intTypePromotion=1

Đề tài: Tình hình tiêu thụ cao su tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Chia sẻ: Phạm Thị Lan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:64

0
75
lượt xem
11
download

Đề tài: Tình hình tiêu thụ cao su tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Tình hình tiêu thụ cao su tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum nhằm mục tiêu phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm cao su của công ty TNHH cao su Vạn Lợi, Tp Kon Tum, Tỉnh Kon Tum; phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm cao su của công ty; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm cao su tại công ty.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Tình hình tiêu thụ cao su tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vạn Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

  1. PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết của đề tài Cao su không chỉ là loài cây có giá trị  kinh tế cao mà còn đưa lại lợi ích xã hội   rất lớn. Những năm qua, ngành cao su đã mang lại cho Việt Nam hàng tỷ đô la   Mỹ từ hoạt động xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hàng trăm ngàn lao động,   đóng góp vào Ngân sách nhà nước, cũng như có ý nghĩa lớn trong công cuộc xóa  đói giảm nghèo. Ngoài ra cây cao su còn có tác dụng phủ  xanh đất trống đồi  trọc, cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan môi trường. Với những lợi ích mà cây  cao su mang lại, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đây là loại cây chủ  lực  trong phát triển kinh tế xã hội bên cạnh một số loài cây công nghiệp khác nh ư  cà phê, tiêu, điều…  Trong những năm qua, xuất khẩu cao su tự nhiên Việt Nam liên tục đạt được  những kỷ  lục mới về cả diện tích trồng, sản lượng cũng như  kim ngạch xuất   khẩu, vượt cả  mục tiêu của Chính phủ  đến năm 2015. Cao su Việt Nam được   xuất khẩu với các chủng loại khác nhau tới rất nhiều các thị trường như Trung   Quốc,  Ấn Độ, Malaysia, Đức, Hàn Quốc… Theo dự  báo trong những năm tới,  lượng cầu cao su vẫn tiếp tục tăng, đây là động lực để  ngành cao su phấn đấu  hơn nữa, giành thị phần trên thế giới. Mặc dù đã có nhiều thành công trong sản xuất và xuất khẩu nhưng ngành cao su  của nước ta cũng không tránh khỏi những khó khăn, thách thức. Trong t ình hình  chung của cả  nước, ngành cao su tỉnh Kon Tum cũng không tránh khỏi những  khó khăn. Diện tích trồng cây cao su tăng nhanh, quy mô trồng của các hộ  gia  đình nhỏ, phân tán trong toàn tỉnh nên rất khó khăn trong việc kiểm soát dịch   bệnh. Cùng với sự gia tăng về  diện tích vườn cây, sản lượng cao su hàng năm   cũng tăng lên đáng kể, nhưng năng lực thu mua của các công ty chế biến cao su  
  2. ở trong tỉnh lại hạn chế nên hầu hết sản phẩm của nông dân đều phụ thuộc vào  khả năng tiêu thụ của các nhà thu gom nhỏ ở địa phương nên hiện t ượng ép giá,  gian lận vẫn xảy ra; quan hệ giữa người nông dân với nhà thu gom và giữa nhà   thu gom với công ty chế  biến xuất khẩu vẫn còn nhiều vấn đề  cần phải giải  quyết; hiện tượng tranh mua tranh bán, cạnh tranh không lành mạnh giữa các  nhà thu gom; việc tiếp cận thông tin thị  tr ường của người nông dân vẫn còn  nhiều hạn chế. Công ty TNHH Vạn Lợi trong những năm qua đã có những thành công nhất định   trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời đóng góp nhiều lợi   ích về  mặt kinh tế  ­ xã hội ­ môi trường, tăng thu nhập và nâng cao đời sống  cho người dân địa phương... Tuy nhiên, công ty cần nh ìn nhận, đánh giá, phân  tích lại tình hình sản xuất và tiêu thụ  cao su nhằm thấy được những thuận lợi   cũng như  khó khăn, từ  đó đưa ra những giải pháp kinh doanh thích hợp giúp  công ty đạt hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Xuất phát từ thực tế đó, qua thời gian tìm hiểu hoạt động sản xuất tại công ty   tôi tiến hành nghiên cứu đề  tài:  “Tình hình tiêu thụ  cao su tại công ty trách   nhiệm hữu hạn Vạn Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum”. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu ­ Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm cao su của công ty TNHH cao su   Vạn Lợi, Tp Kon Tum, Tỉnh Kon Tum. ­ Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm cao su của  Công ty Kon Tum. ­ Đề  xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả  hoạt động tiêu thụ  sản phẩm cao su tại công ty TNHH cao su Vạn Lợi, Tp Kon Tum, Tỉnh Kon   Tum.
  3. 1.3 Phạm vi nghiên cứu 1.3.1 Phạm vi về không gian Đề tài được thực hiện trên địa bàn Công ty TNHH cao su Vạn Lợi, Tp Kon   Tum, Tỉnh Kon Tum. 1.3.1 Phạm vi về thời gian Đề tài sử dụng số liệu của công ty năm 2010 – 2014 Thời gian thực hiện đề tài: Từ 16­03 đến 16­05/2015. 1.3.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu ­ Thực trạng hoạt động tiêu thụ. ­ Đánh giá chung. ­ Một số vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu hoạt động tiêu thụ ­  Ưu điểm, hạn  chế. ­ Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
  4. PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận 2.1.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm 2.1.1.1 Khái niệm về hoạt động tiêu thụ sản phẩm Theo Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000 thì “sản phẩm” là kết quả của  một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác (với  nhau) để biến đổi đầu vào (input) thành đầu ra (output). Như vậy, các đầu vào  của một quá trình thường là đầu ra của các quá trình khác.  Tiêu thụ  sản phẩm là hoạt động quyết định sự  thành bại của một doanh  nghiệp, để  quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục thì các doanh nghiệp  phải tiêu thụ được sản phẩm của mình đã sản xuất ra. Tiêu thụ  sản phẩm còn  là một trong sáu chức năng cơ  bản của doanh nghiệp: Tiêu thụ, hậu cần, kinh   doanh, tài chính, kế toán, và quản trị doanh nghiệp. Vậy tiêu thụ là gì? Quản trị  kinh doanh truyền thống quan niệm tiêu thụ  là hoạt động đi sau   sản xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm. Theo quan điểm hiện đại thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình thực hiện   tổng thể các hoạt động có mối quan hệ lôgíc và chặt chẽ  bởi một tập hợp các   cá nhân, doanh nghiệp phụ  thuộc lẫn nhau nhằm thực hiện quá trình chuyển   hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Cùng với sự  phát triển của nền kinh tế  thị  tr ường thì quan niệm về  tiêu  thụ  sản phẩm cũng có những thay đổi để  phù hợp với các nhân tố  mới xuất   hiện. Trong cơ  chế  cũ thì các doanh nghiệp chỉ  quan niệm rằng mình “bán   những cái gì mà mình có” tức là hoạt động tiêu thụ  chỉ  được thực hiện sau khi  
  5. đã sản xuất hoàn thành sản phẩm. Ngày nay với sự  phát triển của kinh tế  thị  trường thì doanh nghiệp không thể  bán được “cái mình có” mà nó phải bán ra   những sản phẩm mà thị  trường cần, điều này có nghĩa là hoạt động tiêu thụ  không chỉ đơn thuần là hoạt động đi sau sản xuất nữa mà một số nội dung của   tiêu thụ còn đi trước hoạt động sản xuất. Trước khi sản xuất mặt hàng nào đó   thì doanh nghiệp phải tiến hành công tác điều tra, nghiên cứu khả năng tiêu thụ  của thị  trường với sản phẩm đó, đây là cơ  sở  để  doanh nghiệp lập kế  hoạch,   chiến lược sản xuất kinh doanh. Kế  hoạch, chiến lược s ản xuất kinh doanh   của doanh nghiệp có hiệu quả, khả thi hay không đều phụ  thuộc vào tính đúng  đắn, chính xác của việc điều tra nghiên cứu thị  trường. Đây là điều kiện quan   trọng để  doanh nghiêp có thể  thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất có  hiệu quả. Như vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm có vai trò rất quan trọng và nó  quyết định hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. 2.1.1.2 Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất của   doanh nghiệp. Đó là điều kiện tiền đề  để  cho hoạt động sản xuất kinh doanh   của doanh nghiệp có hiệu quả. Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng cơ bản của doanh nghiệp. Tiêu thụ  sản phẩm bao gồm cả nội dung điều tra nghiên cứu thị  tr ường,  nó quyết định hoạt động sản xuất. Trong nền kinh tế thị  trường doanh nghiệp   phải giải quyết ba vấn đề  cơ  bản: Sản xuất cái g ì? Sản xuất cho ai? Và sản  xuất như  thế  nào? Vì vậy để  trả  lời chính xác các câu hỏi này thì các doanh  nghiệp phải tiến hành, thực hiện công tác điều tra nghiên cứu thị  trường. Kết  quả  của việc điều tra nghiên cứu sẽ  là cơ  sở  để  doanh nghiệp xây dựng kế  hoạch sản xuất. Nhịp độ  của tiêu thụ  sản phẩm sẽ  quyết định nhịp độ  sản  xuất.
  6. 2.1.1.3 Nhiệm vụ của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Mục tiêu tiêu thụ là bán hết hàng với doanh thu tối đa và chi phí kinh doanh  cho hoạt động tiêu thụ là tối thiểu, để thực hiện mục tiêu này thì hoạt động tiêu  thụ sẽ có các nhiệm vụ sau: Tiêu thụ  sản phẩm phải có nhiệm vụ  chủ  động từ  việc nghiên cứu thị  trường xác định cầu của thị  trường đối với sản phẩm, cho đến đánh giá khả  năng sản xuất của doanh nghiệp để từ đó có các quyết định đầu tư tối ưu. Cần tiến hành các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu và thu hút khách  hàng: Trong thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay thì vai trò của hoạt động  quảng cáo là rất lớn, nó sẽ  khuyếch trương sản phẩm của doanh nghiệp, khơi   gợi khả năng tiềm ẩn của cầu. Tổ chức bán hàng và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng nhằm bán được   nhiều hàng nhất với chi phí thấp nhất: Ngày nay với sự phát triển của khoa học   kỹ  thuật,  do  đó  trình độ  sản xuất của  các doanh nghiệp gần như  là  tương  đương nhau, vì vậy nếu doanh nghiệp nào có dịch vụ  sau bán hàng tốt h ơn thì  doanh nghiệp đó sẽ bán được nhiều hàng hơn. 2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của mủ cao su 2.1.2.1 Khái niệm cao su Cao su là một loại vật liệu polyme vừa có độ bền cơ học cao và khả năng  biến dạng đàn hồi lớn. Cao su tự nhiên có nguồn gốc từ  nhựa cây cao su, trải qua phản ứng trùng  hợp tạo thành isopren với đôi chút tạp chấp. Điều này giới hạn các đặc tính của  cao su. Thêm vào đó, những hạn chế  còn  ở  tỷ  lệ  các liên kết đôi không mong  muốn và tạp chất phụ từ phản  ứng trùng hợp mủ  cao su tự  nhiên. Vì những lý 
  7. do trên, các chỉ số đặc tính của cao su tự nhiên bị suy giảm ít nhiều mặc dù quá   trình lưu hóa có giúp cải thiện trở lại. 2.1.2.2 Đặc điểm tự nhiên Có thể nói quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cao su có nhiều đặc   điểm khác biệt so với cây công nghiệp khác. Những đặc điểm đó  ảnh hưởng  rất lớn đến công tác tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cao su cũng như đề  ra các phương pháp nâng cao chất lượng sản phẩm mủ  cao su tăng hiệu quả  tiêu thụ thể hiện ở một số điểm sau: Sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su tuân theo một chu kỳ đặc trưng  cũng như quy luật riêng nhưng vẫn chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên. Năng  suất chất lượng của cây chịu  ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố  tự  nhiên như  khí hậu và đất phụ  thuộc rất nhiều vào sự  thay đổi của các yêu tố  đó. Cây chỉ  phát triển tốt trong một số điều kiện nhất định về khí hậu và đất nếu không đủ  các điều kiện thích hợp thì sẽ cho năng suất thấp. Sản xuất cao su mang tính thời vụ  lớn. Trong quá trình sản xuất cây cao  su, có thời kỳ nhu cầu tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn rất căng thẳng  (như  thời kỳ gieo trồng, thu hoạch mủ và chế  biến). Ngược lại có thời kỳ  rất  nhàn rỗi (chăm sóc). Chu kỳ của cây cao su khá dài (30 năm) và phải đợi đến năm thứ  5­7 mới   có thể tiến hành cạo mủ được, song sau thời gian đó thì có thể thu hoạch trong  20­30 năm liền. Trong sản xuất cây cao su, thời gian lao động không khớp với thời gian tạo   ra sản phẩm. Nghĩa là khi kết thúc một quá trình lao động cụ  thể như làm đất,  gieo trồng, chăm sóc,… chưa có sản phẩm ngay mà phải đợi đến khi thu hoạch. Cây cao su sinh trưởng rất tốt trên đất đỏ  bazan hoặc đất xám, thật sâu  không quá cao so với mặt nước biển, bằng phẳng và độ dốc dưới 100.
  8. Sản phẩm thu được từ  cây cao su gồm: Gỗ  cao su, mủ  cao su, dầu cao  su… nhìn chung là khá đa dạng, khó chuyên chở  và bảo quản, h ơn thế  còn dễ  hư hỏng, dễ giảm phẩm chất, đòi hỏi cần chế biến kịp thời. 2.1.3 Các nội dung cơ bản của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm với cách tiếp cận tiêu thụ sản  phẩm là một khâu gồm những nội dung sau:  Nghiên cứu thị trường. Xây dựng chiến lược và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Chính sách sản phẩm. Chính sách giá. Xây dựng mạng lưới tiêu thụ. 2.1.3.1 Nghiên cứu thị trường Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm việc nghiên cứu nhu cầu thị tr ường có  ý nghĩa hết sức to lớn, đối với các doanh nghiệp sản xuất việc xác định đúng   đắn nhu cầu là cơ  sở  của kế  hoạch sản xuất kinh doanh  ảnh hưởng trực tiếp   đến hoạt động thương mại của doanh nghiệp. Nghiên cứu thị  trường bao gồm   một số công việc sau: Nghiên cứu dung lượng thị  trường: Đó là việc nghiên cứu quy mô, cơ  cấu và sự  vận động của thị  trường. Nghiên cứu quy mô thị  trường sản phẩm  phải nắm được số lượng người tiêu dùng tổng khối lượng và cơ cấu sản phẩm   tiêu thụ  trên thị  trường trong từng khoảng thời gian, doanh số  bán hàng của  doanh nghiệp kỳ trước và của đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp. Nghiên cứu  cơ cấu thị trường về mặt địa lý, thị trường tài chính, thị trường phụ, thị trường   mới.
  9. Nghiên cứu cơ cấu thị trường sản phẩm: Xác định chủng loại sản phẩm  cụ thể và khả  năng tiêu thụ  chủng loại sản phẩm cụ thể và khả  năng tiêu thụ  doanh thu và lợi nhuận. Vì vậy nếu nghiên cứu nắm bắt được sự  biến đổi giá  cả thị trường có tác dụng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Giá cả thị  trường biến động lên xuống thất thường nhưng có khi lại tương đối  ổn định.  Điều này còn phụ  thuộc vào cung cầu lạm phát, cạnh tranh trên thị  tr ường. Vì  vậy các doanh nghiệp phải xác định chi phí đầu vào đầu ra và giá cả  hàng hoá   cùng loại trên thị trường khi quyết định sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào  đó. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh: Trong nền kinh tế thị trường hầu hết các   doanh nghiệp đều có đối thủ  cạnh tranh do vậy không thể  không nghiên cứu  đối thủ  cạnh tranh về  quy mô chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, các   chính sách dịch vụ  từ  đó phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu để  đề  ra   những biện pháp cạnh tranh cho phù hợp. Nghiên cứu các nhân tố của môi trường sản phẩm: Đó là môi trường kinh  tế, môi trường luật pháp, môi trường công nghệ, môi trường văn hoá x ã hội.  Đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng tiêu thụ  trong từng thời gian, nắm  vững được nhân tố  này để  doanh nghiệp có kế  hoạch và đề  ra các chính sách   bán hàng để đẩy mạnh công tác tiêu thụ. 2.1.3.2 Xây dựng chiến lược và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm Chiến lược tiêu thụ  sản phẩm là định hướng hoạt động có mục tiêu của  doanh nghiệp và hệ  thống các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề  ra trong   tiêu thụ. Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ  bao gồm: Sản phẩm tiêu thụ, tăng   doanh số, tối đa hóa lợi nhuận, mở  rộng thị  trường, nâng cao uy tín của doanh   nghiệp. Chiến lược tiêu thụ  sản phẩm giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu  cầu của khách hàng, từ đó chủ động đối phó với mọi diễn biến của thị trường 
  10. giúp doanh nghiệp mở rộng thêm thị  trường mới, kế hoạch hóa về  khối lượng   tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận, chọn kênh tiêu thụ và đối tượng khách hàng. Về nội dung của chiến lược tiêu thụ  sản phẩm thực chất là một chương  trình hoạt động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu cụ thể của   doanh nghiệp. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được xây dựng  trên những căn cứ  khác nhau với những mục  đích khác nhau đều phải có 2  phần: Chiến lược tổng quát: Có nhiệm vụ  xác định bước đi và hướng đi cùng  với những mục tiêu cần đạt tới. Nội dung của chiến lược tổng quát được thể  hiện bằng những mục tiêu cụ thể như: Phương hướng sản xuất, lựa chọn dịch   vụ, thị trường tiêu thụ, nhịp độ tăng trưởng và mục tiêu tài chính. Chiến lược bộ phận của doanh nghiệp bao gồm: Chiến lược sản phẩm,   chiến lược giá cả. Trong đó chiến lược sản phẩm là xương sống của chiến   lược tiêu thụ. Chỉ  khi hình thành chính sách sản phẩm, doanh nghiệp mới có  phương án đảm bảo đối với những sản phẩm mà thị trường yêu cầu. Nếu chính   sách sản phẩm không đảm bảo đối với những sản phẩm mà thị trường yêu cầu.   Nếu chính sách sản phẩm không đảm bảo một sự tiêu thụ chắc chắn hay không  đảm bảo một thị trường chắc chắn thì hoạt động tiêu thụ  sẽ rất mạo hiểm và  dễ dẫn đến thất bại. Chính  sách  sản   phẩm  đảm  bảo  cho   doanh   nghiệp   thực   hiện  mục   tiêu  chiến lược kinh doanh như lợi nhuận, vị thế và an toàn. 2.1.3.3 Chính sách sản phẩm Đặc điểm của sản xuất sản phẩm là nó không phải là giá trị  sử dụng của   người bán nhưng phải là giá trị sử dụng của người mua. Sản phẩm muốn được   người mua chấp nhận thì nó phải có chất lượng, giá cả, mẫu mã, phù hợp với  thị  hiếu người tiêu dùng. Trong việc xây dựng chính sách sản phẩm của doanh   nghiệp mình các nhà doanh nghiệp cần phải giải đáp được các vấn đề  sau:  
  11. Khách hàng cần sản phẩm gì của doanh nghiệp? Tức là bán cái hàng cần chứ  không phải bán cái doanh nghiệp có. Để  xây dựng chính sách sản phẩm doanh   nghiệp có thể tiến hành theo các nội dung sau: Xây dựng cơ  cấu chủng loại sản phẩm tiêu thụ  trong nền kinh tế  thị  trường, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất thì ít doanh nghiệp nào lại chỉ  sản xuất một loại sản phẩm vì nếu kinh tế  luôn biến động, điều này sẽ  dẫn  đến rủi ro trong kinh doanh là điều khó tránh khỏi. Mà một trong những mục   tiêu của doanh nghiệp là độ an toàn cao, giảm độ thiểu rủi ro, vì vậy các doanh  nghiệp phải đưa ra một cơ cấu chủng loại sản phẩm phong phú đa dạng ra thị  trường để  đáp  ứng nhu cầu cần cũng rất phong phú, đa dạng của khách hàng,  đồng thời tạo thế  cạnh tranh đảm bảo duy trì và phát triển vị  thế  sắn có của  doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp có thể lựa chọn cơ cấu, chủng loại sản phẩm tiêu thụ theo  các hướng sau:  Lựa chọn và mở rộng sản phẩm tiêu thụ theo hướng cạnh tranh, để thực  hiện tốt được chính sách này nhà quản trị  tiêu thụ  phải nắm vững t ình hình  cạnh tranh trên thị  trường xác định được thế  lực và vị  thế  của doanh nghiệp   mình để từ đó xây dựng mặt hàng kinh doanh là độc quyền, cạnh tranh hay vừa   cạnh tranh vừa độc quyền cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh  nghiệp cũng như tình hình của thị trường tạo điều kiện nâng cao hiệu quả tiêu  thụ sản phẩm. Lựa chọn sản phẩm tiêu thụ theo nhu cầu trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu  thị  trường, trên doanh nghiệp cần phải chia các nhu cầu thiết yếu, chủ  yếu từ  đó xét cơ  cấu sản phẩm tiêu thụ  phù hợp với từng loại nhu cầu tiêu thụ  đảm  bảo sản xuất bán ra không bị ứ đọng, muốn tổ chức thực hiện tốt các quy định 
  12. về sản phẩm tiêu thụ nhà quản lý phải: Tổ chức đội ngũ cán bộ nghiên cứu thị  trường là những người có trình độ, có kinh nghiệm cao tiêu thụ  các sản phẩm  tiêu thụ  để  thấy được sự  biến động trong tiêu dùng, phân tích nguyên nhân và   đưa ra các quyết định sản phẩm thích hợp.  2.1.3.4 Chính sách giá Giá cả là yếu tố quan trọng trong hoạt động tiêu thụ và công cụ để doanh   nghiệp đạt được mục tiêu trong sản xuất kinh doanh, giá cả  cao có thể  sẽ  bị  mất khách hàng tiềm năng và giá cả  quá thấp doanh nghiệp có thể  không thu  được lợi nhuận. Giá cả  của sản phẩm phải được  ổn định  ở  mức mà có thể  trang trải được tất cả  các chi phí phát sinh trong sản xuất và bán nó đồng thời  tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nội dung của chính sách giá:   Xác định mục tiêu của chính sách giá, chính sách giá của bất kỳ  một  doanh nghiệp nào cũng nhằm mục tiêu bán cho được lượng sản phẩm và dịch  vụ  trên thị  trường, tuy vậy bản thân việc bán sản phẩm và dịch vụ  này lại có   những mục tiêu khác nhau do vậy mà chính sách giá cũng khác nhau. Lựa chọn   căn cứ xây dựng chính sách giá như đã nói ở trên chính sách giá là vấn đề phức  tạp, nó không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến quyền lợi của mình   mà cần quan tâm đến quyền lợi của người tiêu dùng. Vì vậy xây dựng chính   sách giá phải dựa trên những căn cứ chủ yếu sau:  Phải căn cứ vào pháp luật và chủ trương chính sách, chế độ quản lý của  nhà nước.  Phải dựa vào căn cứ  chi phí cho sản xuất và giá thành đơn vị  sản xuất  sản phẩm.
  13.  Phải được xây dựng phù hợp với đặc điểm thị trường cạnh tranh và các  điều kiện về thời gian và không gian cụ thể.  2.1.3.5 Xây dựng mạng lưới tiêu thụ Để  có thể  tiêu thụ  được sản phẩm doanh nghiệp cần phải có mạng lưới   tiêu thụ  của mình. Thực chất của việc xây dựng mạng lưới tiêu thụ  là doanh  nghiệp thiết kế  các kênh phân phối cho sản phẩm của m ình để  từ  đó có thể  cung cấp hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả  nhất. Việc xây dựng   mạng lưới tiêu thụ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của  doanh nghiệp. Tốc độ tiêu thụ sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào quan hệ cung  cầu mà còn tuỳ thuộc rất lớn  ở việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ. Chúng ta đều  biết một điều rằng sản phẩm chất lượng tốt nhưng có thể chỉ tốt đối với khách   hàng hay mét khu vực thị trường nào đó, còn đối với nhóm khách hàng khác, thị  trường khác lại không phù hợp. Tương tự như vậy, giá cả của sản phẩm có thể được xem là “rẻ” là “phù  hợp” đối với một nhóm khách hàng này nhưng lại là quá “đắt” là “không phù  hợp” với khả  năng chi tiêu của một nhóm khách hàng khác. Điều này cũng có   thể xảy ra với một số biện pháp hoặc hình thức xúc tiến của doanh nghiệp. Do  vậy, xây dựng mạng lưới tiêu thụ  có  ý nghĩa quan trọng và đòi hỏi phải có  quyết định chính xác và khoa học để  làm sao mà đáp  ứng nhu cầu khách hàng  tốt nhất mà giảm chi phí bán hàng của doanh nghiệp.  2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ cao su nguyên liệu Cũng giống như những loại sản phẩm khác, sản phẩm ngành cao su là sản  phẩm hàng hóa vì vậy tiêu thụ mủ cao su cũng tuân theo những quy luật chung  của thị trường hàng hóa. Tuy nhiên, do sản xuất cao su có những đặc điểm riêng   chi phối tới quá trình tiêu thụ sản phẩm mủ cao su nên quá trình tiêu thụ mủ cao   su có những nét khác biệt đặc thù. 
  14. 2.1.4.1 Giá cả biến động nhanh và phụ thuộc vào giá dầu thô trên Thế giới Giá cả mủ cao su có thể thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòng vài ngày,  một tuần hoặc một tháng. Mức độ  biến động giá cả  do cung cầu thị  trường   điều phối kém hoặc do các công ty xuất khẩu không ký được hợp đồng với các   nước nhập khẩu. Giá bán mủ cao su của người nông dân phụ  thuộc vào giá mà  các công ty xuất khẩu ký hợp đồng với các nhà nhập khẩu nước ngoài và giá  hợp đồng đó lại phụ thuộc vào giá dầu thô trên Thế giới, bởi v ì cao su nhân tạo  được làm từ nguyên liệu là dầu thô, khi giá dầu thô tăng làm giá cao su nhân tạo   cũng tăng theo, nhu cầu cao su nhân tạo giảm dẫn đến nhu cầu cao su thiên   nhiên tăng làm cho giá cao su thiên nhiên tăng. Sự ràng buộc đó khiến giá cao su  thiên nhiên phụ  thuộc rất lớn vào giá dầu thô. Trong những năm gần đây, giá   dầu thô biến động bất thường và liên tục khiến giá cao su thiên nhiên kém ổn  định. 2.1.4.2 Giao động mạnh về giá giữa các năm Giá mủ cao su có thể dao động mạnh giữa các năm. Điều kiện tự nhiên và  thiên tai như bão lụt, hạn hán là nguyên nhân chủ yếu gây ra dao động giá do tác   động của nó tới cung. Ví dụ: nếu trong năm có bão xảy ra sẽ làm cho cây cao su  bị  gãy đỗ  hàng loạt dẫn đến giá cả  tăng lên do nguồn cung bị  thu hẹp. Ngược  lại, thời tiết thuận lợi, không có thiên tai sản lượng mủ cao su khai thác và cung  ứng quá nhiều, giá mủ cao su có xu hướng giảm. Phản ứng của nông dân với hiện tượng trên càng làm cho giá cả biến động   nhanh hơn. Nông dân có thể phản ứng quá tích cực khi thấy giá mủ  cao su tăng  lên bằng cách mở rộng diện tích trồng cây cao su và khai thác bừa bãi diện tích  cao su đã vào thời kỳ  kinh doanh làm cho lượng cung hiện tại và lượng cung  trong tương lai vượt quá cầu dẫn tới giảm giá trong thời điểm thu hoạch. Trong   tình huống ngược lại, nông dân lại phá bỏ diện tích cao su đã trồng khi giá mủ  cao su giảm mạnh.
  15. 2.1.4.3  Tính rủi ro cao Rủi ro cao là đặc điểm cơ bản của thị trường hàng hóa nông sản nói chung  và thị  trường mủ  cao su nói riêng. Tính dễ  biến động của giá là nguyên nhân  chính của rủi ro. Ngoài ra người nông dân còn gặp một yếu tố  rủi ro khác là  điều kiện thiên nhiên. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với hàng hóa nông   sản và càng quan trọng hơn đối với những loại hàng hóa nông sản có sự đầu tư  lớn về chi phí và thời gian thu hồi chậm như cây cao su. Cây cao su có thời gian  kiến thiết cơ bản kéo dài khoảng 7 năm, chi phí bỏ  ra trong thời kỳ này là rất  lớn nhưng thời gian thu hồi lại rất chậm. Nếu điều kiện thời tiết bất ổn xảy ra   thì sản lượng mủ thu hoạch sẽ rất thấp, nhiều khi mất trắng cả vườn cây. Rủi  ro này càng biểu hiện rỏ nét hơn với điều kiện khí hậu và thời tiết bất ổn của  nước ta hiện nay. 2.1.4.4 Chu kỳ sản xuất dài Cây cao su là một cây công nghiệp dài ngày, quá trình sản xuất trải qua 2   thời kỳ: Thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh. Thời kỳ kiến thiết cơ bản thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 7 – 8   năm tính từ khi trồng cây. Thời kỳ kinh doanh là khoảng thời gian khai thác mủ,  cây cao su được khai thác khi có trên 50% tổng số cây có vanh thân đạt từ 50 cm   trở  lên, giai đoạn kinh doanh có thể  dài từ  25 – 30 năm. Như  vậy chu kỳ  sản  xuất của cây cao su được giới hạn từ 30 – 40 năm. 2.1.4.5 Thiếu thông tin Khả năng tiếp cận thông tin thị trường kém là nguyên nhân quan trọng làm  cho thị  trường tiêu thụ  mủ  cao su kém hiệu quả. Nhìn chung, kiến thức và sự  hiểu biết của nông dân về phương thức hoạt động của thị trường là hạn chế và  thiếu thông tin về  cầu và giá cả. Thiếu kiến thức làm hạn chế  khả  năng tiếp  cận tới các thị trường có cơ hội mang lại lợi nhuận cao hơn, hạn chế khả năng 
  16. đáp  ứng yêu cầu của người mua và thương thuyết để  đạt được một mức giá   hợp lý. Thương nhân và nhà chế  biến cũng có thể  không có khả năng tiếp cận  các thông tin quan trọng về thị trường, vì vậy, không thể hoàn toàn điều chỉnh  ngay được khi môi trường kinh doanh thay đổi. Nói một cách tổng quát, thiếu   thông tin làm cho chi phí tiếp thị và rủi ro cao, dẫn tới điều phối cung cầu kém. 2.1.4.6 Cung kém co giãn theo giá Cao su là cây công nghiệp dài ngày vì vậy không thể đáp ứng nhanh với giá  cả, đặc biệt trong ngắn hạn. Nói cách khác, nông dân trồng cao su cần nhiều   thời gian để điều chỉnh sản xuất sao cho đáp ứng với sự thay đổi của giá. Khi giá mủ  cao su tăng lên, với diện tích cao su vào thời kỳ  kinh doanh   hiện có, nông dân không thể tăng sản lượng mủ trong ngắn hạn được. Để tăng   được sản lượng mủ tạm thời trong vài ngày, nông dân có thể khai thác cả vườn  cây liên tục 6 ngày/tuần, nhưng nếu làm như vậy chất lượng mủ cũng sẽ giảm   đi, vườn cây sẽ  nhanh chóng bị  lão hóa và không thể  cho mủ. Để  tăng được  lượng mủ thu hoạch thì người nông dân phải đợi ít nhất 7 năm để mở rộng quy  mô và đưa vườn cây vào thu hoạch. Trong trường hợp vườn cây mới đưa vào  thu hoạch năm thứ nhất thì năm sau sản lượng mủ cũng sẽ tăng lên, trường hợp  này nông dân cũng phải đợi vào vụ  thu hoạch năm sau mới tăng sản lượng  được. 2.2 Cơ sở thực tiễn 2.2.1 Thị trường cao su trên thế giới Theo Tổ  chức Nghiên cứu Cao su thế  giới (IRSG), nhu cầu cao su thiên  nhiên và cao su tổng hợp trên thế  giới năm 2013 được dự  đoán sẽ  tăng 4% so   với năm 2012, đạt mức 27,7 triệu tấn. Dự báo của IRSG dựa trên các con số dự  đoán mới nhất của Quỹ  Tiền tệ  Thế  giới (IMF) về  mức tăng trưởng kinh tế  toàn cầu đạt 3,9% trong năm 2013.
  17. Theo thông tin từ Hiệp hội Cao su Ấn Độ (AIRIA) cho biết, do tốc độ tăng  trưởng hàng năm của cao su tổng hợp ở mức 15 – 20% so với 5 – 7% của cao su   thiên nhiên đã ảnh hưởng đến sự mất cân bằng cung cầu đối với mặt hàng cao   su thiên nhiên. Trong tháng 2 năm 2012, sản lượng cao su đạt 64.000 tấn và tiêu  thụ đạt 80.265 tấn. Nhập khẩu tháng 2/2013 giảm 61%, xuống c òn 9.497 tấn so  với con số  24.519 tấn của tháng 2/2012, trong khi đó xuất khẩu cao su tháng   2/2013 đã tăng 7 lần đạt con số 6.650 tấn so với 951 tấn cùng kỳ năm trước. Theo Hiệp hội cao su Indonesia, sản lượng cao su Indonesia năm 2013 sẽ  tăng 7% lên 3,2 triệu tấn do năng suất tăng cao, xuất khẩu đạt khoảng 2,7 triệu   tấn so với sản lượng cao su năm 2012 đạt 3 triệu tấn và xuất khẩu đạt 2,8 triệu  tấn. Sự sụt giảm xuất khẩu sẽ thúc đẩy nhu cầu nội địa gia tăng từ ngành công  nghiệp lốp xe. Theo Hiệp hội cao su Thái Lan, xuất khẩu cao su Thái Lan sẽ vẫn duy trì ở  mức tăng trong năm 2013, với tăng trưởng ước tính khoảng 3 – 5% do nhu cầu   tăng cao từ các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil. Hiện nay,   Thái Lan có khoảng 2,8 triệu ha cây cao su, xếp thứ hai sau Indonesia về diện   tích nhưng vượt hơn về  sản lượng với mức 3,6 triệu tấn và xuất khẩu 3,09  triệu tấn năm 2012, chiếm 30,8% về lượng và 35% về  xuất khẩu cao su thiên  nhiên trên thế giới. Thị trường cao su chính của Thái Lan là Trung Quốc (41%),   Malaysia (18%, chủ  yếu là latex), Nhật Bản (9%), Hàn Quốc (6%) và Hoa Kỳ  (6%). Năm 2013, sản lượng cao su Thái Lan dự kiến sẽ đạt 3,6 triệu tấn tăng so   với 3,5 – 3,55 triệu tấn năm 2012. Biến động giá cả: Những ngày đầu tiên của năm 2013, giá cao su đã có   bước nhảy vọt hơn so với thời gian trước đó, ngành lốp xe của Trung Quốc   tăng trưởng cao trong năm 2012 và dự báo nhu cầu lốp xe sẽ tiếp tục tăng đã hỗ  trợ  xuất khẩu cao su của Thái Lan. Mặt khác, chính phủ  Nhật Bản đưa ra các  
  18. biện pháp kích thích tiền tệ và tài chính cũng phần nào đẩy mạnh nhu cầu mặt   hàng này. Điển hình là ngày 10/1, giá cao su kỳ  hạn tại Sở giao dịch hàng hóa  Tokyo (Tocom), Nhật Bản giao dịch  ở mức cao trong 8 tháng do dự đoán Trung   Quốc, nhà tiêu thụ  cao su hàng đầu thế  giới, sẽ đẩy nhanh tiến độ  mua cao su   để  dự  trữ  trước ngày nghỉ  lễ  và giá dầu thô tăng. Cuối ngày, cao su hợp đồng   cao gia kỳ  hạn gần nhất đóng cửa  ở  mức 298,7 Yên/kg. Tuy nhiên, vào ngày  16/1, giá cao su quay đầu giảm khi số liệu cho thấy lạm phát tháng 12/2012 của   Trung Quốc tăng mạnh hơn dự  đoán. Đóng cửa phiên giao dịch ngày 16/1, hợp   đồng cao su giao giao tháng 1/2013 giảm xuống còn 289,4 Yên/kg và tiếp tục  giảm xuống 289,1 Yên/kg trong ngày giao dịch tiếp sau (17/1). 2.2.2 Thị trường cao su trong nước Tính đến cuối năm 2013, tổng diện tích cây cao su cả  nước đạt 910.500  ha, năng suất  ước đạt 863.600 tấn, tăng 9,4%, diện tích thu hoạch cao su tăng   10% và đạt 505.800 ha, còn năng suất  ước đạt 1.707 kg/ha. Năng suất cao su  năm 2013 giảm 0,5% so với năm 2012 do diện tích vườn cây mới đưa vào thu  hoạch năm đầu tiên khá lớn, khoảng 45.800 ha (9%). Sản xuất cao su ở Việt Nam, tính đến nay sau 117 năm cây cao su được du   nhập vào Việt Nam (1897) và 107 năm  hình thành những đồn điền kinh doanh  (1907) . Diện tích trồng cao su đã tăng rất nhanh.  Sản lượng và năng suất mủ cao su của Việt Nam đứng hàng thứ 5 trên thế  giới (sau Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Malaysia). Năm 2013 Việt Nam xuất khẩu  mủ cao su đạt xấp xỉ 2,85 tỷ USD, trong đó Trung Quốc là thị  trường chủ  lực.  Diện tích trồng cao su của Việt Nam hiện có hơn 0,9 triệu ha, tập trung chủ  yếu ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số địa phương thuộc khu vực Trung   Bộ. Với phương thức liên doanh, Tổng công ty cao su Việt Nam c òn thực hiện  dự án trồng cao su tại Lào và Campuchia với tổng diện tích khoảng 0,4 triệu ha.  Theo chỉ đạo của ngành chuyên trách, để vươn tới mục tiêu xuất khẩu đạt gần 
  19. 3,5 tỷ USD trong những năm tới, thâm canh cao su của Việt Nam phải phát triển   vững chắc  đồng thời trên nhiều mặt; diện tích, sản l ượng, năng suất, chất  lượng.  Theo các chuyên gia ở Tập đoàn Cao su Việt Nam, vào năm 2013, diện tích  cao su có thể  đạt trên 1 triệu ha; trong đó diện tích khai thác từ  600.000 đến   700.000 ha và cho sản lượng gần 1 triệu tấn,   kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ  được  ở  mức trên 2,8  tỷ  USD. Đến năm 2015, diện tích khai thác đạt 750.000  đến 800.000 ha, và sản lượng ước đạt 1,1 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu   3,3 tỷ­3,4 tỷ USD.   Vị  thế  của ngành cao su Việt Nam trên thế  giới ngày càng được khẳng  định. Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ  6 trên thế  giới (sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia,  Ấn Độ, và Trung  Quốc).  2.2.3 Thị trường trên địa bàn tỉnh Kon Tum Cây cao su có mặt ở Kon Tum từ những năm 30 của Thế kỷ XX trong các   đồn điền của người Pháp. Diện tích cao su trong khoảng thời gian này không   nhiều, cho đến trước năm 1975 chỉ  khoảng vài ngàn ha. Sau 1975 Nhà nước  Việt nam tiếp quản các đồn điền này và thành lập các Công ty quốc doanh.   Đồng thời, Nhà nước cũng quan tâm phát triển diện tích cao su bằng cách thành  lập mới các Công ty quốc doanh tuy nhiên tốc độ tăng của diện tích cao su vẫn  rất chậm. Tính tới thời điểm này thì tổng diện tích cao su của Tỉnh Kon Tum đạt  75.500 ha. Bảng 1: Diện Tích Cao Su Của Kon Tum( Đơn Vị Ha ) Năm 1990 1995 2000 2013 BQ (%)
  20. Diện tích  16.984 22.149 47.428 62.186 37,21 (ha) Nguồn:http://www.thitruongcaosu.net Nhìn chung diện tích cao su Kon Tum đều tăng qua các năm ( năm 1990 là  16.984ha,  năm 2013 là  62.186ha  ),  tốc   độ  tăng trưởng bình quân là 37,21%.  Riêng Công ty cao su Kon Tum có trên 15.000 ha cao su, trong đó hơn 4000 ha  cao su liên kết, 10.800 ha cao su quốc doanh. Công ty TNHH cao su Vạn Lợi, Tp Kon Tum, Tỉnh Kon Tum hiện nay   quản lý 2.619 ha cao su, gồm 2.080 ha cao su kinh doanh (chăm sóc theo quy  trình), 539 ha cao su KTCB được trồng bằng giống mới thử nghiệm, đang sinh   trưởng khá tốt.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2