intTypePromotion=1

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Số 3A năm 2019

Chia sẻ: Thien Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:68

0
2
lượt xem
0
download

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Số 3A năm 2019

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một số bài viết trên tạp chí bao gồm: Cần có chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cấp quốc gia; Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam - Một số giải pháp; Vai trò của trường đại học trong hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp; Năng suất lao động Việt Nam và những tác động của đổi mới sáng tạo....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Số 3A năm 2019

  1. CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN 2016-2020 Ngày 6/8/2018, tại tỉnh Vĩnh Phúc, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ - Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 đã chủ trì Hội nghị tổng kết Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2017 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2018-2020. Cùng chủ trì Hội nghị có Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan. Các kết quả đạt được của Chương trình được các đại biểu đánh giá có tính lan tỏa rộng, có tác động xã hội tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung, xây dựng nông thôn mới nói riêng. Kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, Chương trình sẽ tiếp tục bám sát các mục tiêu, nội dung theo Quyết định 45/QĐ-TTg ngày 12/1/2017, đồng thời ưu tiên giải quyết những vấn đề lớn thông qua các công trình nghiên cứu cả về cơ sở lý luận, thực tiễn, giải pháp KH&CN và triển khai các mô hình ứng dụng. GS.TS Nguyễn Tuấn Anh - Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới phát biểu tại Hội nghị Một số sản phẩm của Chương trình KH&CN Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ phục vụ xây dựng nông thôn mới thăm gian hàng tại Hội nghị tổng kết Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2017 Văn phòng Chương trình: Số 1 ngõ 165, Chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội Tel: 024.35643294; Fax: 024.35643370
  2. Hoäi ñoàng bieân taäp Toång bieân taäp Toøa soaïn GS.TSKH.VS Nguyeãn Vaên Hieäu Ñaëng Ngoïc Baûo 113 Traàn Duy Höng - phöôøng Trung Hoøa - quaän Caàu Giaáy - Haø Noäi GS.TS Buøi Chí Böûu Phoù Toång bieân taäp Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 GS.TSKH Nguyeãn Ñình Ñöùc Nguyeãn Thò Haûi Haèng Email: khcnvn@most.gov.vn Nguyeãn Thò Höông Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn GS.TSKH Vuõ Minh Giang PGS.TS Trieäu Vaên Huøng tröôûng ban Bieân taäp giaáy pheùp xuaát baûn Phaïm Thò Minh Nguyeät GS.TS Phaïm Gia Khaùnh Soá 1153/GP-BTTTT ngaøy 26/7/2011 GS.TS Leâ Höõu Nghóa tröôûng ban trò söï Soá 2528/GP-BTTTT ngaøy 26/12/2012 Löông Ngoïc Quang Höng Soá 592/GP-BTTTT ngaøy 28/12/2016 GS.TS Leâ Quan Nghieâm GS.TS Mai Troïng Nhuaän trình baøy Giaù: 18.000ñ GS.TS Hoà Só Thoaûng Ñinh Thò Luaän In taïi Coâng ty TNHH in vaø DVTM Phuù Thònh Muïc luïc DIỄN ĐÀN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ 4 l Nhiều ưu đãi mới dành cho doanh nghiệp KH&CN. 6 Đào Quang Thủy: Sàn giao dịch công nghệ: Một số vấn đề cần quan tâm. 10 Phan Ngọc Tâm, Lê Quang Vinh: Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam - Một số giải pháp. 16 Trần Thị Thu Hà: Cần có chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cấp quốc gia. 19 Bùi Tiến Dũng: Vai trò của trường đại học trong hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp. 22 Vũ Văn Thành: Năng suất lao động Việt Nam và những tác động của đổi mới sáng tạo. 24 Chu Thúc Đạt: Liên kết khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong phát triển. 27 l Nước cho tất cả - không để ai bị bỏ lại phía sau. KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 30 Phạm Anh Tuấn: Vệ tinh MicroDragon - Sản phẩm trí tuệ của tuổi trẻ Việt Nam. 34 Nguyễn Chí Ngọc: Hệ thống công nghệ hiện đại giúp chẩn đoán và điều trị bệnh cho người dân. 36 Hồ Sĩ Thoảng: Vai trò của CO2 và sinh khối trong sản xuất nhiên liệu tái tạo. 40 Tống Việt Hùng, Hà Quốc Trung…: Ứng dụng hệ điều hành FreeRTOS và vi điều khiển ESP32 trong hệ thống trồng rau thủy canh. 43 Nguyễn Minh Quang, Courtney Weatherby: Đổi mới sáng tạo từ mô hình nuôi tôm sinh thái ở ĐBSCL. 46 Nguyễn Hồng Việt: Học viện KH&CN: Cần sớm triển khai đào tạo trực tuyến. KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG 48 Nguyễn Xuân Chánh: Các thế hệ pin mặt trời. 51 l Có thể chữa khỏi HIV hoàn toàn? 53 Đặng Hữu Anh: Phát hiện và kiểm soát dịch tả lợn châu Phi. KH&CN NƯỚC NGOÀI 55 l Nghiên cứu đột phá về “siêu vật liệu” aerogel PET. 58 l Tổng hợp vật liệu lưu trữ nhiệt lượng dựa trên composite VO2/thủy tinh. 62 l Công nghệ Big Data và xu hướng ứng dụng.
  3. Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering EDITORial council EDITOR - in - chief office Prof.Dr.Sc. Academician Nguyen Van Hieu Dang Ngoc Bao 113 Tran Duy Hung - Trung Hoa ward - Cau Giay dist - Ha Noi Prof. Dr Bui Chi Buu DEPUTY EDITOR Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 Nguyen Thi Hai Hang Email: khcnvn@most.gov.vn Prof. Dr.Sc Nguyen Dinh Duc Nguyen Thi Huong Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn Prof. Dr.Sc Vu Minh Giang Assoc.Prof. Dr Trieu Van Hung head of editorial board publication licence Pham Thi Minh Nguyet No. 1153/GP-BTTTT 26th July 2011 Prof. Dr Pham Gia Khanh head of administration No. 2528/GP-BTTTT 26th December 2012 Prof. Dr Le Huu Nghia Luong Ngoc Quang Hung No. 592/GP-BTTTT 28th December 2016 Prof. Dr Le Quan Nghiem Prof. Dr Mai Trong Nhuan Art director Dinh Thi Luan Prof. Dr Ho Si Thoang Contents SCIENCE AND TECHNOLOGY FORUM 4 l Many new incentives for science and technology enterprises. 6 Quang Thuy Dao: Technology exchange platform: Some issues to consider. 10 Ngoc Tam Phan, Quang Vinh Le: Completing the legal framework for the protection of famous trademarks in Vietnam - Some solutions. 16 Thi Thu Ha Tran: It is necessary to have a national strategy for developing the startup education and training. 19 Tien Dung Bui: The role of the university in supporting students to start a business. 22 Van Thanh Vu: Vietnam’s labour productivity and the impact of innovation. 24 Thuc Dat Chu: Linking to exploit the potentials and advantages of local areas in development. 27 l Water for all - Don’t let anyone left behind. SCIENCE - TECHNOLOGY AND INNOVATION 30 Anh Tuan Pham: MicroDragon Satellite - The intellectual product of Vietnamese youth people. 34 Chi Ngoc Nguyen: Modern technology system to help diagnose and treat diseases for people. 36 Si Thoang Ho: The role of CO2 and biomass in the production of renewable fuels. 40 Viet Hung Tong, Quoc Trung Ha…: Application of FreeRTOS operating system and ESP32 microcontroller in hydroponic vegetable growing system. 43 Minh Quang Nguyen, Courtney Weatherby: Innovation from organic shrimp farming in the Mekong River Delta. 46 Hong Viet Nguyen: Graduate University of Science and Technology: Need to deploy online training soon. SCIENCE AND LIFE 48 Xuan Chanh Nguyen: Generations of solar cells. 51 l Is it possible to cure HIV completely? 53 Huu Anh Dang: Detecting and controlling African swine fever. THE WORLD SCIENCE AND TECHNOLOGY 55 l Breakthrough research of the “super-material” PET aerogel. 58 l Synthesis of thermal storage materials based on the composite VO2-dispersed glass. 61 l Big Data technology and the trend of applications.
  4. diễn đàn khoa học - công nghệ Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Nhiều ưu đãi mới dành cho doanh nghiệp KH&CN Nghị định 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) được Chính phủ ban hành ngày 1/2/2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/3/2019. Theo đó, hàng loạt chính sách tạo thuận lợi và ưu đãi mới dành cho doanh nghiệp KH&CN sẽ được thực hiện: ưu đãi thuế, ưu đãi tín dụng, hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, thương mại hóa kết quả KH&CN, hỗ trợ đổi mới công nghệ... Đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ giấy chứng nhận từ 30 ngày giảm KH&CN đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên xuống còn 10 ngày làm việc kể từ tổng doanh thu của doanh nghiệp. Trên tinh thần chính sách ưu đãi, ngày nhận được hồ sơ hợp lệ của hỗ trợ cho doanh nghiệp KH&CN có Điều 13 của Nghị định cũng doanh nghiệp. Trường hợp kết quả quy định: doanh nghiệp KH&CN tính khả thi cao; không chồng chéo; KH&CN có liên quan đến nhiều giảm tối đa thời gian và chi phí thực được miễn, giảm tiền thuê đất, ngành, lĩnh vực khác nhau có nội thuê mặt nước theo quy định của hiện các thủ tục hành chính nhằm dung phức tạp cần mời chuyên gia hỗ trợ tối đa việc hình thành và pháp luật về đất đai. Sở KH&CN hoặc thành lập hội đồng tư vấn có trách nhiệm phối hợp với cơ phát triển hệ thống doanh nghiệp thẩm định, đánh giá, thời hạn cấp KH&CN, Nghị định 13/2019/NĐ- quan tiếp nhận hồ sơ của người sử Giấy chứng nhận doanh nghiệp dụng đất theo quy định tại Điều 60 CP đã có những quy định rất cụ thể KH&CN cũng không quá 15 ngày về điều kiện, thủ tục, hồ sơ, thẩm Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày làm việc. 15/5/2014 của Chính phủ khi xác quyền cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN... Trong đó tại Điều Các nội dung khác như cấp thay định diện tích đất được miễn, giảm 3 của Nghị định, các yếu tố xác đổi nội dung, cấp lại Giấy chứng cho mục đích KH&CN. Thủ tục, hồ định kết quả KH&CN được mở rộng nhận doanh nghiệp KH&CN, thu sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê hơn so với trước, bao gồm: sáng hồi hay hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng đất, thuê mặt nước thực hiện theo chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng nhận doanh nghiệp KH&CN... quy định của pháp luật về tiền thuê cũng được quy định cụ thể đối với đất và quản lý thuế. công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng từng trường hợp. Ưu đãi về tín dụng đã được cấp văn bằng bảo hộ theo Nhiều ưu đãi dành cho doanh nghiệp Nếu trước kia, chính sách ưu đãi quy định của pháp luật về sở hữu về tín dụng và một số chính sách KH&CN trí tuệ hoặc được công nhận đăng ưu đãi, hỗ trợ khác đối với doanh ký quốc tế theo quy định của điều Miễn, giảm nhiều loại thuế nghiệp KH&CN bị đánh giá là còn ước quốc tế mà Việt Nam là thành chung chung, chưa có tiêu chí và Điều kiện hưởng ưu đãi thuế viên; chương trình máy tính đã mức hỗ trợ rõ ràng nên khó khăn thu nhập doanh nghiệp đối với được cấp Giấy chứng nhận đăng khi triển khai, áp dụng trong thực doanh nghiệp KH&CN dễ dàng ký quyền tác giả; giống mới về vật tiễn, thì tại Nghị định 13/2019/NĐ- hơn. Trước kia, để được hưởng ưu nuôi, cây trồng, thủy sản... đã được CP, các vấn đề này được thể hiện đãi loại thuế này, doanh nghiệp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông rõ ràng, cụ thể và thuận lợi hơn. KH&CN cần phải có doanh thu thôn công nhận; kết quả thực hiện của các sản phẩm, hàng hoá hình Đối với ưu đãi tín dụng, Điều nhiệm vụ đã đạt các giải thưởng về thành từ kết quả KH&CN trong năm 14 của Nghị định nêu rõ: các KH&CN; các kết quả KH&CN hoặc thứ nhất từ 30% tổng doanh thu trở dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ nhận chuyển giao được lên, năm thứ hai từ 50% tổng doanh hình thành từ kết quả KH&CN của cơ quan có thẩm quyền xác nhận. thu trở lên và năm thứ ba trở đi từ doanh nghiệp KH&CN được vay Hồ sơ đề nghị chứng nhận 70% tổng doanh thu. Theo Nghị vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước doanh nghiệp KH&CN được cụ định mới, doanh nghiệp KH&CN theo quy định của pháp luật hiện thể hóa theo chiều hướng thuận sẽ được miễn thuế 4 năm và giảm hành. Doanh nghiệp KH&CN thực lợi hơn. Hồ sơ có thể nộp trực 50% số thuế phải nộp trong 9 năm hiện các nhiệm vụ KH&CN, ứng tiếp, trực tuyến hoặc qua đường tiếp theo với điều kiện doanh thu dụng kết quả KH&CN, sản xuất, bưu điện. Đặc biệt, thời gian cấp của sản phẩm hình thành từ kết quả kinh doanh sản phẩm hình thành từ 4 Soá 3 naêm 2019
  5. Diễn đàn khoa học - công nghệ kết quả KH&CN được Quỹ đổi mới kinh doanh theo quy định của mới công nghệ: doanh nghiệp công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế KH&CN đầu tư cho cơ sở vật chất KH&CN của bộ, cơ quan ngang nhập khẩu. Doanh nghiệp KH&CN - kỹ thuật hoạt động giải mã công bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, được ưu tiên, không thu phí dịch vụ nghệ được Quỹ đổi mới công nghệ thành phố trực thuộc trung ương tài khi sử dụng máy móc, trang thiết quốc gia tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ bị tại các phòng thí nghiệm trọng trợ vốn, bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ trợ lãi suất vay và bảo lãnh để vay điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công lãi suất vay tối đa 50% lãi suất vay vốn. Đối với doanh nghiệp KH&CN nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở vốn tại ngân hàng thương mại cho có tài sản dùng để  thế chấp theo nghiên cứu KH&CN của Nhà nước vay. Doanh nghiệp KH&CN tự đầu quy định của pháp luật được Quỹ để thực hiện các hoạt động nghiên tư nghiên cứu khoa học và phát đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ cứu khoa học và phát triển công triển công nghệ sau khi có kết quả phát triển KH&CN của bộ, cơ quan nghệ, ươm tạo công nghệ, sản được chuyển giao, ứng dụng hiệu ngang bộ, cơ quan thuộc Chính xuất thử nghiệm sản phẩm mới, quả trong thực tiễn, được cơ quan phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc ươm tạo doanh nghiệp KH&CN. quản lý nhà nước về KH&CN công trung ương cho vay với lãi suất ưu Trong trường hợp phát sinh chi phí nhận thì được hỗ trợ kinh phí từ đãi hoặc hỗ trợ lãi suất vay tối đa mua nguyên vật liệu để thực hiện ngân sách nhà nước; trường hợp 50% lãi suất vay vốn tại ngân hàng các hoạt động nghiên cứu, doanh kết quả có ý nghĩa quan trọng đối thương mại thực hiện cho vay. Đối nghiệp chi trả các khoản chi phí với doanh nghiệp KH&CN có dự án với sự phát triển kinh tế - xã hội và phát sinh cho các phòng thí nghiệm KH&CN khả thi được Quỹ đổi mới quốc phòng, an ninh thì Nhà nước trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển sẽ xem xét mua kết quả đó. Doanh công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, KH&CN của bộ, cơ quan ngang nghiệp KH&CN có thành tích trong cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, hoạt động KH&CN, thương mại nước. Doanh nghiệp KH&CN được thành phố trực thuộc trung ương hóa sản phẩm hình thành từ kết sử dụng Quỹ phát KH&CN của cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc bảo quả KH&CN được vinh danh, khen doanh nghiệp và các nguồn huy lãnh để vay vốn tại các ngân hàng thưởng... động hợp pháp khác để thương thương mại. mại hóa kết quả KH&CN. Doanh Hy vọng rằng, trong thời gian Các Quỹ đổi mới công nghệ nghiệp KH&CN được ưu tiên tham tới, khi các chính sách mới này quốc gia, Quỹ phát triển KH&CN gia các dự án hỗ trợ thương mại hóa được thực hiện sẽ tạo tác động tích của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ kết quả KH&CN, tài sản trí tuệ của cực và lan tỏa tới cộng đồng doanh quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành Nhà nước. Nội dung và mức hỗ trợ nghiệp nói chung và doanh nghiệp phố trực thuộc trung ương có trách cụ thể thực hiện theo quy định của KH&CN nói riêng, từ đó góp phần nhiệm quy định quy chế cho vay, Nhà nước về dự án hỗ trợ thương phát triển hệ thống doanh nghiệp hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay mại hóa kết quả KH&CN, tài sản KH&CN của Việt Nam mạnh lên cả vốn, bảo đảm thuận lợi cho các trí tuệ. về số lượng và chất lượng ? doanh nghiệp KH&CN tiếp cận. Doanh nghiệp KH&CN được Doanh nghiệp KH&CN đáp ứng Minh Nguyệt (tổng hợp) miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký tiêu chí hỗ trợ của Quỹ bảo lãnh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu TÀI LIỆU THAM KHẢO tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa nhà theo quy định của pháp luật được Quỹ xem xét, cấp bảo lãnh tín 1. Chính phủ (2019), Nghị định về lệ phí trước bạ. Các bộ, cơ 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp dụng để vay vốn tại các tổ chức cho quan ngang bộ ưu tiên xây dựng vay theo quy định của pháp luật. KH&CN. quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho Hoạt động hỗ trợ nghiên cứu, sản phẩm hình thành từ kết quả 2. Trần Xuân Đích, Đào Quang Thủy, thương mại hóa kết quả KH&CN KH&CN của doanh nghiệp KH&CN Trương Thị Hoài, Dương Thị Thu Nga, Nguyễn Thị Thơ (2017), “Những điểm trong trường hợp sản phẩm thuộc Vấn đề này được quy định chi mới trong dự thảo Nghị định thay thế danh mục sản phẩm nhóm 2 khi tiết tại Điều 16 của Nghị định: Nghị định về doanh nghiệp KH&CN”, chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương doanh nghiệp KH&CN được Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt ứng. hưởng ưu đãi về thuế xuất khẩu, Nam, 7, tr.15-18. thuế nhập khẩu đối với hoạt động Ngoài ra, Nghị định cũng quy nghiên cứu khoa học, phát triển định về hỗ trợ, khuyến khích doanh công nghệ, hoạt động sản xuất nghiệp KH&CN ứng dụng và đổi 5 Soá 3 naêm 2019
  6. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Sàn giao dịch công nghệ: Một số vấn đề cần quan tâm TS Đào Quang Thủy Cục Phát triển Thị trường và Doanh nghiệp KH&CN, Bộ KH&CN Sàn giao dịch công nghệ (GDCN) được xem là một yếu tố cấu thành quan trọng trong mạng lưới các tổ chức trung gian của thị trường công nghệ. Tuy nhiên cho đến nay, số lượng các sàn GDCN ở nước ta không những hạn chế về số lượng mà tỷ trọng giao dịch thành công cũng chưa được như mong muốn. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động của các sàn GDCN là yêu cầu cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh thương mại điện tử đang phát triển nhanh chóng và làn sóng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động đến mọi lĩnh vực của cuộc sống. Thực trạng hoạt động của các sàn Định, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình trình đổi mới công nghệ cho 25 GDCN Dương. doanh nghiệp; tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai, thực Hiện nay trên cả nước có 17 Phần lớn các sàn này đang hiện nhiệm vụ KH&CN và thành sàn GDCN online và offline, hoạt động với tư cách là đơn vị lập doanh nghiệp KH&CN cho gồm: Chợ công nghệ và thiết bị sự nghiệp khoa học và công nghệ 18 doanh nghiệp; tư vấn, chuyển Việt Nam: www.techmartvietnam. (KH&CN) tự chủ, tự chịu trách giao sàn trực tuyến cho Nghệ An, vn; Cổng thông tin giao dịch nhiệm thuộc các Sở KH&CN, Bà Rịa - Vũng tàu, Vĩnh Phúc, công nghệ TP Hồ Chí Minh: được Nhà nước đảm bảo một Hải Dương; mở 30 lớp đào tạo về http://techport.vn; Chợ công phần kinh phí để duy trì hoạt quản trị công nghệ, năng suất, nghệ và thiết bị Hà Nội: www. động thường xuyên. Hoạt động chất lượng, sở hữu trí tuệ... techmarthanoi.vn; Sàn giao dịch chính của các sàn bao gồm: i) tư công nghệ thiết bị Hải Phòng: vấn và chuyển giao công nghệ, ii) Tuy nhiên nhìn chung, hoạt www.hatex.vn; Sàn Đà Nẵng: thông tin công nghệ, iii) tổ chức động tư vấn và chuyển giao công www.techmartdanang.vn; Sàn các sự kiện về KH&CN. nghệ của các sàn vẫn còn sơ Cần Thơ: http://catex.vn; Sàn An khai, chưa hình thành mạng lưới, Giang: http://atte.vn; Sàn Quảng Hoạt động tư vấn và chuyển hệ thống mà chủ yếu chỉ đang Ninh: http://techmartquangninh. giao công nghệ: công tác tư tập trung vào công tác tư vấn com.vn; Sàn Nghệ An: http:// vấn, kết nối cung cầu, môi giới đơn lẻ. Nếu so sánh với một số natex.com.vn; Sàn Hải Dương: chuyển giao công nghệ là hoạt sàn GDCN trong khu vực thì các http://www.techmarthaiduong.vn; động chính của các sàn. Một số sàn GDCN ở Việt Nam vẫn chưa Sàn Bắc Giang: http://batex.vn; sàn có hoạt động tương đối sôi khẳng định được vai trò quan Sàn Bà Rịa - Vũng Tàu: http:// nổi, như Sàn GDCN Hải Phòng trọng đối với việc thúc đẩy hoạt bavutex.vn; Sàn Vĩnh Phúc: có kết quả hoạt động tư vấn động chuyển giao công nghệ, hỗ http://vptex.vn; Sàn Quảng Trị: chuyển giao công nghệ năm trợ doanh nghiệp đổi mới công http://techmartquangtri.com.vn; 2018 như sau: tư vấn, kết nối gần nghệ, gia tăng tốc độ tăng trưởng Sàn Thái Nguyên: http://tatex. 565 cuộc cho các doanh nghiệp của nền kinh tế. Hoạt động của vn/; Thái Bình và Lai Châu (đang gặp gỡ, thương thảo, ký kết hợp các sàn GDCN mới chỉ dừng ở thành lập sàn giao dịch điện tử). đồng (trong đó có 364 hợp đồng mức độ giao dịch nhỏ lẻ, số lượng Các địa phương đang triển khai được ký kết với tổng giá trị trên giao dịch còn ít, giá trị giao dịch xây dựng sàn GDCN là: Nam 472 tỷ đồng); tư vấn xây dựng lộ thành công chưa cao. Nếu so 6 Soá 3 naêm 2019
  7. Diễn đàn khoa học - công nghệ sản trí tuệ. Công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội có được chủ yếu thông qua nhập công nghệ. Trong khi đó, các viện nghiên cứu, trường đại học… đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Đồng thời, do nhân lực làm việc tại các sàn GDCN còn thiếu kỹ năng vì chưa được đào tạo kiến thức cơ bản và chuyên sâu về tư vấn, môi giới chuyển giao, đánh giá và định giá công nghệ, nên việc xúc tiến, thương mại hóa các sản phẩm và dịch vụ KH&CN qua sàn GDCN còn hạn chế. Hoạt động thông tin công Hoạt động kết nối giữa Sàn GDCN Hải Phòng và các doanh nghiệp. nghệ: từ năm 2015, một số sàn GDCN đã bắt đầu hình thành mối liên kết, hợp tác để chia sẻ thông sánh Sàn GDCN Hải Phòng ở dịch” và thực hiện giao dịch công tin về công nghệ phục vụ cho thời điểm hiện tại với Sàn GDCN nghệ dẫn đến việc thống kê giá trị việc môi giới và chuyển giao công Thượng Hải - Trung Quốc thì còn giao dịch có thể bị sai lệch so với nghệ, thông qua việc phối hợp với khoảng cách rất xa, cụ thể năm thực tế. Ngoài ra do một số sàn các viện nghiên cứu, trường đại 2011 Sàn GDCN Thượng Hải - học trên địa bàn để kêu gọi và GDCN mới thành lập, còn đang Trung Quốc có giá trị giao dịch trong giai đoạn thử nghiệm, như giới thiệu công nghệ, thiết bị mới thành công là 55 tỷ nhân dân tệ Sàn GDCN Nghệ An, Bắc Giang, tham gia sàn GDCN. Đồng thời, (tương đương gần 200 nghìn tỷ các sàn thường xuyên kiểm tra, đồng) với trên 29.000 giao dịch Thái Bình. xác thực thông tin báo cáo hoạt (trên 90% giao dịch) thành công. Số liệu ở bảng 1 cho thấy, giá động hàng tháng, quý, phát triển Theo báo cáo từ các sàn trị giao dịch của các sàn GDCN nội dung, thu hút doanh nghiệp GDCN, giá trị mua bán, chuyển còn khiêm tốn. Nguyên nhân do tham gia quảng bá sản phẩm, giao thiết bị công nghệ, quy trình thị trường công nghệ ở nước ta tiếp tục xây dựng cơ sở dữ liệu còn đang trong giai đoạn phát thiết bị và công nghệ phục vụ nhu công nghệ tại các sàn đang có xu triển, giao dịch mua bán công cầu tìm kiếm của người dùng. hướng thấp dần. Tuy nhiên, do nghệ tại các sàn GDCN hiện nay chưa có quy định rõ ràng nên các Tại Sàn GDCN Hải Phòng, chủ yếu là máy móc, thiết bị hoặc sàn GDCN có thể có cách hiểu đến nay có gần 4.300 viện nghiên dây chuyền công nghệ mà chưa khác nhau về khái niệm “giao cứu, trường đại học và doanh đi vào giao dịch mua bán các tài nghiệp tham gia là thành viên; gần 21.000 thông tin công nghệ Bảng 1. Giá trị GDCN năm 2017 và 2018 của một số sàn. Đơn vị: tỷ đồng và thiết bị chào bán; trên 3.000 lượt người truy cập/ngày, trong đó STT Sàn GDCN Năm 2017 Năm 2018 có khoảng 500-700 lượt trao đổi, giao dịch. 1 Sàn GDCN Nghệ An 7,0 8,0 Trong năm 2017, các sàn có 2 Sàn GDCN Hải Phòng 81,0 105,0 khoảng gần 10.000 sản phẩm 3 Sàn GDCN Thái Bình 0,35 0,2 được chào bán. Số liệu báo cáo cũng cho thấy cơ sở dữ liệu về các Tổng cộng 88,35 113,2 sản phẩm, thiết bị công nghệ của các 7 Soá 3 naêm 2019
  8. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ sàn GDCN còn ít, chưa được đầu tư ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy trung gian của thị trường công thỏa đáng: cụ thể như sàn GDCN TP hoạt động trung gian của thị trường nghệ như môi giới, tư vấn, thẩm Hồ Chí Minh hiện nay mới có khoảng công nghệ. Các sàn GDCN đã hỗ định, giám định,  chuyển giao công gần 5.000 thông tin về các thiết bị, trợ kết nối một số giao dịch giữa các nghệ, định giá công nghệ… nhưng sản phẩm công nghệ; trong khi đó cơ nhà khoa học, trường đại học, viện do số lượng ít, mức độ tự chủ thấp, sở dữ liệu của Sàn GDCN Thượng nghiên cứu với doanh nghiệp và tỷ nguồn lực tài chính còn hạn chế, Hải - Trung Quốc ở cùng thời điểm trọng giao dịch thành công chiếm nên hoạt động của các sàn GDCN có trên 40.000 thông tin công nghệ. 0,2-0,5%. Bước đầu đã hình thành còn khiêm tốn, sàn nào cũng gặp Hoạt động tổ chức các sự kiện mạng lưới liên kết giao dịch giữa nhà những khó khăn riêng. Trước hết về KH&CN: nhiều sự kiện KH&CN khoa học, Nhà nước, doanh nghiệp là khó khăn về nguồn cung: những được các sàn GDCN phối hợp với để chuyển giao các kết quả nghiên thiết bị, công nghệ được giới thiệu các đơn vị tổ chức nhằm trưng bày, cứu qua dịch vụ hỗ trợ của sàn trên các sàn GDCN hạn chế về số giới thiệu, trình diễn công nghệ và GDCN. lượng và chủng loại. Nhiều doanh đạt được những thành công nhất nghiệp cho biết, nguồn cung về Công tác vận động, tiếp thị đến công nghệ của các sàn khá khiêm định. Nhiều doanh nghiệp, tổ chức, khối viện, trường và doanh nghiệp tốn nên họ không mấy mặn mà khi cá nhân đã quan tâm hơn tới việc đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ cung ứng công nghệ đã hình thành tham gia giao dịch vì không tìm được nên tìm tới các khu trưng bày, triển nguồn cung ban đầu cho các sàn cái mình cần. Trong khi đó, phần lớn lãm, chợ công nghệ để tìm kiếm, GDCN. Các sàn GDCN đã tổ chức các sàn GDCN đang gặp khó khăn mua - bán sản phẩm, thiết bị công nhiều sự kiện thành công, như các trong việc nắm bắt, cập nhật nhu cầu nghệ. Thông qua các khu trưng bày hoạt động trưng bày, giới thiệu đổi mới, tiếp thu công nghệ cũng như giới thiệu này cũng đã có nhiều cuộc sản phẩm, công nghệ và thiết bị, tìm kiếm, bổ sung kịp thời thiết bị, kết nối, yêu cầu tìm kiếm công nghệ thu hút được sự quan tâm của các công nghệ đáp ứng nhu cầu doanh diễn ra và đặc biệt có nhiều giao khối doanh nghiệp, viện nghiên nghiệp do hạn chế về năng lực nhân dịch mua - bán, trao đổi thành công cứu, trường đại học. Các Techmart sự cũng như tài chính. với giá trị cao. chuyên ngành, hội nghị, hội thảo Cán bộ tham gia quản lý, vận giới thiệu, trình diễn công nghệ mới, hành các sàn GDCN còn yếu cả về Ví dụ Sàn GDCN Hải Phòng sản phẩm mới với các chủ đề phù số lượng và chất lượng. Đội ngũ thực đã tổ chức và tham gia 94 chương trình, hội thảo giới thiệu công nghệ/ hợp với yêu cầu thực tiễn sản xuất - hiện tư vấn, môi giới và chuyển giao thiết bị; 2 phiên bán đấu giá công kinh doanh của từng địa bàn nên thu công nghệ chưa được đào tạo một nghệ; 30 kỳ hội chợ, triển lãm cho hút nhiều khách tham dự, phát sinh cách chuyên nghiệp, kinh nghiệm các doanh nghiệp để quảng bá, giới nhiều yêu cầu tìm hiểu sâu về công và trình độ chuyên môn chưa cao. thiệu công nghệ thiết bị; 8 phiên nghệ và thiết bị. Đây cũng là tiền đề Không ít cán bộ trẻ gặp khó khăn khi kết nối thị trường công nghệ giữa cho việc ký kết các hợp đồng tư vấn, tiếp cận và giới thiệu các công nghệ các doanh nghiệp trong nước với chuyển giao công nghệ sau này. mới phù hợp cho doanh nghiệp. doanh nghiệp nước ngoài: Nhật Bản, Hoạt động tư vấn, kết nối chuyển Trong khi đó hỗ trợ doanh nghiệp Canada, Hàn Quốc; tổ chức 7 cuộc giao công nghệ được tập trung về tư vấn chuyên gia lựa chọn công cho các tổ chức, đơn vị tham quan, đẩy mạnh và nâng cao từng bước, nghệ, tư vấn về pháp lý, sở hữu trí học tập các mô hình công nghệ trong tuệ… là một trong những công việc từ quy trình nghiệp vụ đến các kỹ và ngoài nước: Nhật Bản, Đài Loan, quan trọng để các sàn thu hút được năng chuyên môn, hỗ trợ thiết thực Indonesia, Thái Lan. Trong thời gian sự quan tâm, tham gia của doanh cho việc gia tăng khả năng kết nối gần đây, số lượng sự kiện về KH&CN nghiệp. được tổ chức tại các sàn đang có xu chuyển giao. Mạng lưới chuyển giao hướng giảm dần. công nghệ qua sàn GDCN bước đầu Một khó khăn nữa là yếu tố tâm đã được thiết lập, tạo bước chuyển lý và nếp suy nghĩ của các cá nhân: Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt kết nối giữa các tổ chức trung gian người mua và người bán vẫn chưa có động các sàn GDCN của thị trường KH&CN trong các thói quen chuyển giao công nghệ; hoạt động tư vấn, chuyển giao công người bán công nghệ thường khó Các kết quả đạt được nghệ. tiếp cận người mua vì hạn chế đầu Trong thời gian qua, việc thành mối hoặc kênh thông tin kết nối để lập các sàn GDCN đã mang lại một Một số hạn chế, bất cập đáp ứng công nghệ đúng nhu cầu số kết quả khả quan, khẳng định vai Mặc dù được coi là “nơi hội tụ” của người mua. Bản thân các doanh trò là một trong những giải pháp có của cung - cầu và các hoạt động nghiệp Việt Nam nói chung cũng 8 Soá 3 naêm 2019
  9. Diễn đàn khoa học - công nghệ chưa chú ý tới việc tìm kiếm chuyên nghiên cứu khoa học và phát triển tư, quan tâm hơn nữa để sớm khắc gia tư vấn trong các khâu của quy công nghệ. Bằng phương thức phối phục được những hạn chế đang tồn trình chuyển giao công nghệ. hợp tổ chức các hội thảo chuyên tại, phát huy hơn nữa những kết quả ngành, triển lãm các sản phẩm đã đạt được, nâng cao chất lượng Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt sáng tạo, phát động hội thi nghiên động các sàn GDCN hoạt động, góp phần thúc đẩy phát cứu KH&CN để lựa chọn ra các sản triển thị trường KH&CN trong thời Sự phát triển của thương mại phẩm có tiềm năng thương mại hóa. gian tới ? điện tử và làn sóng của cuộc cách Bốn là, chú trọng ứng dụng mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra môi công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, TÀI LIỆU THAM KHẢO trường giao dịch, trao đổi, chuyển internet kết nối vạn vật để kết nối 1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), giao công nghệ, thiết bị ngày càng các sàn giao dịch cấp quốc gia và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ thuận lợi và thống nhất, do đó áp lực cấp địa phương lại với nhau, cùng XII, NXB Chính trị quốc gia. đổi mới của các sàn GDCN trong nhau chia sẻ thông tin, cơ sở dữ liệu thời gian tới là rất lớn. Để có thể bắt 2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chào bán, tìm kiếm công nghệ, khóa XI (2012), Nghị quyết số 20 NQ/TW kịp xu thế của thời đại, các vấn đề thiết bị doanh nghiệp đang cần đổi sau cần được các sàn GDCN, cũng về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp mới; xây dựng cơ chế kỹ thuật để công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều như các đơn vị quản lý sớm quan tích hợp các nguồn thông tin phân kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội tâm giải quyết: tán thành một khối nhưng vẫn đảm chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Một là, nâng cao trình độ, năng bảo tính độc lập của nguồn thông tin để người dùng truy cập hệ thống 3. Quốc hội (2013), Luật KH&CN. lực cho đội ngũ vận hành sàn GDCN: tập huấn, đào tạo cho đội dữ liệu thông tin một cách đầy đủ. 4. Quốc hội (2017), Luật Chuyển giao ngũ vận hành sàn GDCN các kỹ Theo xu thế phát triển của các sàn công nghệ. năng quản trị; phương pháp đánh GDCN trên thế giới, công nghệ đấu 5. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết giá và định giá công nghệ; chuyển giá trực tuyến cần được các sàn định số 418/QĐ-TTg về việc phê duyệt giao kết quả nghiên cứu; tư vấn, môi sớm học hỏi và áp dụng. Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn giới và chuyển giao công nghệ; phối Năm là, tăng cường công tác 2015-2020. hợp với một số tổ chức nước ngoài truyền thông: chủ động phối hợp 6. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết để bồi dưỡng chuyên môn cho các với các báo, đài trung ương để định số 2075 về việc phê duyệt Chương cán bộ, chuyên viên vận hành sàn tuyên truyền, phổ biến, thực thi các trình phát triển thị trường KH&CN đến năm GDCN về các kỹ năng gọi vốn đầu văn bản pháp luật liên quan đến 2020. tư; tư vấn, môi giới và chuyển giao tổ chức trung gian của thị trường công nghệ; thu hút bên có công KH&CN, sàn GDCN cho các tổ 7. Phạm Hồng Quất (2013), Nghiên nghệ và bên cần công nghệ. cứu chính sách hỗ trợ phát triển sàn GDCN chức, cá nhân, cụ thể: tăng cường cho Việt Nam, Cục Phát triển Thị trường và Hai là, nâng cao chất lượng hoạt tuyên truyền trên truyền hình bằng Doanh nghiệp KH&CN. động tổ chức sự kiện, qua đó tổ chức các chương trình như đối thoại các buổi tọa đàm để đánh giá, rút chính sách về sàn GDCN, tổ chức 8. Cục Phát triển Thị trường và Doanh kinh nghiệm trong việc chia sẻ thông trung gian, thị trường KH&CN; tăng nghiệp KH&CN (2015, 2016), Báo cáo tổng cường tuyên truyền trên các báo: kết Hội nghị phát triển thị trường KH&CN. tin về công nghệ, tư vấn và môi giới chuyển giao công nghệ, các bài học viết về các doanh nghiệp điển hình 9. Hoàng Xuân Long (2009), Nghiên thành công trong việc tìm kiếm đối chuyển giao công nghệ thành công, cứu phát triển hoạt động tư vấn, môi giới tác giao dịch qua sàn GDCN. các công nghệ tiêu biểu, các lĩnh chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, Viện vực công nghệ ưu tiên, cách thức Chiến lược và Chính sách KH&CN. Ba là, cần đẩy mạnh hoạt động chuyển giao và ứng dụng công 10. Hoàng Xuân Long, Chu Đức Dũng mạng lưới liên kết giữa các trường nghệ; tăng cường phối hợp với các (2009), “Giải pháp phát triển hoạt động tư đại học, viện nghiên cứu với sàn trung tâm khuyến nông của địa vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở Việt GDCN: phối hợp với các viện nghiên phương giới thiệu công nghệ mới, Nam”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và cứu, trường đại học, doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật mới và tư vấn hỗ trợ Chính trị thế giới, 8(160), tr.53-64. trong nước và nước ngoài để tìm miễn phí cách thức, phương thức đổi kiếm các sản phẩm KH&CN có tiềm mới công nghệ, cải tiến công nghệ. năng thương mại hóa nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghệ và Hy vọng rằng trong thời gian tới thiết bị, các sáng chế từ các kết quả các sàn GDCN sẽ tiếp tục được đầu 9 Soá 3 naêm 2019
  10. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam - Một số giải pháp TS Phan Ngọc Tâm1, LS Lê Quang Vinh2 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh 1 Công ty Cổ phần sở hữu trí tuệ Bross và Cộng sự (Bross & Partners) 2 Những nỗ lực và cố gắng của Việt Nam trong lĩnh vực hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung, nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng trong thời gian qua là đáng ghi nhận, song cơ chế đảm bảo thực thi các quy định đó còn có những hạn chế, hiệu quả của quá trình áp dụng pháp luật chưa cao. Trên cơ sở đánh giá quy định của Luật SHTT về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, các tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm thúc đẩy và tăng cường hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam. Đánh giá quy định của Luật SHTT về 2005, nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn vi/mức độ biết đến) xem ra trái bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng hiệu được người tiêu dùng biết với quy định “được biết đến rộng đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ rãi bởi bộ phận công chúng có Năm 2005, sự ra đời của Luật Việt Nam. Vì bản chất của nhãn liên quan” của TRIPs và khuyến SHTT là một bước đột phá trong hiệu nổi tiếng là loại nhãn hiệu nghị của WIPO năm 1999 ở chỗ quá trình phát triển của hệ thống đặc biệt, khác biệt với nhãn hiệu “trên toàn lãnh thổ Việt Nam” có pháp luật về bảo hộ quyền SHTT thông thường ở chỗ nó biểu hiện thể được hiểu rằng tính chất biết nói chung và bảo hộ nhãn hiệu một cách khách quan mối liên đến đó phải thực sự diễn ra ở mọi nói riêng ở nước ta. Việt Nam cấu hệ đặc biệt giữa sản phẩm mang nơi trên lãnh thổ Việt Nam, nghĩa trúc các quy định về nhãn hiệu nhãn hiệu đó với người tiêu dùng, là dù chỉ cần một nơi hoặc một nổi tiếng bằng cách xây dựng một do đó định nghĩa hiện tại được vài nơi... trên lãnh thổ Việt Nam điều luật xác định nội hàm khái xem là cô đọng và phản ánh đồng mà người tiêu dùng ở khu vực đó niệm nhãn hiệu nổi tiếng (Điều thời cả 2 khía cạnh khách quan không được biết đến nhãn hiệu 4.20 Luật SHTT) và một điều luật giữa người tiêu dùng và sản phẩm đó là đủ để thấy rằng tính chất khác liệt kê các tiêu chí đánh giá mang nhãn hiệu nổi tiếng là tính thứ hai của nhãn hiệu nổi tiếng nhãn hiệu nổi tiếng (Điều 75 Luật chất biết đến và phạm vi/mức độ không được đáp ứng. Hơn nữa, SHTT). Bên cạnh đó, Luật SHTT biết đến. Sự có mặt các tính chất tính chất “trên toàn lãnh thổ Việt 2005 còn quy định một số điều này mới làm cho nhãn hiệu trở Nam” còn có thể được hiểu rằng luật khác liên quan đến việc ngăn nên đặc biệt, hay nói cách khác nhãn hiệu được xem xét nổi tiếng chặn khả năng xác lập quyền đối nếu không có chúng thì nhãn hiệu phải là nhãn hiệu được biết tới bởi với nhãn hiệu xâm phạm nhãn đó vẫn sẽ chỉ được xem là nhãn người tiêu dùng đại chúng, nghĩa hiệu nổi tiếng (Điều 74.2i), hoặc hiệu thông thường hoặc nhãn là quảng đại quần chúng thuộc ngăn chặn khả năng sử dụng hiệu được sử dụng và thừa nhận mọi tầng lớp xã hội, mọi giới tính, nhãn hiệu xâm phạm quyền đối rộng rãi1. Tuy vậy, tính chất thứ với nhãn hiệu nổi tiếng (Điều tuổi tác, mọi dân tộc, tôn giáo, hai trong định nghĩa này (phạm 129.1d). Mặc dù Luật SHTT 2005 mọi sở thích và hiểu biết bất kể đã được sửa đổi bằng Luật SHTT cư trú ở thành thị hay nông thôn. 2009 (có hiệu lực từ 1/1/2010) 1 Đây được xem là một loại nhãn hiệu trung Được biết tới rộng rãi bởi người gian đứng giữa nhãn hiệu nổi tiếng và song không có bất kỳ thay đổi nhãn hiệu thông thường. Dạng nhãn hiệu tiêu dùng đại chúng đồng nghĩa nào liên quan đến nhãn hiệu nổi này cũng tồn tại trong pháp luật Trung với công chúng nói chung. tiếng. Quốc dưới tên gọi là “mark with substantial influence”, có thể tạm dịch là “nhãn hiệu có Đánh giá kỹ 6 yếu tố cần xem Theo Điều 4.20, Luật SHTT ảnh hưởng nhất định”. xét trước khi quyết định liệu một 10 Soá 3 naêm 2019
  11. Diễn đàn khoa học - công nghệ việc hướng dẫn các chủ nhãn hiệu cung cấp chứng cứ. Chẳng hạn như, để xem xét tiêu chí số 1 và 3 quy định rằng “số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo” và “doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp”, các tác giả thấy rằng chỉ cần thông qua bằng chứng doanh thu, lợi nhuận, thị phần là có thể đánh giá được mức độ biết đến hoặc nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng gian sử dụng liên tục nhãn hiệu” công nhận nhãn hiệu bởi công hay không theo Bản khuyến nghị và “uy tín rộng rãi của hàng hoá, chúng mà hoàn toàn không cần của WIPO năm 1999 (gọi tắt là dịch vụ mang nhãn hiệu” có ý phải tách làm 2 tiêu chí như hiện Bản khuyến nghị WIPO), chúng nghĩa tương tự như các yếu tố số tại. Nói cách khác, chỉ cần gộp ta có thể thấy rằng mặc dù Điều 2, 3, 4 và 5 của Bản khuyến nghị cả 2 tiêu chí lại chúng ta sẽ nhận 75 Luật SHTT đưa ra 8 tiêu chí WIPO quy định “thời gian, quy mô được yếu tố số 1 của Bản khuyến (mà cũng có thể được hiểu là “yếu và khu vực địa lý sử dụng nhãn nghị WIPO có tính chất và yêu tố”), song về cơ bản các tiêu chí hiệu”, “thời gian, quy mô và khu cầu tương đương “mức độ biết này vẫn nằm trong phạm vi diễn vực địa lý của bất kỳ hoạt động hoặc công nhận nhãn hiệu bởi bộ đạt của 6 yếu tố được khuyến quảng bá nhãn hiệu bao gồm phận công chúng có liên quan”. nghị bởi WIPO. quảng cáo hoặc quảng bá và giới Hơn nữa, cần thấy rằng, việc yêu thiệu tại các triển lãm, hội chợ đối cầu số lượng người tiêu dùng biết Sự khác biệt ở đây là pháp luật với hàng hóa/dịch vụ mang nhãn đến nhãn hiệu thường có thể gây Việt Nam đã tách một số bộ phận hiệu”, “thời gian và khu vực địa lý hiểu nhầm rằng bằng chứng cung cấu thành của 6 yếu tố thành các mà nhãn hiệu đã được đăng ký cấp phải thể hiện được con số cụ tiêu chí riêng, chẳng hạn như tiêu và/hoặc đã được nộp đơn đăng thể số lượng người tiêu dùng biết chí số 1 và 3 của Điều 75 hoàn ký trong chừng mực mà chúng đến, điều mà rất khó thực hiện toàn nằm trong phạm vi của yếu phản ánh việc sử dụng hoặc công chứ chưa muốn nói là hầu như tố số 1 theo Bản khuyến nghị nhận nhãn hiệu” và “hồ sơ thực không thể thực hiện. Thêm nữa, WIPO, cụ thể “số lượng người tiêu thi thành công quyền độc quyền cách quy định số lượng như vậy dùng liên quan đã biết đến nhãn nhãn hiệu, đặc biệt là phạm vi còn có khuynh hướng dễ dẫn đến hiệu thông qua việc mua bán, sử mà nhãn hiệu được công nhận suy luận rằng yếu tố này phải đo dụng hàng hoá, dịch vụ mang là nổi tiếng bởi cơ quan có thẩm đếm được bằng con số cụ thể nhãn hiệu hoặc thông qua quảng quyền”. người tiêu dùng thực tế đã biết cáo” và “doanh số từ việc bán hoặc công nhận nhãn hiệu. hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ Như vậy, 8 tiêu chí theo Điều mang nhãn hiệu hoặc số lượng 75 Luật SHTT về cơ bản được Ngoài ra, cần lưu ý rằng không hàng hoá đã được bán ra, lượng luật hóa bằng cách tham chiếu có từ/cụm từ nào trong 6 yếu tố dịch vụ đã được cung cấp” trùng 6 yếu tố thuộc Bản khuyến nghị của Bản khuyến nghị WIPO trực với phạm vi xem xét của yếu WIPO. Tuy nhiên, cách quy định tiếp đề cập đến “uy tín” của nhãn tố số 1 “mức độ biết hoặc công chia nhỏ một số yếu tố thành hiệu, trong khi tiêu chí số 5 của nhận nhãn hiệu bởi bộ phận công một hoặc vài tiêu chí theo Điều Điều 75 Luật SHTT lại yêu cầu chúng có liên quan”. Các tiêu chí 75 Luật SHTT là không cần thiết. tiêu chí này phải được chứng số 2, 4 và 5 “phạm vi lãnh thổ mà Mặt khác, điều này dễ gây nhầm minh trực tiếp. Tất nhiên tính chất hàng hoá, dịch vụ mang nhãn lẫn cho quá trình áp dụng pháp danh tiếng hay uy tín rõ ràng và hiệu đã được lưu hành”, “thời luật cũng như gây khó khăn cho không còn tranh cãi là tính chất 11 Soá 3 naêm 2019
  12. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ quan trọng mang tính quyết định đến ở định nghĩa phải được hiểu tiếng. Xét dưới góc độ lý luận và phải được đánh giá thận trọng là biết đến bởi công chúng đại thực tiễn, các tác giả cho rằng trước khi quyết định một nhãn chúng nhưng tính chất biết đến quy định trên bộc lộ một số vấn hiệu có được coi là nổi tiếng hay cần chứng minh ở Điều 75.1 lại đề cần phải được phân tích làm không. Tuy nhiên, chủ nhãn hiệu chỉ yêu cầu đối với bộ phận công rõ. sẽ không thể cung cấp được chúng liên quan. Theo Điều 75.1 Thứ nhất, quy định này chỉ bằng chứng nào để giúp cơ quan Luật SHTT 2005, tính chất biết thuần túy liên quan đến nhãn hữu quan thấy ngay lập tức và đến rộng rãi phải xem xét chỉ cần hiệu nổi tiếng đã đăng ký mà trực tiếp uy tín của nhãn hiệu từ giới hạn ở người tiêu dùng liên không bao gồm nhãn hiệu nổi chính bằng chứng đó, kể cả dù có quan thông qua việc mua bán, tiếng chưa đăng ký ở Việt Nam, thông qua xem xét bằng chứng sử dụng hàng hóa/dịch vụ mang điều đó có nghĩa chỉ khi nào nhãn xác thực nhãn hiệu đang xem xét nhãn hiệu hoặc thông qua quảng hiệu có trước được xác định là là rất uy tín, nổi tiếng bởi các cơ cáo. Tính chất biết đến rộng rãi một nhãn hiệu đã đăng ký ở Việt quan tổ chức khác bao gồm cả nhãn hiệu chỉ cần được xem xét Nam, đang còn hiệu lực tính đến báo chí. Đây cũng chính là lý do bởi người tiêu dùng liên quan rõ thời điểm Cục SHTT kết luận khả mà Trung Quốc đã loại bỏ cụm từ ràng đồng nghĩa với tính chất biết năng đăng ký của nhãn hiệu xin danh tiếng, cũng có nghĩa tương đến rộng rãi bởi bộ phận công đăng ký và nó được coi là nổi tự như uy tín ngay ở yếu tố đầu chúng có liên quan. Nói cách tiếng thì mới được phép sử dụng tiên trong 5 yếu tố cần xem xét khác, tiêu chí “người tiêu dùng làm căn cứ từ chối. Như vậy, căn đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng2. liên quan đã biết đến nhãn hiệu” cứ từ chối theo Điều 74.2i đã bỏ Vấn đề ở đây là tính chất uy tín/ theo Điều 75.1 Luật SHTT 2005 sót việc bảo hộ đối với nhãn hiệu danh tiếng của nhãn hiệu (vốn có được xem là phù hợp với tinh nổi tiếng không đăng ký, vốn bản chất vô hình, nằm sâu bên thần của Điều 16(1) và (2) Hiệp cũng được coi là nghĩa vụ phải trong tập hợp nhiều thông tin định TRIPs và đặc biệt là yếu tố bảo hộ đối với Việt Nam theo quy và bằng chứng khác nhau được thứ nhất Khuyến nghị của WIPO định của Công ước Paris và Hiệp cung cấp) chỉ có thể cảm nhận năm 1999 quy định - “mức độ biết định TRIPs. được hoặc đánh giá được bằng hoặc công nhận nhãn hiệu bởi bộ cách suy luận từ việc đánh giá phận công chúng có liên quan”. Thứ hai, quy định của pháp tổng hợp toàn bộ các yếu tố cần luật hiện hành dễ làm phát sinh Bên cạnh các quy định nêu quyết định chủ quan mang tính phải đánh giá chứ không phải là trên, Luật SHTT 2005 còn quy cảm tính bởi thẩm định viên ở chỗ tìm cách đánh giá nó một cách định một số điều luật khác liên tùy thuộc vào hiểu biết mang tính trực tiếp. Khẳng định nhận thức quan đến việc ngăn chặn khả cá nhân của mình, thẩm định viên về khía cạnh này, Đại hội đồng năng xác lập quyền đối với nhãn nhiều khi sẽ tự quyết định nhãn WIPO và Hội đồng Công ước hiệu xâm phạm nhãn hiệu nổi hiệu có trước dự tính làm căn cứ Paris đều nhất trí rằng, khi quyết tiếng (Điều 74.2i), hoặc ngăn từ chối là nhãn hiệu nổi tiếng4 định liệu một nhãn hiệu có nổi chặn khả năng sử dụng nhãn hiệu mà không dựa trên quy tắc theo tiếng hay không, cơ quan chức xâm phạm quyền đối với nhãn Điều 75 Luật SHTT 2005 là phải năng phải tính đến mọi yếu tố mà hiệu nổi tiếng (Điều 129.1d). Cụ xem xét chứng cứ và đánh giá từ đó có thể suy luận rằng nhãn thể, theo Điều 74.2i, nhãn hiệu xin chứng cứ chứng minh nhãn hiệu hiệu đang xem xét là nổi tiếng3. đăng ký sẽ bị từ chối nếu nó chứa nổi tiếng một cách thích đáng và Liên quan đến định nghĩa dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới khoa học làm nền tảng trước khi nhãn hiệu nổi tiếng ở Điều 4.20 mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu kết luận liệu nhãn hiệu có trước Luật SHTT 2005, chúng tôi cho được coi là nổi tiếng của người đó có nổi tiếng hay không. rằng định nghĩa này dường như khác đã đăng ký, dùng cho hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự, Thứ ba, quy định của Điều mâu thuẫn với nội dung của quy 74.2i còn vô hình chung đánh định tại Điều 75.1 Luật SHTT hoặc dùng cho hàng hóa/dịch vụ năm 2005. Cụ thể, tính chất biết không tương tự với điều kiện việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm 4 Ví dụ nhãn hiệu Bellagio/đơn 4-2009-25326 2 Điều 14 Luật Nhãn hiệu năm 2001 của ảnh hưởng đến khả năng phân xin đăng ký cho xe máy và phụ tùng xe máy ở nhóm 12 bị từ chối theo điều 74.2(e) Luật Trung Quốc. biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc SHTT vì Cục SHTT cho rằng Bellagio tương 3 Điều 2.1a Khuyến nghị của WIPO năm việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng 1999. dụng uy tín của nhãn hiệu nổi Piaggio theo đăng ký quốc tế số 336048. 12 Soá 3 naêm 2019
  13. Diễn đàn khoa học - công nghệ đồng phạm vi bảo hộ của tất cả được công nhận là nhãn hiệu nổi không? Câu trả lời có vẻ là không, các nhãn hiệu nổi tiếng là như tiếng, nhãn hiệu này vẫn phải vì chỉ nói đến việc sử dụng nhãn nhau, bất luận chúng có phải là mang thân phận là nhãn hiệu hiệu sau cho hàng hóa/dịch bất nhãn hiệu nổi tiếng theo nghĩa thông thường). Như vậy rõ ràng kỳ dù không trùng hoặc không công chúng đại chúng hay chỉ điều này là hoàn toàn phi lý. Cách liên quan tới hàng hóa/dịch vụ nổi tiếng trong một phân khúc thị phân tích của tòa án Trung Quốc thuộc danh mục hàng hóa/dịch trường cụ thể hoặc ở một khu vực trong vụ Apple Inc. kiện TRAB vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng có địa lý cụ thể. Điều này cũng dẫn liên quan đến phản đối đơn đăng thể làm chúng ta hiểu rằng danh đến hệ quả sai lầm là Việt Nam ký nhãn hiệu Iphone ở nhóm 18 mục này có nghĩa là danh mục có thể bảo hộ quá nhiều cho có thể được xem là minh họa tốt đính kèm với giấy chứng nhận nhãn hiệu nổi tiếng, đặc biệt là cho nhận định này6. đăng ký nhãn hiệu của nhãn hiệu các chủ sở hữu nhãn hiệu nước có trước được coi là nổi tiếng. ngoài, trái hẳn với thực tiễn và Hành vi sử dụng nhãn hiệu Tương tự như Điều 74.2i, điều công nhận nhãn hiệu nổi tiếng so nổi tiếng cấu thành hành vi xâm luật này không đặt ra bất kỳ quy với nhiều nước thành viên WTO phạm quyền đối với nhãn hiệu tắc xác định phạm vi bảo hộ của khác trên thế giới. Nói khác đi, nổi tiếng được quy định tại Điều nhãn hiệu nổi tiếng đã đăng ký và không phải mọi nhãn hiệu nổi 129.1d, theo đó một hành vi bị nhãn hiệu nổi tiếng không đăng tiếng đều có phạm vi bảo hộ như xem là xâm phạm quyền đối với ký, không giới hạn phạm vi bảo nhau, hoặc không phải một nhãn nhãn hiệu nổi tiếng nếu hành vi đó hộ nhãn hiệu nổi tiếng bằng cách hiệu cứ hễ được coi là nổi tiếng liên quan đến việc sử dụng (trong quy định thời điểm xác định tình thì nhãn hiệu nộp sau trùng hoặc thương mại) dấu hiệu trùng hoặc trạng bắt đầu nổi tiếng của nhãn tương tự với nó dùng cho bất kỳ tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hiệu, không đặt ra quy tắc phân hàng hóa/dịch vụ nào cũng bị coi bao gồm cả dấu hiệu dưới dạng định ranh giới giữa nhãn hiệu là xâm phạm quyền đối với nhãn dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn bị nghi ngờ xâm phạm sử dụng hiệu nổi tiếng5. hiệu nổi tiếng cho hàng hóa/dịch cho hàng hóa/dịch vụ nào không vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa/dịch tương tự hoặc không liên quan Thứ tư, sự thiếu vắng nguyên vụ không trùng, không tương tự mà có thể bị xem là xâm phạm tắc xác định thời điểm một nhãn và không liên quan tới hàng hóa/ quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng hiệu được coi là nổi tiếng trong dịch vụ thuộc danh mục hàng và những hàng hóa/dịch vụ nào Điều 74.2i cũng được xem là thì không bị coi là xâm phạm hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu nổi một thiếu sót. Sẽ là một sai lầm quyền. tiếng với điều kiện việc sử dụng nếu nhãn hiệu xin đăng ký sau này hoặc gây nhầm lẫn về nguồn bị từ chối bởi nhãn hiệu có trước Một số giải pháp hoàn thiện khung gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng mà thời điểm nhãn hiệu có trước pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sai lệch về mối quan hệ giữa được công nhận là nổi tiếng lại ở Việt Nam người sử dụng dấu hiệu đó và chủ xảy ra sau thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu. Điều này sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng. Quy Đề xuất sửa đổi một số quy có nghĩa nhãn hiệu có trước đã định này cũng bộc lộ nhiều vấn định của Luật SHTT liên quan được bảo hộ với tư cách là nhãn đề cần phải xem xét lại. Câu hỏi đến nhãn hiệu nổi tiếng hiệu nổi tiếng ngay cả khi nó vẫn đặt ra là liệu nhãn hiệu nổi tiếng Dựa vào các phân tích ở trên, còn mang tình trạng là nhãn hiệu được đề cập trong Điều 129.1d các tác giả đề xuất những nội thông thường (trước thời điểm có bao gồm nhãn hiệu nổi tiếng dung cơ bản cần điều chỉnh, thay không đăng ký ở Việt Nam hay thế hoặc bổ sung liên quan đến 5 Trong vụ Rolex Watch U.S.A., Inc. v. AFP các quy định tại các điều 4.20, Imaging Corp., Rolex được công nhận là 6 Trong vụ Apple Inc. kiện TRAB liên quan 74.2i, 75 và 129.1d của Luật nổi tiếng cho sản phẩm đồng hồ (nhóm 14) đến nhãn hiệu Iphone, ngày 31/3/2016 Tòa SHTT 2005 như sau: nhưng Rolex lại không chứng minh được cấp cao Bắc Kinh đã ra phán quyết bác đơn việc đăng ký nhãn hiệu ROLL-X bởi AFP kháng cáo của Apple Inc. chống lại quyết Điều 4.20 nên được sửa lại cho rằng sản phẩm bàn dùng chụp X-quang định của TRAB về việc giữ nguyên kết luận thành: nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn dùng trong y tế và nha khoa (nhóm 10) có từ chối bảo hộ đối với nhãn hiệu Iphone ở khả năng làm lu mờ nhãn hiệu Rolex. Theo nhóm 18 của Xington Tiandi Technologies hiệu có danh tiếng được biết đến đó, tòa đã bác đơn phản đối của Rolex (Beijing) Ltd. (http://www.twobirds.com/ rộng rãi bởi bộ phận công chúng chống lại đơn xin đăng ký ROLL-X bởi AFP en/news/articles/2016/china/a-closer-look- có liên quan tại Việt Nam. (http://ttabvue.uspto.gov/ttabvue/ttabvue- at-the-iphone-and-face-book-trademark- 91188993-OPP-36.pdf). cases-in-china.). Theo quan điểm của chúng tôi, 13 Soá 3 naêm 2019
  14. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ nên loại bỏ Điều 74.2i vì Việt Nam hiệu nổi tiếng. cơ quan có thẩm quyền; (e) Giá không có nghĩa vụ và cũng không trị gắn liền với nhãn hiệu. 3. Trường hợp dấu hiệu xin cần thiết phải từ chối nhãn hiệu đăng ký là bản sao, bản bắt 3. Trong quá trình thẩm định xin đăng ký dựa trên phỏng đoán chước hoặc bản dịch của nhãn đơn đăng ký nhãn hiệu hoặc mơ hồ và mang tính chủ quan cá hiệu nổi tiếng của bên thứ ba mà trong quá trình thụ lý giải quyết nhân rằng một nhãn hiệu có trước nhãn hiệu nổi tiếng này đã đăng đơn yêu cầu xử lý hành vi xâm nào đó được xem là nổi tiếng mà ký ở Việt Nam mà hàng hóa/ phạm quyền đối với nhãn hiệu không dựa trên bất kỳ quy trình dịch vụ gắn liền với chúng không bởi các cơ quan có thẩm quyền hay thủ tục công nhận nhãn hiệu trùng hoặc không tương tự, và với mà có đơn yêu cầu của một trong nổi tiếng nào cả. Nói cách khác, điều kiện có thể gây nhầm lẫn các bên liên quan yêu cầu công việc đánh giá khả năng phân biệt cho công chúng và làm tổn hại nhận nhãn hiệu nổi tiếng theo của dấu hiệu xin đăng ký trong đến lợi ích của chủ nhãn hiệu nổi Điều 75a của Luật này thì Cục đơn đăng ký sẽ không tự động và tiếng thì dấu hiệu xin đăng ký đó SHTT có thể tùy theo sự việc và không mặc nhiên được sử dụng phải bị từ chối và việc sử dụng nó các bằng chứng cụ thể của vụ làm căn cứ từ chối vì lý do nhãn trong thương mại sẽ bị coi là hành việc đó, xem xét quyết định liệu hiệu nổi tiếng nữa. Tuy nhiên, ý vi xâm phạm quyền đối với nhãn nhãn hiệu được yêu cầu có phải nghĩa thực tiễn của Điều 74.2i hiệu nổi tiếng. là nhãn hiệu nổi tiếng hay không. sẽ không mất đi mà nó nên được Phù hợp với phân tích trên, 4. Trong quá trình xử lý hành cấu trúc thành một điều khoản các tác giả cũng đề xuất sửa đổi vi xâm phạm quyền đối với nhãn mới độc lập trên cơ sở mở rộng nội dung quy định tại Điều 75 hiệu hoặc các tranh chấp khác phạm vi quy định hiện tại của Luật SHTT (tạm gọi là điều 75b) liên quan đến nhãn hiệu, các bên Điều 74.2i và kết hợp với sử dụng như sau: liên quan, phù hợp với quy định Điều 129.1d. Theo đó, điều luật của Điều 75a, có thể yêu cầu mới này (tạm gọi là Điều 75a) có Điều 75b. Các yếu tố phải xem công nhận nhãn hiệu của mình là thể được dự kiến như sau: xét trước khi công nhận một nhãn nổi tiếng. Trong trường hợp này hiệu là nổi tiếng. Điều 75a. Nguyên tắc bảo hộ Bộ Khoa học và Công nghệ có nhãn hiệu nổi tiếng 1. Việc xem xét công nhận thể, tùy theo sự việc và các bằng nhãn hiệu nổi tiếng sẽ chỉ được chứng cụ thể của vụ việc đó xem 1. Nếu bất kỳ quyền đối với tiến hành trên cơ sở có yêu cầu xét quyết định liệu nhãn hiệu nhãn hiệu được biết tới rộng rãi của các bên liên quan và dựa trên được yêu cầu có phải là nhãn bởi công chúng liên quan tại Việt thông tin, tài liệu và chứng cứ của hiệu nổi tiếng hay không. Nam bị xâm phạm thì chủ nhãn mỗi vụ việc tương ứng đó. hiệu đó có thể thực hiện các quy 5. Trong quá trình xét xử các định có liên quan của luật này để 2. Các yếu tố dưới đây phải tranh chấp dân sự hoặc hành yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu được được xem xét trước khi quyết chính liên quan đến nhãn hiệu, cho là nổi tiếng đó. định một nhãn hiệu là nổi tiếng: các bên liên quan có thể yêu cầu (a) Mức độ biết đến hoặc công tòa án có thẩm quyền, tùy theo 2. Trường hợp dấu hiệu xin nhận nhãn hiệu bởi bộ phận công sự việc và các bằng chứng cụ đăng ký là bản sao, bản bắt chúng có liên quan; (b) Thời gian, thể của vụ việc đó, xem xét công chước hoặc bản dịch của nhãn quy mô và khu vực địa lý của bất nhận nhãn hiệu của mình là nổi hiệu nổi tiếng của bên thứ ba kỳ hoạt động sử dụng, quảng bá tiếng. mà nhãn hiệu nổi tiếng này chưa nhãn hiệu bao gồm quảng cáo được đăng ký ở Việt Nam mà Đề xuất thủ tục công nhận hoặc quảng bá, giới thiệu tại các hàng hóa/dịch vụ gắn liền với và thực thi bảo hộ nhãn hiệu triển lãm, hội chợ đối với hàng chúng trùng hoặc tương tự, và nổi tiếng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu; (c) với điều kiện có thể gây nhầm lẫn Thời gian và khu vực địa lý mà Dựa trên kết quả nghiên cứu cho công chúng và gây thiệt hại nhãn hiệu đã được đăng ký và/ so sánh pháp luật nước ngoài, đến lợi ích của chủ nhãn hiệu nổi hoặc đã được nộp đơn đăng ký; các tác giả cho rằng thủ tục hành tiếng thì dấu hiệu xin đăng ký đó (d) Hồ sơ thực thi thành công chính và tư pháp đều có thể được phải bị từ chối và việc sử dụng nó quyền độc quyền nhãn hiệu, đặc áp dụng đối với việc công nhận trong thương mại sẽ bị coi là hành biệt là phạm vi mà nhãn hiệu nhãn hiệu nổi tiếng, theo đó cần vi xâm phạm quyền đối với nhãn được công nhận là nổi tiếng bởi thiết phải ban hành một thông 14 Soá 3 naêm 2019
  15. Diễn đàn khoa học - công nghệ tư riêng hướng dẫn thực hiện bán hàng và quảng bá nhãn hiệu nền tảng lịch sử khoa học pháp các quy định về bảo hộ nhãn gồm cả chi phí để tiến hành công lý, điều kiện và trình độ phát triển hiệu nổi tiếng sau khi đã sửa đổi việc đó, phạm vi địa lý, dạng thức của nền kinh tế của từng quốc hoặc loại bỏ một số quy định liên tiến hành quảng cáo và tần suất gia. Mặc dù không thể phủ nhận quan đến nhãn hiệu nổi tiếng quảng cáo có liên quan đến nhãn rằng ở mỗi mô hình của một hệ trong các nghị định và thông tư hiệu; bằng chứng khác chứng tỏ thống pháp luật đều có những liên quan7. Thông tư mới có thể nhãn hiệu đã được công nhận là nguyên tắc, những giá trị mà Việt được áp dụng bởi cả cơ quan tư nổi tiếng ở bất kỳ đâu trên thế Nam có thể tham khảo và học pháp và cơ quan hành chính liên giới (nếu có); tài liệu bằng chứng hỏi, nhưng chúng tôi không nhận quan đến việc công nhận và thực khác để từ đó có thể suy luận thấy có bất cứ mô hình nào có thể thi bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại được nhãn hiệu yêu cầu xem xét được xem là phù hợp nhất đối với Việt Nam. Trên cơ sở đó, các tác là nhãn hiệu nổi tiếng bao gồm điều kiện và bối cảnh thực tế của giả đề xuất một số nội dung cơ nhưng không giới hạn ở doanh Việt Nam. Do vậy, dưới góc độ bản của thông tư này như sau: thu/doanh số, thị phần, lợi nhuận, khoa học và dựa trên các phân thuế đã trả. tích thực tiễn, chúng tôi cho rằng Thứ nhất, thông tư phải giải thích rõ khái niệm “công chúng Thứ ba, thông tư phải quy định để hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan”, theo đó khái niệm cụ thể thẩm quyền công nhận về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói này phải được hiểu là nhóm người nhãn hiệu nổi tiếng. Chỉ có Cục riêng, pháp luật SHTT nói chung, tiêu dùng có liên quan đến một SHTT, Thanh tra Bộ Khoa học và Việt Nam nên xem xét sửa đổi, chủng loại hàng hóa/dịch vụ nhất Công nghệ và tòa án mới có thẩm bổ sung các quy định về bảo hộ định mang nhãn hiệu, nhà sản quyền xem xét công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng trong Luật xuất hoặc ung ứng hàng hóa/dịch nhãn hiệu có được coi là nhãn SHTT hiện hành theo hướng: vụ đó, người bán và những người hiệu nổi tiếng hay không khi và (i) tuân thủ các quy định có liên khác có tham gia hoặc có liên chỉ khi có yêu cầu bằng văn bản quan của Công ước Paris, Hiệp quan đến kênh phân phối hàng nộp bởi bên có liên quan đề nghị định TRIPs và Bản khuyến nghị hóa/dịch vụ đó. công nhận và bảo hộ nhãn hiệu WIPO, (ii) tham khảo kinh nghiệm nổi tiếng trong quá trình xác lập lập pháp và thực tiễn giải quyết, Thứ hai, thông tư phải đưa quyền, phản đối đơn đăng ký, xét xử các vụ việc có liên quan ra được hướng dẫn chi tiết đối hủy bỏ hiệu lực hoặc đề nghị xử đến chế định bảo hộ nhãn hiệu với các yêu cầu về bằng chứng lý hành vi xâm phạm quyền đối nổi tiếng của một số quốc gia chứng minh sự nổi tiếng của với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc khởi khác trên thế giới, (iii) cân nhắc nhãn hiệu theo Điều 75b đề xuất kiện yêu cầu chấm dứt hành vi và bám sát các điều kiện thực sửa đổi trên đây. Cụ thể: bằng xâm phạm và đòi bồi thường thiệt tiễn của hệ thống pháp luật và chứng chứng minh mức độ biết hai do hành vi xâm phạm nhãn nền tảng kinh tế chính trị của Việt đến và công nhận nhãn hiệu bởi hiệu nổi tiếng gây ra. Theo đó, Nam ? bộ phận công chúng liên quan; thông tư này phải đồng thời quy tài liệu chứng minh quá trình sử định chi tiết về phạm vi thẩm Lời cảm ơn dụng nhãn hiệu, trong đó bao quyền, nhiệm vụ và quyền hạn Các tác giả xin trân trọng cảm gồm thông tin bằng chứng thể của từng cơ quan cũng như quy ơn Ban điều phối Dự án “Nhãn hiện lịch sử ra đời, phạm vi sử trình cụ thể việc xem xét công hiệu nổi tiếng” gồm Thanh tra Bộ dụng và khu vực địa lý đã đăng nhận nhãn hiệu nổi tiếng đối với Khoa học và Công nghệ và Hiệp ký; bằng chứng chứng minh quá các trường hợp cụ thể khác nhau. hội nhãn hiệu quốc tế (INTA) đã trình, mức độ và phạm vi địa lý cho phép chúng tôi được sử dụng của bất kỳ hoạt động quảng cáo, Thay lời kết một phần của Báo cáo nghiên quảng bá nhãn hiệu, trong đó Qua nghiên cứu, đánh giá một cứu thuộc Dự án bảo hộ nhãn đặc biệt bao gồm thông tin bằng số cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt chứng thể hiện các hoạt động tiếng ở một số quốc gia điển hình Nam - Thực trạng và giải pháp để trên thế giới, các tác giả thấy rằng phục vụ cho bài viết này. 7 Chẳng hạn như Nghị định 105/2006/NĐ- mỗi mô hình bảo hộ nhãn hiệu nổi CP được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 và tiếng đều có ưu và nhược điểm Thông tư 11/2015/BKHCN ngày 26/6/2015. khác nhau do sự khác biệt về 15 Soá 3 naêm 2019
  16. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ Cần có chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo khởi nghiệp cấp quốc gia Trần Thị Thu Hà Phó Cục trưởng Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Bộ KH&CN Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đã coi việc thúc đẩy khởi nghiệp là động lực để tăng trưởng kinh tế, trong đó nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo khởi nghiệp (GD&ĐTKN) cần được tích hợp vào hệ thống giáo dục, phải coi nó là “thực tiễn sáng tạo, giúp tìm tòi và hành động dựa trên những cơ hội để tạo ra giá trị”. Thông qua tìm hiểu về hoạt động GD&ĐTKN ở một số quốc gia, tác giả cho rằng, Việt Nam cần phải có chiến lược phát triển GD&ĐTKN cấp quốc gia, giúp khơi dậy tinh thần khởi nghiệp và cung cấp những kiến thức cơ bản về khởi nghiệp cho giới trẻ, góp phần sớm đưa nước ta trở thành “Quốc gia khởi nghiệp”. GD&ĐTKN ở một số quốc gia trên thế giới of Technology) đã thúc đẩy phát triển và công nghệ thông tin - truyền thông, Mỹ ngành công nghiệp tại Boston và khu các trường đại học còn dẫn đầu sự phát vực Silicon Valley. MIT đã góp phần triển của các sáng kiến kinh doanh tri Kể từ khi khóa học khởi nghiệp đầu không nhỏ trong việc thúc đẩy thời đại thức. Chính tầm quan trọng của tri thức tiên được tổ chức bởi GS Myles Mace kỹ thuật số, mở đường cho phát triển và lao động kỹ thuật cao đã thu hút các tại Trường Kinh doanh Harvard vào tính toán hiện đại và công nghệ mạng công ty trong khu vực đến gần hơn với năm 1947, các chương trình GD&ĐTKN máy tính... nghiên cứu của các trường đại học, mở trong trường đại học của Mỹ đã phát ra nhiều cơ hội cho các cá nhân mong Ở Mỹ, khởi nghiệp đã trở thành lĩnh triển nhanh chóng và lan rộng ra toàn muốn khởi nghiệp. vực nghiên cứu và đào tạo riêng với cầu. Để duy trì vị thế dẫn đầu, Mỹ đã hàng nghìn trường đại học cung cấp Một số nước EU lấy “tinh thần khởi nghiệp” làm lợi thế môn học này; ngoài ra còn có hơn 40 tờ cạnh tranh chủ đạo. Theo thống kê năm Làn sóng khởi nghiệp đang trở nên báo và tạp chí chuyên ngành, hàng trăm 2014, 1/5 sinh viên tại Mỹ tốt nghiệp lớn mạnh ở châu Âu, tạo doanh thu trung tâm và hàng chục tổ chức chuyên nộp hồ sơ vào các công ty công nghệ; hàng trăm tỷ euro cho lục địa già. Theo nghiệp trong thúc đẩy GD&ĐTKN. những người trẻ ở quốc gia này luôn dữ liệu thu thập từ 20 thành phố của 15 Các trường đại học của Mỹ tổ chức cảm thấy hào hứng với ảnh hưởng mà quốc gia thuộc EU vào cuối năm 2017 GD&ĐTKN ở cấp độ cử nhân, thạc sỹ các công ty công nghệ tạo ra. Điều đó cho thấy, có khoảng 830.000 startup và tiến sỹ, tạo ra một loạt chương trình cho thấy, Mỹ đã thành công trong xây hoạt động tích cực trong hệ sinh thái. giảng dạy, với nhiều khóa học khác dựng văn hóa khởi nghiệp và kỹ năng Các công ty khởi nghiệp này tạo ra nhau. Trong quá trình GD&ĐTKN, việc khởi nghiệp. Đặc biệt, từ thập niên 70 việc làm cho hơn 4,5 triệu người, mang gắn kết giữa trường đại học và ngành đến giữa thập niên 2000, mỗi năm có lại doanh thu 420 tỷ euro. Chỉ riêng 5 công nghiệp được coi là thế mạnh của từ 500.000 đến 600.000 doanh nghiệp thành phố là London (Anh), Berlin, các trường đại học ở Mỹ. Tại quốc gia mới thành lập, một số trở thành những Munich (Đức), Rome (Italia) và Paris này, ranh giới giữa giới học thuật và các tập đoàn hùng mạnh, khiến nền kinh tế (Pháp) đã đóng góp đến 78% doanh doanh nghiệp gần như được xóa nhòa. Mỹ phát triển vượt bậc. Có rất nhiều yếu Nhiều nhân sự thực hiện công việc thu trong cộng đồng khởi nghiệp. Hơn tố tạo nên sự hưng thịnh của nước Mỹ, trong các tập đoàn và tổ chức công có 4.000 startup nhận tổng cộng 36 tỷ euro nhưng tinh thần khởi nghiệp của người thể đến hoặc đi từ các trường đại học. Vì từ các nhà đầu tư trong và ngoài châu Mỹ và vai trò quan trọng của GD&ĐTKN vậy những kiến thức về khởi nghiệp rất lục, thu hút hơn 34.000 lao động. trong trường đại học là một trong những thực tế được giới doanh nghiệp truyền Văn hóa khởi nghiệp ở châu Âu đã yếu tố quyết định. Những người làm đạt lại cho sinh viên. Theo các nghiên có sự đổi mới mạnh mẽ, tuy nhiên còn chính sách tại Mỹ cho rằng, đại học có cứu về phát triển kinh tế cũng như tạo thiếu hụt về nhân sự có kỹ năng cần vai trò quan trọng trong việc phát triển ra các công ty công nghệ cao, các đại thiết để khởi nghiệp. Do vậy, EU đã rất kinh tế khu vực và thúc đẩy khởi nghiệp. học ở Mỹ đóng vai trò quan trọng như nỗ lực đưa GD&ĐTKN trở thành một Bằng chứng là hoạt động khởi nghiệp từ là cỗ máy tạo ra sự tăng trưởng. Với lợi môn học riêng biệt được dạy ở tất cả Học viện MIT (Massachusetts Institute thế trong lĩnh vực công nghệ sinh học các cấp giáo dục, từ cấp độ cơ bản (học 16 Soá 3 naêm 2019
  17. Diễn đàn khoa học - công nghệ sinh dưới 14 tuổi) đến đại học, đặc biệt đa dạng tới toàn bộ hệ thống trường rèn luyện và truyền đạt kiến thức về là đưa thành một ngành đào tạo thạc sỹ, đại học trong cả nước; 3) Năm 2005, khởi nghiệp. Các sinh viên năm thứ tiến sỹ. Theo khuyến nghị của Ủy ban Chương trình “Biết về kinh doanh” hai trở đi bắt buộc phải có ý tưởng về châu Âu, các tổ chức giáo dục đại học được giới thiệu và có mặt tại 6 trường dự án kinh doanh riêng, có khát vọng nên tích hợp khởi nghiệp vào trong các đại học danh giá của Trung Quốc, làm thành lập doanh nghiệp… Tất cả điều đó môn học và khóa học khác nhau, đặc sâu sắc hơn mối quan hệ giữa các tổ giúp học sinh, sinh viên tại Israel không biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa chức, doanh nghiệp và các trường đại còn lạ lẫm với thế giới doanh nhân, hay học, coi đào tạo định hướng khởi nghiệp học, giúp sinh viên hiểu rõ về cách bắt phong trào khởi nghiệp sau này. Điểm như là một phần quan trọng của chương đầu một doanh nghiệp, thúc đẩy và trau đặc biệt trong văn hóa khởi nghiệp của trình giảng dạy, yêu cầu sinh viên tham dồi tinh thần khởi nghiệp cho thế hệ trẻ; Israel là: tôn trọng ý tưởng, hình thành gia. 4) Năm 2008, Chính phủ Trung Quốc văn hóa chấp nhận thất bại, dám đương GD&ĐTKN được Ủy ban châu Âu kêu gọi một số cơ quan, các trường đại đầu tìm kiếm những điều mới và lạ, coi như nền tảng quan trọng để đạt học và doanh nghiệp thiết lập chương khuyến khích tinh thần khởi nghiệp. được Chiến lược châu Âu 2020. Trên trình thí điểm để phát triển tài năng khởi Singapore tinh thần đó, hầu hết các nước EU đều nghiệp. Theo tinh thần đó, Bộ Giáo dục, Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc Singapore được xếp trong danh có các chương trình hay chiến lược thúc cùng khởi xướng các chương trình “Công sách những quốc gia sáng tạo nhất với đẩy GD&ĐTKN trong trường đại học. viên khởi nghiệp” (Entrepreneurship các chỉ số thúc đẩy khởi nghiệp đứng Điều quan trọng để GD&ĐTKN ở các Park), “Công viên khoa học” (Science đầu thế giới. Các giải pháp mang tính nước EU là các trường đại học phải coi Park) tại một số trường đại học, thu hút đồng bộ từ chính phủ, đến địa phương, khởi nghiệp là môn học riêng biệt và là sự tham gia tích cực, đông đảo của các nhà trường và doanh nghiệp chính là một yếu tố quan trọng của chương trình doanh nghiệp, đánh dấu sự khởi đầu yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp thành công giảng dạy, từ đó khuyến khích sinh viên của một giai đoạn mới cho GD&ĐTKN tại quốc đảo này. Ngoài chính sách của tham gia; sự kết hợp giữa văn hóa và kỹ tại quốc gia này. nhà nước, doanh nghiệp, các trường năng khởi nghiệp với khoa học và công đại học tại Singapore cũng xem việc nghệ sẽ giúp sinh viên tự tin thương mại Israel GD&ĐTKN là nhiệm vụ quan trọng hóa ý tưởng của mình. Khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sứ mệnh của mình. Trung Quốc trong kỳ tích phát triển kinh tế của Các chương trình GD&ĐTKN tại Trung Quốc coi GD&ĐTKN là một Israel (tăng gấp 50 lần sau 60 năm). Singapore được tích hợp trong giáo kênh quan trọng để nuôi dưỡng nhận Năm 2016, dân số Israel chưa đạt tới trình đào tạo của hơn 130 trường học thức của sinh viên đại học về tinh thần 8,5 triệu người, nhưng có tới 6.500 công phổ thông, với hơn 100 nghìn học sinh khởi nghiệp và nâng cao khả năng thực ty công nghệ, 24 vườn ươm công nghệ theo học. Ở cấp độ cao hơn, các khóa tế của họ trong quá trình đổi mới và phát của chính phủ, hơn 50 chương trình GD&ĐTKN đang được Học viện Quản triển kinh doanh. Năm 2011, Chính phủ tăng tốc khởi nghiệp; đứng số 1 thế giới lý Singapore, Đại học Công nghệ Trung Quốc đã ban hành các chính về thu hút đầu tư mạo hiểm… Nanyang triển khai và cấp bằng chính sách mới để “thúc đẩy việc làm thông Israel đã thành công trong việc thức về khởi nghiệp cho học viên. Tại qua khởi nghiệp”, tạo nên tinh thần ủng GD&ĐTKN, tạo nên văn hóa và kỹ quốc đảo này, có một sự hợp tác mạnh hộ mạnh mẽ đối với GD&ĐTKN ở các năng khởi nghiệp trong toàn xã hội. mẽ giữa khu vực tư nhân và các trường địa phương. Mặc dù có lịch sử tương đối Tinh thần doanh nhân cùng những kỹ đại học để thúc đẩy khởi nghiệp thông ngắn về GD&ĐTKN, Trung Quốc đã đạt năng, kiến thức khởi nghiệp được tích qua các cuộc thi kế hoạch kinh doanh và được tiến bộ đáng kể trong thử nghiệm hợp vào các chương trình giảng dạy cho giải thưởng cho sinh viên. Một số trường với khái niệm giáo dục mới này, được học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế đại học còn hợp tác với tổ chức nước đánh dấu bằng bốn mốc quan trọng: nhà trường. Theo quy định ở Israel, hầu ngoài, các startup, phòng thí nghiệm để 1) Năm 1998, Đại học Thanh Hoa đã hết mọi người dân đều phải gia nhập cho sinh viên thực tập về khởi nghiệp, phối hợp tổ chức “Cuộc thi Khởi nghiệp quân đội trước khi vào đại học. Trong tham gia vào quá trình phát triển dự án. sinh viên” đầu tiên và đưa nó thành sự quân đội, mọi người có cơ hội học hỏi, Chẳng hạn như, Chương trình tư vấn kiện thường niên của các trường đại tiếp xúc với những công nghệ mới nhiều SME của Ngân hàng nước ngoài (UOB) học trong nước. Cuộc thi này được coi hơn; môi trường và văn hóa quân đội phối hợp với Đại học Quản lý Singapore là sự ra đời của GD&ĐTKN tại Trung khuyến khích dấn thân lập nghiệp và (SMU), Viện Doanh nghiệp châu Á tạo Quốc; 2) Năm 2002, Bộ Giáo dục Trung hình thành tư duy lãnh đạo, giúp thấm cơ hội cho học sinh làm việc với các Quốc triển khai dự án thí điểm có tên nhuần những giá trị cần có để xây dựng doanh nghiệp vừa và nhỏ về các dự án Chương trình thí điểm GD&ĐTKN quốc và phát triển các công ty khởi nghiệp. khởi nghiệp dưới sự hướng dẫn của các gia tại 9 trường đại học, giúp hình thành Đến khi vào đại học, ngay từ khi ngồi giảng viên từ trường đại học. Nhờ đó, và lan tỏa các chương trình GD&ĐTKN trong giảng đường, sinh viên đã được trong giai đoạn 2005-2014, số công ty 17 Soá 3 naêm 2019
  18. Diễn đàn Khoa học - Công nghệ khởi nghiệp tại Singapore đã tăng mạnh Một là, GD&ĐTKN đòi hỏi cải cách Chính phủ cho GD&ĐTKN, tạo thuận (từ 24.000 lên 50.000). Theo số liệu từ triệt để phương pháp giáo dục và đào lợi trong việc điều phối hoạt động này ở Asia Venture Capital Journal Research tạo mang tính áp đặt. Trong bối cảnh cấp Bộ, phối hợp liên Bộ, trong đó chú cho thấy, những startup công nghệ đã Việt Nam hiện nay, khó khăn lớn nhất ý xây dựng chính sách GD&ĐTKN cho thu hút được khoảng 1,7 tỷ USD tiền đầu để phát triển GD&ĐTKN là thiếu cán bộ, các nhóm yếu thế hơn (nữ giới, sinh viên tư trong năm 2013, đưa Singapore vượt giảng viên thực hiện công tác hỗ trợ học có hoàn cảnh khó khăn, thanh niên dân qua Nhật Bản, Hàn Quốc và Hong Kong sinh, sinh viên khởi nghiệp. Sự thiếu hụt tộc thiểu số…). Ở cấp vùng, địa phương, về lĩnh vực startup. các giáo viên có trình độ về GD&ĐTKN cần thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi đã trở thành nút cổ chai hạn chế sự phát nghiệp đổi mới sáng tạo, coi GD&ĐTKN Thành công trong đào tạo khởi triển của GD&ĐTKN ở nước ta. Bên là yếu tố then chốt trong chiến lược phát nghiệp ở Singapore có được là nhờ sự cạnh đó, còn thiếu các kênh thông tin triển của địa phương, khu vực; trong đó hỗ trợ lớn của Chính phủ trong việc phát cung cấp các tài liệu về đổi mới sáng triển hệ sinh thái khởi nghiệp. Khung cần lưu ý, không chỉ hướng vào những tạo và khởi nghiệp; còn yếu trong việc sinh viên có khuynh hướng khởi nghiệp quốc gia về sáng tạo và khởi nghiệp phối hợp với các doanh nghiệp, mời các (NFIE) là một chương trình toàn quốc trong các viện nghiên cứu, trường đại chuyên gia tổ chức các khóa đào tạo, học thuộc lĩnh vực kinh doanh và kỹ nhằm thúc đẩy sức sáng tạo và tinh các diễn đàn nhằm nâng cao nhận thức, thần khởi nghiệp ở Singapore. Mục tiêu thuật, mà còn yêu cầu bồi dưỡng tinh kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp cho sinh thần đổi mới và năng lực đổi mới cho của NFIE là khuyến khích các trường đại viên, thiếu nguồn vốn cho các chương học và trường đào tạo nghề kỹ thuật đưa mọi sinh viên và thế hệ trẻ. trình, dự án khởi nghiệp của học sinh, nghiên cứu của họ trở thành các sản sinh viên… Năm là, một trong những thước đo phẩm thương mại phục vụ thị trường, thành công của trường đại học là bao đồng thời hỗ trợ doanh nhân thành lập Hai là, Chính phủ đóng vai trò quan nhiêu sinh viên khởi nghiệp và thành các công ty công nghệ. Quỹ nghiên cứu trọng trong thúc đẩy GD&ĐTKN, từ việc danh. Do vậy các trường cần tạo ra môi quốc gia của Singapore (NRF) đã tiến xây dựng kế hoạch và chương trình trường, điều kiện thuận lợi để sinh viên hành một nghiên cứu toàn diện để xác chuyên biệt cấp quốc gia, thiết lập các có kiến thức để khởi nghiệp thông qua chính sách đưa GD&ĐTKN vào trong hệ định những điểm yếu và lỗ hổng trong các chương trình GD&ĐTKN phù hợp thống giáo dục, đến trực tiếp tài trợ cho bối cảnh khởi nghiệp trong nước và đưa với điều kiện đặc thù của từng trường. các chương trình GD&ĐTKN, hay thúc ra các chương trình để giải quyết những Sứ mệnh của trường đại học bên cạnh đẩy quan hệ hợp tác công - tư để thu hút điểm thất bại. Các chương trình như Quỹ đào tạo, cần hình thành hệ sinh thái các doanh nghiệp tham gia, nhằm cung đổi mới đại học (UIF), Quỹ tài trợ các dự khởi nghiệp và chuẩn bị kỹ năng nghề cấp những phương thức GD&ĐTKN án thực nghiệm (POC), Vốn đầu tư mạo hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần coi nghiệp, tư duy khởi nghiệp, sáng tạo hiểm giai đoạn đầu (ESVF) và Chương GD&ĐTKN như một bộ phận hợp thành cho sinh viên. Để khởi nghiệp thành trình ươm mầm công nghệ (TIS) đã giúp của chiến lược chỉnh thể quốc gia, triển công, ngoài vấn đề về vốn, trước hết tạo ra một chu trình xuyên suốt trong khai từ giai đoạn giáo dục tiểu học và sinh viên cần được trang bị đầy đủ tri hoạt động khởi nghiệp qua nhiều năm. trung học, từ đó đưa giáo dục khởi thức, đặc biệt là tri thức tiên tiến. Khởi Quỹ đổi mới đại học cung cấp cho các nghiệp trở thành mục tiêu cơ bản trong nghiệp sáng tạo phải gắn liền với khả trường đại học nguồn tài chính đáng kể việc xây dựng động lực phát triển kinh tế năng nghiên cứu khoa học, những sinh để đẩy mạnh GD&ĐTKN và thúc đẩy và năng lực cạnh tranh lâu dài. viên chọn con đường khởi nghiệp sáng tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng tạo cần được đào tạo, rèn luyện, trau dồi sinh viên. Ba là, về cách tiếp cận chính sách khả năng nghiên cứu ngay từ khi còn cho GD&ĐTKN trong trường đại học, ngồi trên ghế nhà trường. Một số khuyến nghị cần có chiến lược quốc gia, xác định mối Môi trường khởi nghiệp ở Việt Nam liên kết giữa đào tạo khởi nghiệp với các Nhìn chung, để đẩy mạnh hơn tuy còn non trẻ, nhưng được các chuyên mục tiêu chính sách khác phục vụ phát nữa GD&ĐTKN tại Việt Nam, đáp ứng gia đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Cần xác định rõ vị được yêu cầu trong tình hình mới, cần triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, vấn đề đặt trí, tầm quan trọng của GD&ĐTKN trong có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên ra là, chúng ta đang thiếu những giải các chiến lược quốc gia, đặc biệt là các liên quan, đặc biệt là vai trò của Chính pháp căn bản về cải cách giáo dục, chiến lược về phát triển nhân lực, tăng phủ và của các nhà trường, góp phần hướng tới việc khơi dậy tinh thần khởi trưởng kinh tế, đổi mới khoa học và công đưa Việt Nam trở thành “Quốc gia khởi nghiệp và cung cấp những kiến thức cơ nghệ, phát triển công nghiệp quốc gia… nghiệp”, khi đó ai cũng am hiểu kinh bản về khởi nghiệp cho giới trẻ. Trên cơ Bốn là, GD&ĐTKN phải được tiến doanh, luôn sẵn sàng trở thành những sở phân tích kinh nghiệm của một số hành từ cấp vi mô (trong từng trường doanh nhân, biết tận dụng và nắm bắt quốc gia trên thế giới, xin đưa ra một số đại học) đến cấp vĩ mô (cấp quốc gia cơ hội để tạo lập các doanh nghiệp của khuyến nghị cho việc thúc đẩy phát triển và xuyên quốc gia). Các chính sách riêng mình ? GD&ĐTKN như sau: quốc gia cần đảm bảo sự cam kết của 18 Soá 3 naêm 2019

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản