1. Cơ sở lý luận  6 2. Thực trạng          7 2.1/ Thuận lợi –khó khăn  7­8 2.2/ Thành công – hạn chế 8­9 3.3 / Mặt mạnh – mặt yếu 9 3.4 / Các nguyên nhân, các yếu tố tác động 9 2.5 / Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra 9­10 3. Biện pháp, giải pháp          3.1 / mục tiêu của giải pháp ,biện pháp 10­11 3.2 /Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp ,biện pháp 11­18 3.3 / Điều kiện thực hiện giải pháp ,biện pháp 18 3.4 /Mối quan hệ giữa các giải pháp ,biện pháp 18­19 3.5 /Kết quả  khảo nghiệm ,giá trị  khoa học của vấn đề  nghiên  19 cứu. 4 / Kết quả thu được qua khảo nghiệm ,giá trị khoa học của vấn  20 đề nghiên cứu  III Kết luận và kiến nghị 1. Kết luận 20­21 2. Kiến nghị 22                                 Trang 1                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  2. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến   PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  VÀO GIẢNG DẠY MÔN VẬT LÝ 7. I . PHẦN MỞ ĐẦU: 1 / LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, nơi chứa đựng  các tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất, nơi chứa đựng và phân huỷ các   chất thải do con người tạo ra trong đời sống và sản xuất. Môi trường có vai trò   cực kì quan trọng đối với đời sống con người. Môi trường đó không chỉ là nơi tồn  tại, sinh trưởng và phát triển và còn là nơi lao động và nghỉ  ngơi, hưởng thụ  và   trau dồi những nét đẹp văn hoá, thẩm mĩ của con người. Việc bảo vệ môi trường   hiện là một trong nhiều những mối quan tâm mang tính toàn cầu,  ở  nước ta bảo   vệ môi trường là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Môi trường ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đang bị ảnh hưởng nặng nề  bởi nhiều nguyên nhân như: Khí hậu, nhiệt độ, khói bụi, rác thải công  nghiệp,rác thải sinh hoạt, tiếng ồn vv.... Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của   nền kinh tế nó kéo theo sự phát triển của nhiều loại máy móc, xe cộ khiến cho sự  ô nhiễm tiếng  ồn ngày càng gia tăng đến mức báo động. Không chỉ   ở  các thành  phố  lớn, các khu công nghiệp mà ngay cả  những làng quê vốn yên lặng nay cũng   trở  nên quá  ồn ào do sự  phát triển của các phương tiện giao thông, các phương  tiện thông tin ­ truyền thông hoạt động một cách thiếu khoa học, các loại máy móc  vv..        Trong số các môn học ở trường THCS thì môn Vật lí là một trong những môn   học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến thức cơ bản về thế  giới tự  nhiên nói chung và về  môi trường xung quanh. Vì thế  qua môn học này,                                  Trang 2                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  3. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến mỗi khi cung cấp một đơn vị  kiến thức cơ  bản có liên quan đến môi trường thì  giáo viên có thể  tích hợp giáo dục bảo vệ  môi trường vào từng đơn vị  kiến thức   này hoặc từng bài giảng của mình. Để việc tính hợp giáo dục bảo vệ môi trường   vào trong từng bài giảng có liên quan đến môi trường đạt được hiệu quả cao nhất   thì theo tôi, chúng ta cần phải làm sao để không những gây được sự hứng thú học  tập cho các em về  môn học này,  mà chúng ta còn có thể  lồng ghép kiến thức về  môi trường và vấn đề  bảo vệ  môi trường để  rồi từ  đó xây dựng ý thức bảo vệ  môi trường cho các em.       Là một GV dạy bộ môn vật lí , tôi luôn trăn trở về vấn đề làm thế nào vừa  dạy học sinh nắm bắt những kiến thức cơ bản của bộ môn, vừa lồng ghép những  đơn vị kiến thức về bảo vệ môi trường cho học sinh.        Trên cơ sở tìm tòi những tư liệu về bảo vệ môi trường, thu thập thông tin qua  báo đài và internet, đặt biệt là nắm bắt về  phương pháp dạy học có tích hợp môi  trường bộ  môn vật lí, bên cạnh đó dựa vào việc tìm ra những đơn vị  kiến thức   trong chương trình Vật lí 7 có liên quan đến việc giáo dục bảo vệ  môi trường,  cộng với quá trình dạy thử nghiệm đạt hiệu quả khá tốt.. Tôi quyết định viết hoàn  chỉnh hơn sáng kiến về “Phương pháp tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy   môn Vật lí 7” để chia sẽ với các đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp thêm ý   kiến để đề tài càng hoàn thiện hơn.        Sáng kiến kinh nghiệm về  “ Phương pháp tích hợp bảo vệ  môi trường vào  giảng dạy môn Vật lí 7” là một sáng kiến khá quan trọng nhằm giáo dục ý thức   bảo vệ  môi trường cho các em học sinh.  Qua đây, chúng ta có thể  nhờ  các em  mang các kiến thức về  bảo vệ  môi trường về  tuyên truyền cho gia đình để  mọi  người chúng ta sẽ quan tâm nhiều hơn về môi trường họ đang sống và làm việc.   2/  Mục tiêu nhiệm vụ đề tài:                                 Trang 3                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  4. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến    Đề tài được xây dựng nhằm giúp học sinh nhận thức được những tác hại của việc ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm tiếng ồn nói riêng, từ đó yêu cầu  học  sinh phải có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường, góp phần cải  tạo môi  trường, tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham giao bảo vệ  môi trường, khắc phục dần sự ô nhiễm môi trường .     Hơn thế nữa đề tài được xây dựng nhằm trao đổi kinh nghiệm trong phương  pháp giảng dạy tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đối với môn Vật  lý trường THCS, đặc biệt là nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường.        Chính vì thế mà tôi đã đi sâu nghiên cứu tim hiểu về những nguyên nhân nào   dẫn đến ô nhiễm môi trường, trên cơ  sở  đó tôi sẽ  lồng ghép kiến thức đó vào  trong tiết dạy và dùng phương pháp dạy học có tích hợp môi trường để  làm thế  nào vừa dạy cho học sinh nắm vững các kiến thức cơ  bản của bộ  môn và vừa  lồng ghép các đơn vị kiến thức về môi trường cho học sinh.       3 /.Đối tượng nghiên cưú:    Đối tượng nghiên cứu của đề  tài này là các bài học của chương trình vật lý 7 có  liên quan đến giáo dục môi trường. Từ  đó ta có thể  giáo dục ý thức bảo vệ  môi   trường  đến các em học sinh khối 7 Trường THCS Lê Đình Chinh, xã Quảng Điền,  huyện Krông Ana, Tỉnh Đak Lak.        4 / Giới hạn Phạm vi nghiên cứu :   ­ Thực hiện đề  tài này thực hiện trong vòng 2 năm.từ năm 2014­2015 lúc đó Học   sinh lớp 6 bắt đầu tiếp xúc với bộ  môn vật lý và năm học 2015­2016 hiện nay là  học sinh khối 7 của trường trung học cơ sở Lê Đình Chinh, xã Quảng Điền, huyện  Krông Ana, Tỉnh Đak Lak.      5/  Phương pháp nghiên cứu: ­ Phương pháp trực quan: Sử dụng tranh, ảnh, sử dụng băng, đĩa hình. ­ Phương pháp thảo luận: Thảo luận nhóm học sinh.                                 Trang 4                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  5. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến ­ Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề: Giáo viên đưa ra vấn đề  cần nghiên cứu­ học sinh nghiên cứu tài liệu và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên phải căn cứ vào các nội dung cụ thể của từng bài, xác định nội dung đó thể hiện ở mức độ nào ? (Mức độ toàn phần, mức độ bộ phận hay mức độ liên  hệ) và phụ thuộc vào đối tượng học sinh ở từng địa phương để vận dụng các  phương pháp trên cho phù hợp và có hiệu quả. Ngoài các phương pháp trên còn  phải lưu ý phiếu điều tra, đánh giá học sinh.  Trong quá trình dạy học, vai trò của người thầy tổ chức hướng dẫn học  sinh. Còn học sinh là người chủ động thao tác và tìm tòi các kiến thức trên các kênh  chữ, kênh hình, tự rút ra nhận xét, kết luận dưới sự trợ giúp của giáo viên. II  . PHẦN NỘI DUNG  1 /  CƠ SỞ LÍ LUẬN: ­ Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố  vô sinh và hữu sinh có tác động, ảnh   hưởng   trực   tiếp   hoặc   gián   tiếp   đến   sức   khỏe,   đời   sống   của   con   người.   Môi   trường cung cấp cho ta không gian để  sống, cung cấp nguồn tài nguyên để  sản   xuất và là nơi chứa đựng chất thải. ­ Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chúng ta. Chính phủ đã ban  hành hàng loạt các văn bản pháp luật về  bảo vệ  môi trường nhằm xử  lý, răn đe   những tổ chức, cá nhân có hành vi làm tổn hại đến môi trường, rồi các công nghệ  xử  lý rác thải, phát minh khoa học ra đời nhằm giảm thiểu những tác động đến   môi trường. ­ Hiện nay, môi trường là vấn đề nóng của toàn nhân loại. Chúng ta thấy rằng,   khí hậu ngày càng khắc nghiệt và khó dự báo hơn, mưa bão, lũ quét thất thường,                                   Trang 5                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  6. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến suy thoái đất, nước, suy giảm nguồn tài nguyên rừng, ô nhiễm môi trường xảy ra  trên diện rộng,… Đó là các vấn đề  về  môi trường mà toàn nhân loại đã và đang  phải đối mặt. Con người đã tác động quá nhiều đến môi trường, khai thác đến   mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc làm cho môi trường không  còn khả năng tự phân hủy. Vấn đề về môi trường là vấn đề  nóng bỏng ảnh hưởng đến sức khỏe ,đến sự  sống còn của con người, thế mà trong thực tế như hiện nay thì việc tiếp cận với   môi trường của học sinh lớp 7  ở  trường THCS Lê Đình Chinh lại   còn rất hạn  chế, do các em chưa có ý thức cao về bảo vệ môi trường đang sống,  học sinh lại  ít được tiếp cận với thông tin mới để mở mang kiến thức về mọi lĩnh vực, nhất là   về tình hình ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày càng trầm trọng như hiện nay. 2 / Thực trạng :        ­ Trước sự ô nhiễm môi trường như hiện nay, để bảo vệ chính mình và người   thân của mình, thì mỗi con người phải có ý thức bảo vệ  môi trường. Thông qua   những việc làm cụ thể là tất cả học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường đều phải  có ý thức bảo vệ môi trường đang sống. Vì các em còn nhỏ nên việc nhận thức về  môi trường cũng còn hạn chế, nhưng có nhiều việc làm để các em có thể góp một  phần vào phong trào bảo vệ môi trường đang được thực hiện ở khắp mọi nơi trên   đất nước và trên toàn thế giới. Để cùng với toàn thế giới trong vấn đề bảo vệ môi   trường, Bộ  Giáo Dục và đào tạo nước ta đã và đang phát động các phong trào  “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Môi trường xanh – sạch ­ đẹp”.         Ở trường THCS Lê Đình Chinh việc tích hợp kiến thức về bảo vệ môi trường  trong môn học vật lí đã được  các giáo viên thực hiện trong  qua các tiết học song   điều này chưa mang tính liên tục và chưa có hệ  thống, do vậy học sinh còn nắm   bắt vấn đề này một cách chung chung.                                 Trang 6                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  7. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến Đối với học sinh, mặc dù các em đã được nghe, được biết là phải bảo vệ  môi trường nhưng trên thực tế điều này chưa thực sự tác động đến hành động của  các em. Mối quan hệ  giữa việc học kiến thức với thực tiễn đời sống chưa chặt   chẽ. Một ví dụ minh chứng đó là khi lao động các em còn đốt rác là bao bì ni lon,   tạo nên những làn khói ô nhiễm gây ảnh hưởng đến nhiều người. 2.1 / Thuận lợi –khó khăn :  * Thuận lợi:      Một là:Trường THCS Lê Đình Chinh luôn được sự  quan tâm của  ủy ban nhân  dân xã Quảng Điền, sự quan tâm của lãnh đạo Phòng giáo dục. Gần đây các hoạt  động dạy và học của nhà trường không ngừng đi lên và đã đạt được một số thành  tích đáng kể. Cơ sở vật chất cơ bản đã được đầu tư đáp ứng cho nhu cầu dạy và  học .      Hai là:  Đội ngũ giáo viên trong nhà trường đa số  rất trẻ, khỏe ,tâm huyết và  nhiệt tình.giáo viên đều đã đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhiều giáo viên công tác lâu  năm lại có nhiều kinh nghiệm .      Ba là: Được sự  quan tâm và tạo điều kiện của lãnh đạo phòng nên chúng tôi   được tham gia các lớp tập huấn,được giao lưu học hỏi và có them nhiều kinh  nghiệm.    Bốn là:Học sinh của trường đều ngoan ngoãn ,chăm chỉ  học tập, lễ  phép thầy   cô giáo ,có ý thức vượt khó vươn lên trong học tập.    *  Khó khăn :           Một là:  Đời sống kinh tế  của của dân còn khó khăn ,trình độ  dân trí còn   thấp,sự quan tâm của gia đình đối với việc học của con em còn ít.Mặt khác người  dân vẫn còn một số hủ tục lạc hậu.       Hai là: Địa bàn của xã thì quá rộng nên cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự  phản hồi thông tin của gia đình học sinh và nhà trường.                                 Trang 7                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  8. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến 2.2. Thành công và hạn chế ­Vấn đề bảo vệ môi trường đã được tuyên truyền phổ biến trên các kênh thông tin   đại chúng (ở  trường có chương trình phát thanh măng non,  ở  xã có chương trình   phát thanh Nông thôn mới, hoặc thông tin qua các trang mạng xã hội) qua đó ít  nhiều học sinh đã nhận thức được vấn đề này. ­Việc học trong nhà trường cũng đã được gắn với thực tiễn. Đối với môn học Vật  lí cũng đã có nhiều nội dung mà ở đó giáo viên có thể tạo điều kiện và cơ hội cho   học sinh thực hành. ­  Hạn chế: Đối với học sinh lớp 7, tuy các em đã có kiến thức cơ  bản về  môi   trường nhưng vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, thời gian của mỗi tiết học 45 phút  và chỉ  có một tiết trên tuần đối với môn Vật lý, còn đồ  dùng thí nghiệm thì hư  hỏng nhiều, chưa có máy quay dùng để thu thập tư liệu, tranh ảnh, các tư liệu về  môi trường và bảo vệ môi trường còn hạn chế. Việc tiếp cận với internet của học  sinh lớp 7 ở trường THCS Lê Đình Chinh còn rất ít do các em chưa có ý thức cao  về  bảo vệ  môi trường đang sống, còn phòng máy của trường không đủ  và hư  hỏng nhiều không thể  tạo điều kiện để  học sinh tiếp cận với thông tin mới để  mở  mang kiến thức về  mọi lĩnh vực, nhất là về  tình hình ô nhiễm môi trường  đang diễn ra ngày càng trầm trọng như hiện nay. 2.3. Mặt mạnh, mặt yếu. ­Vấn đề  bảo vệ  môi trường đã được cộng động quan tâm. Trong nhà trường nội  dung này cũng đã được lồng ghép trong nhiều môn học nhất là môn Giáo dục công  dân, môn Sinh học. Điều này tạo thuận lợi hơn cho giáo viên khi tích hợp nội dung  này trong môn học Vật lí. ­Học sinh rất hứng thú khi tìm hiểu vấn đề môi trường trong khi học tập môn Vật  lí vì đây là môn học mà kiến thức gắn liền với thực tiễn đời sống.                                 Trang 8                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  9. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến ­Tuy nhiên còn thể hiện mặt yếu đó là đồ  dùng dạy học trực quan chưa đáp ứng   tốt cho việc tích hợp bảo vệ  môi trường, trong các tiết học giáo viên tích hợp   thường thông qua lời giảng, còn mang nặng tính thuyết giáo do vậy học sinh chỉ  biết nghe và làm thậm chí làm mà không hiểu vì sao lại như vậy. 2.4/ Nguyên nhân các yếu tố khác ­ Cơ sở vật chất chưa đáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học. ­ Thói quen xả rác của người nông dân vẫn còn tồn tại phần nào tác động đến ý  thức của các em học sinh. ­ Một số em học sinh chưa thực sự tích cực, chưa chủ động trong việc vận dụng   kiến thức học ở trường với thực tiễn. 2.5 / Phân tích đánh giá thực trạng mà  đề tài  đặt ra:      Một là  ­ Đối với học sinh lớp 7 kiến thức cơ bản về môi trường vẫn còn hạn   chế.     Hai là­ Thời gian của mỗi tiết học 45 phút và chỉ  có một tiết trên tuần đối với  môn Vật lý.    Ba là ­Đồ dùng thí nghiệm hư hỏng nhiều, chưa có máy quay dùng để  thu thập  tư liệu, tranh ảnh, các tư liệu về môi trường và bảo vệ môi trường còn hạn chế.    Bốn là ­Việc tiếp cận với internet còn rất ít, phòng máy của trường không đủ và   hư hỏng nhiều không thể tạo điều kiện để học sinh tiếp cận với thông tin mới để  mở  mang kiến thức về  mọi lĩnh vực, nhất là về  tình hình ô nhiễm môi trường  đang diễn ra ngày càng trầm trọng như hiện nay.  3 / GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC TÍCH HỢP CHO HỌC SINH VỀ  MÔI TRƯỜNG: 3.1 /  Mục tiêu của giải pháp biện pháp: Từ những nguyên nhân trên bản thân tôi cũng đã có nhiều năm trực tiếp giảng   dạy tại trường nên tôi cũng xin được chia sẻ  một số  kinh nghiệm của mình về“                                   Trang 9                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  10. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến Phương pháp tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn Vật lí 7” là sáng  kiến nhằm góp phần đưa việc giáo dục học sinh có ý thức tốt hơn đối với môi  trường sống, bên cạnh đó làm tăng tính hứng thú và thực tế cho môn học. Để tích hợp bảo vệ môi trường vào giảng dạy môn vật lý nói chung, môn vật   lí 7 nói riêng có hiệu quả là một việc không phải đơn giản. Giáo viên phải giảng  dạy đảm bảo đủ chuẩn kiến thức, kỹ năng của bộ môn, còn phải đưa những kiến  thức về  giáo dục môi trường từ  cuộc sống thực tế  vào bài giảng nhằm giáo dục   bảo vệ môi trường cho học sinh. Bên cạnh đó  phải thường xuyên tìm tư tiệu về  bảo vệ môi trường như tranh ảnh, số liệu, các thí nghiệm có liên quan để phục vụ  cho tiết dạy có giáo dục bảo vệ môi trường. Nhưng thời gian của mỗi tiết học chỉ  có 45 phút nên giáo viên không thể  cung cấp nhiều kiến thức về  môi trường cho  các em. Để giảng dạy các tiết có tích hợp bảo vệ môi trường đạt hiệu quả, trước hết  giáo viên phải nắm chắc chắn chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài, kết hợp tìm tư  liệu có liên quan như tranh  ảnh, video,… đến kiến thức bảo vệ  môi trường từng   nội dung bài học qua báo đài, internet…, xác định được mục tiêu khi lồng ghép các  kiến thức, những đơn vị  kiến thức phải dễ  hiểu, và sự  vật, hiện tượng mà giáo  viên giới thiệu phải nằm trong tầm hiểu biết của học sinh lớp 7. Tránh trường  hợp, nội dung tích hợp trở thành kiến thức trừu tượng, khó hình dung, rất dễ  gây   ra sự nhàm chán cho học sinh.  Bằng phương pháp giảng dạy đưa những kiến thức bảo vệ  môi trường đơn  giản, cụ thể gắn liền với cuộc sống và địa phương của các em, kết hợp nhắc nhở  của giáo viên sẽ  là một trong những yếu tố  góp phần cho sự  thành công cho tiết  dạy có tích hợp bảo vệ môi trường.  Cần tổ chức những buổi ngoại khóa để học sinh có điều kiện tìm hiểu về vấn   đề môi trường  ở địa phương, để  từ  đó các em có biện pháp và hành động cụ  thể                                  Trang 10                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  11. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến bảo vệ  môi trường. Thường xuyên liên hệ  với môi trường  ở  trường học,  ở  gia  đình, ở địa phương. Và bản thân người giáo viên phải là một tấm guơng trong vấn  đề bảo vệ môi trường. 3.2 / Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp, giải pháp:   Để  cụ  thể  vấn đề  nghiên cứu  ở  trên, qua tìm hiểu tài liệu và một số  đề  tài có   liên quan, tôi có xây dựng hệ thống câu hỏi, câu trả lời và  phương pháp giảng dạy  các kiến thức cho một số bài có tích hợp bảo vệ môi trường môn Vật lí 7. 1.    Bài 1 :    NHẬN BIẾT ÁNH SÁNG – NGUỒN SÁNG VÀ VẬT SÁNG  a. Địa chỉ tích hợp: Ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng từ vật đó truyền vào  mắt ta.  b. Phương pháp tích hợp : sử dụng thí nghiệm để hình thành kiến thức làm thế  nào để nhìn thấy một vật(hình 1.2 a), gv kết hợp đặt ra các câu hỏi. GV hỏi : Các em có biết vì sao các bạn học sinh ở thành phố bị cận nhiều hơn các   bạn học sinh ở nông thôn không ? HS nhận thức : ở thành phố, do nhà cao tầng che chắn nên các học sinh thường  phải học tập, làm việc và vui chơi dưới ánh  đèn điện (ánh sáng nhân tạo) hoặc  ánh sáng khuếch tán nên mắt thường dể bị cận. Chúng ta ở nông thôn học tập, làm  việc và vui chơi dưới ánh sáng chủ yếu là ánh sáng tự nhiên vì thế mà ít bị cận  hơn. GV:  Để khắc phục hiện tượng trên thì các học sinh thành phố cần phải làm gì ? HS trả lời :  Các học sinh thành phố cần có kế hoạch học tập hợp lí, tổ chức vui  chơi, dã ngoại ở những nơi có nhiều ánh sáng tự nhiên. GV nhấn mạnh : Các học sinh khi học tập phải đảm bảo ánh sáng, hạn chế học  tập dưới ánh sáng nhân tạo. 2.    Bài 3  :     ỨNG DỤNG ĐỊNH LUẬT TRUYỀN THẲNG CỦA ÁNH SÁNG                                 Trang 11                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  12. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến a.  Địa chỉ tích hợp:     Bóng tối nằm phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng  từ nguồn sáng truyền tới. b. Phương pháp tích hợp: làm thí nghiệm H3.1, H 3.2 để hình thành kiến thức  bống tối, sau đó kết hợp giáo dục BVMT cho học sinh(có sử dụng hình ảnh minh  họa).  GV:  Trong sinh hoạt và học tập ta cần làm như thế nào để không có bóng tối?  HS trả lời : Trong sinh hoạt và học tập ta cần đảm bảo đủ ánh sáng, không có  bóng tối. Vì vậy, cần lắp đặt nhiều bóng đèn nhỏ thay vì lắp đặt một bóng đèn  lớn. GV:  Vì sao người ta nói ở các thành phố thường bị ô nhiễm ánh sáng? (sử dụng  hình ảnh để học sinh quan sát) Hs trả lời : ở các thành phố thường bị ô  nhiễm ánh sáng là do quá nhiều loại  nguồn  sáng có cường độ chiếu sáng  khác nhau. GV:  Sự ô nhiễm ánh sáng này có gây  tác hại gì cho con người ? Hs  nhận thức   :  Sự   ô  nhiễm  ánh  sáng  gây ra các tác hại cho con người như:  Làm   cho   con   người   luôn   bị   mệt   mỏi,  ảnh   hưởng   đến   tâm   lí,   lãng   phí   năng  lượng, mất an toàn giao thông và sinh họat. Hình ảnh ô nhiềm ánh sáng ở các đô thị GV:  Sự ô nhiễm ánh sáng này có gây tác hại gì cho con người ?                                 