intTypePromotion=3

Đề tài: Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Trần Thị Thùy Linh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:33

0
104
lượt xem
31
download

Đề tài: Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay gồm có 3 chương, trong đó chương 1 trình bày về tìm hiểu hệ thống tài chính và vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của hệ thống tài chính; chương 2 - cơ sở cho sự can thiệp của Nhà nước và vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay; chương 3 - một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay.

 

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính Việt Nam hiện nay

  1. BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH ­  MARKETING  KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC  Tên đề tài:  VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN  HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM HIỆN NAY Giảng Viên HD: TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung Danh sách nhóm 6:  Trần Thị Thùy Linh Lê Trung Hưng Phạm Huỳnh Thanh Ngọc Nguyễn Thu Thanh Lưu Thị Bích Trang Trần Công Khánh Nguyễn Thị Hồng Liêm Cao Văn Thịnh Thành phố Hồ Chí Minh
  2. CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ  HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ   NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 1.1. Khái niệm hệ thống tài chính Hệ  thống tài chính là tổng thể  các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác   nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành   và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế ­ xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó. 1.2. Cấu trúc (các bộ phận cấu thành) của hệ thống tài chính Hệ  thống tài chính được cấu thành từ  4 thành tố  chính sau: thị  trường tài chính,   các chủ thể tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính có thể được khái  quát qua sơ đồ sau:
  3. SƠ ĐỒ: HỆ THỐNG TÀI CHÍNH  Các chủ thể tài chính:  Tài chính công :  Tài chính công bao gồm quỹ công (hay quỹ  ngân sách nhà nước), quỹ  bảo hiểm   xã hội, các quỹ hỗ trợ tài chính. Trong đó, ngân sách nhà nước là khâu tài chính giữ  vị  trí trung tâm và chủ đạo trong toàn bộ hệ thống tài chính vì nó chi phối và điều chỉnh   các bộ phận tài chính khác. Ngân sách Nhà nước ngắn liền với các chức năng, nhiệm  vụ  của nhà nước, đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để  hệ  thống chính  quyền nhà nước thực hiện được nhiệm vụ  của mình. Ngoài ra, trong điều kiện của   nền kinh tế thị trường, ngân sách Nhà nước còn có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ   mô nền kinh tế  ­ xã hội, đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị  trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.. Để thực hiện được các vai trò đó,  ngân sách nhà nước phải có các nguồn vốn được tập trung từ  các tụ  điểm vốn thông   qua các chính sách thu nhập (thuế, phí, lệ phí, … ) thích hợp.  Tài chính doanh nghiệp:  Tài chính doanh nghiệp là một bộ  phận của hệ  thống tài chính. Hệ  thống các  quan hệ  kinh tế  dưới hình thái giá trị  phát sinh trong quá trình tạo lập và phân phối  nguồn tài chính và quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của doanh   nghiệp nhằm phục vụ  mục đích sản xuất để  đạt được mục tiêu chung của doanh  nghiệp đó.  Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp. Hoạt động của tài chính doanh nghiệp: ­ Luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh  nghiệp.  ­ Bị chi phối bởi tính chất sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp.  ­ Luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận.
  4.  Các định chế tài chính trung gian :  Là những tổ  chức kinh doanh tài chính tiền tệ, có nhiệm vụ  tiết kiệm cho nền   kinh tế  các chi phí giao dịch và chi phí thông tin, bao gồm các tổ  chức tài chính chính  thức và các tổ chức tài chính không chính thức. o Các tổ chức tài chính chính thức: ­ Các Ngân hàng thương mại: Trong số  các tổ  chức tài chính trung gian, hệ  thống các ngân hàng thương mại  chiếm vị trí quan trọng nhất cả về quy mô và về thành phần các nghiệp vụ (có và nợ). Hoạt động của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: nghiệp vụ nợ ( huy động  vốn), nghiệp vụ  có (cho vay vốn), nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán,   đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ và vật quý giá…). Ở nước ta hiện nay, đa số các Ngân hàng hiện nay là Ngân hàng chuyển doanh  do Nhà nước cấp vốn hoạt động (Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng công thương,   Ngân hàng ngoại thương…), hệ thống các chi nhánh của chúng lại được bố trí theo địa   giới hành chính nên chưa phát huy được vai trò của mình do nội dung hoạt động bị hạn  chế, chất lượng và kỹ thuật phục vụ thấp, không có yếu tố  cạnh tranh và không bám  sát được sự phát triển của thị trường. Để khắc phục cần sớm hình thành và phát triển  các Ngân hàng cổ phần đặc biệt là các Ngân hàng kinh doanh tổng hợp. ­ Các Công ty tài chính: Các công ty tài chính (CTTC) thu hút vốn bằng cách phát hành thương phiếu   hoặc cổ phiếu, trái phiếu và dùng tiền thu được để cho vay, đặc biệt thích hợp với các   nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Quá trình trung gian tài chính của các CTTC có thể  được mô tả  bằng cách nói   rằng họ vay những món tiền lớn nhưng lại thường cho vay những món tiền nhỏ ­ một   quá trình hoàn toàn khác với quá trình của những ngân hàng thương mại, các Ngân 
  5. hàng này phát hành các món tiền gửi với số lượng tiền nhỏ và sau đó thường cho vay   với món tiền lớn. ­ Các quỹ tín dụng: Các quỹ tín dụng là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được thành lập chủ  yếu theo nguyên tắc góp cổ phần. o Các tổ chức tài chính không chính thức: Các tổ  chức tài chính không chính thức tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau  mà trước hết và quan trọng nhất là các công ty bảo hiểm.   Công cụ tài chính: + Các khoản vay của các ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. + Trái phiếu chính phủ. + Tín phiếu kho bạc. + Trái phiếu đô thị. + Trái phiếu công ty. + Chứng chỉ tiền gửi. + Cổ phiếu….  Thị trường tài chính Thị  trường tài chính theo cách hiểu chung nhất đó là nơi diễn ra quá trình trao  đổi mua bán các công cụ tài chính và các công cụ thanh toán. Chức năng cơ bản nhất của thị trường tài chính là khơi thông dòng chảy vốn từ  người đang dư  thừa có nhu cầu đầu tư  sang người đang cần vốn. Hoạt động của thị  trường tài chính diễn ra khẩn trương sôi động, xét về bản chất thì những người kinh  
  6. doanh trên thị  trường tài chính là rất quan trọng bởi vì hoạt động của họ  làm nguồn  vốn được điều hòa có nghĩa là dòng chảy vốn sẽ  chảy mạnh mẽ  đến những ngành,   lĩnh vực làm ăn có hiệu quả và ngược lại nó cũng sẽ rút khỏi những lĩnh vực kém hấp  dẫn. Như vậy hoạt động trên thị trường tài chính sẽ góp phần lớn vào bình quân hóa tỉ  suất lợi nhuận đưa nền kinh tế tới mô hình tối ưu hơn. Về phân loại thị  trường tài chính thì có nhiều cách dựa theo các tiêu thức khác   nhau. Nếu căn cứ  vào thời hạn các hàng hóa trên thị  trường có thể  chia thành thị  trường vốn và thị  trường tiền tệ. Nếu căn cứ  vào mức độ  rộng rãi của các chủ  thể  tham gia có thể chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, nếu căn cứ vào tiêu  thức huy động vốn của các chủ thể thì lại chia thành thị  trường nợ  và thị  trường vốn  cổ phần.  Cơ sở hạ tầng tài chính:    Cơ sơ hạ tầng tài chính: là khuôn khổ các luật lệ và hệ thống làm nền tảng cho   các bên lập kế hoạch, đàm phán và thực hiện các giao dịch tài chính. Bao gồm:  + Hệ thống pháp luật và quản lý của nhà nước.  + Nguồn lực và thông lệ giám sát.  + Cung cấp thông tin. + Hệ thống thanh toán 1.3. Chức năng của hệ thống tài chính Hệ  thống tài chính dẫn vốn từ  những người thừa vốn đến những người thiếu  vốn. Điều này cải thiện mức sống kinh tế của mỗi người trong xã hội, bởi vì nó cho   phép vốn chuyển từ  những người thiếu cơ  hội đầu tư  sinh lợi tới những người có   những cơ hội như vậy, nhờ thế đóng góp hiệu quả đang tăng lên trong nền kinh tế.
  7. Sàng lọc, chuyển giao, phân tán rủi ro: là thu nhập, xử lý, cung cấp thông tin để  lựa chọn phương án đầu tư  khả thi. Mua bảo hiểm, tái bảo hiểm cho dự án. Đa dạng   hóa danh mục đầu tư. Đánh giá, giám sát và định hướng các hoạt động kinh tế: là giám sát trước khi  cấp vốn, trong khi sử dụng vốn và sau khi hoàn vốn Vận hành hệ thống thanh toán qua tài khoản ngân hàng, thanh toán chuyển khoản,  thẻ tín dụng… 1.4. Vai trò của hệ thống tài chính: ­ Khuyến khích tiết kiệm. ­ Khuyến  khích đầu tư. ­ Thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa. ­ Tăng cường hiệu quả và tăng trưởng kinh tế. ­ Cải thiện đời sống kinh tế xã hội. CHƯƠNG 2: CƠ  SỞ  CHO SỰ  CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ  CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT  NAM HIỆN NAY. 2.1. Cơ sở cho sự can thiệp của nhà nước. Các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đã tranh luận khá gay gắt về vai trò của  nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, chủ yếu giữa hai quan điểm:  nền kinh tế tập trung dưới sự chỉ huy của nhà nước và nền kinh tế thị trường dựa vào  thành phần kinh tế tư nhân. 
  8.  Nền kinh tế tập trung dưới sự chỉ huy của nhà nước: Thực tế đã chứng minh rằng nền kinh tế tập trung dưới sự chỉ huy của nhà nước  là thất bại. Thất bại này thể  hiện ở  tốc độ  tăng trưởng kinh tế  chậm, đời sống nhân  dân không được cải thiện. Và thời kỳ nền kinh tế bao cấp ở Việt Nam đã minh chứng  cho điều đó. Thời kỳ mà nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung kế hoạch hóa. Nhà nước  lên kế  hoạch cho mọi hoạt động kinh tế. Thành phần kinh tế  tư  nhân bị  cấm. Nông   dân làm việc trong các hợp tác xã. Và kết quả là: Từ năm 1976 đến 1980 thu nhập quốc  dân tăng rất chậm, thậm chí có năm còn giảm. Năm 1977 tăng 2,8%, 1978 tăng 2,3 %,  1979 giảm 2 %, 1980 giảm 1,4 %. Trong khi tốc độ tăng trưởng dân số cao làm cho thu  nhập bình quân đầu người giảm 14 %.  Nền kinh tế thị trường tự do dựa vào thành phần kinh tế tư nhân Trong giai đoạn đầu, kinh tế thị trường ở Châu Âu, cả Châu Á và đặc biệt là  Mỹ  tỏ  ra khá thành công. Lúc này những người theo trường phái thị  trường tự  do đã lớn   tiếng trong việc chỉ  trích vai trò của nhà nước trong việc điều tiết can thiệp vào thị  trường làm mất đi tính hiểu quả của nó. Nhưng đến năm 2007 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã xảy ra mà ngòi nổ  đầu tiên xuất hiện ở Mỹ. Qua phân tích thì nguyên nhân của sự khủng hoảng này bắt   nguồn từ hệ thống tài chính lỏng lẻo cùng với các công cụ tài chính truyền thống. Các   nhà tài chính đã phát sinh ra các công cụ tài chính mới. Các công cụ này đã tạo nên tính   năng động cho thị trường, giúp nguồn tài chính được luân chuyển một cách hiệu quả.   Vừa mang lại lợi ích cho người tiết kiệm, vừa mang lại lợi ích cho nhà đầu tư. Nhưng   việc lơ là công tác giám sát các hoạt động này đã tích lũy những rủi ro cho hệ thống tài  chính, là yếu tố chính mang đến cuộc khủng hoảng trên.  Nền kinh tế dưới sự rối ren về chính trị.
  9. Từ những năm 1960 đến năm 1997, nền kinh tế Thái Lan phát triển rất nhanh và được   mệnh danh là “ con rồng nhỏ” Đông Á. Đứng vào hàng các nước có thu nhập trung  bình, tỷ lệ đói nghèo giảm đi đáng kể. Nhưng với chính sách” coi trọng thành thị, xem  nhẹ  nông thôn” trong thời gian dài dẫn tới khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị  và   nông thôn ngày càng xa. Về chính trị, tầng lớp nông thôn không có tiếng nói.  Và khơi   mào là chính sách dân túy của Thaksin đưa ra với mục đích cải thiện mức sống của   tầng lớp bình dân, nâng cao hiệu quả sản xuất của họ. Từ đó, sự  đòi hỏi lợi ích của   tầng lớp bình dân phát triển mạnh mẽ, cuối cùng là phá vở hiện trạng kinh tế tự nhiên   nông thôn  ở  Thái Lan, mở  ra nền kinh tế  thị  trường nông thôn. Điều này đã đem lại  một sức ép to lớn đến thể chế chính trị  cầm quyền lúc bấy giờ. Thể chế cầm quyền  này đã liên kết với nhau phát động đảo chính lật đổ  Thaksin. Tình trạng mong muốn  lợi ích đối lập nhau căn bản giữa người cầm quyền và phe đối lập không thể  tiến   hành hiệp thương, không nhượng bộ lẫn nhau dẫn đến các cuộc biểu tình kéo dài như  hiện nay. Những rối ren về chính trị, cho thấy một khi nhà nước không làm chủ được   đất nước sẽ  kéo theo hệ  lụy rất lớn: tổn thất về  chính trị, tổn thất về  kinh tế  một   cách nặng nề. Qua đó, có thể nhận thấy rõ vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung và hệ  thống tài chính nói riêng. Sự  can thiệp của nhà nước trong một mức độ  nhất định sẽ  thúc đẩy hệ thống tài chính quốc gia ổn định, góp phần mang lại sự phát triển cho nền  kinh tế, bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của toàn hệ thống, đảm bảo mọi quyền lợi   của các chủ thể trong nền kinh tế và giải quyết mọi vấn đề phát sinh do tác động của   các nhân tố  bên ngoài, bên cạnh đó còn giúp cải thiện việc kiểm soát chính sách tiền   tệ. 2.2.  Kiến tạo thị trường             Chất lượng một thể chế và một môi trường kinh doanh có tầm quan trọng hàng   đầu cho sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy mà, Nhà nước tập trung xây dựng khuôn   khổ thể chế phù hợp, tạo điều kiện cho mọi người phát huy hết năng lực và sự  sáng  tạo của mình mang lại lợi ích cho cá nhân và cho xã hội. Tạo ra một môi trường kinh  doanh bình đẳng theo cơ  chế  thị  trường, kiểm soát chặt chẽ  và xóa bỏ  độc quyền  
  10. doanh nghiệp. Pháp luật và cơ  chế  chính sách phải tạo thuận lợi cho người dân và  doanh nghiệp phát triển sản xuất. Chủ  động hội nhập kinh tế  quốc tế, mở  ra một   không gian phát triển mới, rộng mở. Tạo điều kiện để  cá nhân và doanh nghiệp phát   huy hết tiềm năng của mình khi hội nhập một thị trường lớn. 2.3. Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chinh Việt  Nam hiện nay 2.3.1. Vai trò của nhà nước đối với các tổ chức tài chính. Tổ chức tài chính bao gồm: các tổ chức ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng  Định nghĩa Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân  hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt  động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân  hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với   nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung   ứng các dịch vụ thanh toán. Tổ  chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ  chức tín dụng được thực hiện  một số hoạt động ngân hàng như  là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không  được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng phi  ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, quỹ đầu tư và công ty bảo  hiểm.  Vai trò của NN đối với các tổ chức tài chính: ­ Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ quốc gia có ảnh hưởng to lớn đối với quá trình ổn định kinh  tế  ­ xã hội. Do đó, việc hoạch định và tổ  chức thực hiện chính sách tiền tệ  quốc gia   phải theo chế  độ  và trật tự  chặt chẽ.  Ở  Việt Nam, Luật Ngân hàng 1997 quy định:  “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ quyền hạn xây dựng dự án tiền tệ quốc  
  11. gia để  trình chính phủ  xem xét trình Quốc Hội quy định và tổ  chức thực hiện chính  sách này”. Độc lập với Chính phủ bởi NHTW là cơ quan quản lý, điều tiết tiền tệ và phát   hành tiền, hoạt động của nó tác động trực tiếp tới sự phát triển của nền kinh tế. Chính phủ  là cơ  quan hành pháp, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với  nền kinh tế. Do đó, Chính phủ  phải nắm trong tay các công cụ  kinh tế  vĩ mô để  sử  dụng nó một cách đồng bộ  và phối hợp các công cụ  nhằm vận hành nền kinh tế  trôi   chảy và hiệu quả, cũng là để  thực thi tốt nhiệm vụ  của mình, mà thực chất là Chính   phủ nắm NHTW và thông qua NHTW tác động đến chính sách tiền tệ quốc gia. Chính phủ có thể dễ dàng chỉ đạo và yêu cầu NHTW phối hợp chính sách tiền  tệ quốc gia với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo tính đồng bộ và hiệu  quả của tổng thể các chính sách kinh tế tài chính đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng   thời kỳ. ­Nhà nước sử  dụng pháp luật làm công cụ  quản lý và duy trì trật tự  cho các   hoạt động Ngân hàng trong nền kinh tế. Lĩnh vực Ngân hàng là nơi tích tụ và điều hòa nhiều loại nguồn vốn là nơi thực  hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Lĩnh vực tiềm  ẩn rủi ro cao và liên quan đến nhiều  lợi ích của nhiều loại chủ thể trong nền kinh tế. Đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân   hàng và phát huy vai trò tích cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, đòi hỏi Nhà   nước cùng đồng bộ  những biện pháp trong đó có sử  dụng pháp luật. Thể  hiện các   mặt: Một là, ban hành các văn bản pháp luật quy định các điều kiện hoạt động Ngân  hàng: điều kiện, trình tự, thử  tục cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của   TCTD phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế­ xã hội. Chính sách của nhà  nước để  xây dựng các loai hình TCTD ghi nhận  ở  điều 4 luật các TCTD: 12/12/1997  gồm những vấn đề: Thống nhất quản lý với mọi hoạt động Ngân hàng, xây dựng các tổ  chức tín  dụng hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế dân 
  12. cư, góp phần chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, bảo vệ lợi   ích hành pháp của người gởi tiền. Đầu tư vốn và nguồn lực khác để phát triển các TCTD Nhà nước tạo điều kiện  cho các tổ chức này giữ vai trò trên thương trường tiền tệ. Phát triển các ngân hàng chính sách hoạt động không những mục đích lợi nhuận  phục vụ nghĩa vụ và chính sách khác nhằm thực hiện chính sách kinh tế­ xã hội và Nhà  nước. Bảo hộ  sở  hữu, quyền và lợi ích hạnh pháp khác trong hoạt  động của các  TCTD hợp tác nhằm tạo điều kiện cho người lao động tương trợ nhau trong sản xuất   và đời sống. Sử dụng các ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân   với chính sách ưu đãi về vốn, lại suất và các điều kiện vay vốn.  Hai là, nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ bảo đảm an toàn cho các hoạt   động kinh doanh Ngân hàng tổng nền kinh tế vì hoạt động kinh doanh Ngân hàng còn  tiềm  ẩn những rủi ro cao, Nhà nước ban hành các quy định nhằm hạn chế  và kiểm   soát hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Cụ  thể, điều 79 Luật các TCTD: Tổng dư  nợ  cho vay đối với 1 khách hàng không vượt quá 15% vốn của TCTD trừ  tổng hợp đối   với các khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân hay trường  hợp vậy là TCTD khác. Ba là, nhà nước pháp luật làm công cụ  ngã ngửa, giải quyết các tranh chấp phát  sinh trong lĩnh vực Ngân hàng: Quy định về trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền   giải quyết tranh chấp... Góp phần bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia các  quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng trong nền kinh tế. ­ Nhà nước thành lập và sử dụng hệ  thống Ngân hàng, TCTD Nhà nước giữ  vai   trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng TMQD, Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng   chính sách và các loại hình TCTD khác. Hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ  Nhà  nước giáo nên các Ngân hàng, TCTD Nhà nước đóng vai trò là công cụ  của nhà nước 
  13. trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, tín dụng Ngân hàng của Nhà nước và giữ  vai  trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. NHNN Việt Nam với tư cách là NHTW của hệ thống ngân hàng có quyền quyết   định cho vay, bảo lãnh cho các tổ  chức tín dụng vay vốn nước ngoài, tạm  ứng cho   ngân sách nhà nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước.  Vai trò chủ  đạo thể hiện  ở  việc hệ thống Ngân hàng, TCTD nhà nước hoạt động trên tất cả  các   lĩnh vực Ngân hàng với quy mô hoạt động nên ảnh hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế  và có tác động chi phối đối với hoạt động Ngân hàng của các thành phần kinh tế khác. ­Nhà nước kích thích sự phát triển của các hệ thống Ngân hàng, TCTD Nhà nước   tạo môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, giám sát hoạt động của thị trường. Luật NHNN hiện hành đã thể  hiện rõ hơn sự  tự  chủ  và tính độc lập của NHNN  trong việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về  tiền tệ  và hoạt động ngân  hàng,   khẳng  định   mối   quan  hệ   chặt   chẽ   giữa   hai   chức   năng  quan   trọng   của   một   NHTW: thực thi chính sách tiền tệ  quốc gia và giám sát an toàn hoạt động của hệ  thống ngân hàng. Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ, NHNN quyết định việc sử dụng các   công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối   đoái, dự  trữ  bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo  quy định của Chính phủ. Đối tượng điều chỉnh của luật ngân hàng có thể được hình dung khái quát là quan   hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước cũng như các quan hệ xã hội nảy  sinh từ hoạt động lưu thông tiền tệ, tín dụng, ngân hàng của các tổ  chức đúng và chủ  thể tham gia vào lĩnh vực ngân hàng. Chính sự phát triển đa dạng và luôn biến đổi của   các chủ  thể  tham giao vào thị  trường nên việc can thiệp vào các lĩnh vực hoạt động   của ngân hàng để kiểm soát rủi ro và đề ra các quy định giới hạn lĩnh vực công việc và   điều chỉnh kịp thời nhằm bảo đảm trật tự trên thị trường tài chính. Với xu thế phát triển cao của thị trường, ranh giới giữa các trung gia tài chính vấc  thị trường ngày càng mờ nhạt. Cụ thể, công ty bảo hiểm cũng có thể cho vay, quỹ đầu  tư  cũng có thể  tài trợ  vốn cho dự  án. Luồng vốn không được đổ  vào kinh doanh mà  vào việc mua bán trên thị trường vốn.
  14. Năm từ 2009 đến 2011 Ngân hàng Nhà nước vừa đưa ra nhiều luật, dự thảo, thông  tư hướng dẫn điều kiện, hồ sơ, trình tự và thủ tục góp vốn, mua cổ phần của tổ chức   tín dụng. Dự thảo quy định kỹ  lưỡng và có phần chặt chẽ  hơn về  điều kiện để  các  ngân hàng góp vốn mua cổ phần các ngân hang góp vốn mua cổ phần dưới dạng công  ty liên doanh, liên kết hoặc dưới dạng doanh mục đầu tư. Việc kiểm soát và hạn chế các ngân hàng thương mại thành lập công ty con, công  ty   liên   kết   là   cần   thiết   để   tránh   tình   trạng   thông   qua   các   công   ty   liên   kết  lách luật  cho  vay   nội  bộ  lẫn  nhau.  Điều  này  cũng  giúp   cho   hệ   thống   ngân   hàng  tránh được rủi ro khi đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khác. 2.3.2. Vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng cơ  sở  hạ  tầng tài   chính tại Việt Nam          Tìm hiểu về cơ sở hạ tầng tài chính: Là những nền tảng để  qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân thực hiện   các giao dịch tài chính với các định chế tài chính trung gian và thị trường tài chính. Các thành phần của cơ sở hạ tầng tài chính: ­ Hệ thống pháp luật ­ Hệ thống giám sát ­ Hệ thống thông tin ­ Hệ thống thanh toán ­ Hệ thống dịch vụ chứng khoán ­ Nguồn nhân lực,…  Vai trò của Nhà nước đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính:  Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng cơ sở  hạ  tầng tài chính   ổn định, có nền tảng vững chắc; hay nói khác hơn là tạo ra khung pháp lý – Cơ sở hạ 
  15. tầng pháp lý cho sự phát triển của hệ thống tài chính, bao gồm ban hành các văn bản   pháp luật, tổ  chức kiểm tra giám sát, đảm bảo thông tin được cung cấp đầy đủ  đến   các chủ thể tài chính….  Đây chính là nền tảng để  qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân lập kế  hoạch và thực hiện các giao dịch tài chính với các định chế  tài chính và thị  trường tài  chính. Qua đó, hỗ trợ và thúc đẩy sự hoạt động hiệu quả của hệ thống tài chính.  Thật vậy, một khung pháp lý vững chắc sẽ tạo điều kiện cho các chủ  thể trong  thị  trường hoạt động suôn sẻ, có niềm tin vào sự  quản lý cũng như  định hướng của   Nhà nước. Từ đó, góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế,   ổn định an sinh xã hội.  Ngoài ra, trong thời kỳ  khủng hoảng thì vai trò này càng thể  hiện rõ hơn tầm  quan trọng của mình, một đất nước có nền tảng pháp luật tài chính hợp lý và chặt chẽ  sẽ có thể hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả từ ảnh hưởng của cuộc khủng   hoảng, có thể nói rằng khung pháp lý này chính là bức tường thành bảo vệ nền kinh tế  phát triển và đứng vững trước những tác động bên ngoài. Đặc biệt, với mục tiêu can thiệp và đảm bảo sự ổn định tài chính cũng như  giải  quyết các vấn đề  ngoại tác, thông tin bất cân xứng, tâm lý ỷ  lại thì các quy định của  Nhà nước cần tập trung giải quyết các vấn đề: ­ Quy định cấu trúc: Gồm các quy định các loại hình hoạt động, sản phẩm tài   chính, phạm vi hoạt động của các định chế tài chính. ­ Quy định an toàn: Gồm các quy định thuộc về  quản trị  bên trong của các định  chế tài chính (tỷ lệ nợ, vốn, sinh lời…) ­ Quy định bảo vệ các nhà đầu tư: Gồm các quy định bảo vệ  quyền lợi các nhà   đầu tư, ngăn chăn các hành vi lợi dụng chức quyền, mua bán thông tin nội gián,  gian lận. Bên cạnh đó, để  đáp  ứng những vai trò quan trọng đã nêu thì các quy định, văn  bản pháp lý trong hệ thống pháp luật tài chính phải đảm bảo được những yêu cầu sau:
  16. ­ Phân định được quyền hạn trách nhiệm và phạm vi hoạt động của các chủ thể,  các định chế tài chính. Mang lại lợi ích kinh tế cho toàn xã hội. ­ Phải hợp lý, chặt chẽ  và đảm bảo sự  hoạt động đồng bộ, không chồng chéo   giữa các khâu trong hệ thống tài chính. ­ Hơn hết, phải phù hợp với yêu cầu, tiềm lực thực tế của đất nước, đảm bảo  sự công bằng, nhất quán, nghiêm minh; công khai, minh bạch. ­ Ngoài ra, tùy theo tình hình kinh tế mà hệ thống pháp luật phải dần hoàn thiện   để  giải quyết được những vấn đề  phát sinh ngoài dự  định và chưa được quy  định trong các văn bản luật.  Cơ sở hạ tầng tài chính và vai trò của Nhà nước Việt Nam hiện nay:  Tổng quan về hệ thống pháp luật tài chính: Thứ  nhất, hệ  thống luật pháp Việt Nam được đánh giá là tương đối đầy đủ  để  hệ   thống tài chính hoạt động.             Đối với thị  trường tài chính : Để  chuyển giao quyền sử  dụng các nguồn tài  chính, các công cụ  chủ  yếu được sử  dụng trên thị  trường tài chính là các loại chứng  khoán. Trên cơ  sở  đó, Việt Nam đã xây dựng được hệ  thống pháp luật hoàn chỉnh,   đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động trên thị trường tài chính nói chung và thị  trường   chứng khoán nói riêng như ban hành luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán, luật   lưu ký chứng khoán quy định về các quy trình hoạt động, các điều kiện tham gia giao   dịch trên thị  trường… Mặt khác, Nhà nước còn ban hành các văn bản dưới luật quy  định chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng   nhà nước, ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty bảo   hiểm           Đối với Tài chính công: hiên nay Nhà nước đã ban hành luật ngân sách nhà nước,   ngoài ra còn được điều chỉnh đồng thời bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Mục  đích của luật ngân sách nhà nước nhằm quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia,  nâng cao tính chủ  động và trách nhiệm của các cơ  quan, tổ  chức, cá nhân trong việc  quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm,  
  17. có hiệu quả  ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công  nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu  phát triển kinh tế ­ xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh,   đối ngoại.   Với mục đích nêu trên, luật này quy định về  lập, chấp hành, kiểm tra,   thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước và về  nhiệm vụ, quyền hạn của  cơ  quan nhà nước các cấp. Thật vậy, luật ngân sách nhà nước của Việt Nam đã quy   định cụ  thể về tình hình thu, chi ngân sách và xử  lý các vấn đề  về  bội chi ngân sách  nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà nước còn đưa ra các luật thuế  góp phần làm tăng nguồn   thu ngân sách, tăng GDP cho nền kinh tế.           Đối với Tài chính doanh nghiệp: Các quy định về việc thành lập, điều kiện đăng  ký kinh doanh, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các doanh nghiệp tham gia thị trường   được đưa ra cụ thể trong Luật doanh nghiệp. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động của   mình, các doanh nghiệp còn được hỗ trợ bằng các chế độ kế toán, kiểm toán được quy  định trong luật kế  toán. Qua đó, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp hoạt động  ổn   định, góp phần tăng doanh thu, tạo công ăn việc làm cho những người lao động, cải   thiện mức sống…           Đối với các định chế tài chính trung gian: Các định chế tài chính trung gian có  thể  kể  đến là các tổ  chức tín dụng, các công ty bảo hiểm,… hoạt động dựa trên các  điều luật quy định trong luật các tổ  chức tín dụng, luật bảo hiểm, … Tiêu biểu nhất  chi phối trong lĩnh vực ngân hàng là vấn đề về lãi suất. Theo đó, nhiều chính sách quy   định về mức lãi suất đã ra đời, tùy theo thức trạng nền kinh tế đất nước mà Nhà nước   đưa ra các mức lãi suất huy động và cho vay phù hợp. Ngoài ra, luật bảo hiểm đã góp  phần đảm bảo quyền lợi của những người tham gia bảo hiểm, tránh tình trạng bị các   công ty bảo hiểm lợi dụng, chiếm dụng tiền của khách hàng. Thứ hai, các văn bản pháp luật ngày càng được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hệ   thống tài chính, đáp ứng yêu cầu đặt ra của các chủ thể hoạt động tài chính. Cụ thể:  Trong năm 2013, có nhiều Luật của ngành Tài chính chính thức có hiệu lực như:  Dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế  TNDN; Luật sửa đổi, bổ  sung một số điều của Luật thuế  GTGT;  Luật Dự trữ  Quốc 
  18. gia; Luật Giá; Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí  (sửa đổi). Các Nghị  định quy  định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật cũng được Bộ Tài  chính chủ trì soạn thảo và  trình Chính phủ ban hành, tạo hành lang pháp lý trong quá trình thực hiện. ­ Luật Giá được Quốc hội Khóa XIII, Kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và   chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2013; luật DTQG được Quốc hội thông qua ngày  22/11/2012 và có hiệu lực từ  ngày 01/7/2013 tạo cơ  sở  pháp lý quan trọng cho thực   hành tiết kiệm chống lãng phí trong quản lý, sử  dụng NSNN, vốn nhà nước, tài sản  nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước; quản lý, khai thác và  sử dụng tài nguyên; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của tổ  chức, hộ gia   đình, cá nhân; qua đó tạo ra chuyển biến tích cực trong nhận thức về  thực hành tiết  kiệm, chống lãng phí của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân lao động, trong sản   xuất và đời sống, thu được những kết quả  đáng khích lệ  về  tiết kiệm trong một số  lĩnh vực.  Hệ thống giám sát tài chính của Việt Nam Về mô hình hệ thống giám sát tài chính HTQSTC Việt Nam đi theo mô hình giám sát phân tán, nghĩa là các cơ quan quản   lý và giám sát được thành lập và vận hành nhằm giám sát một loại định chế tài chính   và khu vực thị trường nhất định trên tổng thể thị trường tài chính (TTTC). Hai cơ quan   cấp bộ  là Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cùng với  Ủy ban   Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) và Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là những tổ  chức giám sát độc lập, chịu trách nhiệm trước Chính phủ  về thực hiện các chức năng   giám sát của mình trên TTTC. Với   chức   năng   tư   vấn   cho   Chính   phủ   về   điều   phối   giám   sát   trên   TTTC,  UBGSTCQG có quan hệ phối hợp trực tiếp với Bộ Tài chính và NHNN nhằm nắm bắt   được diễn biến hoạt động giám sát trên cả  3 lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng  khoán; được yêu cầu 2 cơ  quan quản lý này cũng như  các định chế  tài chính thuộc   thẩm quyền quản lý của NHNN và Bộ Tài chính cung cấp thông tin phục vụ giám sát;   có trách nhiệm đưa ra những khuyến nghị về xử lý vi phạm đối với tổ chức và cá nhân  tham gia 3 lĩnh vực trên.
  19. NHNN và Bộ Tài chính có mối quan hệ phối hợp chéo trong quản lý và giám sát  những ngân hàng thương mại (NHTM) có sở hữu vốn nhà nước do Bộ Tài chính chịu   trách nhiệm quản lý. Đồng thời, hai tổ  chức này còn có mối quan hệ  mật thiết liên   quan đến việc phát hành trái phiếu kho bạc, cũng như  thực hiện các chính sách tài  chính công và chính sách tiền tệ có liên quan đến việc sử dụng các trái phiếu này. Hoạt động ngân hàng chịu sự  giám sát trực tiếp của Cơ  quan Thanh tra, Giám   sát Ngân hàng (NHNN). Trong khi đó, thị  trường bảo hiểm chịu sự giám sát trực tiếp   của Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)  chịu trách nhiệm giám sát trực tiếp đối với thị trường chứng khoán (TTCK). Cấu trúc trên cho thấy mô hình giám sát phân tán đang được duy trì trên TTTC   Việt Nam, xu hướng chuyên biệt hóa công tác giám sát theo chức năng đã bắt đầu  được hình thành. Hiệu lực giám sát của các cơ quan giám sát tài chính Trong thời gian qua, trước những thách thức trong yêu cầu phát triển bền vững  kinh tế ­ xã hội, các cơ quan giám sát chuyên ngành của Việt Nam đã có sự cải cách về  mọi mặt (tổ chức, công cụ, nhân lực và chính sách). Tuy nhiên, hiệu lực giám sát của  HTGSTC hiện hành vẫn bộc lộ khá nhiều tồn tại và hạn chế: Thứ nhất, HTGSTC của Việt Nam đã gặp nhiều vấn đề trước xu thế phát triển  của các tập đoàn tài chính trong thời gian qua. Hiện nay, ngoài tập đoàn tài chính bảo  hiểm Bảo Việt còn có hơn 10 tổ  chức tín dụng hoạt động theo mô hình tập đoàn tài   chính (ngân hàng – chứng khoán – bảo hiểm; hoặc ngân hàng – bảo hiểm; hoặc ngân   hàng – chứng khoán), chiếm khoảng dưới 50% thị  phần TTTC (UBGSTCQG, 2012).   Các định chế  này không ngừng mở  rộng quy mô hoạt động, đồng thời cũng tiềm  ẩn  nhiều rủi ro đan xen giữa các sản phẩm tài chính đa dạng và phức tạp. Thứ hai, Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý các yêu cầu về giám sát   các sản phẩm tài chính mới theo xu hướng tích hợp. Xu hướng này là sự đan xen giữa   nhiều sản phẩm tài chính để  ra đời những sản phẩm tài chính mới, ví dụ  như  bảo   hiểm liên kết ngân hàng ­ bancassuarance hay assurfinance khiến cho việc xác định cơ  quan giám sát nào chịu trách nhiệm giám sát trở nên hết sức phức tạp. Hệ quả từ việc  
  20. “từ  chối” giám sát có thể  sẽ  gây ra rủi ro nghiêm trọng, còn hệ  quả  từ  việc giám sát   chồng chéo, tuy giảm được rủi ro nhưng lại làm lãng phí nguồn lực xã hội, gây ra sự  thiếu hiệu quả trong giám sát. Thứ ba, đã xuất hiện nhiều hạn chế trong việc chia sẻ thông tin và sự phối hợp  giữa các cơ quan trong nhiệm vụ giám sát thị trường. Điều này làm hạn chế khả năng   giám sát của toàn hệ thống. Thứ tư, hành lang pháp lý cho hoạt động giám sát tài chính còn chưa đồng bộ và  thiếu đầy đủ. HTGSTC chưa hoàn chỉnh, thống nhất (có sự phân tách giữa Luật Ngân  hàng Nhà nước, Luật các Tổ  chức tín dụng với Luật Chứng khoán, Luật Bảo hiểm).   Các luật này đều đề cập tới vấn đề giám sát an toàn, bảo vệ người tiêu dùng, quản trị  rủi ro và công bố thông tin của các tổ  chức dưới quyền. Vì xây dựng tách bạch nhau  nên các quy định liên quan đến các đối tượng trên có thể  trùng lắp hoặc thiếu nhất   quán với nhau. Luật giám sát theo chuyên ngành không cho phép tổ chức giám sát có sự  độc lập và quyền lực cũng như sự minh bạch trong việc phát hiện, xử lý các vi phạm  có  ảnh hưởng tới sự an toàn hệ  thống khi đồng nhất chức năng xây dựng chính sách  với chức năng triển khai thực hiện các hoạt động giám sát. Thứ  năm, về  kỹ  thuật và hạ  tầng công nghệ,  ở  Việt Nam chưa có quy định   chung về giám sát hệ thống tài chính tổng quát. Hiện tại, mới chỉ có hệ thống các chỉ  tiêu giám sát từ  xa theo CAMELS (hệ  thống giám sát từ  Mỹ, ra đời năm 1978) được   Thanh tra ngân hàng thuộc NHNN áp dụng nhằm đánh giá các ngân hàng thương mại  và quỹ tín dụng nhân dân. Đối với ngành bảo hiểm và chứng khoán thì vẫn chưa có hệ  thống chỉ  tiêu giám sát hiệu quả. Tuy nhiên, ngay cả  hệ  thống CAMELS của NHNN  cũng bị đánh giá là chưa đầy đủ. Thứ  sáu, về hiệu lực của các cơ quan giám sát chuyên ngành trong giám sát tài   chính cũng còn nhiều tồn tại. Cụ thể: ­ Đối với thanh tra NHNN: Giám sát ngân hàng hiện nay của cơ quan thanh tra NHNN  hiện nay chỉ đơn thuần dựa trên bộ chỉ số định lượng CAMELS, chưa có phân tích sâu   về rủi ro liên quan tài sản nợ, tài sản có. Trên thế giới, Ủy ban Basel đã công bố bộ 25  nguyên tắc cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả. So sánh với hoạt động 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản