intTypePromotion=1

Tiểu luận: Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay

Chia sẻ: Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

1
458
lượt xem
143
download

Tiểu luận: Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

DNNN là tế bào kinh tế của một quốc gia, hoạt động kinh doanh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong khuôn khổ quy định của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật.Nhiệm vụ chính cảu doanh nghiệp nhà nước là thực hiện có hiệu quả các hoạt động về kinh tế xã hội và không ngừng phát triển theo quy luật, phát triển kinh tế có định hướng của chính trị xã hội, của nhà nước, trên cơ sở vật chất nguồn vốn nhà nước. Dưới thời bao cấp DNNN hoạt động hoạt động theo cơ chế mệnh lệnh sản...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay

  1. Tiểu luận Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay
  2. 1 LỜI MỞ ĐẦU DNNN là tế bào kinh tế của một quốc gia, hoạt động kinh doanh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong khuôn khổ quy định của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật.Nhiệm vụ chính cảu doanh nghiệp nhà nước là thực hiện có hiệu quả các hoạt động về kinh tế xã hội và không ngừng phát triển theo quy luật, phát triển kinh tế có định hướng của chính trị xã hội, của nhà nước, trên cơ sở vật chất nguồn vốn nhà nước. Dưới thời bao cấp DNNN hoạt động hoạt động theo cơ chế mệnh lệnh sản xuất kinh doanh, theo kế hoạch tập trung. Việc sử dụng nguồn vốn và nguồn lực thiết bị đều được nhà nước bao cấp. Chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế phát triển và sự ạnh tranh ngày càng gay gắt đã tạo sự tác động ngược lại đối với doanh nghiệp nhà nước làm không ít doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Sự bao cấp của nhà nưcớ không còn, việc chuyển đổi cơ cấu nhà nước sang hình thức kinh doanh và tự phát triển cạnh tranh đã làm cho không ít nhà nước tự mình nhìn lại mình. Lịch sử và thực trạng là những vấn đề bức xúc cần sớm giải quyết đối với DNNN Qua bài tập lớn này chúng tôi đề cập nhiều đến hoạt động huy động và sử dụng vốn của DNNN .Tuy đã ccó nhiều cố gắng nhưng do phương pháp luận còn hạn chế, kiến thức hiểu biết chưa sâu nên bài tập còn nhiều thiếu sót mong sự góp ý của thày cùng các bạn.
  3. 2 NỘI DUNG Phần I: Lý luận chung I. Đầu tư 1. Khái niệm về đầu tư : Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, trên các góc độ khác nhau: Đ ầu tư là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai. Trên góc độ tiêu dùng: Đ ầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu được một mức tiêu dùng lớn hơn trong tương lai. Trên góc độ tài chính: Đ ầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiêu đ ể chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời. Đầu tư trong doanh nghiệp là hoạt động chỉ đ ịnh vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng tài sản cho doanh nghiệp tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong đơn vị. 2. Vai trò của hoạt động đầu tư đối với doanh nghiệp. Đầu tư giữ vai trò quyết định để nghiên cứu chất lượng, sản phẩm, dich vụ của doanh nghiệp. Đ ầu tư là cơ sở để đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ kĩ thuật Đ ầu tư tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ cơ sở nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm giá thành tăng lợi nhuận. II. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp 1. Khái niệm: Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của x ã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngo ài. 2. Vai trò của nguồn vốn đầu tư K hi muốn tiến hành b ất kì một hoạt động đầu tư nào, yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất là nguồn vốn để đầu tư, làm sao để có thể huy động được nguồn vốn đó? Như vậy có thể nói nguồn vốn đầu tư là một trong những yếu tố chính quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Sở dĩ có thể nói vậy vì khi một doanh nghiệp muốn sản xuất, kinh doanh thì đều phải xây dựng cơ sở vật chất cho mình như xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa được tạo ra. Đối với các cơ sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất – kĩ thuật đã hư hỏng, hao mòn. Đ ể duy trì được hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới những cơ sở vật chất – kĩ thuật đó. Doanh nghiệp không những phải duy trì sản xuất mà còn phải đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu
  4. 3 dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ lạc hậu, lỗi thời. Muốn làm được những việc này cần phải có nguồn vốn đầu tư. 3. Bản chất của nguồn vốn đầu tư. X ét về bản chất thì nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác – Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, môt điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển cho rằng: “ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù cho có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn khô ng bao giờ tăng lên.” Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền kinh tế xã hội, về các vấn đề liên qua trực tiếp đến tích luỹ, K . Mark đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất, khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm ( c + v + m ) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v + m) là phần giá trị mới sáng tạo ra. Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo: (v + m)I > cII Hay nói cách khác: (c + v + m)I > cII + cI Điều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của to àn b ộ nền kinh tế mà còn phải dư thừa để là tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo. Đối với khu vực II yêu cầu phải đảm bảo: (c+ v + m)II < ( v + m )I + ( v+m)II Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng. Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng. Như vậy theo Mark, để tái sản xuất mở rộng và phát triển sản xuất cần phải phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm trong cả sản xuất và tiêu dùng. - Kinh tế học hiện đại: trong tác phẩm nổi tiếng “lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi xuất và tiền tệ”của mình, John Maynard Keynes đ ã chứng minh được rằng: đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển thành tiêu dùng. đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng: Tức là: Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng N hư vậy:
  5. 4 Đ ầu tư = Tiết kiệm (I) (S) Tuy nhiên điều kiện cân bằng trên chỉ xảy ra trong điều kiện nền kinh tế đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ. Trong nền kinh tế mở, đẳng thức này không phải lúc nào cũng đúng. Chẳng hạn phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại một nước, khi đó vốn có thể chuyến sang nước khác để thực hiện đầu tư. Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp này mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai. CA = S – I Trong đó CA là tài khoản vãng lai N hư vậy trong điều kiện nền kinh tế mở nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ của nội bộ nền kinh tế và tài kho ản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn từ đầu tư nước ngoài. Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ của nền kinh tế có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu của đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. III. Nguồn vốn của doanh nghiệp 1. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp a. Vốn góp ban đầu K hi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu góp gọi là vốn góp ban đầu Đ ối với DNNN, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước. Đ ối với các doanh nghiệp khác, theo Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có số một số vốn góp ban đầu cần thiết để xin đăng kí thành lập doanh nghiệp. b. Thặng dư vốn Trong quá trình đầu tư doanh nghiệp không sử dụng hết số vốn đ ã huy động nên đem số vốn thừa đó để cho các tổ chức khác vay lại gọi là thặng d ư vốn. V ị trí : Giảm chi phí vốn vay khi không sử dụng hết lượng vốn đi vay. c. Thu nhập giữ lại K hái niệm: Trong quá trình ho ạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì một phần lợi nhuận không chia sẽ trở thành nguồn vốn tích lũy được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. V ị trí: Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp vì doanh nghiệp giảm được chi phí và sự phụ thuộc vào bên ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng. d. Vốn khấu hao K hái niệm: Vốn khấu hao là nguồn vốn được trích lại từ lợi nhuận của doanh nghiệp để sửa chữa lớn hoặc thay mới những cơ sở vật chất – kĩ thuật hư hỏng, hao mòn sau một thời gian hoạt động.
  6. 5 V ị trí : Để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động bình thường trong một thời gian dài. 2. Nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu a. K hái niệm: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. b. Các loại cổ phiếu Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ưu thế trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán. Nó có thể được trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu ưu tiên: Thường chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành . Cổ phiếu ưu tiên thường có đặc điểm là có cổ tức cố định Người chủ cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thường. Nếu số lãi chỉ đủ trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kì đó. Việc giải quyết chính sách cổ tức được nêu rõ trong điều lệ công ty. c. N hững ưu nhược điểm của doanh nghiệp khi huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu Ư u điểm: Có thể huy động một lượng vốn lớn để phát triển doanh nghiệp. N hược điểm: Có nguy cơ bị thôn tính công ty. Cần phải tính đến tỉ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty. 3. Nguồn vốn từ phát hành trái phiếu a. Khái niệm: Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn bao gồm: trái phiếu chính phủ, và trái phiếu công ty. Trái phiếu còn gọi là trái khoán b. Các lo ại trái phiếu Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại này thường được sử dụng phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kì hạn của nó. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được qui định rõ. Mức độ hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào:  Lãi suất của trái phiếu  K ỳ hạn của trái phiếu  U y tín của doanh nghiệp Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Là trái phiếu có lãi suất phụ thuộc vào một nguồn lãi suất quan trọng khác. Trái phiếu có thể thu hồi: Là loại trái phiếu mà doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào đó. Doanh nghiệp phải quy định rõ thời hạn và giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại trái phiếu. Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường. Nếu thị giá của cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao. 4. Tín dụng ngân hàng
  7. 6 4.1. Đặc điểm Vốn tín dụng ngân hàng là hình thức huy động vốn phổ biến của các doanh nghiệp hiện nay.Nhưng để vay được vốn từ ngân hàng d oanh nghiệp cần phải có điều kiện nhất định. Điều kiện tín dụng: các ngân hàng thương mại khi cho doanh nghiệp vay vốn luôn luôn phải đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng thông qua một hệ thống bảo đảm tín dụng. Trước tiên, ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánh gía các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn. Doanh nghiệp phải cung cấp những báo cáo tài chính và những thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của ngân hàng Các điều kiện bảo đảm tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phaỉ có bảo đảm tín dụng phổ biến nhất là tài sản thế chấp.Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng các điều kiện vay kể cả thủ tục pháp lý về giấy tờ … Sự kiểm soát của ngân hàng cho vay: Một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay.Tuy sự kiểm soát của ngân hàng không gây ra vấn đề lớn nhưng doanh nghiệp vẫn có cảm giác bị kiểm soát Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn tín dụng ngân hàng phụ thuộc vào tình hình sử dụng vốn tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ.Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp 4.2. Các hình thức cho vay Về mặt thời gian có thể phân thành : Vay dài hạn: thường là từ 5 năm trở lên Vay trung hạn : từ 1 đến 5 năm Vay ngắn hạn: dưới 1 năm Tuỳ theo hình thức sử dụng mà ngân hàng có các hình thức cho vay khác nhau: Vay đầu tư tài sản cố định, vay vốn lưu động, vay để phục vụ dự án Cũng có những hình thức cho vay khác như: vay theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ hoặc vay theo hình thức bảo đảm các khoản vay 4.3. Vai trò của vốn tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp Vốn tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng của doanh nghiệp.Trên thực tế các doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất đều có sự trợ giúp của hoạt động ngân hàng . Có thể nói rằng : Không một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không vay vốn ngân hàng nếu công ty đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường.Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu. 5. Tín dụng Thương mại
  8. 7 N guồn vốn tín dụng thương mại là một nguồn hình thành tự nhiên trong quan hệ mua bán trả chậm trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với các doanh nghiệp mà đối với toàn bộ nền kinh tế. Trong một số công ty nguồn vốn tín dụng thương mại d ưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20% trên tổng số nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40%. N guồn vốn tín dụng thương m ại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất các khoản vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ. Khi mua bán hang hoá trả chậm chi phí này có thể “ẩn” dưới hình thức thay đổi mức giá, tuỳ thuộc vào quan hệ và tho ả thuận cụ thể giữa các bên. Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng hoá và linh hoạt hơn, với tính chất cạnh tranh hơn; Do đó, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. IV. Các hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp DN muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.DN muốn cạnh tranh thì sản phẩm và d ịch vụ của doanh nghiệp phải bắt kịp với nhu cầu của thị trường. Muốn như vậy thì DN phải luôn tiến hành đ ổi mới dây chuyền sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đ ại, mở rộng qui mô sản xuất và nâng cao năng suất lao động….Đấy chính là các ho ạt động đầu tư của doanh nghiệp. Các hoạt động đầu tư của DN bao gồm: 1. Đầu tư xây dựng cơ bản: bao gồm các hoạt động xây lắp, mua sắm máy móc và thiết bị. Đây là ho ạt động đầu tư quan trọng trong DN,là ho ạt động tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho DN. Trong DN vốn chi cho hoạt động này chiếm một tỷ trọng rất lớn. Thường chiếm trên 50% vốn bỏ ra ban đầu của DN. 2. Đầu tư bổ sung hàng dự trữ: để cho DN luôn trong thế chủ động đáp ứng đ ược nhu cầu thị trường và hoạt động một cách hiệu quả nhiều DN tỷ trọng vốn đầu tư cho mua sắm hang dự trữ là lớn. 3. Đầu tư nghiên cứu triển khái (R&D) công nghệ khoa học - kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp . Đây là hoạt động quan trọng nằm trong chiến lược hoạt động của doanh nghiệp vì KH -CN càng ngày càng phát triển với tốc độ rất nhanh chon. Nếu DN không đầu tư cho hoạt động này thì sẽ bị tụt hậu và không thể cạnh tranh đ ược trên thị trường 4.Đầu tư phát triển nguồn nhân lực(NNL): NNL là yếu tố quan trọng trong hàm sản xuất của doanh nghiệp. Một DN có chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ có nhiều tiềm năng để đưa DN đi lên và luôn phát triển. 5.Đầu tư cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm: Quảng cáo không thể thiếu trong kinh doanh. Quảng cáo, tiếp thị giúp cho sản phẩm và dịch vụ của DN có thể đến với khách hang. Hiện nay, trong các DN thì hoạt động quảng cáo và tiếp thị diến ra liên tục và hoạt động này sử dụng một lượng vốn chiếm tới 5% trong vốn chi cho ho ạt động trong DN. 6.Các hoạt động đẩu tư khác.
  9. 8 Đ ầu tư bất động sản; đ ầu tư tài chính; Đầu tư tín dụng chứng khoán….các hoạt động này không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ cho DN nhưng nó mang lại một nguồn thu nhập đáng kể cho DN. K hi tiến hành cáchoạt động đầu tư thì DN sẽ tiến hành đầu tư theo chiều sâu hoặc đầu tư theo chiều rộng.  Đầu tư theo chiều rộng: là hình thức đầu tư trên cơ sở cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, xây dựng mới nhưng với kỹ thuật công nghệ như cũ  Đầu tư theo chiều sâu : là hình thức đầu tư trên cơ sở nâng cấp đồng bộ hoá , hiện đại hoá, cơ sở vật chất hiện có. Là việc đầu tư mới nhưng với công nghệ kỹ thuật hiện đại mức thiết bị tiên tiến của nghành, địa phương. Phần II. Thực trạng huy động và sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay. I. Thực trạng huy động vốn trong các DNNN hiện nay. 1. Thực trạng cổ phần hoá. Các DNNN ở nước ta do yếu lịch sử đã và đang đóng góp vai trò to lớn gần như tuyệt đối trong mọi lĩnh vực nhưng lại hoạt động kém hiệu quả. Quá trình chuyển đổi đất nước sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước tất yếu phải đổi mới căn bản DNNN. Sắp xếp chuyển đổi sở hữu DNNN mà trọng tâm là cổ phần hoá DNNN được coi là xương sống của công cuộc đổi mới về kinh tế. Đổi mới, sắp xếp và phát triển DNNN là một chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta. Chủ trương này đã được triển khai thực hiện trong gần 20 năm qua. Q ua CPH, DNNN đ ã chuyển thành DN có nhiều chủ sở hữu, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động, huy động thêm được nguồn vốn của xã hội vào sản xuất, kinh doanh, hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập của DN được nâng lên. Mặc dù có những thăng trầm, nhưng công cuộc sắp xếp lại DNNN ở nước ta đã đem lại những kết quả đáng ghi nhận. Việc sắp xếp DNNN được thực hiện bằng các giải pháp: sáp nhập, hợp nhất, CPH, giao, khoán, bán cho thuê DN, tổ chức lại các tổng công ty và thành lập các tập đoàn kinh tế. Trong tất cả các giải pháp đó, CPH được coi là giải pháp cơ bản và quan trọng nhất để cơ cấu lại DNNN. Sau 15 năm kể từ khi thực hiện đổi mới chúng ta đ ã thành lập được 2987 công ty cổ phần trên cơ sở CPH DNNN và bộ phận DNNN. Đến hết tháng 8-2006, cả nước đ ã sắp xếp đ ược 4.447 doanh nghiệp, trong đó, cổ phần hoá 3.060 doanh nghiệp. Riêng từ năm 2001 đến nay đã sắp xếp được 3.389 doanh nghiệp (bằng 68% số DNNN có vào đầu năm 2001). Hình thức sắp xếp phổ biến nhất là cổ phần hoá. H ình thức CPH phổ biến nhất là bán m ột phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, kết hợp phát hành thêm cổ phần (hình thức này chiếm 43,4%), tiếp đó là bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp (hình thức này chiếm 26%), còn lại là bán toàn bộ vốn (hình thức này chiếm 15,5%), giữ nguyên vốn nhà nước và phát hành thêm cổ phiếu (chiếm 15,1%). Hiệu quả CPH: Số lượng doanh nghiệp cổ phần hoá (DN CPH) tăng mạnh: Tính đến 30/6/2006, cả nước đã cổ phần hoá được 3.365 doanh nghiệp, bộ phận doanh nghiệp, trong đó chỉ tính riêng năm 2005 thực hiện cơ chế cổ phần hoá theo Nghị định 187/2004/NĐ -CP đã có 967 đơn vị được phê duyệt phương án cổ phần hoá.
  10. 9 Thông qua cổ phần hoá đ ã huy động được trên 22.000 tỷ đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh. D N CPH có quy mô vốn lớn hơn trước đây: Trong số 967 đơn vị đ ã được phê duyệt phương án cổ phần hoá trong năm 2005 thì có tới 310 đơn vị có số vốn trên 10 tỷ đồng (chiếm 32%), trong đó có gần 10 doanh nghiệp có vốn nhà nước trên 300 tỷ đồng. Nếu như trước năm 2005 vốn nhà nước trong 2.307 đ ơn vị cổ phần hoá chỉ kho ảng 20 ngàn tỷ đồng, bằng 8% tổng số vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thì chỉ riêng năm 2005 vốn nhà nước trong 967 đơn vị cổ phần hoá đã đạt 20 ngàn tỷ đồng, bằng 8% tổng số vốn nhà nước. Theo điều tra cho thấy, sau CPH vốn b ình quân một doanh nghiệp tăng từ 24 tỷ $ (2001) lên 63,6 tỷ $ (2004), có tới 92,5% số doanh nghiệp được điều tra cho rằng có lãi, LNTT tăng 149,8%, LNST tăng bình quân 182,3%, mức nộp NSNN bình quân tăng 26,53%, NSLĐ tăng trung bình 63,9%, TN bình quân của người lao động tăng 35,4% so với trước CPH, lao động tăng do mở rộng sản xuất, cổ tức cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng. N ăm 2004, theo kết quả điều tra của Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp Trung ương đối với trên 500 doanh nghiệp nhà nước hoàn thành việc cổ phần hoá và đa dạng hoá quan hệ sở hữu trên một năm cho thấy, hiệu quả sản xuất kinh doanh đã có những chuyển biến tích cực: vốn điều lệ tăng từ 50 đến 100%; doanh thu tăng 60%; lợi nhuận trước thuế tăng 130%, nộp ngân sách tăng 45%; thu nhập người lao động tăng 63%. CPH tuy đã đạt được một số kết quả tích cực nhưng so với yêu cầu đổi mới còn chậm. vốn nhà nước trong các DNNN đã CPH còn nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình chưa được nhiều, thời gian CPH dài. N hìn chung các doanh nghiệp được cổ phần hoá đến nay vẫn còn nhỏ, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư có tiềm năng lớn về vốn, công nghệ, thị trường và kinh nghiệm quản lý; chưa thật sự đổi mới trong quản lý nội bộ doanh nghiệp, chưa phân biệt và có nhận thức rõ về vai trò người đại diện sở hữu phần vốn nhà nước và người trực tiếp sở hữu doanh nghiệp cổ phần. tình trạng các cổ đông chuyển nhượng cổ phiếu không đúng thủ tục luật pháp còn nhiều và có hiện tượng mua gom cổ phiếu… DNNN chiếm tỷ trọng ít về số lượng nhưng lại nắm một phần rất lớn về vốn. lượng vốn nằm trong các DNNN lên tới 270 ngàn tỷ đồng nhưng không được sử dụng có hiệu quả, sự thất thoát vốn không phải là nhỏ. Ngo ài ra DNNN còn sử dụng tới 70- 80% vốn tín dụng của ngân hàng quốc doanh. nhiều DNNN đã lợi dụng lợi thế vị thế “chủ đạo” của mình biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp gây ra những xáo động không nhỏ trong nền kinh tế. trong số hơn 3000 DN và bộ phận DN đã cổ phần hoá thì chỉ có 30% nhà nước không giữ một đồng vốn nào, nhà nước giữ cổ phần chi phối trên 51% tại 29% DN. Thí dụ Tổng công ty Điện lực Việt Nam còn nắm tới 65% vốn của nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, 75% vốn của nhà máy thuỷ điện Thác Bà và nhiệt điện Phả Lại. Với tỷ lệ cao như vậy các cổ đông bên ngoài hầu như không có quyền hạn gì. Đ iều này cho thấy, mặc dù đã cổ phần hoá nhưng nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất. Điều đáng nói là tỷ lệ vốn điều lệ mà nhà nước còn nắm tại các cty cổ phần không giảm mà ngày càng tăng. Nếu thời kỳ đầu (1992 -1998) tỷ lệ cổ phần mà nhà nước nắm trong các cty cổ phần là 28% thì đ ến thời kỳ 2001-2004, tỷ lệ này lên tới 49,8% và hiện nay bình quân là 46,5%. Đây
  11. 10 chính là điều hạn chế sự tham gia tiến trình cổ phần hoá của các nhà đầu tư chiến lược. H ầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá họ vẫn sử dụng gần như toàn b ộ bộ máy quản lý cũ. Theo điều tra của Phòng Thương m ại và Công nghiệp Việt Nam, thì sau khi cổ phần hoá, 81,5% giám đốc doanh nghiệp được giữ nguyên chức vụ; kho ảng 78% chức vụ phó giám đốc; kế toán trưởng không có sự thay đổi và không có doanh nghiệp nào sau cổ phần hoá sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành. Điều này làm giảm sức sáng tạo, tư duy kinh tế, trình độ và cung cách điều hành DN ít có sự thay đổi sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Theo quy định hiện nay, toàn bộ tiền thu về cổ phần hoá sau khi trừ các khoản chi phí cổ phần hoá; chi cho người lao động thôi việc, mất việc, đào tạo lại theo phương án cổ phần hoá được duyệt được chuyển về tổng công ty (cổ phần hoá đơn vị thành viên tổng công ty), công ty mẹ (cổ phần hoá bộ phận doanh nghiệp) hoặc về Quỹ sắp xếp cổ phần hoá Bộ Tài chính (cổ phần hoá các đơn vị độc lập thuộc bộ, ngành, địa phương). Quy đ ịnh này có hạn chế là trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá dưới hình thức phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn, toàn bộ khoản chênh lệch do bán đấu giá cổ phần đều phải nộp cho Nhà nước hoặc cho tổng công ty, công ty mẹ mà không được để lại cho doanh nghiệp thực hiện đầu tư, m ở rộng sản xuất nên thực tế nhiều DNCPH chỉ chú trọng hình thức bán bớt vốn nhà nước tại doanh nghiệp. 2. Thực trạng huy động vốn từ tín dụng ngân hàng Đối với hoạt động tín dụng ngân hàng, việc đổi mới cơ chế tín dụng phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước được tiến hành đồng thời với quá trình sắp xếp đổi mới DNNN đã và đang có những tác động tích cực, nhưng cũng phát sinh những khó khăn vướng mắc và rủi ro tín dụng ở nhiều DN thuộc các bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các tỉnh quản lý. Mặt tích cực: DNNN được phân cấp mạnh hơn trong quyết định đầu tư, quản lý tài chính, đấu thầu, thực hiện tiết kiệm chi phí, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh. Điều này tạo điều kiện cho các NHTM rút ngắn khả năng tiếp cận, thẩm định nhu cầu vay vốn, đánh giá khả năng trả nợ để xử lý và phân loại và phản ánh chính xác hơn chất lượng tín dụng. H ạn chế: Tỷ trọng dư nợ vau có đảm b ảo đ ã được nâng lên nhưng tỷ lệ lớn các tài sản thế chấp của DNNN không đảm bảo điều kiện đăng ký giao dịch do giấy tờ không đủ, chưa chuẩn mực, giá trị tài sản thế chấp còn đánh giá chưa sát thị trường. Việc giám sát mục đích sử dụng và hiệu quả vốn vay đối với các khoản vay của DN còn khó khăn, nhiều lúc bị động theo khách hàng. Các Ngân hàng thương mại mặc dù vẫn rất tích cực trong hỗ trợ vốn cho hệ thống các DNNN nhưng nghi ngại tính khả thi, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng hoàn vốn của DNNN và bởi một số các lý do khác sau: V iệc tài trợ cho các DNNN gặp rất nhiều khó khăn trong công tác thu hồi vốn để tái đ ầu tư. Nợ xấu, nợ quá hạn lớn phần nhiều cũng nảy sinh từ hoạt động tài trợ cho các DN này, dẫn đến khả năng sinh lời của các NHTM thấp do phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro lớn theo quy định hiện hành
  12. 11 Nợ tồn đọng trong các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp ngành xây lắp chưa được giải quyết thoả đáng. Các doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng trong khi các NHTM lại chưa nhận được sự hỗ trợ để thu hồi nợ vay từ các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Phát mại tài sản bảo đảm hiện nay là trở ngại lớn cho các NHTM (đặc biệt là tài sản của các doanh nghiệp Nhà nước) vì đ a phần các tài sản chưa đủ cơ sở pháp lý để thế chấp, cầm cố. Vì vậy, khi xử lý tài sản đảm bảo Ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn và làm giảm sút giá trị của tài sản. Xử lý tranh chấp liên quan đ ến nợ vay giữa Ngân hàng và doanh nghiệp nhiều khi còn chưa công bằng, quyền lợi của N gân hàng chưa được bảo đảm khi doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán Trong nền kinh tế thị trường đang hội nhập, doanh nghiệp nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Ho ạt động của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả, khả năng tạo ra lợi nhuận kém, hàng tồn kho tiêu thụ chậm, công nợ chưa thanh toán được... cộng thêm các cơ chế, quy chế quản lý của doanh nghiệp nhà nước cũng ngày càng trở nên bất cập với thực tiễn , bộ máy quản lý cồng kềnh, trình độ quản lý tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao... khiến các ngân hàng e ngại khi xem xét cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước thường có nguồn vốn tự có thấp nên khả năng tự chủ về tài chính không cao. Để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động các đơn vị này thường phải vay vốn ngân hàng có những phương án tỷ lệ vay vốn có thể lên đến 100% nhu cầu thanh toán. Phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước không có tài sản bảo đảm nên việc cho vay thường thực hiện theo hình thức tín chấp. Việc cho vay tín chấp mang nhiều rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng. Một số trường hợp khách hàng có tài sản là bất động sản có giá trị khá lớn nhưng giấy tờ chứng minh sở hữu thường không đầy đủ. Ngân hàng muốn lấy tài sản này làm đảm bảo cho khoản vay nhưng lại không thực hiện đ ược việc ký hợp đồng thế chấp và không đăng ký được giao dịch bảo đảm. Theo hội nghị phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp của Trung tâm Thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước: "Doanh nghiệp Nhà nước là lo ại hình doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả nhất. Qua phân tích cho thấy doanh nghiệp nhà nước vay nợ nhiều, khả năng tự chủ tài chính thấp, khả năng sinh lời thấp, độ rủi ro cao". Tất cả những điều đó đã dẫn đến rủi ro đối với nguồn vốn tín dụng cao và kết quả là nhiều doanh nghiệp nhà nước đã bị mất niềm tin đối với ngân hàng và các ngân hàng tuy không "ngoảnh mặt" lại với doanh nghiệp nhà nước nhưng họ rất thận trọng khi tài trợ mới hoặc tiếp tục tài trợ Các doanh nghiệp trong ngành xây dựng hiện đang trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng. Để bảo đảm kế hoạch đầu tư, các tổng công ty hầu như phải đi vay là chính, vốn tự cho các doanh nghiệp nhà nước. D oanh nghiệp nhà nước nói chung khi chuyển sang công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, mặc dù thắt chặt tín dụng không có nghĩa là phân biệt đối xử.có chỉ đạt 2- 3% tổng mức đầu tư, áp lực trả nợ rất căng thẳng. Song, chính các công ty cổ phần (CTCP) lại là những doanh nghiệp đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp gặp khó khăn nhất về vốn, bởi vì những quy định thắt chặt
  13. 12 trong vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Đây cũng là một trong những lý do khiến nhiều lãnh đạo các cấp còn băn khoăn, chưa chỉ đạo quyết liệt, người lao động lo lắng, bất an… gây ảnh hưởng đến chỉ tiêu kế hoạch CPH từ đầu năm đến nay. Công ty cơ khí và xây lắp Thái Bình (COMA 16) là doanh nghiệp không nằm trong danh sách các đơn vị của COMA trong Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp của Bộ Xây dựng. Song vì mục tiêu đẩy nhanh hơn nữa việc CPH doanh nghiệp, COMA 16 trở thành 1 trong 3 công ty được tổng công ty trình Bộ phê duyệt CPH trong năm 2004. COMA 16 đã quán triệt nghiêm túc chủ trương của Đảng, Nhà nước, tích cực tổ chức thực hiện các quy định của Bộ, quyết tâm đến tháng 10/2004 sẽ hoàn thành xong các bước chuyển sang công ty cổ phần. Sẽ không có gì khó khăn b ởi đây là doanh nghiệp cơ khí làm ăn đang có hiệu quả, là một điển hình của các doanh nghiệp trên địa bàn Thái Bình trong hoạt động vay và trả nợ ngân hàng đúng hạn. Nhưng ngay từ khi vừa nhận được quyết định CPH, cán bộ của ngân hàng đ ã đến tận công ty thông báo: ngân hàng cấp trên đã có "chỉ đạo" sẽ thực hiện hạn chế tối đa các hợp đồng vay vốn, tích cực thu hồi nợ cho đến khi công ty thực hiện CPH xong để chuyển sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp thay vì theo Luật doanh nghiệp nhà nước trước đây. Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của công ty. Hiện nay, công ty đang thực hiện khối lượng lớn chế tạo cột điện cho đường dây tải điện 500 KV đoạn Đà Nẵng - Thường Tín và Việt Trì - Sơn La, chế tạo thiết bị cho dự án Nhà máy xi măng Sông Gianh... nhưng chỉ ứng được 7 - 8% giá trị hợp đồng, nên nhu cầu vốn vay lưu động để duy trì sản xuất thường xuyên cần từ 5 - 6 tỷ đồng. Theo sổ sách kế toán, công ty đang quản lý tài sản trị giá 7 tỷ đồng, có khả năng vay tới 10 tỷ đồng. Ông Vũ Đức Dũng, Giám đốc công ty lo ngại: "Sau khi xác định lại để CPH, giá trị doanh nghiệp chỉ còn khoảng 3- 4 tỷ đồng, trong đó bao gồm cả giá trị thiết bị, nhưng đa số các ngân hàng chỉ quan tâm đến tài sản có giá trị thế chấp lớn nhất là quyền sử dụng đất. Như vậy, khả năng được vay 3 tỷ đồng cũng là khó". Cũng trong tình trạng tương tự, ông Nguyễn Văn Tài, Giám đốc công ty cổ phần xây dựng Bình Dương cho biết: "Khi còn là doanh nghiệp nhà nước, công ty có thể vay vốn gấp 20 lần giá trị tài sản của đ ơn vị nhưng nay chỉ còn được vay bằng 70% giá trị tài sản đơn vị có. Thậm chí, có dự án đầu tư cũng khó mà vay được tiền". K hông chỉ các doanh nghiệp ngành xây dựng mà doanh nghiệp nhà nước nói chung khi chuyển sang công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Bởi lẽ trước đây chỉ cần bảo lãnh của tổng công ty là doanh nghiệp có thể vay theo hình thức tín chấp nhưng khi chuyển sang công ty cổ phần sẽ phải tuân thủ quy định chặt chẽ hơn: phải có bảo lãnh của tổng công ty (bằng văn bản bảo lãnh hoặc hợp đồng cam kết bảo lãnh) đối với toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc và các khoản lãi công ty đã vay và sẽ vay; doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp, bảo đảm tiền vay. Đ ây là một trong những thực trạng mà DN sau CPH gặp phải trong việc huy động vốn. 3. Huy động vốn qua cổ phiếu
  14. 13 Công tác CPH DNNN đã đ ạt được kết quả trên nhiều mặt, các kết quả này có tác tích cực đến thị trường chứng khoán Việt Nam. CPH đã được triển khai rộng rãi đã trực tiếp làm tăng hàng hoá cho TTCK: theo số liệu của cục Tài chính DN, tính đến hết tháng 6 năm 2006, cả nước đã CPH được trên 3000 DN và bộ phận DNNN. Đặc biệt đã từng bước tiến hành CPH một số DN có giá trị hàng ngàn tỷ đồng như công ty sữa Việt Nam (giá trị DN 2.500 tỷ đồng), nhà máy thuỷ điện Sông Hinh- Vĩnh Sơn 2.144 tỷ đồng, Công ty Bảo hiểm TPHCM 1.311 tỷ đồng… CPH rộng khắp là nguồn hàng hoá quan trọng làm phong phú nguồn hàng hoá trên thị trường chứng khoán. CPH đã huy động được một lượng vốn nhàn rỗi cho đầu tư qua thị trường chứng khoán. với 2.242 DNNN được CPH năm 2004, 12.411 tỷ đồng cổ phiếu đã đ ược bán, nhà nước nhờ đó đã có 10.169 tỷ đồng (chiếm 58% tổng số vốn nhà nước đã CPH) để tái đ ầu tư phát triển kinh tế. Mặt khác quy mô vốn điều lệ của DN sau CPH tăng bình quân 44% đã cho thấy CPH đã thực sự mở ra một cánh cửa để các DNNN tiếp cận với một kênh dẫn vốn mới đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển. Tính đến hết tháng 1/2006 trung tâm GDCK Hà Nội đã đấu giá 28 phiên lớn cho các DNNN CPH hoặc các DNNN đã CPH bán bớt phần vốn nhà nước (chưa kể có 17 phiên phối hợp với TTDGCK TP HCM). Tổng giá trị cổ phần trúng giá đạt 2.039,2 tỷ đồng, với 2.880 nhà đầu tư trúng giá trên 4.085 tổng số lượt nhà đầu tư đăng ký đấu giá. Bán đấu giá cổ phần đã trở thành một kênh huy đ ộng vốn quan trọng đối với các DNNN thông qua TTCK. Từ tháng 7/2003 đến nay, đã có khoảng 40 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bán đấu giá cổ phần tại Việt Nam để các chuyển sang hình thức công ty cổ phần. Nhiều chuyên gia đánh giá thị trường này đang càng ngày càng sôi động. Công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam, Công ty chứng khoán Ngân hàng ngoại thương, Công ty chứng khoán Ngân hàng công thương, Công ty chứng khoán Bảo Việt... hiện là những đ ơn vị hàng đầu trong việc nhận làm đại lý bán cổ phần cho các công ty chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần. Ngoài ra, nhiều công ty cổ phần cũng tự thành lập hội đồng bán đấu giá và tự tổ chức bán đấu giá. Theo Công ty chứng khoán của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, từ tháng 7/2003 đến nay, Công ty này đ ã nhận bán đấu giá cho 5 khách hàng là Gamex, Vifon, Vinamilk, Badaco, TIE. Kết quả bán đấu giá cổ phần lần đầu của các doanh nghiệp này rất khả quan. N gày 24/2/2004, Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu TIE-Tp.HCM đã thông báo bán đấu giá cổ phần lần đầu để chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần. Công ty này đã đưa m ức giá khởi điểm để đấu giá lên 115.000 đồng, được coi là mức khởi điểm cao nhất từ trước tới nay trong số các công ty bán đấu giá cổ phần. Công ty Vinamilk, khi bán đấu giá chỉ chào giá khởi điểm là 105.000 đồng một cổ phần, nhưng cho đến khi vào phiên đấu giá, người mua cao nhất đ ã trả giá 181.000 đồng. Sau khi bán đấu giá, trị giá tiền thu về của Vinamilk từ 72 tỷ đ ã tăng thêm 42 tỷ đồng nữa. N hững tồn tại của quá trình CPH làm cản trở đến việc niêm yết/đăng ký trên thị trường chứng khoán. Tiến độ CPH chậm. kết quả thực hiện CPH mới đạt khoảng 80%, trong đó nhiều bộ ngành, địa phương đ ạt dưới 50%. Thời gian để CPH một DN
  15. 14 trung bình mất 437 ngày, nhiều nơi là vài năm trong khi theo quy định chỉ là 9 tháng. Theo kế hoạch, cho tới cuối năm 2007, còn 1700 DN cần CPH, bằng gần 70% số đã thực hiện của cả giai đoạn 2000- 2005, đay thực sự là một bài to án cho các Bộ, ngành, và lời giải của bài toán này cũng chính là chìa khoá cho việc gia tăng hàng hoá trên thị trường chứng khoán. N hiều DN CPH khó có thể trở thành công ty đại chúng. Phần lớn DN đ ược CPH là DN nhỏ (có đến 40% DN được CPH có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng). không những thế, tuy được CPH song phần vốn nắm giữ của nhà nước tại các DN này vẫn rất lớn. Kể cả với DN đang niêm yết trên TTGDCK TP HCM, tỷ lệ phần vốn nhà nước vẫn chiếm trung b ình kho ảng 30%. Mặt khác, có tới 38,4% số DN CPH không bán cổ phần ra bên ngoài. Cổ phần ít đ ược chào bán ra bên ngoài là một cản trở để DN đến với TTCK 4. Thực trạng huy động từ trái phiếu N hiều người vẫn cho rằng, một doanh nghiệp tốt là một doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp. Điều này hiện không còn phù hợp nữa mà còn có thể nói là lạc hậu. Theo một số chuyên viên tài chính thì tỷ lệ nợ cao chưa hẳn là x ấu mà còn thể hiện khả năng chiếm dụng vốn và nhất là uy tín của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vị thế càng cao càng d ễ huy động. Việc phát hành trái phiếu ra công chúng cũng góp phần quan trọng quảng bá hình ảnh doanh nghiệp và nâng cao vị thế của chính doanh nghiệp PHTP. Những thuận lợi Tổng khối luợng vốn huy động góp phần đáp ứng một phần nhu cầu vốn; các đơn vị đã chủ động trong việc quyết định số lưọng, thời hạn phát hành và thời điểm phát hành; thủ tục nhanh gọn hơn so với vay ngân hàng đòi hỏi nhiều thủ tục, điều kiện và hạn chế khả năng cho vay; chi phí phát hành từ trái phiếu, cổ phiếu thấp hơn chi phí đi vay ngân hàng hay vay ECA. Các D n có thể đưa ra những kế hoạch giải ngân, hay chủ động hơn trong phòng ngừa rủi ro vỡ nợ. Đó là những lợi cích mà khi PHTP mang lại cho DN . Ta có thể lấy EVN là ví dụ: chi phí đợt phát hành EVNBOND0406 là 9,9%/năm lãi suất traí phiếu 9,6%/năm và chi phí phát hành là 0,3%/năm trong khi mức cho vay của các NHTMQD đối với dự án trung và dài hạn của EVN là 11,52% tiết kiệm hàng năm là 1,62%. Trong tính toán lãi suất trái phiếu, việc sử dụng lãi suất của các ngân hàng quốc doanh làm tham chiếu vẫn đảm bảo cạnh tranh về giá và hấp dẫn nhà đầu tư, lãi suất trái phiếu EVNBOND 0406 là 9,6%/ năm bằng với mức lãi huy động cao nhất của khối ngân hàng là 9,6%/ năm do Sacombank công bố và cao hơn m ức bình quân của khối ngân hàng thương mại cổ phần là 9,13%/năm. EVN chủ động phòng ngừa rủi ro vỡ nợ cho phát hành bằng các kế hoạch sử dụng và trả nợ cụ thể. Dự án phát hành trái phiếu đưa ra kế hoạch giải ngân chi tiết phù hợp với tiến độ xây dựng công trình, tránh tình trạng thưa thiếu vốn do thiếu cân đối chi tiết. Kế hoạch trả nợ được cân đối giữa nguyên tác tận dụng tối đa các gnuồn vốn tự do của EVN, hạn chế sử dụng các nguồn vay khác để trả nợ. Hạn chế vẫn còn gặp phải của DN khi phát hành trái phiếu: a/ Khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn vốn còn chưa cao
  16. 15 K hối lượng vốn huy động từ phát hành trái phiếu còn nhỏ chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Riêng 2006 nguồn vốn đầu tư mà EVN chưa cân đối được là 7584 tỷ trong đó 2004 đợt phát hành trái phiếu tính đến 30/9/2006 huy động được 2006 tỷ đồng, mới đáp ứng được 34,28% giá trị vốn chưa cân đối được nguồn. b/ V ề tính chất sử dụng vốn: V iệc sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu mới chỉ bó hẹp trong phạm vi phục vụ đầu tư xây dựng cơ bản mà chưa được sử dụng cho các mục đích khác như: cơ cấu kho ản vay trung dài hạn, tăng quy mô vốn kinh doanh.Với EVN mới chỉ chú trọng phát hành trái phiếu có số năm huy động vốn cho các công trình xây dựng có thời gian 3-5 năm, còn đối với các công trình mà thờ gian xây lắp kéo d ài > 10 năm Thuỷ điện Sơn La, Thuỷ điện Lai Châu đòi hỏi phải có sự phù hợp về thời gian vay nợ thì EVN chưa phát hành đợt trái phiếu dài hạn nào. Ngoài ra, trái phiếu của EVN trái phiếu của EVN phát hành không có khả năng chuyển đổi để đảm bảo cân đối tỷ lệ trên vốn c/ Tính chủ động kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn chưa cao Do nhiều DNNN vẫn tự phát hành trái phiếu nên thời gian huy động vốn tương đối lâu, tiến hành giải ngân vốn chậm. Hiện nay DN vẫn chưa có thói quen thuê tư vấn phát hành, chính vì thế việc thực hiện các thủ tục vẫn còn phức tạp, rườm rà d/ Chi phí huy động đ ược xây dựng chưa thật sự chính xác, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm trực quan CPHĐ = CPPH+LSTP Các DN tiết kiệm chi phí bằng cách giảm lãi suất trái phiếu .Nhưng hiện nay hiếm có những DN nào có một phương pháp khoa học để xác định lãi suất , ví dụ bằng các công cụ toán, bản thân lãi suất trái phiếu chưa đ ủ độ tin cậy để hình thành đ ường cong lãi suất chuẩn. Mà các DN buộc phải xác định lãi suất trái phiếu trên cơ sở lãi suất ngân hàng làm tham chiếu. Dựa trên khung lãi của ngân hàng( là đối thủ của DN trong huy động vốn từ x ã hội ) để xây dựng lãi suất trái phiếu gây ra sự sai lệch và giảm tính cạnh tranh của trái phiếu, các ngân hàng có thể chấp nhận lãi ít và đột ngột thay đổi mức biên vào thời điểm phát hành thì khả năng hấp dẫn của trái phiếu chưa chắc đã còn. Phát hành trái phiếu thông qua hình thức đấu thầu giúp hình thành lãi trái phiếu một cách khách quan . Nếu trái phiếu phát hành theo hình thức đấu giá, các DN chỉ cần xác định khung lãi suất tối đa có thể chấp nhận được, việc xác định lãi suất sẽ do nhà thầu quyết định trên cơ sở cung- cầu. Tuy nhiên phương thức lập giá này vẫn chưa được thực hiện rộng rãi. e/ Khả năng chủ động hạn chế khả năng vỡ nợ chưa cao: V iệc lập kế hoạch sử dụng và trả nợ vẫn mang tính chủ quan, chưa hoàn toàn triệt để cần thiết phải có thong tin đánh giá khách quan của đơn vị độc lập về tình hình tài chính của các DN. Cho đến nay thì các DNNN vẫn chưa chủ động thuê tư vấn xếp hạng tín nhiệm trái phiếu. Chỉ có qua thông tin xếp hạng các DN mới thực sự có thể chủ động tiến hành các biện pháp ngăn ngừa rủi ro vỡ nợ Nguyên nhân dẫn tới những hạn chế 1/ Nguyên nhân khách quan Th ứ nhất: Uy tín và quy mô của doanh nghiệp Nhiều DN còn phát hành theo hình thức riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược
  17. 16 V í dụ như EVN bán trái phiếu cho các ngân hàng quen biết, với uy tín lâu năm các tổ chức sẵn sàng mua hết số trái phiếu đã phát hành, tuy nhiên chỉ áp dụng với những đợt phát hành quy mô nhỏ, vì thế những dự án có thời gian thực hiện d ài thì không đủ đáp ứng, chưa phát huy hết tên tuổi uy tín để phát hành trái phiếu rộng rãi ra công chúng Th ứ hai: Công ty tài chính chưa được hình thành Các tập đoàn lớn thường phải hình thành những công ty tài chính làm nhiệm vụ chuyên trách huy đ ộng vốn, đó là đầu mối tập chuyên lo tạo nguồn, cân đối vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư. Nhưng hiện nay thì các doanh nghiệp vẫn chưa hình thành các công ty tài chính như thế. N guyên nhân là do thái độ nhận thức phát hành trái phiếu, hầu hết đều chỉ chú trọng cạnh tranh về lãi suất không chú trọng tới tính thanh khoản của trái phiếu bằng nghiệp vụ mua bán nợ có kỳ hạn trên thị trường chứng khoán (REPO), hoặc phát hành trái phiếu có khả năng chuyển đổi, phát hành trái phiếu có khả năng thu hồi trước hạn, Chưa nhận thức được vai trò của tổ chức trung gian tài chính làm nhiệm vụ tư vấn là các công ty chứng khoán: tổ chức này không chỉ cung cấp dịch vụ về bảo lãnh, đại lý, là nhà đầu tư mà còn là các tổ chức tư vấn hỗ trợ phát hành. N hiều DN còn tổ chức phát hành khép kín từ nghiên cứu thăm dò thị trường, tạo lập phương án phát hành, chuẩn bị và tổ chức phát hành nên hiệu quả còn chưa cao, thời gian phát hành còn dài, chi phí lớn, không chuyên nghiệp. Th ứ ba: V ề năng lực sản xuất kinh doanh DN Sản xuất kinh doanh có lãi là nơi hấp dẫn NĐT bỏ vốn cho vay . Trong báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của EVN giai đoạn 03-05: là DN có tình hình tài chính lành mạnh, luôn bảo to àn và phát triển được vốn, tổng tài sản tăng bình quân 15%/ năm, doanh thu tăng b ình quân 18,64%/năm, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 4,1%, tỉ lệ nợ phải trả là 55% tổng tài sản được đánh giá là khá hợp lý, khả năng thanh toán nợ ngân hàng cao hơn hai lần. N hững chỉ tiêu này cho thấy EVN có thể thực hện tốt nghĩa vụ thanh toán đến khi đến hạn. Do đặc thù là sản xuất kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận của EVN trong thời gian vừa qua là chưa cao, nhưng kết quả sản xuất kinh doanh ổn định cho thấy là đầu tư vào ngành điện là đảm bảo có lãi và rủi ro thấp. Đây chính là lý do mà EVN chú trọng phát hành trái phiếu riêng lẻ cho các NĐT là các ngân hàng có mối quan hệ làm ăn lâu dài, có kiến thức về hoạt động sản xuất kinh doanh ngành điện. Th ứ tư: Kinh nghiệm phát hành trái phiếu Phát hành trái phiếu trải qua nhiều giai đoạn như chuẩn bị, đăng kí, tổ chức phát hành và cuối cùng là giai đoạn tổng kết đúc rút kinh nghiệm, kinh nghiệm được tích luỹ qua nhiều lần phát hành,về cường độ phát hành, sự phức tạp trong phát hành. Các đợt phat hành của EVN vừa qua đem lại cho EVN kinh nghiệm về phát hành riêng lẻ cho các nhà đầu tư có tổ chức, lãi suất trái phiếu thả nổi theo lãi suất thị trường. Đến nay EVN chưa có kinh nghiệm phát hành ra công chúng, chưa am hiểu về thủ tục đăng ký niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán 2/ Nguyên nhân khách quan Th ứ nhất: Do hệ thống chính sách của Nhà nước
  18. 17 Luật pháp là môi trường kiến tạo cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ thống luật pháp về chứng khoán và thị trường chứng khoán đang d ần được hoàn thiện. Luật chứng khoán có hiệu lực vào 1/1/07 thay cho nghị định 144, nghị định 52 thay cho nghị định 120 là một trong những bước kiện toàn như vậy.Hạn chế của nghị định 120 đã cản trở các DN nói chung và EVN nói riêng trong việc huy đ ộng vốn qua phat hành trái phiếu. Nghị định 52 ra đời khuyến khích tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia phat hành trái phiếu trên cơ sở tự vay tự trả, nới lỏng sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào việc phát hành trái phiếu. Nhưng một trong những nguyên nhân khiến EVN không chủ động trong việc hạn chế rủi ro là do trong nghị định 52 chưa coi việc đánh giá xếp hạng trái phiếu là bắt buộc, chỉ mới thừa nhận việc tồn tại các tổ chức định mức tín nhiệm. Th ứ hai : Vấn dề về thị trường chứng khoán Cho đến nay thì thị trường chứng khoán Việt nam mới chỉ được coi là đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, chưa phải là kênh huy đ ộng vốn quan trọng của DN. Nó thể hiện ở những vấn đề còn tồn tại hiện nay như quy mô nhỏ, hàng hoá còn nghèo nàn, chưa có các nhà tạo lập thị trường, cơ chế xây dựng lãi suất chưa hợp lý, chưa có hệ thống thông tin tiêu chuẩn. Quy mô thị trường chứng khoán nhỏ chỉ chiếm khoảng 4-5%GDP trong khi đó Mỹ, Nhật Bản , EU chiếm tới 80%GDP hoặc ngay như các nước trong khu vực như Singaiore, Malaysia, Thai Lan thì thị trưòng này cũng phát triển mạnh hơn Việt Nam rất nhiều chiếm khoảng 30-40%. Hiện nay tổng mức hoạt động trên thị trường trái phiếu Việt Nam là khoảng70.000-80.000 tỷ mà trong đó chủ yếu là trái phiếu chính phủ ( 80% tổng giá trị). H àng hoá cung cho thị trường còn nghèo nàn. Đến nay mới chỉ có một số ít doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp: Vietcombank, BIDV, TCty Dầu khí ,TCty Công nghiệp tàu thuỷ, EVN TCty Sông đà… Sự thiếu vắng những nhà tạo lập thị trường có tính chuyên nghiệp đã làm cho thị trường trở nên kém sôi động hơn. Hiện nay các nhà đ ầu tư mua trái phiếu với mục đích đầu tư dài hạn nên ít có nhu cầu bán lại trái phiếu, nhưng khi bán lại trái phiếu thì họ lại gặp phải khó khăn do thị trường không có nhà tạo lập thị trường sẵn sang mua lại trái phiếu với giá hợp lý. Các nhà đầu tư lúng túng dè dặt khi quyết định đầu tư do thiếu thông tin minh bạch, chính xác về doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Một hệ thống thông tin theo kiểu chứng chỉ ISO hay chính là tổ chức định mức tín nhiệm sẽ giúp nhà đầu tư có được những quyết định đầu tư hợp lý và là một trong những tiền đề để nhà đầu tư phát hành trái phiếu trên thị trương quốc tế Lãi suất trái phiếu tính toán dựa trên kinh nghiệm chưa có một phương pháp khoa học tính toán lãi suất bằng các công cụ toán. Ngo ài nguyên tắc lãi suất thực dương thì DN còn dựa vào nhu cầu vốn và khả năng huy động vốn trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường Một điều đáng nói nữa là thị trường trái phiếu chưa hình thành đường cong lãi suất chuẩn vì lãi suất chính phủ chưa hoàn toàn được hình thành trên nguyên tắc thị trường theo quan hệ cung- cầu, vì thế các thành viên trên thị trường gặp khó khăn trong nghiên cứu định giá trái p hiếu Th ứ ba: thuộc về các nhà đầu tư
  19. 18 Phát hành theo hình thức riêng lẻ cho một số nhà đ ầu tư có tổ chức thì sẽ không mất nhiều thời gian, thủ tục nhu cầu vốn nhanh chóng được đáp ứng nhưng hạn chế là nguồn vốn huy động không đủ lớn. Phát hành trái phiếu rộng rãi ra công chúng đ ể khai thác hàng triệu nhà đ ầu tư nhỏ lẻ là một nguồn vốn rất tiềm năng của các DN nói chung và EVN nói riêng. Nhưng hiện nay do vấn đề thị trường còn chưa phát triển nên chưa thực sự khuyến khích các nhà đầu tư bỏ tiền mua trái phiếu. Th ứ tư: Tổ chức trung gian tài chính H iện nay hệ thống công ty chứng khoán của ta còn yếu về năng lực, kinh nghiệm, quen phát hành trong nước mà không có kiến thức phát hành trên thị trường quốc tế, khả năng tài chính còn hạn chế nên năng lực bảo lãnh chỉ giới hạn, các đợt phát hành có khối lượng không lớn. Theo nghị định 144 để phát hành ra công chúng phải có bảo lãnh phát hành, nhưng với năng lực hạn chế của các công ty chứng khoán chưa cho phép EVN tiếp cận nguồn vốn từ công chúng. H ạn chế nữa là hiện nay VN chưa có tổ chức độc lập cung cấp dịch vụ về định mức tín nhiệm. Đây là nguồn thông tin chính xác minh bạch về trái phiếu và doanh nghiệp phát hành thiếu vắng của tổ chức này khiến EVN thiếu đi một người cung cấp thông tin trung thực ra công chúng khi phát hành rộng rãi Tình hình PHTP trong thời gian gần đây: N ăm 2006 EVN đã phát hành 6000 tỷ đ ồng tại thị trường trong nước và được giới quan sát trong và ngoài nước đánh giá rất cao về mức độ thành công. Năm 2008, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) dự kiến phát hành từ 300 - 500 triệu USD trái phiếu ra thị trường quốc tế.Riêng đợt phát hành 1000 tỷ đồng gần đây nhất EVN đã chọn ABB làm đơn vị phát hành chính thức,ABB có trách nhiệm cao trong việc khai thác, tiếp cận thu hút vốn cho EVN, EVN đánh giá rất cao khả năng tư vấn khai thác nguồn vốn của ABB đặc biệt là nguồn vốn nước ngoài.Trái phiếu phát hành lần này được uư tiên chon nhà đầu tư nước ngo ài tại Việt Nam, mặc dù TP được phát hành bằng đồng nội tệ.Ngay sau khi thong báo phát hành, nhà đầu tư đã đăng ký hết, số lượng đăng ký thậm chí còn cao gấp đôi so EVN đề ra. Thực tế cho thấy rằng so với những lần phát hành đầu thì giờ đây EVN đã có nhiều kinh nghiệm hơn trong nghiệp vụ phát hành trái phiếu, làm cho trái phiếu đã trở thành một kênh huy động hữu hiệu của DNNN. II. Thực trạng sử dụng vốn đẩu tư của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay. 1. Thực trạng sử dụng vốn đầu tư trong các DNNN Việt Nam hiện nay Thực trạng sử dụng vốn đầu tư ở các DNNN hiện nay còn nhiều điều đáng nói. Có nhiều DNNN làm ăn có lãi nhưng đa phần các DNNN đang ở trong tình trạng làm ăn thua lỗ do việc tiến hành các hoạt động đầu tư không chú trọng. 1.1.Đầu tư cho xây dựng cơ bản Ho ạt động đầu tư xây d ựng cơ bản có vai trò quan trọng trong DN, hoạt động này tạo ra cơ sở vật chất hạ tầng cho DN, tạo tiền đề cho hoạt động của DN. Trong số hơn 4000 DNNN năm 2005, số DN có qui mô nhỏ và vừa chiếm một tỷ trọng lón ( vốn dưới 5 tỷ, và dưới 300 lao động). DN có vốn từ 1-5 tỷ đồng chiêm 37,01%, DN có vốn từ 5- 10 tỷ chiếm 8, 18 %. Chính vì có qui mô nhỏ nên hoạt động
  20. 19 xây dựng cơ bản không đ ược chú trọng. Mức độ trang bị cho tài sản cố định thấp, số DN có mức trang bị cho TSCĐ dưới 5tỷ chiếm 86%. Máy móc thiết bị rất lạc hậu, có DNNN máy móc thiết bị lạc hậu đến hàng chục năm. Thực tế này có thể thấy đ ược ở rất nhiều DN. Mặc dù lạc hậu và nghèo nàn như vậy nhưng việc đầu tư cho xây dựng cơ bản trong các DN không được quan tâm. VD: Năm 2005 trong ngành dệt mức trang bị cho tài sản cố định là 153 triệu đồng/LĐ , ngành thuỷ sản là 80 triệu đồng/LĐ… con số này là quá thấp. Cũng do qui mô các DN quá nhỏ nên hoạt động đầu tư cho xây dựng cơ bản không được tiến hành vì không đủ vốn. Đây là một thực trạng cần giải quyết cấp bách. Tuy nhiên, không p hải tất cả các DNNN đêu có họat động đầu tư xây dựng cơ bản ì ạch như vậy. Lấy ví dụ là Tổng công ty sữa Việt Nam ( VINAMILK) từ khi thành lập năm 1976 đ ến nay, Vinamilk đã tiến hành xây dựng nhiều nhà máy ở khắp 3 miền của đất nước. Các chi nhánh hoạt đ ộng cũng được Vinamilk đầu tư xây dựng tích cực. VINAMILK không chỉ đầu tư xây dựng theo qui mô mở rộng ( theo chiều rộng) mà máy móc thiết bị cũng được đầu tư đổi mới hiện đại. Như vậy Vinamilk đã tiến hành đầu tư theo cả chiều rộng và chiều sâu. 1.2.Đầu tư bổ sung hang dự trữ Đây là hoạt động đầu tư nhằm đảm bảo cho hoạt động của DN diễn ra liên tục. Tuy nhiên trong các DNNN sản xuất hiện nay hoạt động này cũng chưa được tiến hành một cách có hiệu quả. Tình trạng thiếu nguyên vật liệu vẫn thường xuyên x ảy ra. Nghành dệt may của VN cần phải nhập tới 80% nguyên vật liệu từ nước ngoài. Nghành điện tử nội địa chỉ đáp ứng được trên dưới 20% linh kiện, ngành lắp ráp ô tô là 96,5%...... điều này cho thâý DNVN phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nước ngoài. Khi có những biến động xảy ra trên thế giới thì các DN dễ rơi vào tình trạng đình trệ sản xuất vì thiều nguyên nhiên vật liệu. Các DNNN vẫn chưa thể chủ động và nắm đằng chuôi trong hoạt động sản xuất của mình. 1.3.Đầu tư cho ho ạt động nghiên cứu triển khai ( R & D) công nghệ kỹ thuật. Khi nói đến hoạt động này thì DNNN Việt Nam đang có rất nhiều yếu kém. Ho ạt động đầu tư này sẽ giúp cho DN nâng cao năng suất lao động, tìm ra công nghệ sản xuất mới, hạ giá thành tăng tính cạnh tranh. Tuy nhiên , thực trạng đáng buồn trong các DNNN hiện nay là hoạt động này vẫn chưa được chú trọng và được tiến hành một cách mạnh mẽ. Bởi lẽ, các DNNN Việt Nam đa phần đều có tình trạng sản xuất manh mún, không có những hoạt động để cải tiến sản xuất. Với một thực trạng đầu tư xây d ựng cơ bản như trên thì tất yếu hoạt động nghiên cứu triển khai không được xúc tiến. H ơn nữa, đội ngũ nhân lực trong các DNNN cũng không đủ trình độ để nghiên cứu. Trong khi các DN nước ngoài liên tiếp đưa ra thị trường những sản phẩm mới có chất lượng cao thì DNNNVN vẫn dậm chân tại chỗ với những sản phẩm lâu năm không được cải tiến. Lấy ví dụ về hang may mặc Việt Nam khi so sánh với hang may mặc của Trung Quốc: sản phẩm may mặc của TQ rẻ và mẫu mã thay đổi thường xuyên chính vì vậy VN có hang dệt may XK nhưng người dân trong nước vẫn dung nhiều hang TQ. Trong khi nước bạn liên tục tung ra thị trường những sản phẩm mời thu hút khách hàng thì các DNNN Việt Nam không tự sản xuẩt ra nhiều sản phẩm mới.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2