Trang 12                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  13. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến Hs nhận thức : Sự  ô nhiễm ánh sáng gây ra các tác hại cho con người như: Làm   cho con người luôn bị mệt mỏi,  ảnh hưởng đến tâm lí, lãng phí năng lượng, mất   an toàn giao thông và sinh họat. GV :  Làm thế nào để giảm thiểu ánh sang đô thị ? HS nhận thức: Để giảm thiểu ánh sáng đô thị cần phải: + Sử dụng nguồn sáng vừa đủ với yêu cầu. + Tắt đèn khi không cần thiết hoặc sử dụng chế độ hẹn giờ. + Cải tiến dụng cụ  chiếu sáng phù hợp, có thể  tập trung ánh sáng vào nơi cần   thiết. + Lắp đặt các loại đèn phát ra ánh sáng phù hợp với sự cảm nhận của mắt. 3. Bài 5  :        ẢNH CỦA MỘT VẬT TẠO BỞI GƯƠNG PHẲNG a.  Địa chỉ tích hợp: Gương phẳng là một phần của mặt phẳng phản xạ được ánh sáng. b. Phương pháp tích hợp: hình thành kiến thức tính chất ảnh tạo bởi gương  phẳng( có sử dụng thí nghiệm H5.2­ SGKVL7), cho học sinh nêu ví dụ thực tế, kết   hợp sử dụng hình ảnh vể sự ô nhiễm của nguồn nước,các hành động để bảo vệ  môi trường nước. GV :  Các mặt nước trong xanh của các dòng sông, ao, hồ có vai trò gì ? Hs trả lời : Các mặt nước trong xanh của các dòng sông, ao, hồ nó không những là  những chiếc gương phẳng tự nhiên để tôn lên  vẽ đẹp cho quê hương mà nó còn góp phần  quan trọng vào việc điều hòa khí hậu tạo ra  môi trường trong lành.                                 Trang 13                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  14. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến GV giới thiệu hình ảnh về môi trường nước chúng ta đang ở tình trạng ô nhiễm  rất nghiêm trọng GV: Vậy chúng ta cần phải làm gì để có được những mặt nước trong xanh này? HS nhận thức: dòng sông ở địa phương chúng ta đang ở tình trạng ô nhiễm nghiêm  trọng, vì vậy chúng ta không được vứt rác thải xuống sông, nhắc nhở cha mẹ  không được bơm các chất đọc hại từ vuông xuống sông, tuyên truyền cho mọi  người xung quanh ý thức giữ gìn môi trường. 4. Bài 12 :   GƯƠNG CẦU LÕM  a.  Địa chỉ tích hợp: Gương cầu lõm có tác dụng biến một chùm tia sáng song song  thành một chùm tia phản xạ hội tụ vào một điểm và ngược lại, biến đổi một  chùm tia tới phân kì thích hợp thành một chùm tia phản xạ song song. b. Phương pháp tích hợp: làm thí nghiệm( H 8.2 – sgk vl7), kết hợp sử dụnh hình  ảnh về lợi ích của việc dùng gương cầu lõm trong đời sống hằng ngày, đặt các  câu hỏi có liên quan, giáo viên nhấn mạnh kiến thức BVMT. GV : Các em hãy cho biết chùm sáng của Mặt Trời là chùm sáng hội tụ, song song  hay phân kì? Hs : Chùm sáng Mặt Trời là chùm sáng song song. GV:  Chùm sáng của Mặt Trời có vai trò gì? Hs : Chùm sáng của Mặt Trời có một vai trò rất quan trọng cho sự sống trên Trái  Đất, nó là một nguồn năng lượng vô tận. GV:  Vậy chúng ta có thể sử dụng được nguồn năng lượng này không? HD: Chúng ta vẫn có thể sử dụng được nguồn năng lượng này. Gv :  Việc sử dụng nguồn năng lượng này có mang lại lợi ích gì không? Hs nhận thức: Việc sử dụng nguồn năng lượng này là một yêu cầu cấp thiết  nhằm giảm thiểu việc sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch, do đó sẽ tiết kiệm  được tài nguyên đồng thời bảo vệ được môi trường.                                 Trang 14                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  15. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến Ngoài ra guơng cầu lõm còn  nhiều ứng dụng vào trong  cuộc sống( như nấu nướng,  nấu chảy kim loại…) Gv giới thiệu hình ảnh ( sử  dụng gương cầu lõm để nấu   nướng) 5. Bài 15 : CHỐNG Ô NHIỄM  TIẾNG ỒN  a.  Địa chỉ tích hợp:  Ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi tiếng ồn to, kéo dài, không những gây ảnh hưởng  xấu đến sức khỏe và hoạt động bình thường của con người mà nó còn ảnh hưởng  đến tập tính cũng như môi trường sống của một số loài động vật trên thế giới. b. Phương pháp tích hợp: sử dụng hình ảnh về ô nhiễm tiếng ồn, nêu các ví dụ  thực tế ở địa phương, giáo viên nêu các biện pháp để học sinh hiểu rỏ việc chống   ô nhiễm tiếng ồn.                                 Trang 15                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  16. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến       GV :  Em hãy nêu các tác  hại của tiếng ồn?  + Về  sinh lý, nó gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn không ngon,  gầy yếu. Ngoài ra người ta còn thấy tiếng ồn quá lớn làm suy giảm thị lực. + Về tâm lý, nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập  trung, dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác. + Làm ảnh hưởng đến môi trường sống của một số loài động vật GV:  Chúng ta cần phải làm gì để chống ô nhiễm tiếng ồn ?                                 Trang 16                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  17. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến ? Em hãy nêu các tác hại của tiếng ồn?  à HS trả lời: Các tác hại của tiếng ồn như + Về sinh lý, nó gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn không ngon,   gầy yếu. Ngoài ra người ta còn thấy tiếng ồn quá lớn làm suy giảm thị lực. + Về tâm lý, nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất  tập trung, dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác. ? Mỗi người cần phải làm gì để phòng chống ô nhiễm tiếng ồn? à HS trả lời: Phòng chống ô nhiễm tiếng ồn bằng một số phương pháp cơ bản  như sau. + Hạn chế tiếp xúc với các nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn: Không đứng gần các   máy móc, thiết bị  gây  ồn lớn như  máy bay phản lực, máy khoan cắt, máy hàn,…  Còn khi cần tiếp xúc với các thiết bị, máy móc đó thì phải sử  dụng các thiết bị  bảo vệ (mũ chống ồn) và tuân thủ các quy tắc an toàn.  + Trồng cây: Xung quanh trường học, bệnh viện, nơi làm việc, trên đường phố  và đường cao tốc nên trồng cây xanh là cách hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễn tiếng   ồn. Xây dựng các trường học, trạm xá, bệnh viện, khu dân cư xa nguồn âm gây ra   ô nhiễm tiếng ồn. + Lắp đặt thiết bị giảm âm: Lắp đặt một số  thiết bị  giảm âm trong phòng làm   việc như rèm nhung, tường phủ  dạ, hay thiết bị cách âm để  giảm thiểu tiếng ồn  từ bên ngoài truyền vào. + Đề ra nguyên tắc: Lập bảng thông báo quy định về việc không gây ồn và cùng  nhau xây dựng ý thức giữ trật tự, văn hóa cho mọi người. + Các phương tiện giao thông cũ, lạc hậu gây ra tiếng ồn to, cần lắp đặt ống xả  và các thiết bị chống ồn trên xe hoặc hạn chế sử dụng. ? Đối với mỗi học sinh, em cần làm gì để  chống ô nhiễm tiếng ồn nơi trường,   lớp học? à HS trả lời: Cần thực hiện các nếp sống văn minh tại trường, lớp học                                   Trang 17                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  18. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến như: Bước nhẹ nhàng khi lên cầu thang, không nói chuyện to trong giờ học, không   nô đùa, mất trật tự trong trường học,…   GV cần nhấn mạnh: Phòng chống ô nhiễm tiếng ồn bằng một số phương pháp   cơ bản như hạn chế tiếp xúc với các nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn, trồng cây, lắp   đặt thiết bị giảm âm.  Đối với mỗi học sinh, em cần thực hiện các nếp sống văn minh tại trường, lớp   học như  bước nhẹ  nhàng khi lên cầu thang, không nói chuyện to trong giờ  học,   không nô đùa, mất trật tự trong trường học,…   3.3 / Điều kiện thực hiện giải pháp :   Tôi thiết nghĩ  là một giáo viên giảng dạy ta cần phải thể hiện tinh thần, trách  nhiệm của mình qua từng kiến thức, việc sử dụng phương pháp tích hợp bảo vệ  môi trường trong dạy môn vật lý 7 là rất quan trọng.Vả lại  tầm quan trọng của  môi trường với sự tồn tại  của chúng ta còn quan trọng hơn nữa.  Đây là cơ hội   cho tôi khẳng định bản lĩnh kiến thức trước học sinh, bước đầu tạo sự tin tưởng  trong các em và cũng khơi dậy tình cảm của các em đối với môn học, hình thành  quan niệm, thái độ tích cực đối với môn học đó. Bên cạnh đó, giáo viên cần quan tâm hướng dẫn những học sinh yếu, khích  lệ, động viên các em thường xuyên. Đồng thời, khen ngợi kịp thời những học sinh,  có thái độ tích cực trong học tập, những em có những ý tưởng sáng tạo, ý kiến hay  đóng góp cho từng bài học.      Hiện nay, việc đổi mới phương pháp giảng dạy đã được phổ biến và đưa  vào thực hiện các trường học nhằm phát huy tối đa vai trò của người học, lấy  người học làm trung tâm trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Điều đó cũng thể hiện  vai trò quan trọng của giáo viên bộ môn ­ người trực tiếp hướng dẫn, tổ chức các  hoạt động trên lớp                                 Trang 18                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  19. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến 3.4 /Mối quan hệ giữa các giải pháp : Để có phương pháp giảng dạy tích hợp về bảo vệ môi trường trong vật lý 7 có   hiêu quả thì mỗi giáo viên bộ môn không những chỉ là giỏi kiến thức về môn học   của mình mà ta cần phải hiểu biết nhiều về lĩnh vực đời sống xã hội,và cần quan  tâm đến quá trình phát triển của học sinh về các giá trị  đạo đức ,thẩm mỹ  và thể  chất ,về quá trình nhận thức của học sinh để từ đó sẽ áp dụng vào việc giảng dạy  thành công nhằm nâng cao sự  hiểu biết của các em về  môi trường và tầm quan   trọng của nó trong đời sống và xã hội . 3.5 /  Kết quả khảo nghiệm ,giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu: Qua thời gian áp dụng phương pháp tích hợp bảo vệ  môi trường trong giảng  dạy môn vật lý 7 tôi đã chứng minh cho tính hiệu quả đề tài bằng các câu hỏi đánh   giá khả năng nhận thức của các em như sau:       Trước khi tích hợp bảo vệ  môi trường trong giảng dạy thì kết quả  thu được   khi phát phiếu điều tra của lớp 7A1, 7A2, 7A3, 7A4 năm học 2014 ­ 2015 Lớp Số lượng  (hs) Phần trăm (%) Ghi chú 7A1 8/26 30,7 7A2 12/30 40 7A3 10/26 38,4 7A4 10/26 38,4       Thông qua kết quả giảng dạy khi tích hợp bảo vệ môi trường trong giảng dạy,  phát phiếu điều tra cũng hai lớp trên, kết quả thu được như sau:  Lớp Số lượng  (hs) Phần trăm(%) Ghi chú 7A1 20/26 76,9 7A2 24/30 80 7A3 20/26 76,9 7A4 22/26 84,6  Đây mới chỉ là qua 2 lần điều tra thế nên kết quả chưa được như ý thế nhưng đó  cũng là bước tiến rất tốt cho việc nhận thức của các em về môi trường.                                  Trang 19                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016
  20. Người thực hiện: Phan Thị Hồng Luyến 4/ KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM, GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA VẤN  ĐỀ NGHIÊN CỨU :  Qua kết quả thu được từ  thực nghiệm tôi nhận thấy rằng nhận thức của học   sinh về môi trường ngày càng được cải thiện, từ việc tổ chức các phong trào bảo  vệ  môi trường như: phong trào giữ  vệ  sinh phòng học, phong trào xanh ­ sạch ­  đẹp ở  trường học, thường xuyên dọn dẹp vệ sinh xung quanh trường học, không  xã rác nơi công cộng,…….. Ngoài ra các em còn tổ  chức các buổi tọa đàm, thảo  luận về vấn đề  bảo vệ môi trường , các em còn là các tuyên truyền viên tích cực  cho gia đình và mọi người xung quanh biết cần phải làm gì để bảo vệ môi trường   sống, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của bản thân và gia đình. Nhận thức của các em về môn Vật lí không còn đơn giản là môn thực nghiệm   nữa, mà còn là môn học giúp các em gần gủi hơn với môi trường sống, biết làm gì  để  bảo vệ  môi trường, bảo vệ  trường học, bảo vệ gia đình…, song song đó các   em còn hăng hái xây dựng bài, nhất là những bài có tích hợp BVMT các em rất  hăng hái thảo luận, đưa ra ý kiến, các nhóm tích cực đưa ra ý kiến về việc BVMT,   khiến cho các buổi học thường đạt hiệu quả cao. III/ PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: 1/  Kết luận  Thông qua tình hình thực tế, khi tôi tích hợp giáo dục bảo vệ  môi trường vào   trong từng bài học này tôi thấy rằng, tuy thời gian để tôi tích hợp giáo dục bảo vệ  môi trường trong mỗi đơn vị kiến thức có liên quan đến môi trường là rất ít nhưng   học sinh có chú ý đến kiến thức về  môi trường, và các em cũng có vận dụng   những kiến thức đó vào trong cuộc sống hàng ngày, đôi khi các em còn đưa ra  nhiều ý kiến rất hay trong vấn đề  bảo vệ môi trường .  Ngoài ra, tôi còn nhờ các                                   Trang 20                     Sáng kiến kinh nghiệm Năm học 2015­2016

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản