intTypePromotion=1

Chuyên đề tốt nghiệp “Phát triển hoạt động tự kinh doanh tại Công ty chứng khoán Habubank”

Chia sẻ: Le Dinh Thao | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:67

0
107
lượt xem
40
download

Chuyên đề tốt nghiệp “Phát triển hoạt động tự kinh doanh tại Công ty chứng khoán Habubank”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năm 2006 được coi là một năm thành công đối với cả nền kinh tế Việt Nam từ trước đến nay. Với việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (7/11), tổ chức thành công diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) … đã và đang tạo dựng một hình ảnh rất đẹp của Việt Nam trong lòng bạn bè Quốc tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề tốt nghiệp “Phát triển hoạt động tự kinh doanh tại Công ty chứng khoán Habubank”

  1. Chuyên đề tốt nghiệp “Phát triển hoạt động tự kinh doanh tại Công ty chứng khoán Habubank”
  2. MỤ C L Ụ C CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN............... 4 I. NHữNG VấN Đề CHUNG Về CÔNG TY CHứNG KHOÁN ...................................................................... 4 1. KHÁI NIệM VÀ PHÂN LOạI CÔNG TY CHứNG KHOÁN ..................................................................... 4 II. CÁC HOạT ĐộNG CủA CÔNG TY CHứNG KHOÁN ............................................................................................ 14 1.6. Các nghiệp vụ phụ trợ ...................................................................................................................... 22 6.1. Nhân tố khách quan.......................................................................................................................... 27 6.2. Nhân tố chủ quan ............................................................................................................................. 28 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH ......................................................................... 32 TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN HABUBANK ......................................................................................... 32 CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN HABUBANK .................................................................................................................................................. 55 2. ĐịNH HƯớNG HOạT ĐộNG Tự DOANH CủA HBBS. ......................................................................................... 58 2.1. MụC TIÊU TRƯớC MắT ............................................................................................................................. 58  ĐẩY MạNH HOạT ĐộNG Tự DOANH Cổ PHIếU, TRÁI PHIếU .......................................................................... 58  ĐạI LÝ NHậN LệNH: .............................................................................................................................. 58 2.2. Mục tiêu lâu dài của Công ty ............................................................................................................ 59 3. GIảI PHÁP PHÁT TRIểN HOạT ĐộNG Tự DOANH TạI HBBS. .............................................................................. 62 KẾT LUẬN .................................................................................................................................................... 65
  3. LỜI MỞ ĐẦU Năm 2006 được coi là một năm thành công đối với cả nền kinh tế Việt Nam từ trước đến nay. Với việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO (7/11), tổ chức thành công diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC)… đã và đang tạo dựng một hình ảnh rất đẹp của Việt Nam trong lòng bạn bè Quốc tế. Hoà chung với sự thành công đó thì sự phát triển mạnh mẽ của TTCK cũng đã tạo một kênh huy động vốn gián tiếp quan trọng cho nền kinh tế, do đó các Công ty chứng khoán (CTCK) cũng phải đầu tư mạnh mẽ về nhiều mặt cả về mặt số lượng nhân viên lẫn chất lượng để hoàn thiện chính mình và cạnh tranh cùng phát triển. Và để cạnh tranh nhau một cách lành mạnh thì các CTCK phải nhanh chóng phát triển các nghiệp vụ của mình bởi khi nhà đầu tư đánh giá về một công ty chứng khoán họ sẽ đánh giá xem nghiệp vụ của các CTCK đó có tốt hay không, dịch vụ ra sao và một trong những hoạt động thể hiện phần lớn điều đó là hoạt động tự doanh, nó mang lại một phần lợi nhuận cốt lõi cho CTCK. Hoạt động tự doanh nếu triển khai tốt sẽ giúp một CTCK nâng cao tiềm lực tài chính, song nếu hoạt động yếu kém thì có thể gây tổn thất nặng nề, nhất là đối với một CTCK còn non trẻ như HBBS. Trên cơ sở em đã thực tập tại CTCK Habubank và nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tự doanh em quyết định chọn đề tài “Phát triển hoạt động tự doanh tại Công ty chứng khoán Habubank” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình. Phạm vi nghiên cứu chuyên đề: nghiên cứu, phân tích hoạt động tự doanh của CTCK, và cụ thể là CTCK Habubank.
  4. CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN I. Những vấn đề chung về Công ty chứng khoán 1. Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán 1.1.Khái niệm Công ty chứng khoán là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật của từng nước để thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ví dụ: ở Nhật Bản quy định công ty chứng khoán là công ty cổ phần được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ở các nước EU thì công ty chứng khoán được hiểu là pháp nhân thực hiện các dịch vụ đầu tư cho bên thứ ba như là nghề nghiệp chính của mình.Tuy nhiên các nước thành viên EU có thể quy định công ty chứng khoán có thể thành lập dưới hình thức không có tư cách pháp nhân nếu địa vị pháp lý của công ty đó đủ để đảm bảo quyền lợi của bên thứ ba như khi công ty được thành lập dưới hình thức có tư cách pháp nhân. Theo quy định để được coi là công ty chứng khoán doanh nghiệp phải tham gia vào một hoặc một số loại hình kinh doanh sau:  Môi giới chứng khoán  Tự doanh  Bảo lãnh phát hành chứng khoán  Quản lý danh mục đầu tư  Tư vấn đầu tư Ngoài các loại hình kinh doanh trên công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện một số hoạt động có liên quan đến chứng khoán như tư vấn tài chính, lưu kí chứng khoán …
  5. 1.2. Phân loại Công ty chứng khoán 1.2.1. Theo mô hình và tổ chức Công ty chứng khoán  Mô hình đa năng Theo mô hình này các Ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia thành hai loại:  Mô hình đa năng một phần: theo mô hình này các Ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty hoạt động tách rời.  Mô hình đa năng toàn phần: Các Ngân hàng được kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ. Ưu điểm của mô hình này là:  Ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán.  Ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán. Nhược điểm của Mô hình này là:  Không phát triển được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là hoạt động bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu.  Đồng thời, các ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn thị trường và các biến động trên thị trường chứng khoán, nếu có sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh này.  Mô hình chuyên doanh
  6. Hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình  Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng.  Tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển  Mô hình này được áp dụng ở rất nhiều nước. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, các nước này có xu hướng xoá bỏ dần hàng rào ngăn cách hai loại hình kinh doanh là tiền tệ và chứng khoán và ngày nay các công ty chứng khoán lớn đã mở rộng kinh doanh cả trong lĩnh vực bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. 1.2.2. Theo hình thức tổ chức công ty chứng khoán  Công ty hợp danh: - Định nghĩa: là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên. - Thành viên tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công ty hợp danh bằng t oàn bộ tài sản của mình. - Còn đối với các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm đối với những khoản nợ của công ty giới hạn trong số vốn góp của họ. - Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giới hạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp.  Công ty trách nhiệm hữu hạn
  7. Đây là loại hình công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn trong số vốn mà họ đã góp do đó điều này gây tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với người đầu tư. Mặt khác về phương diện huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp danh. Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng động hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như trường hợp công ty hợp danh. V ì những lý do đó rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.  Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ đông. Đại hội cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã đề ra. Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện một món nợ của công ty mà thể hiện quyền lợi của người sở hữu nó đối với tài sản của công ty. Công ty vẫn tồn tại khi quyền sở hữu của công ty bị thay đổi. Ưu điểm của công ty cổ phần  Đây là một loại công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời.  Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất định. Nếu công ty thua lỗ và phá sản,cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đã đầu tư vào công ty.  Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu.
  8.  Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán nếu tổ chức theo hình thức công ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo miễn phí.  Hình thức tổ chức quản lý chế độ báo cáo và công bố thông tin tốt hơn hai hình thức trên. 2. Điều kiện thành lập công ty chứng khoán 2.1. Điều kiện về vốn Vốn pháp định của công ty chứng khoán thường được quy định cụ thể cho từng loại hình kinh doanh. Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hình thì càng cần phải có nhiều vốn trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy mô thị trường, giao dịch dự kiến, khả năng tài chính của các tổ chức tài chính tham gia thị trường…mỗi quốc gia khác nhau có các quy định khác nhau về mức vốn pháp định đối với các công ty chứng khoán. Ví dụ như các công ty chứng khoán Hàn Quốc muốn tham gia ba loại hình kinh doanh: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán phải có vốn pháp định tối thiểu là 50 tỷ Won, nếu chỉ tham gia hai loại hình môi giới và tự doanh thì chỉ cần mức vốn điều lệ tối thiểu là 30 tỷ Won…. 2.2. Điều kiện về nhân sự Nhân tố con người bao giờ cũng chiếm vị trí quan trọng nhất trong sự thành công của tất cả các ngành nghề kinh doanh khác nhau. Trong lĩnh vực thị trường chứng khoán cũng không phải là ngoại lệ vì đây là một ngành có kỹ thuật phức tạp, rủi ro cao, kiến thức thì phải sâu rộng mới có thể làm việc được nên đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, tinh thông nghiệp vụ và có tư cách đạo đức nghề nghiệp. Các cá nhân trong công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của các công ty. V ì vậy điều
  9. kiện về nhân sự luôn được đặt ra trong quy định pháp luật của các nước khi xem xét cấp giấy phép hoạt động kinh doanh cho các công ty chứng khoán. Điều kiện đó là những người quản lý hay nhân viên của công ty chứng khoán phải có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm cũng như độ tín nhiệm tính trung thực. Thông thường tất cả các nước đều yêu cầu nhân viên của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề. Ví dụ pháp luật Trung Quốc quy định nhân viên quản lý chính và nhân viên nghiệp vụ phải có tư cách hành nghề chứng khoán, pháp luật cộng hoà Aó quy định một trong các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động cung cấp các dịch vụ đầu tư là người quản lý phải có trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm và phẩm chất để thực hiện các dịch vụ đầu tư… 2.3. Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật Trong lĩnh vực chứng khoán, để các nhà đầu tư có thể tiếp xúc nhau dễ dàng trong việc mua hay bán chứng khoán thì các công ty chứng khoán cần phải có sàn giao dịch để làm địa điểm tiếp xúc với nhà đầu tư, cần có địa điểm và thiết bị nhận lệnh, truyền lệnh, công bố thông tin liên quan đến chứng khoán và giao dịch chứng khoán nên để đảm bảo hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán pháp luật các nước cũng quy định điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán là một trong ba điều kiện không thể thiếu về điều kiện thành lập. Ví dụ một trong các điều kiện quan trọng để thành lập công ty chứng khoán ở Trung Quốc là công ty phải có địa điểm kinh doanh cố định và có thiết bị giao dịch đủ tiêu chuẩn, điều kiện về trụ sở kinh doanh và các điều kiện về kỹ thuật phù hợp với bản chất của các dịch vụ đầu tư cũng là một trong các điều kiện để uỷ ban về các công ty đầu tư và công ty tín dụng của Pháp xem xét khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty đầu tư của nước này.
  10. 3. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán 3.1.Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng. Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm. - Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty. - Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hành, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản khách hành khi chưa được khách hành đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước. - CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn. - CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình. - Ở nhiều nước, các công ty chứng khoán phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích của khách hàng trong trường hợp CTCK mất khả năng thanh toán. - Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng. - Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng. 3.2. Nhóm nguyên tắc mang tính tài chính
  11. Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của UBCKNN. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng. CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng. CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình. CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hành đồng ý bằng văn bản. 4. Vai trò của công ty chứng khoán 4.1. Đối với tổ chức phát hành Để có tiền đầu tư vào một dự án cần phải có một khoản vốn nhất đinh, để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cần nói đến đã có lãi hay chưa cũng cần phải có một khoản vốn nhất định…nhưng nếu các doanh nghiệp, các chủ đầu tư tự đi huy động vốn hoặc đi vay thì không phải là điều đơn giản, vì vậy cần phải có một một trung gian đứng ra đảm nhiệm vai trò này tròng nền kinh tế đó chính là các ngân hàng, các quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán. Các tổ chức này có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là các kênh dẫn cho vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn (cần huy động vốn). Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán. 4.2. Đối với thị trường chứng khoán Khi đầu tư chứng khoán các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại trong một môi trường
  12. đầu tư ổn định. Các công ty chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này sẽ giúp cho nhà đầu tư phải chịu ít thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Ví dụ trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC hiện nay một nhà đầu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không chịu bất cứ thiệt hại đáng kể nào đối với giá trị khoản đầu tư của mình. Nói cách khác, một số nhân tố bên ngoài có thể ảnh hưởng đến giá trị của các khoản đầu tư chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế nhưng nói chung giá trị của một khoản đầu tư không giảm đi do cơ chế mua bán. Luôn tạo ra các sản phẩm mới Việt Nam đang bắt đầu bước vào thời kì hội nhập,do đó dung lượng các công ty thuộc tất các lĩnh vực các ngành trong nền kinh tế đang tăng vẫn tốc độ chóng mặt do đó chủng loại chứng khoán cũng phát triển theo với tốc độ rất cao do một số nguyên nhân là dung lượng thị trường tăng như nói ở trên, biến động thị trường ngày càng lớn và đặc biệt nhận thức rõ ràng hơn của khách hàng đối với thị trường tài chính và sự nỗ lực tiếp thị của các công ty chứng khoán. Ngoài cổ phiếu và trái phiếu đã được biết đến các công ty chứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (TW&ĐP) chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế. Thực hiện tư vấn đầu tư Các công ty chứng khoán với đầy đủ các nghiệp vụ không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các cá nhân đầu tư.
  13. 4.3. Đối với Nhà quản lý Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung và các công ty chứng khoán nói riêng thông qua các Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có sự đánh giá đúng đắn thực tế và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình. Các sở giao dịch chứng khoán niêm yết giá cổ phiếu của các công ty từng ngày một trên các báo cáo tài chính, ngoài ra chứng khoán của nhiều công ty lớn không được niêm yết ở Sở giao dịch cũng có thể được công bố trên các tờ báo tài chính. Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán. Theo quy định của Nhà nước công ty chứng khoán bắt buộc phải giành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán trên thị trường tăng cao. 4.4. Đối với nhà đầu tư Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, từ đó giúp nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên trên TTCK sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
  14. II. Các hoạt động của công ty chứng khoán 1. Hoạt động nghiệp vụ 1.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán 1.1.1. Khái niệm Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó một công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó. 1.1.2. Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán  Cung cấp dịch vụ với hai tư cách: - Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư - Nối liền những người bán với những người mua  Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời. - Khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức mà điển hình là sợ hãi và tham lam để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo - Đề xuất thời điểm bán hàng một cách hợp lý. 1.1.3. Những nét đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán  Lao động cật lực thù lao xứng đáng  Những phẩm chất cần có: kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử.  Nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ của công ty trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực hiện các lệnh của khách hàng. 1.1.4. Các kỹ năng của người môi giới chứng khoán
  15. Kỹ năng truyền đạt thông tin: Phẩm chất hay thái độ của người môi giới đối với công việc, với bản thân và với khách hàng được truyền đạt rõ ràng tới hầu hết các khách hàng mà người môi giới thực hiện giao dịch. Để thành công trong việc bán hàng (cung ứng dịch vụ mua, bán) người môi giới phải đặt khách hàng lên trên hết và doanh thu c ủa mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và phải được thể hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng. Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng, nhưng tựu chung có thể được gộp vào 6 phương cách sau: những đầu mối được gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại; những lời giới thiệu khách hàng; mạng lưới kinh doanh; các chiến dịch viết thư; các cuộc hội thảo; gọi điện làm quen. Kỹ năng khai thác thông tin: Một trong những nguyên tắc trong nghề môi giới là phải tìm hiểu khách hàng, biết được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Ngoài ra nó còn giúp cho nhà môi giới tăng được khối lượng tài sản quản lý, có chiến lược khách hàng thích hợp. 1.2. Nghiệp vụ tự doanh Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho mình. Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá (quote driven) hoạt động tự doanh của CTCK đ ược thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh
  16. lệch giá. Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh cho mình. Thậm chí luật pháp một số nước còn quy định có 2 loại hình CTCK là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới và CTCK có chức năng tự doanh. Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. V ì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường.  Yêu cầu đối với CTCK o Tách biệt quản lý: Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về:  Yếu tố con người  Quy trình nghiệp vụ  Vốn và tài sản của khách hàng và công ty.
  17. o Ưu tiên khách hàng: CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán. Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các CTCK có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên. o Góp phần bình ổn thị trường: Các CTCK hoạt động tự doanh nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường. Trong trường hợp này, hoạt động tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định. Luật các nước đều quy định các CTCK phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường. Theo đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng lên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định. o Hoạt động tạo thị tr ường: Khi đ ược phát hành, các chứng khoán mới chưa có thị trường giao d ịch. Để tạo thị trường cho các chứng khoán này, các CTCK thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán, tạo tính thanh khoản trên thị trường cấp hai. Trên những TTCK phát triển, các nhà tạo lập thị trường (Market - Makers) sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị tr ường OTC để tạo thị trường. Theo đó, họ liên t ục có những báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán khác. Như vậy, họ sẽ duy tr ì một thị trường liên tục đối với chứng khoán mà họ kinh doanh.  Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
  18.  Giao dịch gián tiếp: Các CTCK đặt các lệnh mua và bán chứng khoán trên Sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàng nào không được xác định trước.  Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng khoán hay giữa CTCK với một khách hàng thông qua thương lượng. Đối tượng của các giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thị trường OTC. 1.3. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của các CTCK. Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh - TCBL) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có các CTCK mà còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng thông thường việc CTCK nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phan phối chứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác. Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầu bảo lãnh phát hành đến CTCK. CTCK có thể sẽ ký một hợp đồng tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát hành, số lượng chứng
  19. khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phương thức phân phối chứng khoán đến nhà đầu tư thích hợp. Để được phép bảo lãnh phát hành, CTCK phải đệ trình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên Uỷ ban chứng khoán. Khi các nội dung cơ bản của phương án phát hành được Uỷ ban chứng khoán thông qua. CTCK có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh hoặc thành lập nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đồng bảo lãnh giữa nghiệp đoàn và tổ chức phát hành. Khi Uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đến thời hạn giấy phép phát hành có hiệu lực, CTCK (hoặc nghiệp đoàn bảo lãnh) thực hiện phân phối chứng khoán. Các hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu là:  Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí.  Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với tổ chức phát hành.  Bán rộng rãi ra công chúng.  Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán chứng khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị chứng khoán phát hành trừ đi phí bảo lãnh. 1.4. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ thác tiền cho CTCK thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc yêu cầu (mức lợi nhuận kỳ vọng; rủi ro có thể chấp nhận…).
  20.  Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát bao gồm các bước như sau:  Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: CTCK và khách hàng tiếp xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đưa ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác.  Bước 2: Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đòng quản lý giữa khách hàng và công ty theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mục tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư.  Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lý: CTCK thực hiện đầu tư vốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chính công ty.  Bước 4: Kết thúc hợp đồng quản lý: Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các khoản chi phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợp khi công ty chứng khoán bị ngưng hoạt động, giải thể họ. 1.5. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng.  Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:  Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gỡ khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp (thông qua các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản