intTypePromotion=1

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Số 9A năm 2019

Chia sẻ: Thien Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:67

0
1
lượt xem
0
download

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Số 9A năm 2019

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của tạp chí: Nhân lực là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự thành công của phát triển trí tuệ nhân tạo; Quản trị thương hiệu: Bài học kinh nghiệm từ các thương hiệu hàng đầu Việt Nam; Một số định hướng góp phần đưa yến sào trở thành sản phẩm quốc gia có uy tín; Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển KT-XH đất nước...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Số 9A năm 2019

  1. Hoäi ñoàng bieân taäp Toång bieân taäp Toøa soaïn GS.TSKH.VS Nguyeãn Vaên Hieäu Ñaëng Ngoïc Baûo 113 Traàn Duy Höng - phöôøng Trung Hoøa - quaän Caàu Giaáy - Haø Noäi GS.TS Buøi Chí Böûu Phoù Toång bieân taäp Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 GS.TSKH Nguyeãn Ñình Ñöùc Nguyeãn Thò Haûi Haèng Email: khcnvn@most.gov.vn Nguyeãn Thò Höông Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn GS.TSKH Vuõ Minh Giang PGS.TS Trieäu Vaên Huøng tröôûng ban Bieân taäp giaáy pheùp xuaát baûn Phaïm Thò Minh Nguyeät GS.TS Phaïm Gia Khaùnh Soá 1153/GP-BTTTT ngaøy 26/7/2011 GS.TS Leâ Höõu Nghóa tröôûng ban trò söï Soá 2528/GP-BTTTT ngaøy 26/12/2012 Löông Ngoïc Quang Höng Soá 592/GP-BTTTT ngaøy 28/12/2016 GS.TS Leâ Quan Nghieâm GS.TS Mai Troïng Nhuaän trình baøy Giaù: 18.000ñ GS.TS Hoà Só Thoaûng Ñinh Thò Luaän In taïi Coâng ty TNHH in vaø DVTM Phuù Thònh Muïc luïc DIỄN ĐÀN KHOA HỌC và CÔNG NGHỆ 4 l Cùng tạo nên một cuộc bứt phá mới trong năng suất lao động. 8 l Công nghệ trí tuệ nhân tạo: Thời cơ lớn của Việt Nam. 12 l GS.TS Nguyễn Thanh Thủy: Nhân lực là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự thành công của phát triển trí tuệ nhân tạo. 16 Nguyễn Đình Đức: Đổi mới giáo dục đại học trong thời đại CMCN 4.0. 19 Hà Nguyệt Thu: Quản trị thương hiệu trong thời đại CMCN 4.0 từ góc độ sở hữu trí tuệ. 23 Phạm Thị Hương Dịu: Quản trị thương hiệu: Bài học kinh nghiệm từ các thương hiệu hàng đầu Việt Nam. 27 Nguyễn Lân Hùng Sơn: Một số định hướng góp phần đưa yến sào trở thành sản phẩm quốc gia có uy tín. KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 30 Lê Hùng Lân: Viện Ứng dụng Công nghệ: Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN phục vụ phát triển KT-XH đất nước. 33 Nguyễn Chỉ Sáng: Đẩy mạnh nội địa hóa các thiết bị của nhà máy nhiệt điện. 36 William H. Nguyễn: Liệu mã QR có thể thay thế số điện thoại của bạn? 38 Ngô Anh Quân, Nguyễn Quốc Dũng: Cứng hóa bùn - Giải pháp hiệu quả để xử lý nền đất yếu. 41 l KH&CN thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tại một số tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc. 43 l Ứng dụng công nghệ mới trong sấy gỗ rừng trồng. 45 Nguyễn Ngọc Túy: Hiệu quả từ các dự án nông thôn miền núi ở Thanh Hóa. KHOA HỌC VÀ ĐỜI SỐNG 49 l Mạch máu xấu - Nguyên nhân của bệnh tật và sự suy giảm tuổi thọ. 52 Bùi Công Hiển: Đôi điều hiểu biết về sinh vật ngoại lai ở Việt Nam. 54 Đỗ Hoàng Tùng: Plasma và ứng dụng trong y học. KH&CN NƯỚC NGOÀI 56 l Nghiên cứu mới về siêu dẫn gần nhiệt độ phòng. 58 l Em bé chỉnh sửa gen: Khi nào thế giới sẵn sàng? 61 l Tổng hợp vật liệu xốp cách nhiệt thân thiện với môi trường.
  2. Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering EDITORial council EDITOR - in - chief office Prof.Dr.Sc. Academician Nguyen Van Hieu Dang Ngoc Bao 113 Tran Duy Hung - Trung Hoa ward - Cau Giay dist - Ha Noi Prof. Dr Bui Chi Buu DEPUTY EDITOR Tel: (84.24) 39436793; Fax: (84.24) 39436794 Nguyen Thi Hai Hang Email: khcnvn@most.gov.vn Prof. Dr.Sc Nguyen Dinh Duc Nguyen Thi Huong Giang Website: khoahocvacongnghevietnam.com.vn Prof. Dr.Sc Vu Minh Giang Assoc.Prof. Dr Trieu Van Hung head of editorial board publication licence Pham Thi Minh Nguyet No. 1153/GP-BTTTT 26th July 2011 Prof. Dr Pham Gia Khanh head of administration No. 2528/GP-BTTTT 26th December 2012 Prof. Dr Le Huu Nghia Luong Ngoc Quang Hung No. 592/GP-BTTTT 28th December 2016 Prof. Dr Le Quan Nghiem Prof. Dr Mai Trong Nhuan Art director Dinh Thi Luan Prof. Dr Ho Si Thoang Contents SCIENCE AND TECHNOLOGY FORUM 4 l Jointly creating a new breakthrough in labor productivity. 8 l Artificial intelligence technology: A great opportunity of Vietnam. 12 l Prof. Dr. Thanh Thuy Nguyen: Human resource is the core factor to ensure the success of artificial intelligence development. 16 Dinh Duc Nguyen: Innovating higher education in the era of Industrial Revolution 4.0. 19 Nguyet Thu Ha: Brand management in the era of Industrial Revolution 4.0 from the perspective of intellectual property. 23 Thi Huong Diu Pham: Brand management: Lessons learned from leading brands in Vietnam. 27 Lan Hung Son Nguyen: Some orientations contribute to making bird’s nest a prestigious national product. SCIENCE - TECHNOLOGY AND INNOVATION 30 Hung Lan Le: National Center for Technological Progress: Promoting scientific and technological research and application activities for socio-economic development. 33 Chi Sang Nguyen: Promoting the localisation of equipment for thermal power plants. 36 William H. Nguyen: Can a QR code replace your phone number? 38 Anh Quan Ngo, Quoc Dung Nguyen: Hardening mud - The effective solution to treating weak soil background. 41 l Science and Technology boosts cattle farming in some Northern midland and mountainous provinces. 43 l Application of new technologies in drying timber from planted forests. 45 Ngoc Tuy Nguyen: The efficiency from mountainous rural projects in Thanh Hoa. SCIENCE AND LIFE 49 l Bad blood vessels - The cause of illness and life expectancy decrease. 52 Cong Hien Bui: Some understanding about exotic creatures in Vietnam. 54 Hoang Tung Do: Plasma and medical applications. THE WORLD SCIENCE AND TECHNOLOGY 56 l New research on superconductivity near room temperature. 58 l Gene-edited babies: When is the world ready? 61 l Synthesis of eco-friendly foam materials.
  3. diễn đàn khoa học và công nghệ Diễn đàn Khoa học và Công nghệ cùng TẠO NÊN MỘT CUỘC BỨT PHÁ MỚI TRONG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt, cải thiện và thúc đẩy tăng năng suất lao động (NSLĐ) là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của từng doanh nghiệp; là vấn đề sống còn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trong thời gian qua, NSLĐ của Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể, nhưng về cơ bản vẫn chưa cao so với các nước trong khu vực. Tại Hội nghị “Cải thiện NSLĐ quốc gia” do Văn phòng Chính phủ tổ chức ngày 7/8/2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nêu ra những nguyên nhân khiến NSLĐ chưa cao là do các điểm nghẽn về thể chế kinh tế; trình độ, kỹ năng nguồn nhân lực còn thấp, đặc biệt là thiếu nhân lực có trình độ, kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Tại Hội nghị, Thủ tướng đã phát động phong trào NSLĐ quốc gia và mong muốn cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, nhà đầu tư và các tầng lớp nhân dân hãy nỗ lực, cố gắng hơn nữa, chủ động tham gia, tích cực thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp đểnền ra của tăng kinhNSLĐ, tế là tổngkề sảnvai phẩmsát trong nước (GDP). hoạt động sản xuất tạo ra GDP phản ánh thời gian, công cánh, chung sức đồng lòng, cùng nhau tạo nên một cuộc bứt phá mới trong NSLĐ lượng lao đểthường động và đưa đất được nước tính bằng lao động đan vượt lên, phát triển nhanh và bền vững. động, hay lực lượng lao động được điều chỉnh theo chất NSLĐ (P) ở cấp quốc gia, theo định nghĩa chỉ là người/lao động tham gia tạo ra nó. Công thức tính chung Khái niệm, phương pháp tính trong những yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh của Năng suất là thước đo mức doanh nghiệp và của nền kinh tế. độ hiệu quả do con người và các TrongTrong đó, đó, GDP là tổng sản phẩm trong nước, còn GDP là tổng sản gia tạo ra giá trị này. Công thức trên cho thấy, NSLĐ tỷ đơn vị sản xuất (doanh nghiệp) Theo Tổ chức Hợp tác và phát phẩm trong nước, còn L là số lao lệ nghịch với số lượng lao động đang làm việc trong n chuyển đổi nguồn lực sản xuất triển kinh tế (OECD), NSLĐ được động tham gia tạo ra giá trị này. lớn sẽ cho NSLĐ cao. Trên một góc độ khác, NSLĐ ch (ví dụ như lao động và vốn) để tính bằng số sản phẩm hàng hóa Công thức trên từ NSLĐ của cáccho thấy, NSLĐ ngành/khu vực kinhtỷtế. Do vậy, ngàn tạo ra sản phẩm là hàng hóa và và dịch vụ cuối cùng được tạo ra lệ thuận động lớn, nhưng NSLĐ thấp sẽnghịch với GDP và tỷ lệ kéo NSLĐ chung đi xuố dịch vụ cho xã hội. Trong số các cho một đơn vị lao động tham gia với NSLĐ số lượng cao, tỷlao trọngđộng đang lao động lớn sẽlàm giúp NSLĐ chung tă phương pháp đo lường năng suất việcBức trong vào hoạt động sản xuất. Hàng hoá tranh nền kinhvề tế. tổng quan NSLĐL Việt nhỏ, Nam như năng suất các yếu tố tổng và dịch vụ cuối cùng được tạo ra GDP lớn sẽ cho NSLĐ cao. Trên hợp hoặc năng suất vốn, NSLĐ là Tại Hội nghị “Cải thiện NSLĐ quốc gia”, Tổn của nền kinh tế là tổng sản phẩm một góc độ khác, NSLĐ chung Thống kê Nguyễn Bích Lâm đã báo cáo khái quát về n chỉ tiêu đặc biệt quan trọng trong còncủa được tổng hợp từ NSLĐ của trong nước (GDP). Lao động tham NSLĐ Việt Nam trong thời gian qua. Theo đó, b phân tích kinh tế và thống kê của cácNSLĐngành/khu vựccókinh gia vào hoạt động sản xuất tạo ra của Việt Nam nhữngtế. Do sau: đặc điểm một quốc gia. vậy, ngành kinh tế có tỷ trọng lao GDP phản ánh thời gian, công Thu hẹp khoảng cách so với các nước trong khu NSLĐ phản ánh năng lực tạo sức và kỹ năng của lực lượng lao động lớn, nhưng NSLĐ thấp sẽ NSLĐ của Việt Nam trong thời gian qua tiếp tục ra của cải, hiệu suất của lao động động và thường được tính bằng kéo NSLĐ chung đi xuống; ngược hướng tăng đều qua các năm, là quốc gia có tốc độ tăn cụ thể trong quá trình sản xuất, lại, ngành có NSLĐ cao, tỷ trọng lao động đang làm việc, giờ công vực ASEAN. Với mức tăng trưởng kinh tế năm 2018 đo bằng số sản phẩm hay lượng lao động lớn sẽ giúp NSLĐ chung lao động, hay lực lượng lao động nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 10 giá trị tạo ra trong một đơn vị thời tăngtăng mạnh. được điều chỉnh theo chất lượng. 6% so với năm 2017. Bình quân giai đoạn 2 gian, hay lượng thời gian lao động NSLĐ (P) ở cấp quốc gia, theo Bức5,77%/năm, tranh tổngcao hơnvềmức quan tăng NSLĐ bình Việt quân 4,35%/năm củ Nam hao phí để sản xuất ra một đơn Tính chung giai đoạn 2011-2018, NSLĐ tăng bình quân định nghĩa chỉ là phép chia GDP Tại Hội nghị vị sản phẩm. NSLĐ thể hiện tính NSLĐ ngày“Cải càng thiện thể hiệnNSLĐ rõ vai trò quan trọng tr chất và trình độ tiến bộ của một cho số người/lao động tham gia quốc Nếu như giai đoạn 2011-2015, Tổng gia”, Tổng cục trưởng tăng trưởng GDP bình tổ chức, đơn vị sản xuất, hay của tạo ra nó. Công thức tính chung cụctrong Thống kêlượng đó lực Nguyễn lao độngBích tăng Lâm 1,5%/năm, NSLĐ tăng một phương thức sản xuất; là một là: đã năm báo2016-2018, cáo kháimặc quát vềlượng dù lực nhữnglao động chỉ tăng 0,8 tăng bình quân 5,77%/năm (cao hơn giai đoạn trước 1, GDP tăng trưởng bình quân đạt 6,7%/năm. 4 Tính theo sức mua tương đương năm 2011 (PPP Soá 9 naêm 2019 Nam giai đoạn 2011-2018 tăng bình quân 4,8%/năm, quân của Singapore (1,4%/năm), Malaysia (2%/năm),
  4. Diễn đàn khoa học và công nghệ kết quả và vấn đề của NSLĐ Việt Nam trong thời gian qua. Theo đó, bức tranh tổng quan về NSLĐ của Việt Nam có những đặc điểm sau: Thu hẹp khoảng cách so với các nước trong khu vực NSLĐ của Việt Nam trong thời gian qua tiếp tục cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, là quốc gia có  tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Với mức tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt 7,08%, NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102,2 triệu đồng/lao động, tăng 6% so với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì và phát biểu tại Hội nghị (Ảnh: VGP). năm 2017. Bình quân giai đoạn ASEAN có trình độ phát triển cao lao động, chỉ bằng 38,9% NSLĐ 2016-2018, NSLĐ tăng 5,77%/ hơn. Nếu năm 2011, NSLĐ của của toàn nền kinh tế, bằng 30,4% năm, cao hơn mức tăng bình Singapore, Malaysia, Thái Lan, NSLĐ của khu vực công nghiệp quân 4,35%/năm của giai đoạn Indonesia lần lượt gấp NSLĐ của và xây dựng, bằng 33,7% của khu 2011-2015. Tính chung giai đoạn vực dịch vụ). Mặt khác, tỷ trọng 2011-2018, NSLĐ tăng bình quân Việt Nam là 17,6 lần, 6,3 lần, 2,9 lần và 2,4 lần thì đến năm 2018 lao động của ngành này trong 4,88%/năm. khoảng cách này giảm xuống nền kinh tế quốc dân lại cao nhất. NSLĐ ngày càng thể hiện tương ứng còn 13,7 lần, 5,3 lần, Đây là yếu tố kéo NSLĐ quốc gia rõ vai trò quan trọng trong tăng 2,7 lần và 2,2 lần.  thấp xuống. Tuy nhiên, NSLĐ trưởng kinh tế. Nếu như giai đoạn của ngành nông, lâm nghiệp và 2011-2015, tăng trưởng GDP Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản lại có tốc độ tăng bình bình quân đạt 5,91%/năm, trong thủy sản tuy có tốc độ tăng bình quân cao nhất, với 5,2%/năm giai đó lực lượng lao động tăng 1,5%/ quân cao nhất nhưng NSLĐ lại đoạn 2011-2018, cao hơn tốc độ năm, NSLĐ tăng 4,35%/năm thì có mức thấp nhất tăng bình quân của khu vực công trong 3 năm 2016-2018, mặc Báo cáo của Tổng cục Thống nghiệp và xây dựng (3%/năm) và dù lực lượng lao động chỉ tăng kê cho thấy, ngành khai khoáng khu vực dịch vụ (3,1%/năm). 0,88%/năm, nhưng NSLĐ tăng có NSLĐ cao nhất do đây là bình quân 5,77%/năm (cao hơn ngành có tính đặc thù, giá trị NSLĐ của  doanh nghiệp giai đoạn trước 1,42 điểm phần sản phẩm khai khoáng bao gồm ngoài nhà nước  đạt mức thấp trăm) nên GDP tăng trưởng bình cả giá trị tài nguyên thiên nhiên. nhất quân đạt 6,7%/năm. Tiếp đến là ngành sản xuất, phân NSLĐ chung của toàn bộ khu Tính theo sức mua tương đương phối điện, ga, nước nóng, khí đốt; vực doanh nghiệp năm 2017 theo năm 2011 (PPP 2011), NSLĐ hoạt động kinh doanh bất động giá hiện hành đạt 298,7 triệu của Việt Nam giai đoạn 2011- sản; tài chính, ngân hàng, bảo đồng/lao động (gấp 3,2 lần NSLĐ 2018 tăng bình quân 4,8%/năm, hiểm… Các ngành xây dựng; công chung cả nước). Trong đó, NSLĐ cao hơn mức tăng bình quân của nghiệp chế biến, chế tạo; vận tải, của doanh nghiệp nhà nước đạt Singapore (1,4%/năm), Malaysia kho bãi; bán buôn, bán lẻ; dịch 678,1 triệu đồng/lao động (gấp (2%/năm), Thái Lan (3,2%/năm), vụ lưu trú, ăn uống nhìn chung 7,3 lần NSLĐ chung cả nước) Indonesia (3,6%/năm), Philippin NSLĐ thấp. Nông, lâm nghiệp nhờ đẩy mạnh sắp xếp cổ phần (4,4%/năm). Nhờ đó, Việt Nam và thủy sản là ngành có NSLĐ hóa doanh nghiệp nhà nước trong đã thu hẹp được khoảng cách thấp nhất trong các ngành kinh thời gian qua. Tuy nhiên, NSLĐ tương đối về NSLĐ với các nước tế (năm 2018 đạt 39,8 triệu đồng/ của doanh nghiệp nhà nước đạt 5 Soá 9 naêm 2019
  5. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ mức cao chủ yếu vẫn dựa vào ưu Các yếu tố ảnh hưởng đến khu vực nông, lâm nghiệp và thủy thế trong việc phân bổ nguồn lực, tăng NSLĐ ở Việt Nam sản hiện nay còn lớn, đa số lao đặc biệt là nguồn lực tài nguyên động trong khu vực này là lao Báo cáo của Tổng cục Thống thiên nhiên; doanh nghiệp ngoài động giản đơn, công việc có tính kê nhận định, có nhiều nguyên nhà nước đạt 228,4 triệu đồng/lao thời vụ, không ổn định nên giá nhân khiến cho NSLĐ của  Việt động (gấp 2,5 lần NSLĐ chung trị gia tăng thấp, dẫn đến NSLĐ Nam thấp hơn các nước trong khu của cả nước); doanh nghiệp có thấp. vực và trên thế giới, trong đó tập vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trung vào một số nguyên nhân Máy móc, thiết bị và quy trình (FDI) đạt 330,8 triệu đồng/lao chủ yếu sau: công nghệ còn lạc hậu: phần lớn động (gấp 3,5 lần NSLĐ chung doanh nghiệp nước ta, đặc biệt là cả nước).  Quy mô nền kinh tế Việt Nam doanh nghiệp dân doanh, trình độ còn nhỏ: với xuất phát điểm thấp, So với các loại hình doanh khoa học, công nghệ và đổi mới quy mô kinh tế nhỏ, việc thu hẹp nghiệp khác,  NSLĐ của  doanh sáng tạo còn thấp, nhiều doanh khoảng cách tương đối về thu nghiệp ngoài nhà nước  đạt mức nghiệp đang sử dụng công nghệ nhập bình quân và NSLĐ của Việt thấp nhất. Mặt khác, khoảng cách cũ, lạc hậu (tụt hậu 2-3 thế hệ Nam với các nước trong thời gian về NSLĐ của doanh nghiệp nhà so với mức trung bình của thế qua là một thành tựu đáng ghi nước và doanh nghiệp FDI với giới). Theo Báo cáo năng lực cạnh nhận nhưng chưa đủ để thu hẹp doanh nghiệp ngoài nhà nước tranh toàn cầu 2018, Việt Nam khoảng cách tuyệt đối về giá trị đang ngày càng nới rộng. Chiếm được xếp hạng chung là 77/140 NSLĐ so với các nước trong khu tới 96,7% tổng số doanh nghiệp quốc gia, trong khi các chỉ số cấu vực. của cả nước nên NSLĐ của phần liên quan đến đổi mới sáng doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Quá trình dịch chuyển cơ cấu tạo lại thấp hơn nhiều (mức độ mức thấp đã ảnh hưởng nhiều lao động theo hướng tích cực, phức tạp của quy trình sản xuất đến NSLĐ chung của toàn bộ khu nhưng còn chậm, tăng năng suất xếp hạng 90, tăng trưởng của các vực doanh nghiệp. Nguyên nhân nội ngành chưa đóng vai trò chủ doanh nghiệp có đổi mới sáng chủ yếu dẫn đến tình trạng này là đạo trong việc tăng năng suất của tạo xếp hạng 90, kỹ năng số hóa do doanh nghiệp khu vực ngoài nền kinh tế: đối với các nước đang của dân số xếp hạng 98, kỹ năng nhà nước có quy mô nhỏ nên khó phát triển như Việt Nam, yếu tố của sinh viên tốt nghiệp xếp hạng tiếp cận và ứng dụng công nghệ chuyển dịch cơ cấu lao động đóng 128, chất lượng đào tạo nghề xếp mới vào sản xuất, tiếp cận tín vai trò quan trọng vào tăng NSLĐ hạng 115, ứng dụng các sáng chế dụng chính thức hạn chế, thiếu của toàn bộ nền kinh tế. Đóng góp xếp hạng 89). Điều này cho thấy, lao động có kỹ năng, khó tham của chuyển dịch cơ cấu lao động Việt Nam cần tiếp tục kiến tạo môi gia và học hỏi từ chuỗi giá trị do vào tăng NSLĐ ở nước ta ở mức trường thuận lợi cùng với các thể các doanh nghiệp FDI dẫn dắt và cao, nhưng có xu hướng giảm (tỷ chế, chính sách mới cho khu vực không khai thác được hiệu quả lệ này trong giai đoạn 2011-2017 doanh nghiệp để thúc đẩy quá kinh tế nhờ lợi thế về quy mô… đạt 39%, thấp hơn mức 54% của trình nâng cao công nghệ và sáng giai đoạn 2000-2010). Điều này tạo. Đây được coi là một nội dung Các doanh nghiệp FDI trong phù hợp với quy luật phát triển của quan trọng của sự chuyển đổi mô thời gian qua luôn có tác động các nền kinh tế trong giai đoạn hình tăng trưởng ở Việt Nam. tích cực đến cải thiện NSLĐ chuyển đổi, tăng NSLĐ sẽ ngày thông qua việc các doanh nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực càng phụ thuộc vào tăng NSLĐ này mang công nghệ sản xuất hạn chế: điều này thể hiện rõ ở nội ngành. Nhưng đến nay chưa và quản lý tiên tiến vào đầu tư tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn có thay đổi đáng kể trong bản trong nước. Tuy nhiên, theo Báo thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, chất tăng trưởng của ngành, chủ cáo năm 2017 của Ngân hàng thiếu hụt lao động có tay nghề yếu vẫn nhờ vào mở rộng quy mô thế giới, tỷ lệ các doanh nghiệp cao, khoảng cách giữa giáo dục những ngành sử dụng nhiều lao FDI sử dụng nguyên vật liệu trong nghề nghiệp và nhu cầu của thị động, hàm lượng công nghệ thấp, nước làm đầu vào ở Việt Nam đạt trường lao động còn lớn. Tỷ lệ lao làm cho mục tiêu tăng nhanh giá 67,6%, thấp hơn nhiều so với một động 15 tuổi trở lên đang làm việc trị gia tăng của sản phẩm chưa số nước như Trung Quốc (97,2%), trong nền kinh tế đã qua đào tạo đạt được. Bên cạnh đó, chuyển Malaysia (99,9%), hay Thái Lan tăng dần qua các năm nhưng đến dịch cơ cấu lao động tuy diễn ra (96,4%). năm 2011 tỷ lệ lao động có bằng khá nhanh nhưng lao động trong 6 Soá 9 naêm 2019
  6. Diễn đàn khoa học và công nghệ cấp, chứng chỉ mới đạt 15,4%, yếu kém. Thực tế quy mô doanh thúc đẩy những người tài năng. năm 2018 đạt 21,9%. Như vậy, nghiệp Việt Nam quá nhỏ bé, số Năm là, NSLĐ có tương quan cả nước hiện có tới 42,4 triệu lao doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu chặt chẽ với trình độ giáo dục, động (chiếm 78,1% tổng số lao nhỏ chiếm khoảng 98% tổng số năng lực, kỹ năng và chuyên môn động) chưa được đào tạo để đạt doanh nghiệp của cả nước. của người lao động. Vì vậy, giáo trình độ chuyên môn kỹ thuật nào Các nhiệm vụ trọng tâm dục cho người dân, mở rộng độ đó. Ngoài ra, cơ cấu lao động theo bao phủ, phổ cập và nâng cao trình độ đào tạo của nước ta còn Tại Hội nghị, Thủ tướng chất lượng hệ thống giáo dục, đào bất hợp lý, năm 2015 tỷ lệ tương Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, tạo nguồn nhân lực, trong đó có quan giữa trình độ đại học trở lên NSLĐ của Việt Nam chưa cao định hướng ưu tiên đào tạo các tài - cao đẳng - trung cấp - sơ cấp do xuất phát điểm thấp, nhưng năng cá biệt và các kỹ năng mới tương ứng là: 1-0,35-0,63-0,38, tiềm lực trong mỗi người dân là nổi sẽ luôn là quốc sách hàng đầu điều này cảnh báo thực trạng rất lớn. Điều này thể hiện mức đối với Việt Nam trong giai đoạn thiếu hụt kỹ sư thực hành và công tăng NSLĐ của Việt Nam cao hơn phát triển mới. nhân kỹ thuật bậc cao. Bên cạnh nhiều so với các nước trong khu đó, tình trạng thất nghiệp ở nhóm vực ASEAN cũng như nhiều nước Sáu là, lao động phải được lao động trẻ hoặc không phù hợp trên thế giới. Thủ tướng đã nêu 6 trang bị vốn và công nghệ mới có giữa công việc và trình độ đào tạo nhóm nhiệm vụ trọng tâm để cải thể phát huy được năng lực, do đó, còn khá phổ biến.  thiện NSLĐ ở Việt Nam: đầu tư vào ứng dụng khoa học và công nghệ cũng là một chính sách Trình độ tổ chức, quản lý và Một là, thúc đẩy cải cách mạnh đặc biệt ưu tiên của Chính phủ. hiệu quả sử dụng các nguồn lực mẽ hơn nữa về thể chế để mọi Hai chiến lược đào tạo kỹ năng còn bất cập: năng lực quản lý, nguồn lực, trong đó có nguồn chuyên môn cho lao động và đầu quản trị doanh nghiệp còn hạn nhân lực được huy động, phân tư cho khoa học và công nghệ cần chế,  còn một số “điểm nghẽn” bổ và sử dụng một cách hiệu quả phải tương thích với nhau để bảo về cải cách thể chế và thủ tục nhất. đảm hiệu quả tốt nhất. hành chính.  Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp Hai là, tập trung cải thiện tính Thủ tướng cũng đã phát động (TFP) cho tăng trưởng GDP của hiệu quả của thị trường lao động phong trào “Năng suất lao động Việt Nam thời gian qua còn ở mức cả ở phía cung (người lao động) quốc gia” và mong muốn cộng thấp, giai đoạn 2001-2010 chỉ đạt lẫn phía cầu (doanh nghiệp), bảo đồng doanh nghiệp, doanh nhân, 4,3%. Trong giai đoạn 2011-2018, đảm mọi người dân và doanh nhà đầu tư và các tầng lớp nhân đóng góp của TFP được nâng lên nghiệp có thể tham gia thị trường dân hãy nỗ lực, cố gắng hơn nhưng vẫn ở mức thấp (37,7%) so lao động với một chi phí giao dịch nữa, chủ động tham gia, tích với đóng góp của vốn và lao động thấp nhất hay lao động tốt nhất cực thực hiện đồng bộ, quyết liệt là 62,3%. Tỷ lệ đóng góp của theo nguyện vọng, qua đó phát các nhiệm vụ, giải pháp để tăng TFP trong tăng trưởng GDP cho huy được tối đa năng lực và yêu NSLĐ, kề vai sát cánh, chung sức thấy trình độ phát triển khoa học cầu của mình. đồng lòng, cùng nhau tạo nên một và công nghệ, ý thức tổ chức và Ba là, thiết lập cơ chế khuyến cuộc bứt phá mới trong NSLĐ để quản lý trong sản xuất kinh doanh khích đủ mạnh để thu hút những đưa đất nước vượt lên, phát triển của lao động Việt Nam còn chưa người tài năng, các chuyên gia nhanh và bền vững ? đáp ứng được yêu cầu của nền giỏi, các nhà quản lý xuất sắc đến sản xuất hiện đại. với Việt Nam, đặc biệt là người Lê Văn Dụy Khu vực doanh nghiệp chưa Việt Nam nói chung, các tài năng thực sự  là động lực quyết định Việt Nam đang ở nước ngoài nói tăng trưởng NSLĐ của nền kinh riêng. tế: phần lớn các doanh nghiệp Bốn là, xây dựng một cơ chế Việt Nam là doanh nghiệp vừa và cán bộ mở trong các cơ quan nhà nhỏ, tiềm lực về vốn hạn hẹp, khả nước để thu hút người giỏi vào bộ năng đầu tư cho khoa học, công máy nhà nước, đồng thời tạo dựng nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn môi trường làm việc cùng với cơ chế, kinh nghiệm quản lý sản xuất chế cạnh tranh để chọn lọc và 7 Soá 9 naêm 2019
  7. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ CÔNG NGHỆ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: Thời cơ lớn của việt nam Trong 3 ngày, từ 14 đến 16/8/2019, tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã diễn ra Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2019 (AI4VN 2019). Sự kiện do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cùng Báo điện tử VnExpress tổ chức. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, các vị khách quốc tế cùng lãnh đạo các bộ/ngành, chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước đã tham dự sự kiện. Với chủ đề “Đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo”, sự kiện AI4VN 2019 mở màn bằng chuỗi bài giảng đại chúng với các chủ đề “Blockchain hóa - một làn sóng mới trong kỷ nguyên dữ liệu lớn”, “Liệu máy có thể học suốt đời hay không? Tổng quan về cách tiếp cận Bayes”, “Các bài toán tối ưu trong lĩnh vực logistics: phương pháp giải và công cụ phần mềm”, “AI trong an ninh mạng”. Tiếp đó là các tham luận của các nhà công nghệ và khởi nghiệp hàng đầu thế giới và Việt Nam, các hội thảo chuyên đề, triển lãm, biểu diễn công nghệ, cuộc thi hackathon... thu hút hơn 2.000 lượt người tham dự. Sự kiện đề cao tính kết nối trong cộng đồng AI, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng AI trong các ngành kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời khơi gợi tình yêu khoa học, đặc biệt là AI trong giới trẻ.  AI ở Việt Nam nghệ Gartner (Mỹ), ngành công nhưng nếu biết cách chọn điểm nghiệp AI toàn cầu năm 2018 có đột phá và có chiến lược đặc biệt AI được xem là một trong sự tăng trưởng đột phá (cao hơn cùng sự quyết tâm cao của Chính những công nghệ cốt lõi của phủ thì Việt Nam vẫn có cơ hội 70%) so với năm 2017, đạt giá trị cuộc Cách mạng công nghiệp bứt phá, đi lên cùng các nước tiên gần 1,2 nghìn tỷ USD. AI có khả 4.0. Nhiều quốc gia bắt đầu ghi tiến. Phát biểu tại phiên trọng thể năng trở thành công nghệ đột phá nhận xu thế phát triển tất yếu và của AI4VN 2019, Bộ trưởng Bộ nhất trong 10 năm tới nhờ những tác động chuyển đổi to lớn của KH&CN Chu Ngọc Anh cho biết: tiến bộ về công suất tính toán; sự AI trong mọi mặt đời sống xã hội, “Trong bối cảnh quốc tế đang có nhảy vọt về khối lượng, tốc độ và thay đổi cán cân quyền lực kinh tế, nhiều thay đổi bởi sự phát triển sự đa dạng của dữ liệu. quân sự, chính trị. Việt Nam được của một số ngành công nghệ nhận định cũng không nằm ngoài Các chuyên gia nhận định, mới, nắm bắt xu hướng này, Bộ xu hướng này. Theo nghiên cứu mặc dù đang ở giai đoạn “sơ khai” KH&CN đã có những tham mưu mới nhất của hãng tư vấn công so với các nước tiên tiến về AI, đi trước và kịp thời cho Chính 8 Soá 9 naêm 2019
  8. Diễn đàn khoa học và công nghệ Việt - Anh; thực hành lái xe an toàn; bản đồ nhiệt về giá bất động sản... Trong năm nay, Trường đã lần đầu tiên mở ngành AI, thu hút đông thí sinh đăng ký, điểm tuyển sinh đầu vào cao nhất cả nước. Trong khi đó, ông Lê Hồng Việt - Giám đốc công nghệ Tập đoàn FPT thông tin, FPT đang đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng AI, tập trung vào 3 mảng chính: nền tảng ứng dụng cho các doanh nghiệp; tích hợp sản phẩm và xây dựng nguồn nhân lực. Các ứng dụng AI của FPT đang triển khai gồm hệ thống giao thông thông minh tại TP Hồ Chí Minh, xe tự hành cấp độ 3 tự di chuyển Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh phát biểu tại sự kiện. tránh vật cản (trong tháng 10 này sẽ trình diễn một phần), dịch tự phủ, Thủ tướng Chính phủ một triển công nghệ AI tại Việt Nam”. động (được người dùng đánh giá số chính sách để thúc đẩy phát là tốt hơn Google trong mảng từ Với chủ đề “Đẩy mạnh phát triển công nghệ, trong đó có AI. về CNTT). triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo”, Ngay từ năm 2014 là quyết định chương trình AI4VN 2019 diễn ra Ông Nguyễn Quang Vinh - của Thủ tướng về Danh mục công theo mô hình mở, là nơi kết nối nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát đại diện Viettel cho biết, hiện tại và tụ hội của các thành tố trong Viettel là đơn vị đầu tiên triển khai triển, trong đó có công nghệ AI; cộng đồng AI, bao gồm nhiều tiếp theo là Chỉ thị của Thủ tướng ứng dụng AI trong chẩn đoán nội hoạt động thuyết trình, gặp gỡ, soi qua hình ảnh. Giải pháp này Chính phủ năm 2017 đã xác định workshop, triển lãm, biểu diễn công nghệ AI là một trong những có khả năng tự động xác định, công nghệ, cuộc thi hackathon... khoanh vùng và đánh giá mức độ công nghệ đột phá, mũi nhọn cần Các phần thuyết trình không chỉ được triển khai, nghiên cứu; Đề tổn thương của hệ tiêu hóa (căn mang đến cho công chúng thông bệnh phổ biến tại Việt Nam), giúp án Phát triển hệ tri thức Việt số tin về xu hướng phát triển AI trong hóa hướng tới mục tiêu xây dựng chẩn đoán nhanh gấp 5 lần so các ngành công nghiệp, bài học với phương pháp truyền thống, một hệ tri thức tổng hợp được kinh nghiệm của các quốc gia xây dựng và phát triển dựa trên độ chính xác lên đến 90%. Ứng trong phát triển hạ tầng kỹ thuật dụng thứ hai là AI trong quản lý các ứng dụng của công nghệ AI; và hàm ý chính sách cho Việt gần đây, Bộ KH&CN cũng đã phê rừng, nông nghiệp (cũng là giải Nam; mà còn cho thấy một bức pháp tiên phong tại Việt Nam) có duyệt Chương trình KH&CN trọng tranh toàn cảnh về tình hình phát điểm “Hỗ trợ nghiên cứu, phát thể thống kê diện tích rừng, tình triển AI ở Việt Nam. Theo GS.TS triển và ứng dụng công nghệ của trạng rừng hoàn toàn tự động với Tạ Hải Tùng - Viện trưởng Viện công nghiệp 4.0”, với trọng tâm độ chính xác 80%, giúp giải bài Công nghệ thông tin (CNTT), là tập trung hỗ trợ, nghiên cứu, toán xây dựng cơ sở dữ liệu về Trường Đại học Bách khoa Hà phát triển và ứng dụng công nghệ rừng (bản đồ quản lý rừng đang Nội, trong những năm gần đây, AI; ban hành "Kế hoạch triển được triển khai). các chuyên gia của Trường đã khai Nghiên cứu và phát triển AI nghiên cứu, phát triển nhiều ứng Đặc biệt, cách đây 3 năm, các đến năm 2025" để liên kết các dụng dựa trên nền tảng AI như: chuyên gia trong lĩnh vực công nhà nghiên cứu, nhà đầu tư, các giám sát trường học (bao gồm nghệ của Việt Nam từ nước ngoài doanh nghiệp, nhà quản lý trong cả phân tuyến việc đưa, đón học khi trở về Việt Nam đã tự đặt ra việc thúc đẩy nghiên cứu và phát sinh); chống đạo văn Việt - Việt, yêu cầu phải góp phần phát triển 9 Soá 9 naêm 2019
  9. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu tại sự kiện. AI nước nhà. Đặc biệt là giúp cho kinh nghiệm quý báu cho Việt Đông Nam Á, ngang Singapore. cộng đồng AI trẻ trong nước đi Nam. Theo ông Ulli Waltinger Tuy nhiên, ông cho rằng Việt Nam nhanh hơn, tiếp xúc nhiều hơn với (Giám đốc công nghệ Tập đoàn cần xây dựng chiến lược phát nền AI thế giới. Trên quan điểm Siemens, Đức): khi phát triển và triển AI dài hạn hơn. đó, tổ chức phi lợi nhuận VietAI ứng dụng công nghệ AI, Việt Nam Theo quan điểm của ông đã ra đời, quy tụ nhiều chuyên cần quan tâm một số nguyên tắc PeterPeter Vesterbacka (đồng gia trẻ về AI trong và ngoài nước. nhất định là: định hình và phát sáng lập Fun Academy và Rovio Ông Nguyễn Ngọc Tú (Giám đốc triển bền vững; thúc đẩy tính bao của Phần Lan, cũng là cha đẻ của điều hành VietAI) cho biết: VietAI trùm, chia sẻ lợi ích; đảm bảo trò chơi nổi tiếng Angry Birds): tập trung sự quan tâm ở 4 lĩnh vực quyền riêng tư, quản trị dữ liệu; “Nhiều người lo ngại AI phát triển lớn là giáo dục, y tế, giao thông nâng cao tính trách nhiệm, giải sẽ gây ra tình trạng thất nghiệp. và nông nghiệp. Để làm được trình trong quá trình ứng dụng AI. Nhưng sẽ có nhiều công việc mới điều này, VietAI đã tổ chức nhiều Thông qua bài thuyết trình nảy sinh, điều quan trọng là cần buổi hội thảo, nói chuyện với “Kinh nghiệm phát triển AI của tăng cường nhận thức cho giới công chúng và các lớp học về AI Hàn Quốc”, TS Kyoo Sung Noh trẻ”, và theo ông: “Dù đất nước miễn phí... ở TP Hồ Chí Minh và (Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc lớn hay nhỏ, con người đều là Hà Nội. Có thể nói, mặc dù đang Trung tâm Năng suất Hàn Quốc) tài nguyên, cần được phát triển. trong giai đoạn “sơ khai”, nhưng công nghệ AI ở Việt Nam đang bày tỏ tin tưởng, giống như Hàn Con người ngày càng thích thú ngày càng được quan tâm, đầu tư Quốc, AI sẽ là tương lai của Việt với những khái niệm mới, chúng và có những bước đi đầy hy vọng. Nam.  Tại Hàn Quốc, AI đã làm ta cần chuẩn bị để theo kịp sự thay đổi cơ cấu toàn xã hội, việc phát triển. Con người không cạnh Những vấn đề cần quan tâm làm, ngành nghề và cả con người. tranh với máy móc mà cần kết Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng hợp với máy móc. Điều chúng ta Trong thời gian tới, để có thể các chính sách phát triển AI, trong cần làm là chuẩn bị kỹ năng để kịp lên “con tàu 4.0”, Việt Nam đó tập trung cho phát triển nguồn tiếp nhận những công việc sẽ có cần tận dụng được sức mạnh của nhân lực chất lượng, đủ sức phục trong tương lai”. công nghệ AI. Muốn vậy phải có sự quyết tâm và những bước vụ phát triển công nghiệp trong Sau khi lắng nghe ý kiến của đi cụ thể. Các chuyên gia công nước. TS Kyoo Sung Noh đánh các đại biểu, Phó Thủ tướng Vũ nghệ hàng đầu thế giới tham dự giá mức độ ứng dụng AI của Việt Đức Đam đã phát biểu nhấn AI4VN 2019 đã chia sẻ nhiều Nam là khá cao trong khu vực mạnh vai trò quan trọng của AI 10 Soá 9 naêm 2019
  10. Diễn đàn khoa học và công nghệ Lễ ra mắt Liên hiệp hợp tác và phát triển AI Việt Nam. đối với Việt Nam và khẳng định: toàn, ví dụ như những sản phẩm Nam sánh vai với các cường quốc Hiện Việt Nam không có sự lựa sử dụng AI phục vụ đưa đón học về AI trong khu vực và trên thế chọn nào khác là đẩy mạnh phát sinh, điều khiển giao thông... Thứ giới. Bày tỏ sự vui mừng trước sự triển AI do xuất phát điểm đang hai, đáp ứng mong muốn của ra mắt của Liên hiệp hợp tác và ở mức thấp và AI là thời cơ lớn mỗi người dân là luôn được khoẻ phát triển AI Việt Nam, Phó Thủ mà Việt Nam phải tận dụng. Theo mạnh, từ những yêu cầu đơn giản tướng Vũ Đức Đam khẳng định: Phó Thủ tướng: “Việt Nam là một như ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, “Sự kết nối giữa những người làm phần của thế giới, đặc biệt trong biết được sức khoẻ của bản thân… chuyên môn với nhau, với các cơ lĩnh vực CNTT và AI. Nhiều người cho đến việc phát hiện, chữa trị quan nhà nước, cơ sở nghiên cứu, Việt Nam đã và đang tham gia những căn bệnh hiểm nghèo. Thứ thị trường... rất quan trọng, và vào quá trình phát triển CNTT, AI ba là phải đáp ứng được nhu cầu điều này đặc biệt có ý nghĩa trong trên thế giới. Cộng đồng AI ở Việt học tập của mọi người, hiệu quả CNTT, AI. Chúng ta kết nối để có Nam có nhiều hoạt động sôi nổi và thuận tiện ở mọi nơi, mọi lúc. trách nhiệm cùng nhau xây dựng trong những năm gần đây. Quy nền tảng dữ liệu mở, chia sẻ để Với sự chứng kiến của Phó mô dân số của Việt Nam lớn. Vì tất cả cùng phát triển, không chỉ Thủ tướng và các đại biểu tham vậy, CNTT, AI trở thành công cụ cho Việt Nam mà đóng góp cho dự AI4VN 2019, Liên hiệp hợp tác có thể mang lại thời cơ lớn, nhưng cộng đồng chung trên thế giới. và phát triển AI Việt Nam đã ra nếu không tận dụng thì sẽ qua đi”. Chia sẻ thứ tốt mà mình có thì tất mắt, với mong muốn tụ hội, kết cả sẽ cùng có những cái tốt”? Phó Thủ tướng cho rằng, trong nối, định hướng và chia sẻ về việc thời gian tới, công nghệ AI ở Việt đào tạo, nghiên cứu, phát triển và Nam cần tập trung vào 3 bài toán ứng dụng AI, để mang lại những lớn: Trước hết, là góp phần để có lợi ích chính đáng cho các thành một xã hội thanh bình. Tất cả ứng viên, đóng góp tích cực cho cộng dụng AI là để giúp cho xã hội an đồng, xã hội và góp phần đưa Việt 11 Soá 9 naêm 2019
  11. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ GS.TS Nguyễn Thanh Thủy: Nhân lực là yếu tố cốt lõi đảm bảo sự thành công của phát triển trí tuệ nhân tạo GS.TS Nguyễn Thanh Thủy là một trong những nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu và giảng dạy về trí tuệ nhân tạo (AI - Artificial Intelligence) của Việt Nam. Ông nguyên là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) và hiện là Phó Chủ nhiệm Chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của công nghiệp 4.0 KC4.0/19-25; Trưởng phòng thí nghiệm mục tiêu AI (Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội); Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Công nghệ thông tin (CNTT). Bên lề sự kiện Ngày hội AI Việt Nam năm 2019 (AI4VN 2019), GS Nguyễn Thanh Thủy đã có cuộc trao đổi với PV Tạp chí về phát triển AI ở Việt Nam và nguồn nhân lực cho lĩnh vực mới mẻ và đặc biệt quan trọng này. Thưa GS, với kinh nghiệm nghiên cứu và phòng thí nghiệm GDP danh nghĩa của Việt Nam hơn 30 năm giảng dạy và AI đã được thành lập, duy trì tại thấp hơn hẳn trong Top 5 quốc nghiên cứu trong lĩnh vực AI, các trường đại học và viện nghiên gia hàng đầu về kinh tế ở Đông GS đánh giá thế nào về phát cứu (Viện CNTT thuộc Viện Hàn Nam Á, điều này cho thấy nỗ lực triển AI ở Việt Nam? lâm KH&CN Việt Nam; Trường của cộng đồng AI Việt Nam. Đại học Công nghệ, Trường Đại Trong thời gian từ năm 2010 Vài năm gần đây trên phạm học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại đến nay, đã có 40 đề tài cấp nhà vi toàn thế giới, AI nổi lên như học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại nước liên quan tới lĩnh vực AI một lĩnh vực KH&CN quan trọng. học Bách khoa Hà Nội; Trường được phê duyệt. Các nhiệm vụ Các tiến bộ của AI đã cho ra Đại học Bách khoa, Trường Đại chủ yếu tập trung vào các lĩnh đời những sản phẩm công nghệ học Khoa học Tự nhiên, Viện vực: các hệ thống thông minh, xử chất lượng cao với khả năng tự John von Neumann thuộc Đại lý ảnh, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, động hóa, cá nhân hóa, được sử học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; tương tác người máy, tin sinh dụng trong nhiều ứng dụng thực Học viện Kỹ thuật Quân sự; Học học. Một số sản phẩm, hệ thống tế. Ngay tại Việt Nam hiện nay, viện Công nghệ Bưu chính - Viễn ứng dụng AI “Made in Vietnam” “trí tuệ nhân tạo” và “AI” cũng đã thông...). Trong giai đoạn 1996- đã được đưa vào sử dụng trong trở thành hai từ phổ biến trong 2016, trong 10 quốc gia Đông thực tế: Xử lý ngôn ngữ tự nhiên xã hội và trên các phương tiện Nam Á, Việt Nam xếp thứ 5 về số (VnDOCR, VnOnline, VnVoice, truyền thông. Thực ra, từ đầu lượng công bố khoa học trên cơ Vbee, DoIt), Chẩn đoán và diệt những năm 70 của thế kỷ xx, sở dữ liệu Web of science, xếp virus máy tính thông minh D2*, AI đã được giảng dạy và bước thứ 4 về số lượng công bố khoa Dịch vụ lựa chọn giá hàng hóa đầu nghiên cứu ở một số trường học trên cơ sở dữ liệu Scopus về Giasan… Hiện tại, đã bắt đầu đại học của Việt Nam. Lúc đó, xuất hiện các quỹ đầu tư KH&CN AI và xếp thứ nhất về tỷ lệ công thường được dùng bằng thuật như VINIF nhấn mạnh quan tâm bố trên Scopus về AI trong tổng ngữ “trí khôn nhân tạo”. về AI, khoa học dữ liệu và học số công bố khoa học Scopus của Những năm qua, các nhóm Việt Nam nói chung. Trong khi máy, đã tạo ra một cách tiếp cận 12 Soá 9 naêm 2019
  12. Diễn đàn khoa học và công nghệ và động lực mới trong nghiên minh - PRIMA 2008; các hội sát trong nhà máy. Tập đoàn cứu, ứng dụng AI. thảo với tỷ lệ bài nghiên cứu và CMC có C.BOT Robotics, hệ ứng dụng về AI khá cao đã được thống truyền hình nội bộ C.BOT Về phía các cơ quan quản lý cộng đồng chuyên môn trong Enterprise Video... Một số công cũng đã có những cố gắng rõ rệt: nước phối hợp với chuyên gia ty khởi nghiệp của Việt Nam: tiếp theo Quyết định số 2813/ nước ngoài tổ chức thành công, GotIt, VCCorp (nền tảng quảng QĐ-BKHCN ngày 27/9/2018 như: RIVF, KSE, SoICT, NICS, cáo ứng dụng AI Admicro), về Chương trình KH&CN trọng FDSE, VLSP. Hội nghị về AI Infore (phân tích ngữ nghĩa cho điểm cấp quốc gia “Hỗ trợ nghiên (AI4Life-2018) lần đầu tiên được mạng xã hội), Beeketing và cứu, phát triển và ứng dụng công tổ chức tại Trường Đại học Công NextSmarty (hệ khuyến nghị cho nghệ của công nghiệp 4.0” (mã nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), eCommerce), Vsmarty (hệ thống số KC4.0/19-25), Bộ KH&CN đã Zalo AI Summit 2017 và 2018, SmartGate kiểm soát vào ra). kịp thời ra số Quyết định 2910/ VietAI Summit 2018… Hội thảo Các tập đoàn lớn của nước ngoài QĐ-BKHCN ngày 3/10/2018 ban quốc gia về AI (AI4VN) lần đầu trong lĩnh vực CNTT và AI như hành “Kế hoạch triển khai nghiên tiên tổ chức vào năm 2018 và Google, Amazon, NVIDIA, IBM, cứu và phát triển AI đến năm lần thứ hai là Ngày hội AI (AI4VN Fujitsu… đang bước đầu đầu tư 2025” (AI4VN/2019-2025), với 2019) đã góp phần tập hợp, kết xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đội mục tiêu tổng thể: Nghiên cứu nối, tụ hội phát triển hệ sinh thái ngũ chuyên môn cho các công ty làm chủ KH&CN về AI trong phát và cơ sở nghiên cứu nhằm chiếm nghiên cứu, ứng dụng AI tại Việt triển, ứng dụng và thương mại Nam và cho Việt Nam. lĩnh thị trường sản phẩm ứng dụng hóa sản phẩm chất lượng cao AI tại Việt Nam. Một số công ty mang thương hiệu Việt; Xây dựng Các tập đoàn công nghệ cỡ khởi nghiệp nước ngoài về AI và phát triển các hệ dữ liệu số lớn, các công ty CNTT cỡ vừa như Al+Inc. và Cinnamon (Nhật dùng chung phục vụ nghiên cứu, và các công ty khởi nghiệp AI cỡ Bản), Saltlux (Hàn Quốc), Emotiv ứng dụng AI trong các ngành y nhỏ đã triển khai khá bài bản các (Mỹ) đã mở chi nhánh ở Việt Nam tế, nông nghiệp, ngân hàng, giao nghiên cứu phát triển các nền nhằm tận dụng nguồn nhân lực thông vận tải, hậu cần, công tảng AI và các hệ thống ứng dụng AI chất lượng cao trong nước để nghiệp, quốc phòng an ninh, du thông minh: Tập đoàn Viettel có xây dựng các sản phẩm AI. Mới lịch, thương mại điện tử, dịch tổng đài trả lời tự động về hành đây nhất là sự ra đời của Viện Dữ vụ trực tuyến, thông tin - truyền chính công cho thành phố Hà liệu lớn và Viện AI của Tập đoàn thông; Xây dựng nguồn nhân Nội; hệ thống giám sát các cuộc VinGroup đã tạo cú hích lớn cho lực chất lượng cao, phát triển gọi chăm sóc khách hàng Viettel; nghiên cứu và ứng dụng AI ở Việt các nhóm nghiên cứu và trung hệ thống xác thực đơn hàng tự Nam. Tất cả những điều trên cho tâm xuất sắc có năng lực nghiên động bằng giọng nói cho Sen thấy, bức tranh toàn cảnh về AI cứu mạnh trong AI. Trong khuôn Đỏ; dịch vụ biến báo mạng thành của Việt Nam sinh động, đa dạng khổ Chương trình KC4.0/19-25, báo nói tích hợp trên trình duyệt và có nhiều triển vọng. Bộ KH&CN đã cho phép 17/20 Sfive; dịch vụ Voice Wake Up nhiệm vụ nghiên cứu triển khai, tích hợp vào hệ thống nhà thông Tuy nhiên, theo nhiều chỉ số, minh. Tập đoàn FPT có nền tảng Việt Nam vẫn còn ở khoảng cách ứng dụng liên quan đến AI bắt FPT.AI và các ứng dụng: chatbot khá xa so với các cường quốc đầu thực hiện từ năm 2019-2020. cho doanh nghiệp, nhận diện về AI: 1) Số bài báo công bố Bên cạnh đó, phải kể đến các giấy tờ tùy thân (FPT.AI Vision). trong các hội nghị hàng đầu về hội nghị quốc tế có chất lượng Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông AI rất nhỏ (hầu như không có). và chuyên sâu về AI đã được tổ Việt Nam có Smart Connected Số lượng công bố khoa học Web chức ở Việt Nam như: Khai phá Platform (SCP) cho quản lý trong of science, Scopus về AI của dữ liệu PAKDD 2005 và 2015, giao thông vận tải, nông nghiệp, Việt Nam thua xa so với 3 nước AI-PRICAI 2008, Học máy-ACML môi trường, ngôi nhà thông minh, Singapore, Malaysia và Thái Lan; 2014, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên - theo dõi và chăm sóc sức khỏe 2) Doanh thu trực tiếp từ AI của CICLING 2018, Tác tử thông trong y tế, vận hành và giám doanh nghiệp chưa đáng kể; 3) 13 Soá 9 naêm 2019
  13. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ Vai trò của AI trong chuyển đổi số, Số tiến sĩ về AI, khoa học dữ liệu, nhu cầu và yêu cầu của công chính phủ số như động lực phát học máy và liên quan đến AI hiện nghệ và công nghiệp AI. Theo triển kinh tế - xã hội chưa rõ; 4) có thể lên tới khoảng 200 người. đánh giá, nguồn nhân lực AI hiện Chưa có chiến lược, chương trình Một số người Việt Nam sau thời nay tại Việt Nam mới chỉ đáp ứng quốc gia phát triển AI như một số gian học tập, làm việc ở nước 1/10 nhu cầu thị trường, đặc biệt nước. ngoài chuyên về AI đã trở về nước đang rất thiếu nhân lực AI ở mức làm việc cũng là nguồn bổ sung cao. Nhân lực trình độ cao này có Thưa GS, tại các diễn đàn về quý báu cho nhân lực AI trong số lượng tương đối hạn chế, do đòi AI, nhiều chuyên gia đều khẳng nước. Người Việt Nam làm về hỏi phải có bằng sau đại học được định nhân lực là yếu tố cốt lõi AI ở Mỹ, Úc, các nước châu Âu, cấp bởi các cơ sở đào tạo trình độ đảm bảo sự thành công của châu Á tăng lên rất nhanh, cả về cao và chuyên nghiệp. Việc thiếu phát triển AI tại Việt Nam. Vậy số lượng và chất lượng, trong đó hụt chuyên gia AI trình độ cao GS nhận xét như thế nào về có những tên tuổi đạt đến trình độ cũng đặt ra thách thức đối với các nguồn nhân lực AI của Việt Nam xuất sắc. Nếu tính số người làm trường, viện do phải chia sẻ nhân hiện nay? về AI ở trong và ngoài nước, có lực với các doanh nghiệp. Theo tôi, chắc chắn nhân lực là thể thấy gần như không có cách biệt giữa Việt Nam và Nhật Bản, Vậy theo GS, để phát triển yếu tố cốt lõi đảm bảo thành công Hàn Quốc. Đây là ưu thế mà các nguồn nhân lực AI, chúng ta cần của bất cứ lĩnh vực công nghệ cao nào và AI cũng không phải ngoại lĩnh vực khác của CNTT (an toàn chú ý những vấn đề gì? lệ. Chúng ta cần chú ý, có ba thông tin, kỹ thuật phần mềm, kỹ Ngay tại sự kiện AI4VN 2019, nhóm nhân lực AI với các đòi hỏi thuật máy tính) không có được. các vấn đề lớn xung quanh đào về trình độ khác nhau. Những năm vừa qua, các trường tạo nhân lực AI cũng đã được trao Ở mức cao là các chuyên gia, đại học hàng đầu của Việt Nam đổi sôi nổi. Theo đó, chúng ta có có thể phát hiện, phân tích, thiết đã bắt đầu triển khai các chương 4 vấn đề lớn cần chú ý: kế và lựa chọn giải pháp giải quyết trình đào tạo Khoa học máy tính, Một là, cần phải nhận diện các vấn đề (trong thực tế ứng dụng) định hướng AI và Khoa học dữ đặc tính quan trọng của nhân lực bằng công nghệ, kỹ thuật AI, khoa liệu. Trường Đại học Bách khoa AI trong thời gian tới với một tố học dữ liệu và học máy. Ở mức Hà Nội - đào tạo ngành Khoa học chất - sáng tạo mở, tinh thần khát giữa là các kỹ sư dữ liệu - tri thức, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Trường vọng và dấn thân; hai tiếp cận - với kiến thức chuyên môn về AI, Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại nghiên cứu và triển khai; ba năng khoa học dữ liệu và học máy, có học Quốc gia Hà Nội) - đào tạo lực - phát hiện vấn đề, lựa chọn khả năng tích hợp các giải pháp thạc sỹ về khoa học dữ liệu, đào kỹ thuật công nghệ, tìm được dữ và phát triển hệ thống thông minh. tạo cử nhân chất lượng cao, định liệu; bốn mảng kiến thức và kỹ Ở mức dưới là các kỹ thuật viên có hướng AI. Trường Đại học Công năng chuyên môn - kiến thức khả năng lập trình, thực hiện các nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) chuyên ngành, AI, học máy/thống mô hình học máy, kỹ thuật phân - đào tạo ngắn hạn về khai phá kê, khoa học dữ liệu. tích dữ liệu và đánh giá. Trong khi dữ liệu, khoa học dữ liệu. Trường nhân lực ở mức dưới có thể đào Đại học Bách khoa (Đại học Quốc Hai là, mô hình kéo - đẩy tạo tương đối nhanh thông qua gia TP Hồ Chí Minh) - đào tạo trong quan hệ giữa hàn lâm và các khóa học ngắn hạn và tăng ngắn hạn về học sâu, phân tích công nghiệp, doanh nghiệp, đặc cường, thì nhân lực ở mức cao cần dữ liệu lớn. Bên cạnh đó, còn có biệt nhấn mạnh sự hỗ trợ cho có kinh nghiệm và đòi hỏi năng các hoạt động như bài giảng đại các doanh nghiệp nhỏ và vừa lực tư duy tốt. chúng về AI, khoa học dữ liệu và (số lượng khoảng 500.000 ở Việt học máy của Viện Toán cao cấp, Nam) trong việc phát triển ứng Có thể thấy, về nhân lực trong Cộng đồng VietAI và Công ty AI dụng AI. lĩnh vực AI, Việt Nam cũng có Academy. những thuận lợi. Chúng ta có sẵn Ba là, mô hình triển khai ứng một đội ngũ giảng dạy, nghiên Tuy nhiên, với tốc độ phát triển dụng AI cần quan tâm đến cơ cấu cứu AI đã được hình thành từ lâu, và ứng dụng AI tăng nhanh gần bộ ba: nhà chuyên môn của lĩnh một cách tự nhiên, chủ yếu ở các đây, nguồn nhân lực hiện có thể vực ứng dụng (chuyển đổi số, thu trường đại học, viện nghiên cứu. huy động vẫn chưa đáp ứng được thập dữ liệu), kỹ sư dữ liệu tri thức 14 Soá 9 naêm 2019
  14. Diễn đàn khoa học và công nghệ và lập trình viên. Bên cạnh đó, dự báo về nhu cầu nhân lực: số đã chỉ rõ những lợi thế về con mô hình hoạt động phát triển AI lượng, công việc, trình độ. Đây người có tố chất toán học, phù tại các công ty, tập đoàn chuyên là cơ sở để các trường đại học, hợp với yêu cầu nền tảng của nghiệp có thể chia thành ba cơ sở đào tạo, doanh nghiệp có AI, nền công nghiệp CNTT tăng phân khúc: phát triển công cụ, căn cứ lựa chọn, đầu tư và phát trưởng mạnh, có đầu tư tập trung phát triển nền tảng và phát triển triển nguồn lực, phục vụ nhu cầu trọng điểm ban đầu cho AI; cũng dịch vụ. Hiện tại các công ty của outsourcing, phát triển sản phẩm như các hạn chế về hạ tầng dữ Nhật Bản định hướng rất mạnh và dịch vụ doanh nghiệp; phân liệu dùng chung chưa hình thành, theo chiều dọc - phát triển dịch luồng và phân tầng nhân lực đối manh mún, cát cứ; hạ tầng kết vụ. Trong khi đó, các tập đoàn lớn với các trường đại học, doanh nối và tính toán không đồng bộ; của Mỹ và của Việt Nam đi theo nghiệp đào tạo, từ đó xây dựng và thiếu nhân lực (ở cả 3 mức: mức chiều ngang - phát triển công cụ, triển khai các mô hình và quy mô cao, mức giữa, mức dưới) chuyên nền tảng. đào tạo phù hợp: đào tạo chính nghiệp, có chất lượng. Bốn là, các giải pháp phân quy dài hạn; đào tạo chuyển đổi Trong khi chờ đợi một Chiến tầng và phân luồng đào tạo nhân nghề nghiệp; bồi dưỡng, bổ sung lược quốc gia về AI được xây lực AI, học máy/thống kê, khoa kiến thức; tuyên truyền, tạo nhận dựng một cách bài bản, chúng học dữ liệu tại các trường đại thức đúng về vai trò, nhu cầu AI ta rất cần sớm có “Kế hoạch học, doanh nghiệp. Giải pháp trong chuyển đổi số và phát triển tổng thể nghiên cứu, phát triển dịch chuyển nghề nghiệp, đào kinh tế - xã hội nói chung. và ứng dụng AI” với các yêu cầu tạo chuyên môn văn bằng kép, Nhiều nước đã xây dựng đầu ra, hoạt động, sản phẩm, lộ văn bằng thứ hai và đào tạo lại sẽ chiến lược quốc gia về AI, theo trình, phân bổ nguồn lực và đánh góp phần bồi dưỡng nhân lực AI GS Việt Nam có cần xây dựng giá tác động trong một giai đoạn ở mức cao và mức giữa. Đào tạo một chiến lược riêng như vậy cụ thể (ngắn hạn, trung hạn, liên tục sử dụng các hình thức: không? Nếu có thì nên tập dài hạn), xung quanh các trục môi trường đào tạo mở, trực tuyến trung quan tâm tới những vần chính: Xây dựng hạ tầng dữ liệu (như FUNIX), các bài giảng đại đề gì? cho phép kết nối, chia sẻ, dùng chúng (VietAI, VIASM), các khóa chung; Đào tạo đội ngũ nhân lực học ngắn hạn, trường hè (ở các AI được nhiều quốc gia lựa (ở cả 3 mức: mức cao, mức giữa, trường đại học) là biện pháp đào chọn là công nghệ mũi nhọn, có mức dưới) chuyên nghiệp, có tạo nhân lực kỹ thuật viên. tính chiến lược đi cùng với làn chất lượng cao, gắn kết đội ngũ sóng chuyển đổi số quốc gia. chuyên gia trong và ngoài nước, Một vấn đề quan trọng đối Theo hai hãng tư vấn McKinsey đẩy mạnh hệ sinh thái AI; Lựa với sự phát triển AI ở Việt Nam và Gartner, đã có 26 nước, khu chọn các lĩnh vực chọn lọc (an là việc tập hợp cộng đồng, đặc vực kinh tế đưa ra chiến lược quốc ninh quốc phòng, công nghiệp, biệt là thu hút sự tham gia hiệu gia về AI, trong đó nhấn mạnh nông nghiệp, y tế, du lịch, dịch quả của người Việt Nam làm AI các yếu tố: đào tạo nguồn nhân vụ), đi kèm các đầu tư tập trung ở nước ngoài cùng với đội ngũ ở lực, đặc biệt đội ngũ nhân lực tinh trong nước, nhằm đẩy mạnh sự cho ứng dụng AI; Chính sách hoa, xuất sắc về AI; viện nghiên (xây dựng hạ tầng dữ liệu) và cơ phát triển AI và hệ sinh thái AI cứu và trung tâm xuất sắc; cơ chế chế khuyến khích (doanh nghiệp ở Việt Nam. Trong Ngày hội AI thúc đẩy đổi mới sáng tạo chuyển đầu tư chuyển đổi số và ứng dụng Việt Nam 2019 (AI4VN 2019) đã đổi số và AI; mô hình, cơ chế phát thông minh; thu hút và phát huy ra mắt Liên hiệp hợp tác và phát triển các sản phẩm về AI có ảnh tài năng AI, đặc biệt là người Việt triển AI Việt Nam, với sự tham hưởng quốc gia trong các lĩnh vực Nam ở nước ngoài) ? gia của đông đảo cộng đồng ứng dụng có định hướng và chọn các nhà khoa học trong và ngoài Xin trân trọng cảm ơn GS! lọc. nước, các trường đại học, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và các Một điểm thuận lợi là Việt Nam Thực hiện: MN doanh nghiệp trong lĩnh vực AI, luôn xem AI là công nghệ lõi, nền khoa học dữ liệu và chuyển đổi tảng khi bước vào thời kỳ chuyển số, chắc chắn sẽ là điểm tựa đổi số của cuộc Cách mạng công quan trọng nhằm thống kê và nghiệp lần thứ 4. Các chuyên gia 15 Soá 9 naêm 2019
  15. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG THỜI ĐẠI CMCN 4.0 GS.TSKH Nguyễn Đình Đức Đại học Quốc gia Hà Nội Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã, đang và sẽ tiếp tục tạo ra những biến động mạnh mẽ, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống - xã hội trong thế kỷ XXI. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ (KH&CN), vấn đề đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo (đặc biệt là giáo dục đại học) trong CMCN 4.0 là phải đổi mới từ một nền giáo dục nặng về trang bị kiến thức cho người học sang nền giáo dục giúp phát triển kỹ năng, thúc đẩy tư duy đổi mới sáng tạo. Chiến lược phát triển con người - Chủ nhà trường là: số hóa, nghiên cứu năng, tăng cường thực hành thực thể và trung tâm của sự sáng tạo và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, trong tập, công nghệ thông tin và ngoại chiến lược phát triển của mình, ngữ, thì đào tạo với tư duy tầm Sự phát triển như vũ bão của các trường đại học phải bám sát nhìn, đổi mới sáng tạo, phát triển KH&CN trong 2 thập kỷ đầu tiên những nội dung này. Đầu ra của bền vững rất quan trọng. Các giá của thế kỷ XXI với Internet kết nối quá trình đào tạo trong CMCN 4.0 trị nhân văn, giá trị truyền thống vạn vật, tự động hóa, trí tuệ nhân là nguồn nhân lực có năng lực, và sự hài hòa phải là bệ đỡ và nền tạo và những sáng chế mới trong tinh thần đổi mới sáng tạo và khởi tảng cho sự phát triển của xã hội nhiều lĩnh vực chính là những nền nghiệp. trong bối cảnh CMCN 4.0. Chính tảng then chốt tạo nên những cú vì vậy, chúng ta cần có kịch bản hích cho sự tăng trưởng và phát Thời đại CMCN 4.0, các kiến phát triển con người trong giai triển. thức có tính liên ngành, xuyên đoạn mới, với nòng cốt và nền ngành (một ngành được nhúng Trong thời đại CMCN 4.0, tảng là giáo dục. sâu vào ngành khác) và ngày KH&CN sẽ mang tính liên ngành càng có xu hướng xóa nhòa ranh Trong bối cảnh CMCN 4.0, lợi và xuyên ngành ngày càng sâu giới giữa các ngành. Trong khi thế cạnh tranh lớn nhất không rộng, viễn cảnh đó đặt ra thách đào tạo lại có tính cá thể hóa ngày phải tài nguyên, công nghệ mà thức phải có chiến lược về phát càng cao. Xu hướng “Uber hóa” là con người. Ai có nhân tài, sẽ triển con người. Trong khi chúng trong giáo dục là tất yếu và ngày nắm trong tay lợi thế cạnh tranh ta nói nhiều về những đặc trưng càng trở nên phổ biến. Kiến thức và phát triển trong thời đại mới. của CMCN 4.0, những thành tựu và thông tin, cơ sở dữ liệu, cơ hội Cần xây dựng chiến lược phát về công nghệ với những thách cho mọi người, mọi cơ sở giáo dục triển con người và đổi mới mạnh thức và cơ hội, chúng ta cần đặc ở mọi nơi, mọi chỗ, không còn mẽ giáo dục để trang bị kiến thức, biệt chú trọng phát triển nguồn lực cứng nhắc và bó hẹp trong không phát huy năng lực sáng tạo và kỹ con người, cần xây dựng một kịch gian và thời gian, biên giới, vùng năng, tầm nhìn cho người học. bản cho sự phát triển của xã hội lãnh thổ. Song song với đào tạo và thu hút Việt Nam trong bối cảnh CMCN nhân tài, đặc biệt trong lĩnh vực Các nghiên cứu và tổng kết từ 4.0, trong đó con người là chủ thể KH&CN, việc chú trọng phát triển kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để và là trung tâm của sự sáng tạo. con người trong một xã hội hài đạt được đầu ra đó, các nội dung Trong thời đại CMCN 4.0, các hòa và nhân văn là cốt lõi để Việt cơ bản mà nhà trường cần cung cơ sở giáo dục đại học sẽ không Nam nắm bắt được các cơ hội cấp cho người học trong thời đại còn chỉ là thầy, trò, giảng đường, cũng như vượt qua thách thức để CMCN 4.0 sẽ là giáo dục STEM phát triển và hội nhập. thư viện, các phòng thí nghiệm… (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và mà sẽ là môi trường sinh thái với toán học) và giáo dục khai phóng Các nước như Anh, Hoa Kỳ, 3 đặc trưng cốt lõi xuyên suốt và đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nga, Pháp, Đức... đã tận dụng tác động lên mọi hoạt động của Bên cạnh đào tạo kiến thức và kỹ và nắm bắt được cơ hội ngay từ 16 Soá 9 naêm 2019
  16. Diễn đàn khoa học và công nghệ cuộc CMCN lần thứ 2 để phát triển; Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ... đã nắm bắt được cơ hội ở cuộc CMCN lần thứ 3 để vươn lên... Việt Nam hoàn toàn có thể nhận diện và nắm bắt được thời cơ để vươn lên thành “con rồng, con hổ” của châu Á và thế giới trong thế kỷ XXI nếu biết tận dụng những cơ hội và vượt qua thách thức của cuộc CMCN 4.0. Mấu chốt là chúng ta phải có nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút được nhân tài để phát triển các công nghệ lõi, các hình thức kinh doanh mới. Nguồn lực con người, cùng với KH&CN chính là “chiếc đũa thần” để đưa dân tộc ta theo kịp và sánh vai các nước trên thế giới. Suy cho cùng, Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội tạo, gắn kết nghiên cứu khoa mà còn phải có tầm nhìn, có khát từ cuộc CMCN 4.0 thông qua việc học và chuyển giao các kết quả vọng đổi mới sáng tạo và tinh thay đổi cách tiếp cận giáo dục, nghiên cứu với doanh nghiệp. Vì thần khởi nghiệp. Hiện nay, ở Việt nhanh chóng hội nhập sâu rộng vậy, triết lý đào tạo phải thay đổi. Nam đang nhắc nhiều đến giáo với quốc tế và then chốt là xây Triết lý của đào tạo nhân lực trong dục khai phóng, tuy nhiên, không dựng chiến lược phát triển con thời đại CMCN 4.0 là số hóa, đổi thể nắm bắt và làm chủ được các người. mới sáng tạo và khởi nghiệp. công nghệ nếu nguồn nhân lực của chúng ta không được đào tạo Đổi mới giáo dục đại học - Đòn bẩy Hai là, đổi mới cấu trúc và và trang bị kiến thức STEM. Vì quan trọng của sự phát triển yêu cầu, chuẩn đầu ra của các vậy, với triết lý giáo dục như trên, chương trình đào tạo, hội nhập Từ thực tiễn và kinh nghiệm trong thời đại CMCN 4.0, giáo với quốc tế và phù hợp với điều của các nước như Nhật Bản, Hàn dục khai phóng với STEM và phát kiện, hoàn cảnh của Việt Nam: Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ cho triển bền vững chính là những nội ngoài kiến thức chuyên môn, thấy, đổi mới giáo dục (đặc biệt là dung đổi mới cốt lõi và cần có ngoại ngữ, công nghệ thông tin và giáo dục đại học - cả đào tạo bậc của chương trình đào tạo. Luật các kỹ năng mềm như hiện nay; đại học và sau đại học) để đào Giáo dục đại học sửa đổi năm các trường đại học phải trang bị tạo nguồn nhân lực có chất lượng 2018 cũng đã đề ra nhiệm vụ được cho người học kỹ năng thu cao có ý nghĩa quyết định đến sự các trường đại học phải tham gia thập, xử lý và kiểm soát thông tin, thành công của Việt Nam trong vào bảng xếp hạng đại học trên trải nghiệm học tập đồng hành CMCN 4.0. Để đổi mới giáo dục thế giới. Đây là những sức ép và với thực tế, thực tập và các công đại học, trong thời gian tới chúng đòn bẩy quan trọng để các trường nghệ mới. Chương trình đào tạo ta nên thực hiện một số giải pháp đại học phải đổi mới mạnh mẽ và phải chuyển đổi phù hợp với xu cơ bản sau: nâng cao chất lượng theo các tiêu thế liên ngành, xuyên ngành của chí và chuẩn mực của giáo dục Một là, phải xây dựng một triết CMCN 4.0. nhất là những ngành đại học trên thế giới trong thời lý mới về giáo dục đại học: nhu khoa học tự nhiên, công nghệ - kỹ gian tới. cầu đổi mới giáo dục xuất phát từ thuật, kinh tế…; chương trình đào yếu tố thời đại. Hiện nay, các đại tạo cần hội nhập sâu rộng với Ba là, cần có quy hoạch và học nghiên cứu của các nước phát chương trình đào tạo của khu vực phát triển ngành nghề cho tương triển trên thế giới đang chuyển và thế giới. Sinh viên ra trường lai: hiện nay, chúng ta còn quá mình sang đại học đổi mới sáng không chỉ có công ăn việc làm, mỏng lực lượng chuyên gia và 17 Soá 9 naêm 2019
  17. Diễn đàn Khoa học và Công nghệ cứu: để có thể tiếp cận và phát triển công nghệ mới, theo kịp với thế giới và làm chủ các công nghệ lõi, chúng ta cần có chiến lược để tập hợp lực lượng trong và ngoài nước nhằm xây dựng bằng được các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu xuất sắc trong các lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ chủ chốt và các lĩnh vực mới phát sinh trong CMCN 4.0. Chúng ta cần tập hợp, tạo mọi điều kiện phát huy nguồn lực đội ngũ trí thức tài năng trong và ngoài nước thông qua các nhóm nghiên cứu mạnh nguồn nhân lực trong các lĩnh trí tuệ nhân tạo và các lĩnh vực để nắm bắt những cơ hội của thời vực tự động hóa và trí tuệ nhân khác. Thời đại ngày nay đang có đại. Bên cạnh các nhóm nghiên tạo. Bên cạnh công nghệ thông xu thế đào tạo tài năng và chất cứu mạnh, các nhóm nghiên cứu tin, chúng ta cũng phải đẩy mạnh lượng cao theo cá thể hóa, do vậy chính cũng cần được quan tâm nghiên cứu về tích hợp hệ thống, các trường đại học ở Việt Nam phát triển. Thông qua các nhóm công nghệ tương tác thực tế, an cần sớm đổi mới mô hình đào nghiên cứu chính để nâng cao toàn thông tin, năng lượng mới, tạo tài năng và chất lượng cao ở chất lượng đào tạo, nghiên cứu, các vật liệu mới tiên tiến, thông bậc đại học. Một trong những mô nâng cao chất lượng và tiềm lực minh… để ứng dụng cho các lĩnh hình hay là đào tạo “kỹ sư toàn nghiên cứu khoa học của các cơ vực công nghệ, kỹ thuật mới cầu” đã bắt đầu được đào tạo tại sở giáo dục đại học. Muốn như cũng như nguồn nhân lực quản trị Nhật Bản từ 2015. Chương trình vậy, có lẽ chúng ta phải có những doanh nghiệp theo các mô hình đào tạo này có các kiến thức liên đột phá trong chính sách phát mới. Gần đây, một số trường đại ngành về toán học, vật lý, cơ học triển các nhóm nghiên cứu, sử học lớn của Việt Nam (trong đó cộng với nền tảng về công nghệ dụng và đãi ngộ nhân tài. có Đại học Quốc gia Hà Nội) đã thông tin, ngoại ngữ và phát triển nhanh chóng bắt kịp xu thế thời bền vững. Bảy là, cần có những đột phá đại, mở đào tạo các ngành/chuyên về cơ chế chính sách: để có ngành mới như an toàn thông tin, Năm là, đổi mới phương pháp nguồn lực, các trường đại học kỹ thuật máy tính, robotic, công giảng dạy và học tập: với sự ra Việt Nam đang chuyển mình theo nghệ hàng không vũ trụ, công đời của các công nghệ mới và IoT xu thế tự chủ và đang rất cần “cơ nghệ nano, năng lượng mới, an đã mở ra những khả năng có thể chế khoán 10” trong giáo dục đại ninh phi truyền thống, khoa học giảng dạy và học tập ở mọi nơi học nhằm giải phóng và phát huy dữ liệu, phát triển bền vững, biến mọi lúc, học xuyên biên giới, đồng mọi nguồn lực cho sự phát triển đổi khí hậu… Đó là những đáp ứng thời tạo ra các cơ hội để tranh thủ của nhà trường. Nhà nước cần rất phù hợp và kịp thời của giáo và tối ưu hóa các nguồn lực (về có chính sách hỗ trợ khởi nghiệp dục đại học Việt Nam trong thời con người, học liệu, cơ sở vật và triển khai mô hình 4 nhà: nhà gian qua. chất…) kiểu như “uber hóa trong nước - nhà trường - nhà khoa học giáo dục” và đương nhiên sẽ kéo và doanh nghiệp? Bốn là, khẩn trương xây dựng theo những thay đổi tiêu chí đánh chiến lược và giải pháp đổi mới giá về kiểm định chất lượng và đào tạo tài năng và chất lượng xếp hạng các trường đại học. cao trong các trường đại học: cần triển khai đẩy mạnh đầu tư Sáu là, tập hợp lực lượng, thu đào tạo cử nhân/kỹ sư tài năng hút nhân tài để xây dựng và phát về công nghệ thông tin, mạng triển tiềm lực KH&CN của nước máy tính, tự động hóa, cơ điện tử, nhà thông qua các nhóm nghiên 18 Soá 9 naêm 2019
  18. Diễn đàn khoa học và công nghệ QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU TRONG THỜI ĐẠI CMCN 4.0 TỪ GÓC ĐỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TS Hà Nguyệt Thu Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0), quản trị hiệu quả thương hiệu là một trong những nội dung quan trọng để góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh, nâng cao uy tín cho doanh nghiệp, từ đó góp phần tạo ra danh tiếng, giá trị cho cả nền kinh tế. Việc quản trị thương hiệu (QTTH) đòi hỏi sự am hiểu thấu đáo các kiến thức kinh doanh cùng với các kiến thức về quản trị tài sản trí tuệ. Thực tế cho thấy, đã có một bộ phận đáng kể các doanh nghiệp ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc QTTH trong quá trình xây dựng, phát triển hoạt động kinh doanh nhưng không phải tất cả đều đã nắm chắc các yếu tố cũng như vai trò của các yếu tố cấu thành thương hiệu trong hoạt động quản trị. Trong phạm vi bài viết, từ góc độ sở hữu trí tuệ (SHTT) tác giả phân tích những tác động của CMCN 4.0 tới hoạt động QTTH, trên cơ sở đó đưa ra một số lưu ý cho các doanh nghiệp khi thực hiện việc QTTH trong bối cảnh CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ. Thương hiệu không chỉ là tên gọi nhưng phân biệt với các hàng hoá, dịch vụ mà cảm nhận này khác nhau ở mỗi thương hiệu không thể thiếu tên gọi của những người bán hàng khác”. Có người. thể thấy, thuật ngữ thương hiệu đang Hiện nay trên các phương tiện Khi một doanh nghiệp bắt đầu được sử dụng tạo thành từ 2 yếu tố: thông tin đại chúng, trong quảng khởi sự kinh doanh hoặc tung ra một yếu tố có thể nhìn thấy được có thể là cáo, tiếp thị…, khi nói đến một doanh sản phẩm mới trên thị trường, giữa tên gọi, kiểu dáng sản phẩm, slogan…; nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ có vô vàn các sản phẩm, dịch vụ của yếu tố trừu tượng chính là cảm nhận uy tín, chất lượng, người ta hay sử các chủ thể kinh doanh khác nhau, của khách hàng về sản phẩm, dịch dụng những cụm từ như “thương hiệu để thu hút khách hàng họ phải sử vụ, phong cách, uy tín của doanh đẳng cấp”, “thương hiệu đắt giá”, dụng một dấu hiệu nào đó có thể là nghiệp… những thứ mà thông qua đó “sức mạnh thương hiệu”… Trên thực tên gọi, hình ảnh hoặc sự kết hợp của khách hàng phân biệt sản phẩm, dịch tế thuật ngữ “thương hiệu” được sử các yếu tố đó để “gây thương nhớ” vụ của doanh nghiệp này với những dụng phổ biến và nhiều người nhầm cho khách hàng. Dấu hiệu đó được doanh nghiệp khác. Tên gọi của sản lẫn hoặc thậm chí coi thương hiệu pháp luật bảo hộ dưới danh nghĩa phẩm/dịch vụ chính là nhãn hiệu - chính là tên gọi của sản phẩm, dịch một đối tượng của quyền SHTT là một tài sản trí tuệ được pháp luật bảo vụ hay một doanh nghiệp. nhãn hiệu. Dần dần, cùng với quá vệ. Do đó, thương hiệu trong phạm vi trình kinh doanh, dấu ấn về tên gọi Vậy thương hiệu là gì? Chúng ta nào đó có thể là nhãn hiệu hoặc chứa đó đậm dần trong tâm trí người tiêu không thể tìm thấy thuật ngữ thương nhãn hiệu nhưng nhãn hiệu không dùng cùng với những trải nghiệm của hiệu trong bất kỳ văn bản pháp luật đồng nghĩa với thương hiệu. họ về sản phẩm/dịch vụ. Lúc này, nào của Việt Nam. Thương hiệu Để dễ hình dung, chúng ta có thể mỗi khi sử dụng tên gọi đó, đi kèm với không phải là một thuật ngữ pháp lý. sử dụng hình ảnh tảng băng chìm khi nhận biết về tên gọi người ta sẽ gắn Theo Hiệp hội marketing Mỹ (AMA), nói về thương hiệu. Phần nổi chính là liền với nó những giá trị cảm nhận một thương hiệu (a brand) là “một tên phần chúng ta có thể nhìn thấy được, được của mình. Không có nhãn hiệu gọi, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng gọi tên được như nhãn hiệu, hình không thể làm nên một thương hiệu, hoặc kiểu dáng, hoặc sự kết hợp của dáng của sản phẩm, khẩu hiệu kinh nhưng chỉ có nhãn hiệu cũng không chúng dự định dùng để nhận biết doanh của doanh nghiệp…, còn phần làm nên một thương hiệu. Trong quá hàng hoá và dịch vụ của một người chìm chính là cảm nhận của khách trình tạo dựng uy tín, nhãn hiệu chính bán hoặc một nhóm người bán và để hàng về doanh nghiệp/sản phẩm đó là điểm mở đầu, thương hiệu là đích 19 Soá 9 naêm 2019

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản