intTypePromotion=1

Báo cáo tốt nghiệp: Giải pháp thu hút ODA vào Việt Nam

Chia sẻ: VU ANh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:42

0
382
lượt xem
151
download

Báo cáo tốt nghiệp: Giải pháp thu hút ODA vào Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển kinh tế với tốc độ cao. Điều kiện không thể thiếu để phục vụ cho phát triển kinh tế là nhu cầu về vốn nhưng nguồn vốn trong nước lại không đủ đáp ứng được nhu cầu trong giai đoạn này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tốt nghiệp: Giải pháp thu hút ODA vào Việt Nam

  1. TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- Báo cáo tốt nghiệp Đề tài: Giải pháp thu hút ODA vào Việt Nam
  2. MỤC LỤC Lời nói đầu: .........................................................................................................3 PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ ODA.......................................................4 I. Lịch sử phát triển ODA trên thế giới ...............................................4 II.Khái niệm ODA...........................................................................................6 1. Khái niệm. ......................................................................................................6 3. Phân loại..........................................................................................................8 a. Theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận ..........................................8 5 .Vai trò của ODA đối với các quốc gia trên thế giới .............15 a.Vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận ............................15 *Những tác động tích cực .........................................................................15 *Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam .......................................................................................................................19 I.Các thành tựu đã đạt được .....................................................................21 II.Mặt hạn chế ..................................................................................................30 1. Hệ thống luật pháp liên quan đến quản lý nhà nước về vốn ODA tại Việt Nam ...............................................................................35
  3. Lời nói đầu: Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển kinh tế với tốc độ cao. Điều kiện không thể thiếu để phục vụ cho phát triển kinh tế là nhu cầu về vốn nhưng nguồn vốn trong nước lại không đủ đáp ứng được nhu cầu trong giai đoạn này. Do đó một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là phải thu hút được một cách hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài. Vốn đầu tư nước ngoài trong đó nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đã đóng góp vai trò quan trọng trong tiến trình tăng trưởng và hội nhập kinh tế của Việt Nam. Với tính chất quan trọng đó, khoá luận sẽ là những nghiên cứu tổng hợp về vốn ODA nhằm các mục đích sau: - Về mặt lý luận, cho biết vị trí và vai trò của ODA trong nền kinh tế Việt Nam. - Về mặt thực tiễn, trình bày thực trạng việc thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển kinh tế trong giai đoạn từ năm 1993 trở lại đây. - Đánh giá những thành tựu và tồn tại trong quá trình sử dụng ODA vào những mục đích trên. - Đề ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy việc thu hút và sử dụng vốn ODA một cách hiệu quả nhất. Bài thảo luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh, tổng hợp và phân tích, kết hợp với những kết quả thống kê thu được từ thực tiễn, vận dụng lý luận để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu. Như vậy, bố cục bài thảo luận gồm 3 phần: - Phần I : Tổng quan về ODA. - Phần II : Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực phát triển kinh tế.
  4. - Phần III : Giải pháp thu hút, tăng cường và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA trong phát triển kinh tế ở Việt Nam. PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ ODA. I. Lịch sử phát triển ODA trên thế giới Sau chiến tranh thế giới thứ II, hầu hết các quốc gia tham gia chiến tranh đều bị thiệt hại hết sức nặng nề và đều phải nhanh chóng tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế. Tuy nhiên, khôi phục kinh tế đối với những quốc gia bị thiệt hại trong chiến tranh không thể chỉ dựa vào nội lực mà còn cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Từ những lý do đó, nguồn hỗ trợ phát triển chính thức đã ra đời cùng kế hoạch Marshall nhằm hỗ trợ các nước Châu Âu phục hồi kinh tế, đặc biệt là phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Các nước châu Âu để tiếp nhận được các nguồn hỗ trợ này đều đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế toàn diện và lập kế hoạch thành lập tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu, hiện nay là OECD. Ngày 14 tháng 12 năm 1960, 20 nước châu Âu đã chính thức ký hiệp định tổ chức kinh tế và phát triển OECD (Organization for Economic Cooperation and Development). Hiệp định này chính thức có hiệu lực từ năm 1961 và sau đó có thêm 4 nước là Nhật Bản, Niudilân, Phần Lan và Australia. Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước thành viên OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban viện trợ phát triển DAC (Development Assistance Committee) để hỗ trợ các nước đang phát triển. Sau đó, khái niệm về một chính sách viện trợ giúp các nước đang phát triển phục hồi nền kinh tế đã ra đời với tên gọi: hỗ trợ phát triển chính thức (Official development assistance), được gọi tắt là ODA. Ngay từ đầu những năm 1950, phần đông các nước công nghiệp lớn đều viện trợ cho các nước đang phát triển. Tính đến năm 1980, Mỹ đã viện trợ cho
  5. các nước hơn 180 tỷ USD và là nước tài trợ lớn nhất thời kỳ đó. Ngoài ra còn có các nước viện trợ lớn khác như Pháp, Na Uy, Thuỵ Điển,… Liên Xô cũ, Trung Quốc và các nước Đông Âu cũng cung cấp các khoản viện trợ tới các nước XHCN kém phát triển và một phần tới Trung Đông. Tổng viện trợ từ các nước XHCN từ năm 1947 tới năm 1980 là 24 tỷ USD. Năm 1970, để việc hỗ trợ các nước đang phát triển được tiến hành một cách đồng bộ và hiệu quả, đồng thời mang tính bắt buộc đối với các nước phát triển, lần đầu tiên Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Nghị quyết trong đó quy định chỉ tiêu ODA bằng 0,7% GNP của các nước phát triển. Theo quyết định này, các nước phát triển sẽ phấn đấu đạt chỉ tiêu trên vào năm 1985 hoặc muộn nhất vào cuối thập kỷ 80, và đạt 1% GNP vào năm 2000. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện nghĩa vụ này của các nước là rất khác nhau. Số liệu năm 1990 cho thấy một số nước thực hiện bằng hoặc vượt mức quy định này như Đan Mạch (0,96%), Thuỵ Điển (0,92%), Hà Lan (0,88% GNP) trong khi một số nước giàu như Mỹ chỉ trích có 0,17% GNP, Nhật Bản là 0,33% GNP,...(1) Những năm gần đây, không chỉ có các nước công nghiệp phát triển mà còn có một số nước đang phát triển cũng bắt đầu cung cấp ODA như Ả Rập Xê út, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,... Nhìn chung, ODA đã giúp nhiều nước kém phát triển có được những bước tiến rõ rệt và vững chắc. Điển hình là Nhật Bản, sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế Nhật Bản kiệt quệ vì chiến tranh, nhưng cho đến nay Nhật Bản đã trở thành một trong số những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới và vốn ODA chính là một yếu tố quan trọng đóng góp cho thành công của Nhật Bản. Nguồn vốn này còn phát huy hiệu lực ở nhiều quốc gia khác trên thế giới như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore,...
  6. Không nằm ngoài xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam cũng đang cố gắng thu hút vốn ODA để phát triển nền kinh tế đất nước và coi đây là một nguồn lực quan trọng đặc biệt cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nhằm đưa nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc. Do đó, chúng ta cần tìm hiểu rõ bản chất của ODA, ưu điểm và nhược điểm của nó để có thể thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả nhất. II.Khái niệm ODA. 1. Khái niệm. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, dưới đây là một số định nghĩa mà chúng ta có thể tham khảo: - ODA là viện trợ hỗ trợ phát triển chính thức. ODA là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và điạ phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hổ trợ vốn ký kết.Hiệp định ký kết hổ trợ nầy được chi phối bởi công pháp quốc tế. - Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ. - Viện trợ phát triển chính thức là hình thức chuyển giao vốn (tiền tệ, vật chất, công nghệ,...) từ các tổ chức tài chính quốc tế, từ các nước công nghiệp phát triển cho các nước đang phát triển và chậm phát triển. - Hỗ trợ phát triển chính thức là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn với một số thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng thế giới -
  7. 2. Đặc điểm. Tuy nhiên dù hiểu theo bất cứ định nghĩa nào, ODA cũng có những đặc điểm chung sau: - Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lý sử dụng vốn ODA, nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ. - Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi. Tuy vậy, nếu quản lí, sử dụng vốn ODA không hiệu quả vẫn có nguy cơ để lại gánh nặng nợ nần trong tương lai. - Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc từng nhà tài trợ. - Chủ yếu dành hỗ trợ cho các dự án đầu tư và cơ sở hạ tầng như GTVT, giáo dục y tế... - Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ đa phương (gồm các tổ chức thuộc Tổ chức Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu, các tổ chức phi chính phủ IMF, WB, ADB) và các tổ chức viện trợ song phương như các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, các nước đang phát triển như Ả Rập xê- út, Tiểu vương quốc Arập, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Các nước cung cấp viện trợ nhiều nhất hiện nay là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Australia, Thuỵ Điển... * Các tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA : Tiêu chuẩn được viện trợ và vay ODA thường được xác định trên cơ sở tình hình phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, trong đó các tiêu chuẩn cơ bản chủ yếu nhất là GDP tính theo đầu người và khả năng trả nợ của quốc gia
  8. * Các điều kiện và thời hạn vay ODA Các khoản vay ODA dành cho các nước nghèo, kém phát triển thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất, thời hạn trả vốn lâu, thời gian ân hạn dài. Ví dụ như thời gian hoàn trả vốn của Nhật Bản là 30 năm, của ADB và WB là 40 năm, lãi suất của ADB là 1%/năm, của WB là 0,75%/năm, thời gian ân hạn là 10 năm,... Nếu cán cân thanh toán và tình hình kinh tế của nước đi vay được cải thiện một cách đáng kể thì thời hạn các khoản vay có thể được điều chỉnh nhằm thể hiện những thay đổi to lớn trong tình hình kinh tế của từng nước. Tuy nhiên, nếu sự điều chỉnh đó làm nền kinh tế của quốc gia vay vốn bị bất ổn thì có thể điều chỉnh lại. 3. Phân loại. a. Theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận - Theo nguồn cung cấp : Có 2 loại : + ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nước này dành cho chính phủ nước kia. Hiện nay, trong số các nước cung cấp ODA song phương, Nhật Bản và Mỹ là những nước dẫn đầu thế giới. + ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế (như Ngân hàng phát triển Châu Á, Liên minh Châu Âu,...) hoặc của chính phủ một nước dành cho chính phủ một nước khác nhưng được thực hiện thông qua các tổ chức phương như Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF),... - Theo nơi tiếp nhận : Nếu phân loại theo nước tiếp nhận ODA, có thể chia ODA làm hai loại:
  9. + ODA thông thường: là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu người thấp. + ODA đặc biệt: là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn, lãi suất cao hơn so với ODA thông thường. b. Theo tính chất Thông thường ODA gồm hai phần: phần không hoàn lại và phần hoàn lại với điều kiện ưu đãi (lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài,...) Phần không hoàn lại lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào khả năng tài chính và hảo tâm của chủ tài trợ, thông thường chiếm khoảng 15% tổng số ODA. Phần hoàn lại với điều kiện ưu đãi chiếm phần lớn ODA. Như vậy, nếu phân loại theo tính chất, ODA có thể chia thành hai loại chính: Viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại. Ngoài ra, còn có một phần nhỏ ODA được thực hiện dưới dạng viện trợ hỗn hợp, nghĩa là ODA một phần cấp không, phần còn lại thực hiện theo hình thức vay tín dụng, có thể ưu đãi hoặc bình thường. - Viện trợ không hoàn lại Viện trợ không hoàn lại là viện trợ cấp không, không phải trả lại và thường được thực hiện dưới hai dạng sau đây: + Hỗ trợ kỹ thuật (Technical Assistance - TA): là việc chuyển giao công nghệ hoặc truyền đạt những kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật cho nước nhận ODA nhờ sự trợ giúp của các chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên, trong hình thức viện trợ này thì lương của các chuyên gia quốc tế lại chiếm phần đáng kể trong tổng giá trị viện trợ. + Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật như lương thực thực phẩm, thuốc men, vải vóc... Tuy nhiên, đơn giá tính cho những hàng hoá này thường tương đối cao. Chính vì thế, rất khó huy động những hàng hoá này vào mục đích đầu tư phát triển. Hơn nữa cũng cần nhận thấy rằng các khoản viện trợ không hoàn lại thường kèm theo một
  10. - Viện trợ có hoàn lại Viện trợ có hoàn lại thực chất là vay tín dụng với điều kiện ưu đãi. Tính chất ưu đãi của các khoản viện trợ được thể hiện ở những mặt sau: + Lãi suất thấp: lãi suất áp dụng cho các khoản vay tín dụng ưu đãi của WB là 0,75%/năm, của ADB là 1%/năm, của Nhật Bản dao động trong khoảng 0,75-2,3%/năm,... + Thời hạn vay dài hạn: Nhật cho Việt Nam vay trong 30 năm, Ngân hàng thế giới cho Việt Nam vay trong 40 năm,... + Thời gian ân hạn (thời gian từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên) dài: ADB, Nhật Bản cho Việt Nam thời gian ân hạn 10 năm,... Chính vì những tính chất ưu đãi này nên ở các nước, ODA dưới dạng các khoản vay ưu đãi thường được sử dụng để đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống. c. Theo điều kiện ODA có hai loại: không điều kiện và có điều kiện. Trên thực tế, chỉ có Thuỵ Điển là nước duy nhất cấp ODA không điều kiện. Còn lại các nước viện trợ khi cấp ODA thường gắn với những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị,… Ngoài ra, còn có loại ODA ràng buộc một phần, tức là một phần ở cấp viện trợ, phần còn lại có thể chi tiêu ở các cấp khác tuỳ theo nước nhận tài trợ. - ODA không ràng buộc ODA không ràng buộc nghĩa là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng mà có thể chi tiêu ở bất kỳ lĩnh vực nào hay khu vực nào.
  11. - ODA có ràng buộc ODA có ràng buộc nghĩa là bắt buộc phải chi tiêu ở cấp, ở lĩnh vực viện trợ. Nước nhận ODA có thể bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc mục đích sử dụng. ODA bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng: nghĩa là việc mua sắm hàng hoá hay trang thiết bị hay dịch vụ bằng ODA đó chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với tài trợ song phương), hoặc công ty của nước thành viên (đối với viện trợ đa phương). - ODA bị ràng buộc bởi mục đích sử dụng: nghĩa là nguồn ODA cung cấp chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể. d. Theo hình thức - Hỗ trợ cán cân thanh toán Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp nhưng đôi khi cũng có thể là hiện vật thông qua hỗ trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá chuyển vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thể được chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được bán trên thị trường trong nước, và số thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ. - Tín dụng thương mại ODA có thể thực hiện dưới dạng tín dụng thương mại với các điều khoản "mềm" như lãi suất thấp, hạn trả dài,... - Viện trợ chương trình Viện trợ chương trình (còn gọi là hỗ trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát trong một thời hạn nhất định, mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào. - Hỗ trợ dự án
  12. Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, có thể liên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, và thông thường các dự án phải được chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước khi thực hiện. + Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là các dự án về xây dựng (đường xá, cầu cống, đê đập, điện năng, viễn thông, trường học, bệnh viện,...). Thông thường các dự án này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó của dự án hoặc để soạn thảo xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ. + Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu là các dự án tập trung vào chuyển giao tri thức (know-how) hoặc tăng cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản trước khi đầu tư. e.Theo Nhà tài trợ - ODA song phương: là nguồn vốn ODA của Chính phủ một nước cung cấp cho C phủ nước tiếp nhận. Thông thường vốn ODA song phương được tiến hành khi một số kiện ràng buộc của nước cung cấp vốn ODA được thoả mãn. - ODA đa phương: là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho Chính phủ nước tiếp nhận. So với vốn ODA song phương thì vốn ODA đa phương ít chịu ảnh hưởng bởi các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu những áp lực mạnh hơn về chính trị. 4. Nguồn và đối tượng của ODA a.Nguồn cung cấp ODA Như đã đề cập trong định nghĩa về ODA, nguồn cung cấp ODA có thể đến từ các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ. Như vậy, hiện nay, nguồn viện trợ ODA đối với các nước đang phát triển gồm các loại sau: + Chính phủ nước ngoài và các cơ quan đại diện cho hợp tác phát triển của chính phủ nước ngoài ví dụ như: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản - JICA, Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản - JBIC, Cơ quan phát triển quốc tế
  13. + Các tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (LHQ), bao gồm: Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF); Chương trình Lương thực Thế giới (WFP); Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO); Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA); Quỹ Trang thiết bị của Liên hiệp quốc (UNCDF); Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO); Cao uỷ Liên hiệp quốc về Người tị nạn (UNHCR); Tổ chức Y tế Thế giới (WHO); Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA); Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của LHQ (UNESCO);... + Các tổ chức Liên chính phủ, bao gồm: Liên minh Châu Âu (EU), Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), Hiệp hội các nước ASEAN... + Các tổ chức Tài chính quốc tế bao gồm: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); Quỹ các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC); Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB) và Quỹ Phát triển Bắc Âu (NID); Quỹ Quốc tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD),... (trừ Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF). b.Đối tượng của ODA ODA của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới chỉ tập trung vào những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp, đặc biệt là những nước ở dưới mức 220 USD/người, năm. Mặc dù vậy, việc xem xét một quốc gia có đủ điều kiện để được viện trợ ODA hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác trong đó quan trọng nhất lại là chính sách ngoại giao, tiếp đến là mức độ ổn định chính trị- kinh tế -xã hội và lộ trình cam kết phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. Do đó, một quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn 220 USD/ người, năm vẫn có thể thu hút lượng ODA lớn hơn nhiều lần so với một nước có thu
  14. Sau khi đã ký các cam kết viện trợ, để được tiếp nhận nguồn viện trợ ODA, các nước phát triển phải tuân theo các điều kiện của nguồn hỗ trợ và từng dự án, chương trình. Một yêu cầu nữa đối với nước nhận viện trợ là uy tín của nước đó và những tiến bộ đạt được thông qua quá trình sử dụng vốn viện trợ của các nước này. Đây là tiền đề quan trọng tạo thuận lợi cho nước tiếp nhận ODA có được sự tin tưởng từ phía các nhà tài trợ qua đó tiếp tục và nhận được nhiều sự ủng hộ hơn nữa. Ngoài những yêu cầu được đặt ra ở trên, nước nhận viện trợ, thường là những nước đang phát triển còn gặp một khó khăn không nhỏ đó là nguồn vốn đối ứng theo yêu cầu của từng dự án, từng giai đoạn của dự án. Khi các nước đó gặp phải khó khăn về kinh tế hoặc do sự yếu kém của các cơ quan thi hành, việc không đáp ứng đủ nguồn vốn đối ứng sẽ làm chậm tiến độ giải ngân, làm chậm thời gian đưa công trình vào sử dụng, tăng chi phí thực hiện dự án và làm giảm sút uy tín đối với nhà tài trợ.
  15. 5 .Vai trò của ODA đối với các quốc gia trên thế giới a.Vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận *Những tác động tích cực Các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng muốn đẩy mạnh nền kinh tế thì phải có một lượng vốn lớn để tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực đặc biệt là cơ sở hạ tầng còn ở mức rất thấp. Do đó không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước mà còn phải biết tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài. Một thực tế là muốn phát triển kinh tế, các nước đều phải có một khoản đầu tư tương xứng (ví dụ như muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 10% như Việt Nam thì cần đầu tư một lượng tiền vốn khoảng 30% GDP). Mà thực tế các nước này chỉ có mức tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế chỉ dưới 10% GDP. Đáp ứng yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đặc thù là lãi suất vay thấp, thời hạn dài (thường từ 15 - 40 năm lại thêm thời gian ân hạn từ 10 đến 20 năm),vốn đầu tư tập trung lớn, có thể lên tới hàng trăm triệu USD cho một dự án. Bên cạnh đó nguồn vốn này nhằm hỗ trợ các nước nghèo giải quyết các vấn đề trên, điều mà nguồn vốn tư bản (đầu tư trực tiếp) không bao giờ làm được. Tuy xét về mối quan hệ thì ODA và tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn tỉ lệ thuận tức là không phải cứ viện trợ tăng lên thì tăng trưởng kinh tế cũng tăng lên. Tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào khả năng quản lý tốt của nước nhận viện trợ. Trong điều kiện quản lý tốt, thêm 1% viện trợ trong GDP thì tăng trưởng kinh tế tăng thêm là 0.5%. ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng phúc lợi và mức sống cho người dân từ đó thúc đẩy phát triển. Ví dụ vào năm 1966, Thái Lan là nước nghèo với thu nhập dưới mức 1 USD/ngày (theo thời giá 1985), tỷ lệ tử vong sơ sinh năm 1967 là 0,84%. Tuy nhiên nước này đã có những biến
  16. ODA giúp đầu tư vào con người mà vấn đề quan trọng nhất là các dự án liên quan đến phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết vì theo thống kê gần đây của WB trong số gần 5 tỷ người sống ở các nước đang phát triển là thành viên của WB thì có: 3 tỷ người sống dưới mức 2 USD/ngày và khoảng 1,3 tỷ người sống dưới mức 1 USD/ngày. Mỗi ngày có 40.000 người chết do các bệnh liên quan đến hô hấp. 130 triệu trẻ em trong độ tuổi không có cơ hội đến trường. 1,3 tỷ người không có cơ hội tiếp cận với nguồn nước sạch. ODA cũng có vai trò đối với công cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ các nước đang phát triển qua các dự án, chương trình hỗ trợ năng lực, cải tổ cơ cấu các tổ chức, các cơ quan chức năng của chính phủ. Hơn nữa việc sử dụng ODA còn mang lại nhiều thuận lợi khác cho các quốc gia đang phát triển trong công cuộc cải cách kinh tế nhờ những ưu điểm sau: Vốn ODA sẽ giúp nước nhận tài trợ có cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới. Tuy các nước công nghiệp phát triển không muốn chuyển giao công nghệ cao cho các nước nhận viện trợ nhưng những công nghệ được chuyển giao cũng tương đối hiện đại so với trình độ của các nước này. Trong quá trình thực hiện, nước viện trợ thường cử chuyên gia sang hướng dẫn thực hiện dự án do đó cán bộ của nước nhận viện trợ có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm đáng quý. Vốn ODA cũng giúp nước nhận viện trợ có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước mình. Khi thực hiện các dự án có vốn nước ngoài, các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cũng như công nhân sẽ có cơ hội tiếp thu công
  17. Tóm lại, ODA đóng một vai trò hết sức qua trọng đối với việc phát triển kinh tế của các nước đang phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do tính chất ưu đãi đặc thù của nguồn vốn này. Tuy vậy, việc sử dụng nguồn vốn này không phải là không có hạn chế. *ODA và nguy cơ phụ thuộc của các nước tiếp nhận Tuy nhiên, đối với nước tiếp nhận, nguồn hỗ trợ song phương tạo điều kiện giúp tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời họ cũng phải chấp nhận những điều kiện ràng buộc rất chặt chẽ từ phía các nước tài trợ. Những ràng buộc này có thể xuất phát từ lý do kinh tế cũng có thể là ràng buộc về chính trị. Ví dụ năm 2003 này Mỹ sẵn sàng viện trợ và cho Thổ Nhĩ Kỳ vay một khoản tiền lớn để đổi lấy việc Thổ Nhĩ Kỳ cho phép Mỹ đóng quân trong cuộc chiến tranh tấn công I-rắc. Kinh nghiệm phát triển 50 năm qua của thế giới cho thấy. Những nước tiến hành phát triển dựa trên việc tăng cường và sử dụng nguồn vốn trong nước tiết kiệm được đồng thời hạn chế tối thiểu vay nợ nước ngoài là những nước đã đạt được kết quả phát triển tốt và bền vững. Trái lại, một số nước đang phát triển trông cậy quá nhiều vào viện trợ tài chính của nước ngoài, đặc biệt là các khoản vay nợ, hiện vẫn đang nằm trong danh sách những nước mất cân đối và lệ thuộc vào nước ngoài. Trong xu hướng phát triển hiện nay, toàn cầu hoá là một xu hướng không thể tránh khỏi, các nước phát triển hay các nước đang phát triển cũng đều muốn thúc đẩy quá trình này vì về bản chất nó đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia. Nếu xem xét một cách cụ thể, các nước đang phát triển đều phải trả giá cho tiến trình hội nhập vì đều phải chấp nhận các điều kiện để được nhận viện trợ. Các điều kiện này đôi khi không thể thực hiện được hoặc nếu thực
  18. Với các lý do nêu trên, các nước đang phát triển luôn phải cân nhắc để vừa có thể tận dụng tối đa các nguồn viện trợ lại không bị rơi vào nguy cơ lệ thuộc. Các nước đang phát triển phải luôn có chính sách mềm dẻo và linh hoạt để tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ không hoàn lại đồng thời sử dụng có hiệu quả nhất các khoản vay. Các nước đang phát triển cần chọn lọc đúng các dự án có hiệu quả kinh tế, đảm bảo hoàn vốn để có thể xây dựng lộ trình trả nợ hợp lý. Đồng thời đẩy mạnh các hình thức đầu tư khác nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu thu ngoại tệ để trả nợ vì đôi khi lãi suất vay thấp không đủ để bù lại những thiệt hại do sự thay đổi tỷ giá. b. Vai trò của ODA đối với việc mở rộng thị trường của các nước cung cấp Xu thế đầu tư quốc tế trong những năm cuối của thế kỷ đã cho thấy các khu vực thu hút đầu tư mạnh mẽ không còn là các nước tư bản phát triển, thay vào đó là các nước đang phát triển, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy việc cải tạo, đổi mới cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng lên một trình độ phát triển cao hơn, tạo điều kiện cho đầu tư có hiệu quả không còn là nhu cầu của riêng các nước đang phát triển mà nó đã trở thành mong muốn của cả các nước phát triển, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá. Nhu cầu mở rộng thị trường của các nước phát triển đang thúc đẩy các nước này đầu tư mạnh mẽ vào các nước đang phát triển hơn bao giờ hết. Khi các
  19. Ngoài ra, nguồn hỗ trợ ODA song phương tạo điều kiện thuận lợi cho nước viện trợ trong việc củng cố vị thế chính trị cũng như kinh tế. ODA giúp các nước phát triển dễ dàng tìm hiểu thị trường của các nước đang phát triển, vươn ra để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên phong phú và nhân lực dồi dào từ nước nhận viện trợ, tiêu thụ được hàng hoá thông qua các điều kiện ràng buộc như buộc các nước nhận viện trợ phải mua hàng, thiết bị, công nghệ... có khi với giá cao hơn so với giá trên thị trường thế giới, ràng buộc về tỷ lệ tham gia trong tổng trị giá dự án... Ví dụ như Nhật bản, một đối tác song phương lớn nhất thế giới về ODA, thì 1/2 kim ngạch ngoại thương năm 1997 là buôn bán với các nước đang phát triển là những nước nhận ODA từ Nhật bản. Viện trợ ODA chính là sự mở đường cho các loại hình đầu tư trực tiếp khác. *V ai trò của ODA đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Từ sau năm 1990, kinh tế xã hội nước ta bắt đầu thay đổi, công cuộc xây dựng phát triển kinh tế của chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp phải không ít khó khăn. Trong bối cảnh như vậy, chúng ta đã biết phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó khăn và đã thu được thắng lợi trên tất cả các lĩnh
  20. - Tháng 10 năm 1993, Việt Nam nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). - Tháng 11 năm 1993, Hội nghị lần thứ nhất các nhà tài trợ cho Việt Nam họp tại Pari mở ra giai đoạn hợp tác phát triển giữa nước ta với cộng đồng các nhà tài trợ. Từ đó đến nay đã có 6 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam được tổ chức. - Tháng 12 năm 1993, Hội nghị các nước thành viên Câu lạc bộ Pari ra khuyến nghị xoá và giảm nợ cho Việt Nam. - Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mỹ xoá bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Tháng 8 năm 1994, Thượng nghị viện Mỹ bãi bỏ lệnh cấm viện trợ cho Việt Nam áp dụng từ hơn hai thập kỷ qua. - Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). - Ngày 7 tháng 4 năm 1997, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định về việc xử lý và cơ cấu lại số nợ của Việt Nam với Mỹ và cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID). Đây là văn bản song phương cuối cùng về xử lý nợ của Việt Nam với các nước trong khuôn khổ biên bản thoả thuận khung tại Câu lạc bộ Pari.. - Tháng 4 năm 1999, Hội thảo quốc tế về quan hệ đối tác được tổ chức tại Hà Nội. Do có sự đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư cùng với những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về việc cải thiện môi trường đầu tư, chúng ta đã thu hút được một lượng lớn cả vốn đầu tư trực tiếp và vốn ODA vào Việt Nam. Những nguồn vốn này chủ yếu được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nhà xưởng và máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, trong đó vốn ODA chủ yếu dành cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và chính là biện pháp hiệu quả để thu hút đầu tư trực tiếp.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2